1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng

53 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 417 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài .1

1 2 Ph ạm vi áp dụng sáng kiến 2

1.3 Điểm mới của đề tài 2

II PHẦN NỘI DUNG

2.1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết 3

2.2 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán dạng tìm số trung bình cộng 5

2.2.1 Thay đổi không gian lớp học 6

2.2.2 Vận dụng mô hình dạy học mới 7

2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh 10

2.2.4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích, khám phá và rút ra được kiến thức mới 11

2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán 13

2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh 21

2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn hình thức và phương pháp dạy họckiểm tra và đánh giá học sinh 21

3 KẾT LUẬN 3.1 Ý nghĩa của đề tài 23

3.2 Kiến nghị, đề xuất 24

Trang 2

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC DẠNG TOÁN

TÌM SỐ TRUNG BÌNH CỘNG CHO HỌC SINH LỚP 4

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài :

Như chúng ta đã biết bậc tiểu học được coi là “Bậc học nền tảng của hệ thốnggiáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ,thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàndiện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Luật phổ cập giáo dục tiểuhọc) Điều đó cho thấy rằng giáo dục tiểu học được xác định là bậc học của cách học,cách tạo nên những cơ sở rất cơ bản, rất bền vững cho các em

Chương trình Toán Tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn Toán học gópphần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Toán học rènluyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề,góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo Toánhọc được coi là chìa khóa mở của các ngành khoa học khác, nó còn đóng góp vàoviệc hình thành các phẩm chất của người lao động như: cần cù, cẩn thận, ý chí vượtkhó, làm việc có kế hoạch, có nền nếp, khoa học

Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản của môn Toán lớp

4 Nội dung chủ yếu của mạch kiến thức này bao gồm: Tiếp tục giải các bài toán đơn,toán hợp có dạng đã học từ lớp 1, 2, 3 và phát triển các bài toán đó đối với các phéptính trên phân số và các số đo đại lượng mới học ở lớp 4 Đồng thời toán lớp 4 còn đềcập đến những dạng toán mới như giải toán về: “Tìm số trung bình cộng”; “Tìm hai

số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”; “Tìm hai số khi biết tổng ( hoặc hiệu) và tỉ

số của hai số đó”; “ Tìm phân số của một số”… Trong đó dạng toán “ Tìm số trung

bình cộng” là dạng toán thường gặp, nó là một bài toán đơn hoặc nằm trong một bài

toán hợp thuộc dạng khác

Trang 3

Các bài toán về tìm số trung bình cộng lại được chia thành các loại nhỏ mà khigặp phải học sinh thường lúng túng mơ hồ và sai lầm; khó tìm ra hướng giải quyết vàthường nhầm lẫn từ dạng này sang dạng khác, không phát hiện số các số hạng và cáchgiải Ngôn ngữ toán học của học sinh còn hạn chế, kĩ năng tính toán, trình bày thiếuchính xác, thiếu khoa học, học toán và giải toán một cách máy móc nặng nề về rậpkhuôn, bắt chước Nếu không xác định cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầuvững chắc thì học sinh sẽ không giải quyết được những bài toán ở dạng cơ bản (đốivới học sinh trung bình) và nâng cao lên (đối với học sinh khá giỏi)

Chính vì những lí do đó, qua thực trạng học phần giải các bài toán về Tìm sốtrung bình cộng của học sinh, tôi nhận thấy việc giúp đỡ học sinh phát hiện ra đượccái sai và tìm cách giải các bài toán là việc làm hết sức quan trọng, giúp học sinh cókhả năng phân tích, tổng hợp, tư duy nhằm nâng cao chất lượng học toán Là một

giáo viên trực tiếp giảng dạy líp 4 nªn tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện

pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng” với mong

muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm giúp học sinh có kĩ năng nhận dạng toán,phân tích bài toán, biết lựa chọn phương pháp giải phù hợp cho từng bài toán thuộcdạng toán này, tránh những sai lầm khi giải toán tạo sự hứng thú đối với môn học

1.2 Phạm vi áp dụng sáng kiến

Đề tài được áp dụng trong công tác giảng dạy môn Toán cho học sinh lớp 4 đặcbiệt là dạng toán “Tìm số trung bình cộng” của học sinh trường Tiểu học nơi tôi côngtác

1.3 Điểm mới của đề tài

Khi dạy học các bài toán về trung bình cộng học sinh phải tư duymột cách tích cực và linh hoạt huy động tích hợp các kiến thức vàkhả năng đã có vào những tình huống khác nhau Điểm mới của đề tàinày là phát hiện ra được những cái sai của học sinh thường gặp phải, phân loại đượccác dạng toán trung bình cộng để tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục những khó

khăn, sai lầm của học sinh khi giải các bài toán có liên quan đến dạng này, góp phần

Trang 4

trong việc nâng cao chất lượng học tập môn Toán của học sinh Giải pháp nàygiúp cho học sinh lập kế hoạch giải một cách dễ dàng, phát triển kỹnăng, kỹ xảo, năng lực, tư duy và khả năng giải toán của các em.

Đề tài nghiên cứu dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt được sau mỗi bàihọc, kiến thức đại trà học sinh phải đạt được, đồng thời cũng chú trọng đến kiến thứcnâng cao để bồi dưỡng cho học sinh, vận dụng được mô hình dạy học mới vào giảngdạy

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết

Dạng toán Tìm số trung bình cộng được đưa vào chương trình Toán 4 gồm 3 tiết

Cụ thể là:

- 1 tiết cung cấp quy tắc và công thức tính Trung bình cộng của một dãy số cáchđều trang 26 - 27;

- 1 tiết Luyện tập áp dụng công thức vừa học trang 28;

- 1 tiết cuối cùng là ôn tập về tìm số trung bình cộng trang 175

Với thời lượng ít như vậy nên giáo viên chưa đầu tư nhiều vào dạng toán này.Vào đầu năm học 2013 - 2014, tôi đã được Nhà trường và chuyên môn phâncông chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4C, lớp có 25 học sinh Qua một thời gian dạy học,tôi đã tiến hành làm bài kiểm tra

Sau khi thu bài kiểm tra tôi đã thu được một số kết quả như sau:

Đề bài kiểm tra gồm cả phần tự luận và trắc nghiệm với các mạch kiến thức: đọcviết số, chia cho số có 1 chữ số, tìm thành phần chưa biết của phép tính, giải toán

Trang 5

dạng Tìm số trung bình cộng Tôi phân tích cụ thể các dạng bài tập của bài kiểm tra

và nhận thấy đa số các em đọc và viết số số thành thạo, biết cách chia cho số có 1 chữ

số và tìm thành phần chưa biết của phép tính Tuy nhiên kỹ năng giải toán về Tìm sốTrung bình cộng còn rất yếu

Qua nh×n nhËn thực tế tôi thấy rằng chất lượng bài kiểm tra chưa cao là do nhiềunguyên nhân :

*Về phía giáo viên

- Thời lượng ít như vậy và trên thực tế giáo viên phải dạy nhiều môn, thời giandành để nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng họcsinh trong lớp còn hạn chế Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảngcủa học sinh

- Nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của các bài toán điển hình trong môn Toán

cũng chưa đầy đủ bởi đây là một dạng toán mới đầu tiên các em gặp khi bước vào

lớp 4 Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.

*Về phía học sinh:

+ Nguyên nhân khách quan:

- Học sinh chưa có hứng thú với các môn học nói chung, môn Toán nói riếng vàđặc biết là dạng Toán tìm số trung bình cộng

- Học sinh chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình nhữngphương pháp học đúng để biến tri thức của thầy cô thành của mình Cho nên sau khihọc xong bài, các em chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy cô giáo giảng, rấtnhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh, số lượng học sinh tiếp thu chậm, yếutoán có lời văn tương đối nhiều Học sinh chưa có kĩ năng giải toán có lời văn

- Trình độ của học sinh không đồng đều trong một lớp: có em làm nhanh nhưngcũng có em làm chậm Các em bước đầu chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừutượng cho nên việc nhận thức và tiếp thu kiến thức gặp không ít khó khăn, chưa manglại kết quả như chương trình đề ra

Trang 6

- Hiện nay chương trình Toán tiểu học đã có sự đổi mới, khoa học hơn songchương trình kiến thức lớp 1, 2, 3 rất đơn giản, đến lớp 4 học sinh phải gặp nhữngkiến thức khó với lượng kiến thức khá nhiều Đây là một vấn đề khó khăn cho cảngười dạy và người học.

- Trong các dạng toán có lời văn ở lớp 4 thì dạng “ Tìm số trung bình cộng” là

dạng toán được học đầu tiên ở lớp 4 và các em có thể gặp suốt trong quá trình họctoán ở Tiểu học Nếu các em học tốt dạng toán này thì sẽ tốt các dạng toán khác + Nguyên nhân chủ quan:

- Một số học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọngtâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán khi đọc đề, dẫn tới thường nhầm lẫngiữa các dạng toán, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán

- Một số học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toánphức tạp Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các emthường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ Một số em tiếp thu bài mộtcách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán, vìthế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức

- Học sinh chưa có một phương pháp tư duy logic để giải quyết các dạng bài tập

về tìm số Trung bình cộng Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểmtra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan

2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng

Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn và phức tạp, hình thành kỹ năng giảitoán khó hơn nhiều so với kỹ xảo tính, vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiềukhái niệm, nhiều quan hệ toán học Giải toán Tìm số trung bình cộng không chỉ lànhớ mẫu rồi áp dụng mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý

Trang 7

nghĩa các phép tính, các dạng toán, đòi hỏi khả năng độc lập, suy luận của học sinh,đòi hỏi biết làm tính thành thạo.

Sau khi khảo sát chất lượng giải toán đầu năm học, bản thân tôi đã đã nắm bắtđược tình hình học sinh qua kĩ năng giải toán Tìm số trung bình cộng đồng thời tìmhiểu những sai lầm mà các em thường mắc phải khi giải toán, tôi đã tiến hành xây

dựng các giải pháp như sau:

II.2.1 Thay đổi không gian lớp học

Đổi mới không gian cho lớp học tạo nên lớp học sẽ được “thay áo mới”, thú vị

và bổ ích Trang trí lớp học thân thiện, phù hợp đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học còngiúp các em tự hào về lớp, nâng cao ý thức gìn giữ lớp học sạch đẹp, có thêm khônggian để giao lưu, chia sẻ, nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đổi mới phươngpháp giảng dạy, đồng thời khuyến khích học sinh sự giác học tập Học sinh sẽ được tiếp cận với nhau trong quá trình học, giáo viên chỉ là người

hỗ trợ các em tìm ra kiến thức Không gian lớp học sẽ được thay đổi thường xuyên đểđảm bảo em nào cũng phát huy được mọi năng lực khả năng của mình

Cách sắp sếp ngồi học như hình minh họa trên không ảnh hưởng gì tới thể chấtcủa học sinh cả: việc tổ chức hoạt động nhóm thường xuyên thay đổi vị trí ngồi học,

B ả n g

Trang 8

lúc thì ngồi học chỗ này, tiết học sau lại ngồi chỗ khác Hay nói cách khác áp dụnghình thức dạy học theo nhóm thì chỗ ngồi của học sinh là chỗ ngồi không ổn định.Ngày xưa ngồi học là lấy bảng làm trung tâm để tiếp thu kiến thức của thầy, vàchú ý nghe thầy giảng bài, ngày nay, ngồi học tức là ngồi làm việc, ngồi để thực hiệnmột nhiệm vụ không đơn thuần chỉ nhìn về phía bảng, các em chỉ nghe phổ biếnnhiệm vụ sau đó cùng nhau thực hiện nhiệm vụ đó trên tinh thần hợp tác, chia sẻ ngaytrên bàn mình ngồi.

II.2.2 Vận dụng mô hình dạy học mới

Mô hình trường học mới VNEN nhằm chuyển đổi từ giáo dục truyền thống sang

mô hình giáo dục trường học mới: tập trung nâng cao phẩm chất năng lực người học,coi trọng giáo dục toàn diện để dạy làm người như lời dạy của Bác Hồ là đào tạo lớpngười “vừa hồng vừa chuyên” Trong quá trình dạy học giáo viên giữ vai trò là người

tổ chức quá trình hoạt động của học sinh

Nhận thức là hoạt động trí tuệ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà hình thức thểhiện của nó là khả năng tiếp thu Khả năng tiếp thu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tốmôi trường Xây dựng môi trường riêng cho mỗi cá nhân trong giờ học có vai tròquan trọng trong việc giúp các em lĩnh hội các kiến thức bài học Ta đã biết học làhoạt động đơn phức của hoạt động trí óc Do đó từ đầu năm, qua quá trình theo dõitôi đã chú trọng cá biệt hóa từng cá nhân, nắm thật cụ thể lực học của từng cá nhântrong tập thể lớp để từ đó xây dựng môi trường riêng, cách hướng dẫn riêng cho cánhân trong hoạt động nhận thức tiếp thu bài, vận dụng mô hình dạy học nhóm để họcsinh cùng chia sẻ kết quả

VD: Học sinh Nguyên có tầm vóc thấp bé, cần bố trí chỗ ngồi hợp lý tránhtình trạng đứng viết hoặc viết trên ghế

VD: Học sinh Tiến có thị lực yếu, cần bố trí vị trí ngồi hợp lý trong lớp để emnhìn rõ thuận tiện cho quá trình học tập

VD: Học sinh Lan( nhóm Vàng Anh) ham chơi, khả năng tiếp thu chậm thìcần bố trí chỗ ngồi gần bảng gần bàn giáo viên ở dãy ngoài để thuận tiện cho việc học

Trang 9

của học sinh cũng như giáo viên sẽ thuận tiện hơn trong việc kèm cặp, giúp đỡ; mặtkhác thành lập đôi bạn cùng tiến để các bạn giúp đỡ lẫn nhau; yêu cầu các thành viêntrong nhóm giúp đỡ bạn.

Đối với những học sinh yếu thì tôi phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi phụ nhiềuhơn, chi tiết hơn để gợi ý hướng dẫn các em từng bước tìm ra cách giải bài toán

Ví dụ 1: Một đội công nhân đào đường, ngày đầu đào được 1200m, ngày thứ

hai đào được ít hơn ngày đầu 150m Hỏi trung bình mỗi ngày đội công nhân đào đượcbao nhiêu mét đường?

Câu hỏi gợi ý:

- Để tìm được trung bình mỗi ngày đội công nhân đào được bao nhiêu métđường ta phải biết được cái gì?( Tổng số mét đường của hai ngày đào chia cho 2)-Tổng số m của hai ngày đào đã biết chưa ? (Chưa biết vì chưa biết số métđường ngày thứ hai đào được)

Ví dụ 2 : Một ô tô chạy từ tỉnh A đến tỉnh B Trong 2 giờ đầu, mỗi giờ ô tô

chạy được 46km, giờ thứ ba ô tô chạy được 52km, hai giờ sau mỗi giờ ô tô chạy được43km thì đến tỉnh B Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?

* Câu hỏi gợi ý ( Dành cho học sinh trung bình) “Xuất phát từ câu hỏi đến các

dữ kiện của bài toán”(Đường lối phân tích)

- Bài toán hỏi gì? (Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu km?)

- Có thể biết ngay được chưa? (chưa) Vì sao? (Vì chưa biết được tổng số

km, tổng số giờ ô tô đã đi)

- Ta có thể biết được số tổng km? (chưa) Vì sao? (Chưa biết số km ô t ô đitrong 2 giờ đầu, 2 giờ sau)

- Có thể biết được số gi ờ mà ô tô đã đi chưa? (có thể được)

- Vậy việc đầu tiên ta sẽ tìm là gì? (Tìm số km ô tô đi trong 2 giờ đầu; số km

ô tô đi trong 2 giờ sau) Bằng cách nào? (Lấy 46 x 2, 43 x 2)

- Việc thứ hai ta tìm cái gì?(Tìm số giờ ô tô đã đi) Bằng cách nào?(2 + 1+ 2)

Trang 10

- Sau khi tìm được số giờ ô tô đã đi thì ta tìm gì nữa? (Tìm Tổng số km mà ô

tô đã chạy) Bằng cách nào? (Lấy kết quả của phép tính thứ nhất cộng kết quả củaphép tính thứ hai )

- Bước cuối cùng ta làm gì? (Tìm trung bình mỗi mỗi giờ ô tô chạy )Vậy ta

đã trả lời được câu hỏi của bài toán chưa? (Rồi)

Với bài toán này giáo viên cần cho học sinh thảo luận nhóm, tiến hành chia sẻkết quả làm việc trước lớp để rút ra cách giải cho bài toán này, nếu nhóm nào cònlúng túng thì giáo viên giúp đỡ, gợi ý hoặc có thể nhờ nhóm bạn (với hệ thống câuhỏi đó)

Từ việc nắm chắc nội dung, đối tượng học sinh trong lớp, đồ dùng dạy học mình

có, tôi chọn cách chia nhóm sao cho phù hợp: mỗi nhóm từ 3 - 4 học sinh Các chứcdanh nhóm trưởng và thư kí luân phiên Khi bắt đầu làm việc, nhóm trưởng phải phâncông các thành viên trong nhóm, mỗi người một việc, sau đó cá nhân làm việc độclập rồi từng em đưa ra ý kiến để thảo luận trong nhóm Ý kiến thống nhất được ghinhận để chuẩn bị trình bày trước lớp Người trình bày cũng luân phiên để tạo điềukiện cho tất cả học sinh được rèn luyện kĩ năng Trong thời gian HS làm việc, giáoviên thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp đỡ các nhóm trao đổi thảo luận đúngyêu cầu bài học, tránh thảo luận tùy hứng dẫn đến nguy cơ đi lệch yêu cầu hoặc giáoviên gợi mở thêm nhằm mở rộng kiến thức và giáo dục kỹ năng sống cho các em *Cách chia nhóm:

+ Khi nội dung yêu cầu không khác nhau, ít có chênh lệch về độ khó nên chianhóm ngẫu nhiên

+ Khi nội dung cần có sự phân hóa về độ khó, dễ nên chia nhóm cùng trình độ + Khi nội dung đơn vị kiến thức cần có sự hỗ trợ lẫn nhau như các bài ôn tập thìnên chia nhóm tương trợ…

Tôi cũng chuẩn bị đầy đủ các phương tiện như phiếu học tập, tranh ảnh, vật thật(đưa ra hình ảnh trực quan như các cái kẹo thật làm tiền đề cho phần giới thiệu bài)

Trang 11

và thảo luận, bàn bạc; thời gian quy định cho mỗi hoạt động; phiếu học tập nhómhoặc cá nhân để học sinh ghi chép kết quả hoạt động sau khi thảo luận Như vậy họcsinh dễ lĩnh hội kiến thức chắc chắn hơn.

Bản thân tôi đã vận dụng mô hình dạy học này vào quá trình giảng dạy đặc biệt

là trong môn Toán góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái,sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh

Giáo viên phải xây dựng được Hội đồng tự quản học sinh, tìm hiểu kĩ về từnghọc sinh của lớp mình Coi trọng công tác tổ chức lớp ngay từ đầu năm học Xâydựng được Hội đồng tự quản học sinh nhiệt tình có năng lực chỉ đạo lớp

Đây là mô hình không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà quátrình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy - học theo nhóm Nhằmnâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh Lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học giúp các em tựchiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất để mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập

Ngoài ra vận dụng mô hình trường Tiểu học kiểu mới giúp học sinh rèn phươngpháp tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác, tự rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh

2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh

Nhà tâm lí học Pôlya nói: “… Con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu.Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực” (Pôlya, Tâm lý học, Tập II, Tr 128)

Do đó trong dạy học giải toán tôi đã khéo léo sử dụng các phương pháp thíchhợp có tác dụng khêu gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hoá hoạt động tư duy củahọc sinh, làm cho học sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của giờ đang học.Đồng thời xây dựng niềm tin vào khả năng cho học sinh, làm cho học sinh cảm thấyrằng nếu mình tập trung, chịu khó học tập thì sẽ thu lượm được những kết quả tốt đẹp

Trang 12

có ích cho bản thân, vừa lòng thầy cô, cha mẹ Đặc thù của việc giải toán đòi hỏi cócác đức tính cần cù, chịu khó, tỉ mỉ, nhẫn nại, thẩm mĩ, … nhưng học sinh tiểu học dotâm lý lứa tuổi thường hay phân tán sự tập trung, chóng chán Hoạt động gợi nhu cầunhận thức, gây hứng thú môn học có thể được sử dụng linh hoạt trong quá trình giảngdạy Không nhất thiết, đơn thuần chỉ sử dụng ngay đầu tiết dạy.

Muốn không khí lớp học vui tươi, kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú củahọc sinh về chủ đề sẽ học, bản thân tôi nghiên cứu kỹ tài liệu, sách giáo khoa để lựa

chọn hình thức sao cho phù hợp, có thể là: đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, một

tình huống, tổ chức trò chơi hoặc sử dụng các hình thức khác…

Ví dụ 1 : Bài : Tìm số Trung bình cộng ( tài liệu Toán lớp 4 trang 26)

Trước khi vào tiết học, GV tổ chức HS chơi trò chơi “Ai nhanh ai đúng” Các

em sẽ cùng nhau tính nhanh 1 bài toán nhỏ gắn với thực tế các em: Bạn Lan có 4 cáikẹo, bạn bình có 6 cái kẹo Nếu chia đều số kẹo đó thì mỗi bạn được bao nhiêu cái ?Thông qua trò chơi, HS sẽ cảm thấy trò chơi mà mình vừa được tham gia rất gần gũivới bản thân, không chỉ thế trò chơi còn kích thích tính tò mò, khơi dậy hứng thútrong học Cũng bắt đầu từ đây giáo viên dẫn dắt vào bài mới và giới thiệu đây làdạng toán mới trong chương trình lớp 4mà các em được tìm hiểu, từ đó các em muốntiếp tục được trải nghiệm kiến thức mới

2.2.4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích, khám phá và rút ra được kiến thức mới

Để hình thành khái niệm số trung bình cộng và tìm ra được quy tắc của dạng toán

tìm số trung bình cộng tôi đã sử dụng hình thức thảo luận nhóm 4, yêu cầu HS tóm tắtbằng sơ đồ đoạn thẳng tìm ra quy tắc tìm số trung bình cộng của nhiều số hạng Tôi

đã đưa thêm 1 ví dụ nữa, các em tiếp tục thực hành và sau đó tìm điểm chung giữa 2

ví dụ này để cùng rút ra công thức tính

Ví dụ 2: Số học sinh của 3 lớp 5A, 5B, 5C lần lượt là 25 học sinh, 27 học sinh,

32 học sinh Hỏi trung bình mỗi lớp có bao nhiêu học sinh ?

Trang 13

Muốn làm được điều đó điều đầu tiên đỏi hỏi các em phải tìm hiểu nội dung bàitoán (đề toán) thông qua việc đọc bài toán dù bài toán cho ở dạng có lời văn hoànchỉnh hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán chobiết cái gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữquan trọng chỉ rõ tính huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường,chẳng hạn như “bay đi”, “làm vở”, “ăn hết” Nếu trong bài toán nào có có thuật ngữhọc sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên phải hướng dẫn để cho học sinh hiểu được nộidung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm Khi đọc đề xong có thể gạchchân các từ ngữ quan trọng trong đề bài Các từ ngữ đó là sẽ là cơ sở quan trọng đểtìm ra cách giải bài toán, sau đó cho học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không cầnphải đọc nguyên văn bài toán đó.

Yêu cầu các nhóm thảo luận tóm tắt bằng sơ đồ như sau:

Khi các em tóm tắt được có nghĩa là các em đã phân tích được bài toán, hiểuđược nội dung bài toán

Nếu nhóm nào còn lúng túng trong câu hỏi thì tôi đưa ra thêm câu hỏi gợi ý

giúp nhóm đi vào tiến trình phân tích thuận lợi hơn là : Nếu chia đều sô học sinh vào

các lớp thì mỗi lớp có bao nhiêu học sinh? Như vậy các em sẽ dễ dàng nắm bắt kiến

thức hơn Bản thân các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn với giờ học bởi chính mình đã

tự tìm ra quy tắc này, tự khắc sâu kiến thức cho bản thân mình

Học sinh rút ra được cách tìm số trung bình cộng như sau:

- Bước 1: Tính tổng của các số đó

- Bước 2: Chia tổng đó cho số các số hạng

Sau khi tìm ra được công thức của dạng toán này, học sinh sẽ thực hành để vậndụng kiến thức mới đó thông qua các bài tập cụ thể hình thành cho học sinh kĩ nănggiải toán dạng này Mục tiêu ở đây là hình thành năng lực khái quát hóa và kĩ năng

Trang 14

giải toán, rèn luyện năng lực sáng tạo trong học tập Ta có thể tiến hành giải pháp sauđây: cho HS giải các bài toán nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa số

đã cho và số phải tìm hoặc là điều kiện trong bài toán

Ví dụ:

Bài toán 1: Tìm số trung bình cộng của các sô 36, 42, 57

Bài toán 2: Tổ Một góp được 36 quyển vở Tổ Hai góp được nhiều hơn tổMột 2 quyển nhưng lại ít hơn tổ Ba 2 quyển Hỏi trung bình mỗi tổ góp được baonhiêu quyển vở?

Bài toán 3: Số trung bình cộng của hai số là 14 Biết một trong hai số là 9.Tìm số kia

- Giải bài toán có nhiều cách khác nhau (VD: Bài toán 2, 3)

- Tiếp xúc với các bài toán thiếu đi một số các dữ liệu đã cho (VD: Bài toán

2, 3)

- Giải các bài toán trong đó phải xét tới nhiều khả năng xảy ra để chọn đượcmột khả thỏa mãn với điều kiện của bài toán

- Biết lập và biến đổi bài toán (Xây dựng bài toán ngược)

Điều quan trọng và chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp cho học sinh tựmình tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện củabài toán và thiết lập được các phép tính số học tương ứng Trước khi cùng nhau bướcvào phần thực hành, yêu cầu học sinh trong nhóm nhắc lại các bước giải 1 bài toán:

*Bước 1: Tìm hiểu nội dung của bài toán

*Bước 2: Tìm tòi cách giải của bài toán

*Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán

*Bước 4: Kiểm tra kết quả của bài toán

Để củng cố phần hình thành kiến thức này giáo viên đưa ra hình thức trò chơi "Ôcửa bí mật" Mỗi ô cửa là 1 bài tập nhỏ về tìm số trung bình cộng Trong 1 khoảngthời gian nào đó các em làm nhanh, nếu bạn nào nhanh và đúng thì sẽ được phầnthưởng Đó là một trong những hình thức khắc sâu kiến thức cho học sinh

Trang 15

2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học giải toán có lời văn nói riêng,giáo viên cần theo dõi để tìm ra được những sai lầm của học sinh trong học tập cũngnhư trong giải toán như: không nắm được cách giải; bài giải còn thiếu, phép tính chưa

đúng với lời giải đặt ra; lời giải chưa đầy đủ; sai tên đơn vị… Để từ đó tìm ra hướng

khắc phục những thiếu sót, sai lầm cho học sinh nhằm giúp các em ngày càng tiến bộhơn

Đặc biệt ở bài toán Tìm số trung bình cộng này tôi đã phát hiện ra sai lầm củacác em là nhầm lẫn số các số hạng hoặc là xác định số các số hạng chưa đúng Sauđây là một số ví dụ cụ thể tương ứng với các dạng:

a Dạng 1: Các bài toán giải trực tiếp nhờ công thức

Ví dụ : Bốn em Mai, Hoa, Hưng, Thịnh lần lượt cân nặng là 36kg, 38kg, 40kg,

34kg Hỏi trung bình mỗi em cân nặng bao nhiêu kg?

* Nguyên nhân sai: Học sinh tính được tổng songxác định sai số các số hạng, ápdụng công thức tìm số trung bình cộng một cách máy móc rập khuôn (Học sinh cứnghĩ số các số hạng ở đây là 2)

Bài giải:

Số mét kg cân nặng của bốn em là:

36 +38+40+34 = 148(kg)Trung bình mỗi em cân nặng số kg là

148: 4 = 37(kg):Đáp số: 37 kg

b Dạng 2: Các bài toán chưa giải trực tiếp nhờ công thức

Ví dụ 1: Tổ Một góp được 36 quyển vở Tổ Hai góp được nhiều hơn tổ Một 2

quyển nhưng lại ít hơn tổ Ba 2 quyển Hỏi trung bình mỗi tổ góp được bao nhiêuquyển vở?

Trang 16

Bài giải saiTổng số vở của 3 tổ là:

36 + 2 + 2= 40 (quyển vở)Trung bình mỗi tổ góp được số quyển vở?

40 : 2 = 20(quyển vở)Đáp số: 20 quyển vở

* Nguyên nhân sai: Học sinh tìm hiểu dữ kiện bài toán không kĩ nên chưa xácđịnh được tổng của ba số, xác định sai số các số hạng Học sinh cứ áp dụng công thứctrực tiếp để làm

36 + 38+ 40= 114 (quyển vở)Trung bình mỗi tổ góp được số quyển vở là:

114 : 3 = 38(quyển vở)Đáp số: 38 quyển vở

*Ví dụ 2: Một ô tô chạy từ tỉnh A đến tỉnh B Trong 2 giờ đầu, mỗi giờ ô tô

chạy được 46km, giờ thứ ba ô tô chạy được 52km, hai giờ sau mỗi giờ ô tô chạy được43km thì đến tỉnh B Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?

Bài giải 2: (sai)

2 giờ đầu ô tô chạy được số km là:

Trang 17

46 x 2 = 92 (km )

2 giờ sau ô tô chạy được số km là:

43 x 2 = 86 ( km )Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:

(92 +86 +52): 3 = 76 (km)

* Nguyên nhân sai: (có 2 nguyên nhân)

- Học sinh không đọc kĩ đề, áp dụng rập khuôn công thức tìm số trung bình

cộng Bài làm sai, đáp số sai

- Học sinh nhầm lẫn khi tính trung bình, tính được tổng thấy tổng của ba số hạng

92, 86 và 52 nên đem chia cho 3 dẫn đến bài làm sai (mặc dù kết quả không đượctròn) Học sinh xác định sai số các số hạng

92 + 52 + 86 = 230 (km)Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:

230 : 5 = 46 (km)Đáp số: 46km

Trang 18

*Ví dụ 3: Một nhà máy làm 246 sản phẩm trong 5 ngày Hai ngày đầu, mỗi

ngày nhà máy đã làm được 54 sản phẩm Hỏi trung bình mỗi ngày sau, nhà máy phảilàm bao nhiêu sản phẩm?

* Nguyên nhân sai: Học sinh không xác định được số các số hạng ( tức là sốngày sau) và số sản phẩm của các ngày còn lại

Với bài toán này HS cần thảo luận nhóm để tìm ra cách giải thích hợp, giáo viênchỉ là người gợi mở nếu như học sinh chưa hiểu với các câu hỏi gợi ý sau:

- Muốn biết trung bình mỗi ngày làm được bao nhiêu sản phẩm ta làm thế nào?

- Số sản phẩm đã biết chưa, số ngày sau đã biết chưa? Bao nhiêu

- Muốn biết được số sản phẩm trong 3 ngày sau ta làm thế nào?

Để củng cố bài giáo viên yêu cầu học sinh có thể lập sơ đồ tư duy để cho bạn cònnon kiến thức dễ dàng hiểu bài hơn:

Trang 19

Trung bình mỗi ngày sau làm được

138 : 3 = 46 ( sản phẩm)Đáp số: 46 sản phẩm

Đối với học sinh khá giỏi các em có thể làm bước tính gộp ở bước tính trung bình cộng

*Ví dụ 4 : Trung bình cộng của hai số là 30 Biết một trong hai số đó bằng 18,

tìm số kia?

* Nguyên nhân sai: Đây là bài toán mà tôi thấy học sinh dễ nhầm lẫn nhiều nhất

do tính hấp tấp, đọc không kĩ để, xác đinh chưa đúng nội dung bài toán (bài toán chobiết trung bình cộng chứ không phải tìm số trung bình cộng),học sinh vẫn áp dụngmáy móc cách tính trung bình cộng dẫn đến bài giải sai Yêu cầu các nhóm phân tíchlại các bước giải toan tìm số trung bình cộng và phân tích ngược lại nêu biết trungbình của các số rồi thì ta sẽ tìm được cái gì?

c Dạng 3: Dạng toán trung bình cộng của dãy số cách đều:

Đối với những bài tập dạng này sẽ được chia thành 2 loại:

- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng lẻ

- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng chẵn

* Ví dụ 1: Tìm 5 số lẻ liên tiếp có tổng là 105.

* Phân tích: Ta biết rằng 2 số lẻ liên tiếp cách nhau 2 đơn vị Vậy số thứ ba (là

số chính giữa dãy số) của 5 số lẻ liên tiếp bằng trung bình cộng của 5 số đó Từ đótìm ra các số khác

Cách 1 Bài giải:

Vì dãy có 5 số lẻ liên tiếp nên số chính giữa chính là trung bình cộng của 5 số

Số chính giữa ( số thứ 3 ) là: 105 : 5 = 21

Số thứ hai là: 21 – 2 = 19

Trang 20

Số thứ nhất là: 19 – 2 = 17

Số thứ tư là: 21 + 2 = 23

Số thứ năm là: 23 + 2 = 25 Đáp số: 17; 19; 21; 23; 25

Cách 2 : Phân tích: Vì hai số lẻ liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị nên nếu ta xem

số tự nhiên thứ nhất là 1 đoạn thẳng thì số tự nhiên thứ hai là 1 đoạn thẳng như thế

và thêm 2 đơn vị Cứ tiếp tục như thế ta sẽ có sơ đồ:

105

5 lần số thứ nhất là:

105 – ( 2+ 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 +

Trang 21

* Ví dụ: Lân có 20 viên bi, Long có số bi bằng một nửa số bi của Lân, Quý có

số bi nhiều hơn trung bình cộng của 3 bạn là 6 viên Hỏi Quý có bao nhiêu viên bi?

( 30 + 6 ) : 2 = 18 ( viên bi )

Số bi của Quý là:

18 + 6 = 24 ( viên bi )Đáp số: 24 viên bi

Cách 2

Phân tích: Ta xem trung bình cộng số bi của 3 bạn là 1 đoạn thẳng thì tổng số

bi của 3 bạn là 3 đoạn như thế gộp lại mà số bi của Lân đã biết, số bi của Long ta sẽ tính qua Lân Từ đó ta tính được số bi của Quý

Trang 22

- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hoặc bằng ngôn ngữ kí hiệu ngắn gọn Thông qua

đó để thiết lập mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm

- Phân tích bài toán để tìm cách giải Kết quả của bước này là xác định một trình

tự để giải toán

- Lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đó Có để đi tới đáp số Cầnthử lại sau mỗi phép tính và đáp số để tự kiểm tra xem mình đó chắc đóng chưa, sau

đó viết cẩn thận bài giải vào vở

2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh

Xây dựng mối quan hệ Gia đình – Nhà trường có vai trò quan trọng trong tất cảcác môn học Riêng phân môn Toán đặc biệt là giải toán có lời văn thì giáo viên cần

có biện pháp phối kết hợp cùng gia đình để rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh,

đó cũng chính là một trong những nội dung giá của Thông tư 30/2014/ TT-BGDĐT,

Trang 23

2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn cách kiểm tra và đánh giá học sinh theo TT30/2014/TT-BGDĐT

Trong quá trình dạy học, giáo viên có sổ nhật kí ghi lại những vấn đề học sinhchưa nắm được để có biện hỗ trợ hướng dẫn học sinh làm bài Quan tâm tới mức độhoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh để giúp các em vượt qua khó khăn Hiện naygiáo viên không được ra bài tập về nhà nhưng không vì thế mà học sinh có thể quênkiến thức đã học Giáo viên cần có biện pháp củng cố bài cũ trước khi vào bài mới,

bổ sung bù đắp kiến thức còn thiếu cho học sinh kịp thời để các em có thể học tốt hơnbài học mới

Trong quá trình dạy học, giáo viên cũng cần có sự khen ngợi động viên học sinhkịp thời dù sự tiến bộ của các em rất nhỏ Động viên học sinh tham gia nhận xét, góp

ý bạn trong quá trình học tập Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp linh hoạt Cóthể vận dụng môn hình dạy học nhóm, dạy học theo đối tượng Giáo viên cũng cầnnghiên cứu kỹ chuẩn kiến thức kỹ năng của từng bài học để giảng dạy hợp lý, tránhquá sức đối với học sinh

Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái.Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm chonhững hoạt động sau mang tính khích lệ động viên học sinh Những tiêu chí nhận xétcần thiết phải có:

- Sự luân phiên trong nhóm

- Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận

- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao

- Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp

Hình thức nhận xét: bằng lời nói trực tiếp với học sinh; ghi vào vở, vào phiếu học tập của học sinh; hoặc thưởng hoa, thưởng cờ, ( nếu học sinh làm tốt)

Ví dụ một số lời nhận xét:

-Em đã tóm tắt, giải thành thạo và trình bày khoa học bài toán (HS hoàn thành tốt)

Trang 24

- Em đã biết cách giải dạng toán này, nhưng em cần rèn thêm tính toán (sai kết quả)

- Em làm bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt, trình bày sạch đẹp Đáng khen!

- Em đã cố gắng hoàn thành bài làm, để đạt được kết quả tốt hơn em cần xác định đúng số các số hạng và tính toán cẩn thận hơn

* Trong quá trình dạy học tôi luôn áp dụng những biện pháp trên vào giảng dạy Sau đó tôi đã tiến hành khảo sát học sinh và thấy rằng các em nhận ra dạng toán, trìnhbày được bài giải, chỉ có một số ít em sơ suất do tính toán, chất lượng học tập của họcsinh có chuyển biến rõ rệt, đặc biệt kĩ năng giải toán về tìm số trung bình cộng được nâng lên đáng kể, các em sôi nổi tích cực xây dựng bài, hứng thú hơn trong giờ học

Kết quả học lực môn Toán học kì I:

3.1 Ý nghĩa của đề tài

Qua nghiên cứu lý thuyết kết hợp với việc áp dụng thực tế, đề tài “ Một số biện

pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng” đã góp phần

nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng Trong phạm vi của đềtài, đầu tiên tôi giúp học sinh nắm chắc lý thuyết về giải toán trung bình cộng mộtcách đơn giản nhất, phù hợp với trình độ của học sinh tiểu học, từ đó học sinh vậndụng vào các bài tập thực hành được trình bày từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp, hình thức bài tập đa dạng để kích thích sự tư duy của học sinh từ đó các em làmchắc, làm đúng bài tập theo yêu cầu Học sinh đã nắm chắc các dạng Toán, có thóiquen tóm tắt, phân tích bài toán, nắm được cách giải từng dạng toán Phần lớn họcsinh không còn ngại khi làm toán giải, có hứng thú say mê học toán đặc biệt với cácdạng toán này các em đã tích cực chủ động tìm cách giải, có ý thức thi đua tìm ra cáccách giải khác nhau

Trang 25

Qua việc tổ chức học nhóm tôi thấy các em hứng thú, say sưa sôi nổi hơn tronghọc tập Những học sinh khá, giỏi có điều kiện phát huy hơn năng lực của mình Cònnhững em trước đây vốn chậm chạp, nhút nhát, tiếp thu bài chậm, ít trao đổi, ít giơtay phát biểu ý kiến thì nay đã mạnh dạn hơn, tự tin hơn, sôi nổi hơn trong học tập vàcác hoạt động Các em biết hợp tác, giúp đỡ, giao tiếp học hỏi lẫn nhau, tự tìm tòi, tựphát hiện và tự chiếm lĩnh kiến thức Các em học tập một cách hứng thú, tập trungvới tinh thần thi đua, vui vẻ, tích cực Tiết dạy nhẹ nhàng, tự nhiên, sinh động và hiệuquả Tôi vận dụng đánh giá theo Thông tư 30 vào trong quá trình dạy học để giúp họcsinh phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng đánh giá chất lượng họctập của bạn cũng như của bản thân để tự xây dựng kế hoạch tự rèn luyện trong họctập qua vận dụng thực tế

Ý nghĩa của đề tài còn thể hiện ở một số bài học kinh nghiệm sau:

1 Thay đổi không gian lớp học phù hợp

2 Vận dung mô hình dạy học VNEN

3 Biết cách gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh để tích cực tham gia xây dựngbài

4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích khám pha và rút ra được kiếnthức mới

5 Nắm được một số sai lầm của học sinh khi giải toán để đưa ra được các biệnpháp nâng cao chất lượng

6 Phải làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh

7 Linh hoạt trong lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học và đánh giá họcsinh

Để nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình công giáo viên cần

phải thực hiện tốt những biện pháp nêu trên Đề tài nghiên cứu trong phạm vi đối

tượng học sinh trường tiểu học nơi tôi công tác, tôi mạnh dạn chia sẻ cùng đồngnghiệp

3.2 Kiến nghị, đề xuất

1 Đối với giáo viên :

Trang 26

- Không ngừng học tập, trau dồi kiến thức cho bản thân để tìm ra phương phápdạy học tốt nhất Tự giác tu dưỡng, rèn luyện bải thân để thực sự là tấm gượng sángcho học sinh noi theo.

2 Đối với nhà trường

- Trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học đặc biệt là các thiết bị dạy học hiện đại

- Tổ chức các buổi hội thảo, củng cố chuyên đề về đổi mới phương pháp dạyhọc

Những vấn đề được nêu trên đây chỉ có tính chất trao đổi kinh nghiệm trongcông tác giảng dạy, rất mong được tập thể sư phạm nhà trường, các đồng nghiệp quantâm góp ý, bổ sung cho tôi được thêm sự hiểu biết và tiếp tục ứng dụng vào việc nângcao hiệu quả giảng dạy và giải toán tìm số trung bình cộng ở lớp 4 nói riêng và ở cáclớp học khác nói chung nhằm nâng cao chất lượng đào tạo./

Xin chân thành cảm ơn

Ngày đăng: 08/01/2018, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w