Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam (LA tiến sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN QUỲNH NGA
QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA CHÍNH PHỦ
TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN QUỲNH NGA
QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA CHÍNH PHỦ
TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý hành chính công
Mã số: 62 34 82 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Văn Hậu 2 PGS.TS Bế Trung Anh
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi Các số liệu và tư liệu được trình bày trong Luận án là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng năm 2018
TÁC GIẢ
Nguyễn Quỳnh Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề hoàn thành luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công “Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam”, tác giả xin
được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học, Khoa Văn bản
và Công nghệ hành chính cùng các đơn vị khác trong Học viện Hành chính Quốc gia
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
- PGS.TS Nguyễn Văn Hậu và PGS.TS Bế Trung Anh đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và trách nhiệm trong suốt quá trình nghiên cứu Luận án
- Các giáo sư, phó giáo sư, các nhà khoa học, quý thầy, cô, các đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu và hoàn thành Luận án
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương, đặc biệt là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Ngoại giao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Khoa học và Công nghệ; UBND tỉnh Yên Bái, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND TP Đà Nẵng và UBND TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tiếp cận và khảo sát thực tiễn
Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, tháng năm 2018
TÁC GIẢ
Nguyễn Quỳnh Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học và Câu hỏi nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của Luận án 9
7 Cấu trúc của Luận án 10
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng nói chung 11
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng của Chính phủ 14
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ truyền thông - báo chí 16
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ giao tiếp 17
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 19
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng nói chung 19
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng của Chính phủ 22
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ truyền thông - báo chí 25
1.2.4 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ giao tiếp 28
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với Luận án 29
1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu 29
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 30
Chương 2 Cơ sở lý luận về quan hệ công chúng của Chính phủ 32
2.1 Quan hệ công chúng 32
2.1.1 Khái niệm quan hệ công chúng 32
2.1.2 Phân biệt quan hệ công chúng và các lĩnh vực liên quan 34
Trang 62.2 Cơ sở lý thuyết của quan hệ công chúng 37
2.2.1 Vốn xã hội là nền tảng của quan hệ công chúng 37
2.2.2 Giao tiếp là bản chất của quan hệ công chúng 40
2.3 Quan hệ công chúng của Chính phủ 43
2.3.1 Khái niệm quan hệ công chúng của Chính phủ 43
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ công chúng của Chính phủ 46
2.3.3 Vai trò của quan hệ công chúng của Chính phủ 47
2.3.4 Nội dung quan hệ công chúng của Chính phủ 51
2.4 Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước 59
2.4.1 Quan niệm về cải cách hành chính 59
2.4.2 Yêu cầu đối với quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước 60
2.5 Kinh nghiệm quan hệ công chúng của Chính phủ một số quốc gia trên thế giới 63
2.5.1 Kinh nghiệm về nhận thức vai trò quan hệ công chúng của Chính phủ 63
2.5.2 Kinh nghiệm về xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ 64
2.5.3 Kinh nghiệm về tổ chức bộ máy phụ trách quan hệ công chúng của Chính phủ 66
2.5.4 Kinh nghiệm về đầu tư tài chính cho hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ 67
2.5.5 Kinh nghiệm về quan hệ công chúng đối nội của Chính phủ 68
2.5.6 Kinh nghiệm về quan hệ công chúng đối ngoại của Chính phủ 69
2.5.7 Kinh nghiệm về xây dựng hình ảnh người lãnh đạo 71
2.5.8 Bài học kinh nghiệm 72
Chương 3 Thực trạng quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam 74
3.1 Thực trạng hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ với người dân 74
3.1.1 Cung cấp thông tin đến người dân 74
3.1.2 Tiếp nhận thông tin phản hồi từ người dân 83
3.1.3 Xây dựng và đánh giá hình ảnh Chính phủ 86
Trang 73.2 Quan hệ công chúng của Chính phủ với cán bộ, công chức 92
3.2.1 Hoạt động thông tin nội bộ 92
3.2.2 Tổ chức sự kiện nội bộ 98
3.2.3 Xây dựng văn hóa công sở 100
3.3 Quan hệ công chúng của Chính phủ với báo chí 104
3.3.1 Tổ chức họp báo 105
3.3.2 Phát ngôn công vụ 107
3.3.3 Quản trị khủng hoảng truyền thông 108
3.4 Quan hệ công chúng của Chính phủ với các quốc gia 112
3.4.1 Thiết lập mạng lưới ngoại giao 113
3.4.2 Hoạt động truyền thông giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam 115
3.4.3 Tổ chức và tham gia hội nghị, hội thảo quốc tế 117
3.4.4 Xúc tiến thương mại, văn hóa, thể thao, du lịch 118
3.5 Đánh giá hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam 119
3.5.1 Những kết quả đạt được 119
3.5.2 Một số hạn chế 120
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 124
Chương 4 Phương hướng và giải pháp tăng cường quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam 128
4.1 Phương hướng tăng cường quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam 128
4.2 Giải pháp tăng cường quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam 130
4.2.1 Nâng cao nhận thức về quan hệ công chúng của Chính phủ 130
4.2.2 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ 133
4.2.3 Xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy thực hiện quan hệ công chúng của Chính phủ 134
4.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ 139
Trang 84.2.5 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động quan hệ công chúng của
Chính phủ 143
4.2.6 Đảm bảo nguồn lực về tài chính và hạ tầng kỹ thuật 147
KẾT LUẬN 150
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC Phụ lục I: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho người dân 165
Phụ lục II: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ, công chức 171
Phụ lục III: Hướng dẫn phỏng vấn sâu người dân 177
Phụ lục IV: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ, công chức 178
Phụ lục V: Đặc điểm đối tượng khảo sát người dân 179
Phụ lục VI: Đặc điểm đối tượng khảo sát cán bộ, công chức 182
Phụ lục VII: Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ công chúng trên thế giới và ở Việt Nam 185
Phụ lục VIII: Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 196
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ
Tiếng Việt
CBCC Cán bộ, công chức CCHC Cải cách hành chính CMCN 4.0 Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 HCNN Hành chính nhà nước
NXB Nhà xuất bản QHCC Quan hệ công chúng UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Tiếng nước ngoài
PR Public Relations - Quan hệ công chúng USIA United States Information Agency
Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ USIS United States Information Service
Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ VOA Voice of America - Đài Tiếng nói Hoa Kỳ
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Phân biệt quan hệ công chúng và quảng cáo 34
Bảng 2.2: Phân biệt quan hệ công chúng và maketing 35
Bảng 2.3: Phân biệt quan hệ công chúng và dân vận 35
Bảng 2.4: Phân biệt quan hệ công chúng và tuyên truyền 36
Bảng 3.1: Đánh giá của người dân về mức độ hiệu quả của các kênh thông tin về cải cách hành chính nhà nước 78
Bảng 3.2: Những khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin của người dân81 Bảng 3.3: Đánh giá của người dân về trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước 87
Bảng 3.4: Kênh thông tin được người dân sử dụng để tìm hiểu một số vụ việc 109
Bảng 4.1: Tiêu chí đánh giá năng lực chuyên viên quan hệ công chúng của Chính phủ 140
Bảng 4.2: Tiêu chí đánh giá hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ 144
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.6: Mức độ cán bộ, công chức sử dụng các hình thức để tiếp cận và khai thác
thông tin trong nội bộ cơ quan 94
Biểu đồ 3.7: Mức độ tham gia ý kiến của cán bộ, công chức trong hoạt động nội bộ cơ
quan hành chính nhà nước 96
Biểu đồ 3.8: Mức độ sử dụng các hình thức tham gia ý kiến của cán bộ, công chức
trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước 97
Biểu đồ 3.9: Mức độ tham gia của cán bộ, công chức vào các loại hình sự kiện nội bộ
trong cơ quan hành chính nhà nước 99
Biểu đồ 3.10: Yếu tố gắn kết cán bộ, công chức làm việc lâu dài trong cơ quan hành
Sơ đồ 4.1: Đề xuất mô hình Vụ Quan hệ công chúng thuộc Văn phòng Chính phủ 136
Sơ đồ 4.2: Đề xuất mô hình Phòng Quan hệ công chúng thuộc Văn phòng Bộ 137
Sơ đồ 4.3: Đề xuất mô hình Phòng Quan hệ công chúng thuộc Văn phòng UBND
cấp tỉnh 138
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, quan hệ công chúng (Public Relation - PR) không còn là một khái niệm mới mẻ Trên thế giới, quan hệ công chúng chuyên nghiệp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị trường Trải qua gần một thế kỷ phát triển, ngành quan hệ công chúng ngày càng khẳng định vai trò
và tầm quan trọng của nó không chỉ trong lĩnh vực kinh doanh mà còn trong nền chính trị hiện đại Quan hệ công chúng đã, đang và vẫn sẽ là một trong những hoạt động quan trọng của Chính phủ tất cả các nước nói chung và Chính phủ Việt Nam nói riêng
Mục tiêu của quan hệ công chúng là tạo sự hiểu biết và quan hệ tích cực giữa tổ chức với các nhóm công chúng của nó Đó thực chất là một công cụ mang tính chiến lược trong ứng xử với công chúng của tổ chức Nói cách khác, nhìn nhận đúng bản chất và xác định đúng vai trò của hoạt động quan hệ công chúng sẽ cho phép tận dụng tối đa các điểm mạnh và cơ hội mà hoạt động này đem lại cho tổ chức
Với ý nghĩa như vậy, đề tài luận án được lựa chọn xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò của hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ
Công tác quan hệ công chúng trong hoạt động của Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền một hành chính hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay Thực tiễn đặt ra yêu cầu cải cách từ nền hành chính “cai trị” sang nền hành chính “phục vụ”, coi người dân là khách hàng, lấy sự hài lòng của người dân là thước đo hiệu quả quản lý Điều đó đòi hỏi Chính phủ phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, trong đó, tăng cường hoạt động quan hệ công chúng
là một trong những giải pháp mang tính tích cực và bền vững
Bên cạnh đó, vai trò của quan hệ công chúng trong hoạt động của Chính phủ ngày càng được khẳng định Tại các nước phương Tây, Nga và Trung Mỹ, quan hệ công chúng được nhìn nhận là có vai trò trung tâm trong việc giành và giữ quyền lực chính trị Thực tiễn cho thấy một Chính phủ dân chủ thật sự là một Chính phủ duy trì mối quan hệ mật thiết với các nhóm công chúng mục tiêu, nhạy bén đáp ứng các yêu cầu của người dân, dựa trên cơ sở sự hiểu biết lẫn nhau và hoạt động thông tin hai chiều Hoạt động quan hệ công chúng trong Chính phủ có thể khác nhau tuỳ từng cơ quan, song chúng phải dựa trên hai cơ sở nền tảng: (1) Chính phủ dân chủ phải thông tin cho người dân biết hoạt động của mình; (2) Hoạt động quản lý Chính phủ hiệu quả đòi hỏi phải có sự chủ động tham gia và ủng hộ của người dân
Hoạt động của Chính phủ bao trùm và ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội Xã hội phát triển, người dân ngày càng có nhu cầu được tham gia theo dõi, giám sát, có ý kiến đối với các hoạt động của Chính phủ để đảm bảo quyền dân chủ, quyền
Trang 13ngày càng tăng Muốn tham gia và thực hiện quyền làm chủ của mình thì trước tiên người dân phải hiểu, phải nắm bắt được thông tin về những hoạt động của Chính phủ một cách trung thực và khách quan nhất Và khi đó, quan hệ công chúng trở thành một công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý và điều hành của Chính phủ
Mặt khác, bộ máy của Chính phủ ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng của người dân Bộ máy của Chính phủ càng cồng kềnh và phức tạp thì Chính phủ càng khó gần dân, càng khó có dịp lắng nghe và đáp ứng những nhu cầu của dân Hàng năm, hàng loạt báo cáo được đưa ra, song chúng tràn ngập những thuật ngữ khiến người dân khó hiểu và giảm lòng tin vào tính hiệu quả trong hoạt động của Chính phủ, xa rời và giảm nhiệt tình trong việc hợp tác với Chính phủ Do đó, rất cần
có các hoạt động quan hệ công chúng nhằm tạo sự hiểu biết, là cầu nối giữa Chính phủ
và nhân dân [44, tr.130-131]
Như vậy, có thể thấy, quan hệ công chúng là một phần không thể thiếu trong quản trị chiến lược của Chính phủ, nhằm xây dựng và củng cố mối quan hệ lâu dài giữa Chính phủ và công chúng, tăng cường hiểu biết, hỗ trợ và đồng thuận đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của Chính phủ để đạt đến sự hài lòng của công dân [106]
Thứ hai, xuất phát từ những bất cập, hạn chế trong hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay
Quan hệ công chúng gắn kết chặt chẽ với hoạt động cung cấp thông tin, đối thoại hai chiều và xây dựng hình ảnh Trong thời gian qua, tuy đã có những động thái tích cực trong việc xây dựng và phát triển quan hệ công chúng, nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn còn tồn tại không ít hạn chế trong lĩnh vực này
Đối với các nhóm công chúng, đặc biệt là người dân, việc cung cấp và phản hồi thông tin chưa được thực hiện thường xuyên và kịp thời, thông tin còn mang tính đơn phương và thiếu toàn diện, công khai nhưng chưa minh bạch
Trong hoạt động quan hệ công chúng nội bộ, quá trình trao đổi thông tin hai chiều giữa tổ chức với cán bộ, công chức vẫn chưa đảm bảo được công khai đầy đủ các nội dung theo quy định, chưa phát huy được tinh thần dân chủ trong nội bộ cơ quan HCNN, sự kết nối hay tương tác giữa các tổ chức với nhóm công chúng nội bộ chưa đáp ứng với được yêu cầu thực tiễn của nền hành chính mang tính phục vụ
Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin cho báo chí vẫn thiếu bài bản, không thường xuyên và không đầy đủ Việc công bố, công khai thông tin còn chậm và hình thức, thiếu hiệu quả Cách thức thông tin đối với báo chí và truyền thông chưa được quản lý một cách chuyên nghiệp Hoạt động phát ngôn công vụ còn tồn tại nhiều hạn chế về nhân lực cũng như năng lực
Trong hoạt động quan hệ công chúng đối ngoại, hình ảnh của Việt Nam chưa được quảng bá tương xứng với tầm vóc, vị thế của đất nước hiện nay, công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành, phối hợp các lực lượng thông tin đối ngoại còn chưa thống nhất
Trang 14Tất cả những hạn chế, bất cập nói trên đòi hỏi Chính phủ phải có một chiến lược quan hệ công chúng dài hạn, phải xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động này trong việc duy trì và củng cố quyền lực chính trị một cách bền vững, mang lại sự ủng hộ đối với quyết sách của Chính phủ, từ đó, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Thứ ba, xuất phát từ mối liên hệ giữa quan hệ công chúng và cải cách hành chính nhà nước
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định cải cách hành chính là một trong ba khâu đột phá chiến lược để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Nhiệm vụ cải cách hành chính lại được Báo cáo Chính trị tại Đại
hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả”
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 xác định 5 mục tiêu, 6 nhiệm vụ cải cách trên các lĩnh vực: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; và hiện đại hóa hành chính Tất cả những nội dung nêu trên, suy cho cùng đều là hướng tới đích cuối cùng
là xây dựng một nền hành chính phục vụ, lấy lợi ích của người dân làm trung tâm của mọi cải cách Điều này tương thích với mục tiêu của hoạt động quan hệ công chúng là xây dựng mối quan hệ tích cực giữa Chính phủ với người dân và các nhóm công chúng khác, phù hợp với bản chất của hoạt động quan hệ công chúng là quá trình giao tiếp hai chiều, gia tăng sự hiểu biết và tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách và quản lý của Chính phủ
Mặt khác, nghiên cứu quan hệ công chúng của Chính phủ đặt trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước sẽ thấy được mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa hai hoạt động này Quan hệ công chúng như là một cách thức để tăng cường hiệu quả của cải cách hành chính, và ngược lại, cải cách hành chính tốt sẽ góp phần củng cố niềm tin, tạo tiền đề để phát triển hoạt động quan hệ công chúng Như vậy, việc đặt quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước, hướng đến phục vụ quá trình cải cách là một ý tưởng hợp lý và cần thiết
Xuất phát từ những kiến giải nói trên, Luận án nghiên cứu về “Quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính Nhà nước ở Việt Nam”
mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 152 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan, hệ thống hóa những vấn đề chung về hoạt động QHCC của Chính phủ, đặt cơ sở, nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động này
- Trên cơ sở thu thập số liệu, nghiên cứu tài liệu và sử dụng các phương pháp chuyên ngành khác để đánh giá thực trạng hoạt động QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Xuất phát từ đánh giá thực trạng để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ nhằm hướng đến phục vụ CCHC nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QHCC của Chính phủ đặt trong bối cảnh CCHC nhà nước
Chủ thể của hoạt động QHCC ở đây là Chính phủ Thuật ngữ “Chính phủ” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các cơ quan HCNN ở trung ương và địa phương (Xem thêm tại mục 2.3.1 trong nội dung Luận án)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu những hoạt động QHCC
của Chính phủ trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến nay Đây cũng là khoảng thời gian chương trình tổng thể CCHC Nhà nước được xây dựng và đi vào thực thi
- Phạm vi về không gian: Tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập số liệu tại hai
cơ quan trung ương là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; và bốn cơ quan địa phương tại các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh, Yên Bái (được lý giải cụ thể trong mục 4.2)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
- Quan điểm duy vật biện chứng
Khi nghiên cứu đề tài, hoạt động QHCC của Chính phủ được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với các chương trình, chính sách và các hoạt động khác của Chính phủ Bên cạnh đó, khi nghiên cứu, cần đặt hoạt động này trong mối quan hệ tương tác với các nguồn lực (nhân lực và vật lực) hiện có, để thấy được sự phù hợp và
Trang 16mức độ sẵn sàng của Chính phủ trong quá trình tạo lập và triển khai, ứng dụng các hoạt động QHCC hỗ trợ cho quá trình CCHC nhà nước
- Quan điểm duy vật lịch sử
Khi nghiên cứu luôn nhận thức hoạt động QHCC của Chính phủ trong tiến trình hình thành và phát triển của nó, trong tiến trình phát triển của đất nước, để thấy được
sự phát triển và trưởng thành qua các thời kỳ Qua đó, có thể thấy được nhưng vấn đề phát sinh trong thời kỳ mới để tìm ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụng phương thức này vào đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước nói chung
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phân tích tài liệu
Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản, nhằm cung cấp cơ sở lý luận cần thiết
để tiến hành nghiên cứu Các nguồn tài liệu được chia thành ba nhóm cơ bản:
- Các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề nghiên cứu (Văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, Chương trình tổng thể…)
- Các công trình khoa học đã được công bố trên thế giới và ở Việt Nam
- Các báo cáo, số liệu thống kê liên quan đến vấn đề nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
4.2.2 Khảo sát, điều tra
- Phương pháp chọn mẫu khu vực (Cluster) kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản [98, tr.163-164]
- Đối tượng khảo sát, điều tra:
+ Người dân
+ CBCC trong các cơ quan HCNN
- Địa bàn khảo sát: Luận án lựa chọn địa bàn khảo sát dựa vào kết quả Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong 3 năm gần đây (2014 – 2016)
Theo đó, đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, dựa trên kết quả Chỉ số CCHC, Luận án lựa chọn trong hai đơn vị để khảo sát:
+ Bộ Khoa học và Công nghệ; là đơn vị có nhiều tiến bộ vượt bậc về kết quả Chỉ số CCHC trong những năm gần đây, đến năm 2016, đã đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng chỉ số
Trang 17+ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: thường xếp ở vị trí nhóm thấp điểm trong bảng xếp hạng Chỉ số CCHC, đến năm 2016, đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng
Tương tự, đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kết quả Chỉ số CCHC những năm gần đây có thể được chia thành 04 nhóm: Nhóm A là nhóm có chỉ
số CCHC cao, Nhóm B là nhóm khá, Nhóm C là nhóm trung bình, và Nhóm D là nhóm thấp trong bảng xếp hạng
Luận án lựa chọn trong mỗi nhóm một tỉnh, thành đại diện để khảo sát và nghiên cứu, so sánh, từ đó có thể thấy được mối liên hệ giữa hoạt động QHCC với kết quả CCHC:
Nhóm A: lựa chọn Thành phố Đà Nẵng
Nhóm B: lựa chọn Quảng Ninh
Nhóm C: lựa chọn Thành phố Hồ Chí Minh
Nhóm D: lựa chọn Yên Bái
- Hình thức khảo sát, điều tra: Bảng hỏi (phiếu điều tra)
+ CBCC trong các cơ quan HCNN;
- Đối tượng phỏng vấn sâu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng kết hợp chọn mẫu chủ đích [98, tr.164]
- Cỡ mẫu phỏng vấn sâu: Tổng số mẫu phỏng vấn sâu được thực hiện trong nghiên cứu này là 34 mẫu
- Các thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được mã hóa và phân tích theo từng chủ đề được xây dựng trong quá trình thiết kế nghiên cứu và phỏng vấn tại thực địa
ID Họ tên Tuổi Giới
Trang 184.2.4 Lấy ý kiến chuyên gia
- Đề tài luận án sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia đối với các đối tượng:
+ Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về lĩnh vực QHCC;
+ Các nhà quản lý trong bộ máy HCNN
- Nội dung lấy ý kiến:
+ Cơ sở lý thuyết của hoạt động QHCC;
+ Sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất trong Luận án
5 Giả thuyết khoa học và Câu hỏi nghiên cứu
5.1 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết khoa học của luận án là: Nếu Chính phủ thực hiện tốt hoạt động
QHCC thì sẽ nâng cao hiệu quả cải cách hành chính nhà nước
- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu giả thuyết (trả lời cho câu hỏi tại sao)
Để chứng minh giả thuyết này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận về QHCC nói chung và QHCC của Chính phủ nói riêng với những nội dung cơ bản tại Chương 2
Từ sự phân tích cơ sở lý luận trên thấy được vai trò của QHCC trong hoạt động của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước
- Tác động của giả thuyết (trả lời cho câu hỏi như thế nào)
Giả thuyết đặt ra là đúng sẽ dẫn đến sự tác động đến những nhóm công chúng của Chính phủ, và được phân tích cụ thể tại Chương 3 của luận án, bao gồm:
+ QHCC của Chính phủ với người dân;
+ QHCC của Chính phủ với cán bộ, công chức;
+ QHCC của Chính phủ với báo chí;
+ QHCC của Chính phủ với các quốc gia
- Giải pháp của giả thuyết
Khi giả thuyết được chứng minh là đúng, Luận án sẽ đề xuất một hệ thống những giải pháp để hiện thực hóa giả thuyết, cụ thể là những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ, hướng đến phục vụ CCHC nhà nước ở Việt Nam Nội dung này sẽ được giải quyết trong Chuơng 4 của Luận án
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để chứng minh cho giả thuyết khoa học nói trên, Luận án cần tập trung làm rõ
và trả lời hệ thống câu hỏi nghiên cứu, cụ thể như sau:
Trang 19Câu hỏi 1: QHCC là gì? QHCC có điểm gì giống và khác với quảng cáo, maketing, dân vận và tuyên truyền?
Đây là câu hỏi nghiên cứu đầu tiên mà Luận án cần trả lời, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu và trả lời các câu hỏi phía sau Để trả lời được câu hỏi này, cần làm rõ được khái niệm QHCC Trên thế giới hiện có khoảng 500 định nghĩa khác nhau về QHCC Đây là một lĩnh vực hoạt động rất phong phú, mỗi lĩnh vực có thể tiếp cận nó
từ một góc độ khác nhau Vì vậy, cần phải tổng hợp và phân tích nhằm đưa ra được khái niệm thống nhất về QHCC phù hợp với mục đích và phạm vi của Luận án, trên cơ
sở đó phân biệt QHCC với các khái niệm liên quan như quảng cáo, maketing, tuyên truyền và dân vận
Câu hỏi 2: Hoạt động QHCC là gì? Cần có cơ sở lý thuyết nào để nghiên cứu
về bản chất của hoạt động QHCC?
Trả lời câu hỏi này nhằm làm rõ bản chất và nền tảng lý thuyết của hoạt động QHCC Mỗi lĩnh vực đều có một hệ thống kiến thức nền tảng, nhằm tạo cơ sở giải thích cho các hoạt động của lĩnh vực đó Việc xác định cơ sở lý thuyết sẽ giúp xây dựng căn cứ vững chắc cho việc phân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp
Câu hỏi 3: QHCC của Chính phủ là gì? QHCC có vai trò như thế nào trong hoạt động của Chính phủ?
Từ việc trả lời câu hỏi 1, Luận án cần đi đến làm rõ khái niệm QHCC của Chính phủ, chỉ rõ chủ thể và đối tượng của hoạt động này và vai trò của nó trong quá trình quản lý HCNN Việc xác định đúng phạm vi khái niệm có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến hướng nghiên cứu của Luận án
Câu hỏi 4: QHCC của Chính phủ bao gồm những hoạt động cụ thể nào?
Ngoài việc xây dựng đươc khái niệm cụ thể và phù hợp với phạm vi nghiên cứu, Luận án còn phải xác định được QHCC của Chính phủ bao gồm những nội dung, hoạt động cụ thể nào Việc gọi tên và phân tích đầy đủ các nội dung của hoạt động QHCC sẽ là cơ sở để tiến hành nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp
Câu hỏi 5: Thực trạng hoạt động QHCC của Chính phủ với các nhóm công chúng hiện nay như thế nào?
Từ những kiến thức lý luận thu được thông qua việc trả lời các câu hỏi phía trên, Luận án đi vào tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát biểu hiện của các nội dung hoạt động QHCC của Chính phủ trên thực tế, đặt trong bối cảnh CCHC nhà nước Từ đó,
có thể đánh giá được những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động này trên mỗi nội dung cụ thể
Câu hỏi 6: Nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế trong hoạt động QHCC của Chính phủ?
Trang 20Việc nhìn nhận những nguyên nhân hạn chế trong hoạt động QHCC của Chính phủ sẽ giúp cho việc hoạch định những giải pháp cụ thể nhằm tác động vào từng nguyên nhân, hướng đến việc hiện thực hóa mục đích nghiên cứu của Luận án
Câu hỏi 7: Các quốc gia trên thế giới đã có những kinh nghiệm thành công nào trong việc ứng dụng QHCC vào hoạt động của Chính phủ?
Các quốc gia trên thế giới đã có rất nhiều thành công trong việc ứng dụng các nguyên tắc, kỹ năng QHCC vào hoạt động của Chính phủ, các cơ quan công quyền Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia này sẽ tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp mang tính sáng tạo, có tính đến yếu tố phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
Câu hỏi 8: Cần có những giải pháp nào để tăng cường QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời được câu hỏi này phải trên cơ sở trả lời các câu hỏi phía trên Nói cách khác, việc đề xuất giải pháp phải xuất phát từ nhận thức đầy đủ về lý luận và thực trạng Bên cạnh đó, các giải pháp đưa ra cần tính đến yếu tố khả thi và phù hợp với thực tiễn của chủ thể Trả lời được câu hỏi này chính là đã đáp ứng và hoàn thành mục đích nghiên cứu của Luận án đề ra
6 Những đóng góp mới của Luận án
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Xuất phát từ nhận định sự thiếu hụt cơ sở lý luận về hoạt động QHCC của Chính phủ trong quản lý HCNN nói chung và trong bối cảnh CCHC nói riêng, Luận
án đóng góp những luận điểm lý luận khoa học bao gồm:
- Thống nhất khái niệm QHCC và QHCC của Chính phủ
- Xác định nội hàm khái niệm QHCC trên cơ sở phân biệt với một số khái niệm liên quan
- Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động QHCC
- Phân tích vai trò của QHCC trong hoạt động của Chính phủ
- Xác định nội dung cụ thể của hoạt động QHCC của Chính phủ
- Nghiên cứu kinh nghiệm ứng dụng QHCC vào hoạt động Chính phủ của một
số quốc gia trên thế giới
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Ngoài yếu tố lý luận, đề tài còn mang lại ý nghĩa, giá trị thực tiễn:
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng QHCC của Chính phủ với người dân
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng QHCC của Chính phủ với đội ngũ CBCC (QHCC nội bộ)
Trang 21- Nghiên cứu và phân tích thực trạng QHCC của Chính phủ với báo chí
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng QHCC của Chính phủ với các quốc gia (QHCC đối ngoại)
- Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước liên quan đến hoạt động QHCC của Chính phủ
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý trong quá trình lãnh đạo thực hiện CCHC tại cơ quan mình Nghiên cứu này cũng có thể là nguồn tài liệu giảng dạy, tham khảo bổ ích cho các nhà hoạch địch chính sách, nhà làm luật, nhà quản lý HCNN, nhà nghiên cứu chuyên sâu, những người làm QHCC chuyên nghiệp, các giảng viên, học viên và tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực này
7 Cấu trúc của Luận án
Phần 1 Phần mở đầu
Phần 2 Nội dung và kết quả nghiên cứu (Gồm 4 chương)
Phần 3 Kết luận, kiến nghị và đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo
Phần 4 Danh mục công trình công bố của tác giả
Phần 5 Danh mục tài liệu tham khảo
Phần 6 Phụ lục
Trang 22Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tổng quan tình hình nghiên cứu hệ thống hóa những công trình khoa học đã công bố liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án ở phạm vi trên thế giới và trong nước, trên cơ sở tiếp cận ở bốn nội dung:
- QHCC nói chung;
- QHCC của Chính phủ;
- QHCC dưới góc độ truyền thông - báo chí;
- QHCC dưới góc độ giao tiếp;
Ở đây, cần nhận thức rõ sự khác nhau giữa hai cách tiếp cận QHCC: dưới góc
độ truyền thông và dưới góc độ giao tiếp Mặc dù cả hai thuật ngữ này trong tiếng Anh được diễn đạt gần giống nhau
Thứ nhất: Giao tiếp là trong tiếng Anh là “Communication”, là sự trao đổi
thông tin Đó chính là sự liên hệ, tương tác giữa con người với con người
Truyền thông trong tiếng Anh là “Communications”, được hiểu là hệ thống
truyền tải thông tin, ví dụ báo, đài, ti vi, internet Đó chính là công nghệ, là công cụ, phương tiện giúp tổ chức truyền tải những thông điệp của mình tới công chúng một cách rộng khắp Và trong QHCC, báo chí được coi là công cụ chủ yếu trong các phương tiện truyền thông Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay, quan hệ với giới báo chí được coi là một trong những công việc chủ yếu của người làm công tác QHCC
Thứ hai: Giao tiếp mang tính chất trao đổi thông tin hai chiều giữa tổ chức và
các nhóm công chúng
Truyền thông mang tính chất thông tin một chiều từ phía tổ chức đến công chúng
Thứ ba: Giao tiếp là bản chất của hoạt động QHCC
Truyền thông là phương tiện, công cụ của hoạt động QHCC
Vì vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu khai thác các công trình khoa học trên các nội dung, trong đó có hai nội dung khác biệt nói trên
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng nói chung
Nguồn tài liệu QHCC của các học giả nước ngoài nhìn chung rất dồi dào, phong phú Trải qua gần 100 năm phát triển, QHCC đã được đào sâu nghiên cứu cả trên lĩnh vực lý luận và thực hành, với sự tham gia của những học giả tên tuổi
Trang 23Một số sách về QHCC của các học giả nước ngoài đã được dịch sang Tiếng
Việt Được biết đến nhiều nhất là cuốn “Quảng cảo thoái vị, PR lên ngôi” của hai tác giả người Mỹ AI Ries và Laura ; và cuốn “Phá vỡ bí ẩn PR” của Frank Jefkins, hay cuốn “Sáng tạo chiến dịch PR hiệu quả” của tác giả Abbe Gregory Đây là tài
liệu giới thiệu những nét cơ bản, khái quát về nghề QHCC, chủ yếu hướng đến những kỹ năng thực hành QHCC trong doanh nghiệp, chưa mang tính lý luận nhiều
“Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi” của AI Ries và Laura không phủ nhận vai
trò của quảng cáo mà chỉ ra trật tự mới: “Bây giờ PR ngồi vào vị trí của người cầm lái và sẽ dẫn dắt, chỉ đường cho các chương trình tiếp thị”; “Chiến tranh và tiếp thị
có nhiều điểm giống nhau Các tướng lĩnh quân sự đi vào cuộc chiến ngày nay với những vũ khí của ngày xưa thì sẽ chẳng khác gì các tướng chỉ huy tiếp thị đi vào cuộc chiến ngày nay với công cụ quảng cáo mà lẽ ra họ phải dùng QHCC”.[86, tr.12] Cuốn sách đi sâu phân tích sự khác nhau giữa quảng cáo và QHCC, phân tích những luận điểm khẳng định vai trò của QHCC trong thời đại mới Tác giả khẳng đinh điều làm cho QHCC trở thành “vũ khí tối thượng trong cuộc chiến thu phục nhân tâm” là sức mạnh của một bên thứ ba, các phương tiện truyền thông đại chúng
Học giả Frank Jefkins trong “Phá vỡ bí ẩn PR” đã giới thiệu những nét khái
quát nhất về ngành QHCC (lịch sử phát triển, khái niệm, mục tiêu QHCC) Bên cạnh
đó, tác giả nhấn mạnh các hoạt động cơ bản của QHCC như: (1) Lập kế hoạch thực hiện chương trình QHCC, (2) Xác định nhóm công chúng, (3) Hợp tác với giới truyền thông, (4) Đánh giá kết quả của chiến dịch QHCC, và (5) Quản trị khủng hoảng Cuốn sách cũng đề cập đến yếu tố QHCC nội bộ (mối quan hệ giữa lãnh đạo
và nhân viên) và nguồn lực tài chính cho hoạt động QHCC
“Sáng tạo chiến dịch PR hiệu quả” của Abbe Gregory cũng khẳng định vai trò
của QHCC: “Những thông tin giống như các nét vẽ, dần xuất hiện theo thời gian bởi bàn tay của giới truyền thông và giúp hoàn chỉnh bức tranh toàn cảnh về hình dáng, phong cách và những đặc điểm đặc trưng của tổ chức hay cá nhân ấy trong nhận thức của công chúng” [39, tr.8] Abbe Gregory cung cấp những kiến thức và công cụ hữu ích nhất về kỹ năng hoạch định và quản lý chiến dịch QHCC Cuốn sách mang tính chất như một cuốn cẩm nang hướng dẫn từng buớc để thực hiện một chiến dịch QHCC hiệu quả bao gồm: (1) Khởi động quá trình hoạch định; (2) Nghiên cứu và phân tích; (3) Xác lập mục tiêu; (4) Xác định đối tượng công chúng và thông điệp; (5) Chiến lược và chiến thuật; (6) Khung thời gian và nguồn lực; (7) Đánh giá và rà soát
“The Public Relations Handbook” của học giả Alison Theaker là một nghiên
cứu giới thiệu toàn diện và chi tiết với các lý thuyết và thực tiễn của ngành QHCC Cuốn sách này cũng giới thiệu về lịch sử và sự phát triển của QHCC, tìm hiểu các vấn đề đạo đức mà ảnh hưởng đến ngành này, xem xét mối quan hệ của nó với chính trị, tổ chức vận động hành lang và báo chí, đánh giá tư vấn đào tạo QHCC chuyên nghiệp
“Public relations: The Profession and the Practice” của Dan Lattimore, Otis
Baskin, Suzette T Heiman nghiên cứu QHCC trong bối cảnh vùng phủ sóng của thị
Trang 24trường toàn cầu, công nghệ mới và đa văn hóa Cuốn sách cũng đề cập tới những tin tức mới nhất về QHCC, giải thích các công cụ cơ bản của thực hành QHCC, cung cấp một sự hiểu biết đa ngành của các xu hướng mới trong lĩnh vực này
“This is PR: The Realities of Public Relations” của Doug Newsom, Judy
Vanslyke Turk, Dean Kruckeberg là một cuốn sách lý tưởng cho những người bắt đầu hành nghề QHCC Nó bao gồm toàn bộ những kiến thức cơ bản về QHCC với sự nhấn mạnh những nội dung cơ bản như lịch sử và kỹ năng, cũng như các vấn đề đang nổi lên như công nghệ, đạo đức QHCC và các khía cạnh quốc tế Cuốn sách cũng thực tiễn hóa lý thuyết với rất nhiều ví dụ, chiến lược, chiến thuật, và các nghiên cứu
ở các trường hợp cụ thể liên quan đến QHCC
“Public relations writing: Form and style” của Doug Newsom, Jim Haynes là
một sự kết hợp các phương pháp tiếp cận thực tế với các nguyên tắc và lý thuyết về QHCC cơ bản, cung cấp những kỹ thuật và phương pháp cần thiết để thực hành kỹ năng viết trong QHCC Cuốn sách này hướng dẫn thông qua một trình tự logic của QHCC bằng văn bản, bắt đầu với một lời giải thích về cách loại văn bản và các nghĩa
vụ pháp lý và đạo đức Nó cũng giới thiệu những phong cách khác nhau và kỹ thuật đằng sau các nguyên tắc văn bản mà mỗi người hành nghề QHCC sẽ cần để phát triển
“Public relations cases” của Jerry A Hendrix, Darrell C Hayestrình bày một
nền tảng lý thuyết rõ ràng trong các lĩnh vực chính của QHCC Tác giả sử dụng các
mô hình quy trình ROPE (nghiên cứu, mục tiêu, lập trình, và đánh giá), tập trung vào các yếu tố chiến lược của chiến dịch truyền thông điển hình Các nghiên cứu trường hợp cung cấp cái nhìn khái quát cho các chiến dịch QHCC Các trường hợp đều sử dụng một mô hình truyền thông chiến lược, nơi mà mục tiêu được xác định rõ ràng được dựa trên nghiên cứu và phân tích đối tượng tốt và chiến thuật sáng tạo
“Public relations: Theory and Practice” của Keith Butterick là cuốn sách giới
thiệu về nguồn gốc của QHCC và trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp Tác giả phân tích hoạt động QHCC trong thực tiễn thông qua chiến lược nghiên cứu đo lường và đánh giá, đưa ra quy trình tổ chức một chiến dịch QHCC hiệu quả Cuốn sách cũng phân tích khái quát QHCC trong chính phủ và khu vực công
“Public relations: A managerial perspective” của Danny Moss, Barbara
DeSanto đưa ra một quan điểm quản lý trên các lĩnh vực QHCC Cuốn sách này khám phá QHCC và vai trò của nó trong thế giới tổ chức rộng lớn Tác giả nghiên cứu về xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và uy tín, quan hệ chính phủ và truyền thông cộng đồng, cũng như các khía cạnh pháp lý và đạo đức nghề nghiệp
“Opportunities in public relations careers” của Morris B Rotman thảo luận
về nhiều kỹ năng cần thiết cho các hình thức khác nhau của các chuyên gia QHCC, bao gồm quan hệ nhà đầu tư, công vụ, công ty truyền thông, quan hệ lao động, công khai tiếp thị và quan hệ khách hàng; cung cấp các thông tin chuyên sâu về quy mô và
Trang 25phạm vi, cơ hội và hạn chế của một lĩnh vực nghề nghiệp, tiền lương, xu hướng, triển vọng nghề dài hạn
“Career opportunities in advertising and public relations” của Shelly Field:
85 vị trí công việc liên quan đến quảng cáo và QHCC làm trong các cơ quan, các tập đoàn kinh doanh, các tổ chức phi lợi nhuận, điện tử và phương tiện in, chính phủ, và các hoạt động tự do được giới thiệu và phân tích trong cuốn sách này Ngoài các mô
tả nghề nghiệp cơ bản, mỗi hồ sơ liệt kê danh công việc thay thế; thông tin về tiền lương, triển vọng việc làm, địa điểm, và cơ hội thăng tiến; giáo dục, kinh nghiệm và điều kiện tiên quyết khác cho công việc Phụ lục tóm tắt bao gồm chương trình cấp bằng, thực tập, các cơ quan, các ấn phẩm, và các thuật ngữ Các dữ liệu được cung cấp nói chung là đáng tin cậy và khá hữu ích cho những người tìm việc làm tiềm năng liên quan đến nhành nghề quảng cáo và QHCC nói chung
“Public relations strategy: Korean case studies” của Won Woo Hyun là cuốn
sách nghiên cứu và phân tích toàn diện trường hợp QHCC của các doanh nghiệp Hàn Quốc GS Won cũng đưa ra một công thức, quy trình thực tế cần thiết để giải quyết
sự phức tạp trong chiến lược truyền thông Ngoài phần giới thiệu chung về QHCC, tác giả cũng nghiên cứu những nội dung cụ thể trong QHCC như: quan hệ lao động, quan hệ cộng đồng, quan hệ người tiêu dùng, quan hệ truyền thông, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), quản lý khủng hoảng và truyền thông
Ngoài sách tổng hợp lý thuyết, còn có những cuốn giới thiệu kỹ năng hoạt
động QHCC như “The Public Relations Handbook” của Tymson và Lazar, hay
“Public relations writing: Form and style” do tác giả Doug Newsom và Jim Haynes giới thiệu Cuốn “The Public Relations Handbook“ của Tymson và Lazar đi sâu
hướng đẫn chi tiết không chỉ lý thuyết mà còn cả các kĩ năng làm QHCC cơ bản tại
Úc Tương tự, ba tác giả Cutlip, Center và Broom, trong cuốn “Effective Public Relations” cũng đã đi sâu giúp người đọc tiếp cận những kiến thức cơ bản về lý luận
cũng như thực hành QHCC trong thực tế tại Mỹ
Nhìn chung, các học giả nước ngoài đã có những nghiên cứu tương đối phong phú về QHCC trên cả phương diện lý thuyết và kĩ năng thực hành Tuy nhiên, những kiến thức này được đưa ra dựa trên cơ sở các nền văn hóa, chính trị, kinh tế có nhiều sự khác biệt với Việt Nam Do đó, việc sử dụng những kiến thức của các học giả nước ngoài, đặc biệt là vấn đề thực tiễn, chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu nghiên cứu về QHCC ở Việt Nam Cần có sự chọn lọc khi sử dụng những kiến thức này và đặc biệt, ngoài kiến thức của học giả nước ngoài, việc bổ sung nguồn kiến thức về QHCC thực hành của Việt Nam là rất quan trọng nhằm cung cấp góc độ tiếp cận và ứng dụng các kiến thức về thực hành QHCC trong điều kiện thực tế nước ta
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng của Chính phủ
Các đầu sách nghiên cứu về QHCC của Chính phủ không nhiều Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lĩnh vực này của các học giả nước ngoài như:
Trang 26Cuốn “Government public relations - A Reader” của Mordecai Lee (Nhà xuất
bản CRC QHCCess, 2007) nghiên cứu về hoạt động QHCC của Chính phủ thông qua phân tích so sánh QHCC trong lĩnh vực hành chính - Chính phủ và lĩnh vực kinh doanh, nghiên cứu cụ thể về Chính phủ Hoa Kỳ Tác phẩm này cũng phân chia các mảng lớn nội dung của QHCC Chính phủ như: quan hệ với truyền thông, báo cáo công khai, trách nhiệm cộng đồng, tiếp cận cộng đồng, quản lý khủng hoảng trong tổ chức Chính phủ, quan hệ trong nội bộ Chính phủ bằng tổ chức phi lợi nhuận… Học giả này cũng nghiên cứu môi trường bên ngoài ảnh hưởng, tác động đến QHCC của Chính phủ và phân tích xu hướng phát triển của lĩnh vực này trong tương lai
Cuốn “The Practice of Government Public Relations” của các học giả
Mordecai Lee, Grant Neeley, Kendra Stewart (Nhà xuất bản CRC Press, 2011) cung cấp và tư vấn về nhiều chủ đề liên quan đến QHCC của Chính phủ, giới thiệu và minh họa vai trò của QHCC trong Chính phủ qua một số trường hợp cụ thể Ngoài các công cụ quản lý truyền thống, công chức của Chính phủ đòi hỏi một sự hiểu biết
cơ bản về các công cụ sẵn có để giải quyết các bối cảnh luôn thay đổi của truyền thông Chính phủ Cuốn sách còn đề cập đến việc Chính phủ công bố phương pháp mới để tích hợp các công nghệ tiên tiến bao gồm Web 2.0 và nhanh chóng nổi lên phương tiện truyền thông để duy trì một hình ảnh tích cực cho Chính phủ Tập trung vào vai trò của các nhà quản lý của Chính phủ ban hành các chính sách được thông qua bởi các vị dân cử và chính trị gia, cuốn sách này là lý tưởng cho các nhà quản lý chương trình tìm kiếm những cách sáng tạo và không tốn kém để thực hiện nhiệm vụ chương trình của họ
Cuốn “Government Communication: Cases and Challenges” của Karen
Sanders và Maria Jose Canel (NXB Bloomsbury, 2013) lại nghiên cứu lĩnh vực truyền thông Chính phủ của các quốc gia như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển,
Ba Lan, Australia, Anh, Hoa Kỳ, Chi Lê, Trung Quốc và các một số nước miền nam Châu Phi Thông qua đó, tác giả cũng đưa ra sự so sánh về nhận thức truyền thông Chính phủ giữa các khu vực, quốc gia nói trên
Cuốn “Глобализация: сущность, проблемы,перспективы” (Toàn cầu hoá,
bản chất, các vấn đề và triển vọng) là cuốn giáo trình của trường Tổng hợp Nhân văn quốc gia Liên bang Nga Tại cuốn sách này, các nhà khoa học đã nêu và giải quyết những thách thức cơ bản của một quốc gia sau chuyển đổi, cần chuyển tải những vấn
đề, hình ảnh của chính quyền tới thế giới và người dân Từ những yêu cầu cơ bản này, cuốn giáo trình đã giới thiệu những biện pháp, kỹ năng để một tổ chức (cơ quan nhà nước) có thể sử dụng thông qua công cụ QHCC nhằm đạt mục tiêu của mình Tuy nhiên, cuốn giáo trình tiếp cận vấn đề dựa trên nền văn hoá Slavo và những đặc trưng của nước Nga, dựa trên góc tiếp cận những thách thức của hội nhập, toàn cầu hoá và chỉ định hướng đối tượng đích là các quốc gia EU, Mỹ và khối liên minh NATO - Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Cuốn “Служебная карьера” (Sự nghiệp công vụ) cũng là giáo trình của
Trang 27trường Tổng hợp Nhân văn quốc gia Liên bang Nga, đề cập tới những hướng phát triển trong con đường chức nghiệp, những thuận lợi và khó khăn trong phấn đấu Ở những phần cụ thể trong giáo trình đã nêu và phân tích QHCC như một công cụ hữu hiệu Góc tiếp cận của giáo trình này dành cho đối tượng làm lãnh đạo, quản lý trong
tổ chức và đề cập nhiều phương diện tạo dựng hình ảnh cá nhân thông qua các kỹ năng trên nền tảng lý thuyết của QHCC
Cuốn “Управление персоналом” (Quản lý con người) là giáo trình của trường
Tổng hợp Nhân văn quốc gia Liên bang Nga, giảng dạy liên ngành với dung lượng
đồ sộ trên 2000 trang Cuốn giáo trình này đã dành các chương 1, 2, 3, 4, 5, 6 của phần I, chương 8, 12, 13, 14, 15 của phần II, chương 16, 22, 23 của phần III và chương 27, 28, 29 của phần IV để phân tích về vốn xã hội và tầm quan trọng của QHCC, chức năng của QHCC cũng như cách thức để thông qua QHCC chuyển tải tới các đối tượng những giá trị, niềm tin, ý nghĩa công việc và viễn cảnh tương lai tốt đẹp của tổ chức, nhằm gắn kết đối tượng nhận thông tin với hệ thống chung và tổ chức cụ thể Cuốn giáo trình có nhắc tới những mối quan hệ trong tương quan đổi mới, nhưng các nội dung nếu trong chuyển ngữ mà tiếng Việt quan niệm là cải cách thì nội hàm cải cách là khác nhau Nếu ở Việt Nam CCHC gắn với 6 lĩnh vực (thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ CBCC, tài chính công và hiện đại
hóa nền hành chính), thì giáo trình "Quản lý con người" tiếp cận từ góc độ lấy cá
nhân nhà quản lý làm chủ thể và thay đổi trong cách phục vụ là nền tảng cải cách
Và QHCC được sử dụng như một công cụ, kỹ năng đáp ứng mục tiêu này
Cuốn "Государственное и Муниципальное управление" (Quản lý nhà nước
ở địa phương) là cuốn sách chuyên khảo của một nhóm tác giả tại Nga Trong đó, Chương 12 của cuốn sách đề cập đến tổ chức tự quản ở Liên bang Nga, nhấn mạnh đến các hình thức tham gia của dân chúng trong việc thực hiện tự quản ở địa phương (Mục 12.1) Điều 130, Hiến pháp Liên bang Nga bảo đảm việc thực hiện tự quản tại địa phương bằng cách thể hiện ý chí, nguyện vọng trực tiếp của các công dân, đây được coi là yếu tố quan trọng của hệ thống địa phương tự quản và thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (có thể bắt buộc hoặc không bắt buộc) như: Trưng cầu dân ý, hội nghị dân cư, sáng kiến nhân dân, đàm thoại nhân dân, mít tinh, diễu hành…[167, tr.422] Những hoạt động này chính là những hình thức cơ bản của QHCC của Chính phủ Tuy nhiên, các tác giả phân tích trên góc độ tổ chức bộ máy nên chưa đi sâu vào nghiên cứu các hình thức mang tính chất QHCC này, mà chỉ dừng lại ở việc đề cập, giới thiệu và khẳng định cơ sở pháp lý
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về QHCC của Chính phủ của các học giả nước ngoài chưa nhiều, nội dung mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các trường hợp cụ thể tại các quốc gia phát triển, chưa mang tính chất lý luận khái quát Việc vận dụng những kiến thức này ở điều kiện Việt Nam còn đòi hỏi có sự nghiên cứu và chắt lọc kỹ càng sao cho phù hợp
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ
Trang 28truyền thông - báo chí
Lĩnh vực truyền thông giao tiếp đã bắt đầu được đi sâu nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỉ 20, với những tên tuổi của 4 nhà tiên phong người Mỹ: Kazarfeld, Lewin, Hovland, Lassvvell Sau đó, các nghiên cứu về truyền thông đại chúng và giao tiếp cá nhân mới bắt đầu được tiến hành Shannon là người dùng toán học để
mô tả quá trình thông tin Học thuyết của McLuhan nhấn mạnh ảnh hưởng của công nghệ truyền thông đến tổ chức của toàn xã hội Bird’histell tìm hiểu ý nghĩa của ngôn ngữ cử chỉ Goffman tập trung nghiên cứu những tác động qua lại thường ngày, những nghi thức trong cuộc sống xã hội hàng ngày như là phương thức giao tiếp đã được định sẵn “cuộc sống xã hội như là một sân khấu, trong đó mỗi người sắm một vai nhất định, ứng xử trong khuôn khổ nhất định” Một số tác giả như Roland Barthes đi sâu vào nghiên cứu truyền thông giao tiếp theo hướng tiếp cận văn hóa Một số học giả khác lại nghiên cứu giao tiếp dựa trên học thuyết cấu trúc xuất phát từ ngôn ngữ học, ký hiệu học
Mảng lí thuyết truyền thông vô cùng phong phú tiếp tục được các học giả
xây dựng như Học thuyết về tạo vấn đề quan tâm, Lý thuyết tình huống (Grunig và Hunt), Thuyết các chiều văn hóa (Hostede) Những học thuyết này đã góp phần
làm sáng tỏ bản chất của quá trình truyền thông, vốn là cốt lõi của hoạt động QHCC Các lý thuyết này được đề cập khá chi tiết trong các sách viết về QHCC,
như cuốn “The Public Relations Handbook” của Tymson và Lazar, cuốn “Public relations: theory and QHCCactice” của Jane Johnston và Clara Zawawi
(Australia)
Vấn đề quản lý truyền thông và kỹ năng quan hệ báo chí - một trong những
yếu tố quan trọng nhất của QHCC nói chung - cũng được đề cập trong cuốn “The Public Relations Handbook” của Tymson và Lazar (Tymson Communication, Australia, 2002), “Effective Public Relations” của Scott Cutlip (NXB Prentice Hall,
2000) Trong những tác phẩm này, các tác giả đã giới thiệu những kỹ năng và bí quyết để thiết lập và duy trì những mối quan hệ thuận lợi giữa tổ chức và báo giới Tuy nhiên, những tác phẩm này chỉ dừng lại ở mặt kỹ năng chứ chưa đề cập đến vấn
đề chiến lược quan hệ với giới báo chí
Những lý thuyết cơ bản về quản lý truyền thông báo chí là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết, kỹ năng cơ bản vào hoạt động QHCC trong khu vực Chính phủ nói chung Tuy nhiên, khi vận dụng cũng cần tính đến những khác biệt về chính trị, văn hóa, xã hội của các nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ giao tiếp
Giao tiếp là cơ sở lý thuyết quan trọng của hoạt động QHCC nói chung và QHCC của Chính phủ nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu tổng quan về các lý thuyết giao tiếp giúp cho tác giả nắm được những nguyên tắc giao tiếp cơ bản, vận dụng để
Trang 29đánh giá thực trạng cũng như đưa ra những giải pháp hữu hiệu trong việc tăng cường hoạt động QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước Bởi suy cho cùng, QHCC chính là giao tiếp, nhưng là giao tiếp hai chiều có chủ đích và có chiến lược
Ngay từ thời cổ đại, con người đã nghiên cứu về lý thuyết giao tiếp nói chung
Học giả Trương Ái Châu với cuốn sách “Thi hùng biện, phép biện luận - Cơ sở lý luận khoa học và triển khai” (2002) đã có sự tổng kết về các lý thuyết giao tiếp thời
kỳ này Có thể nói các nghiên cứu về giao tiếp của nhà quản lý thời cổ đại đều mang tính quyền lực cá nhân rất lớn Các hệ thống cơ quan hành chính đặt ra cùng với đội ngũ quan lại nhằm mục đích duy trì chế độ nô lệ và cai trị Quan tâm đến giao tiếp chủ yếu để bày mưu tính kế cho giai cấp thống trị thi hành chế độ chuyên chế và củng cố sự thống trị
Đến thế kỷ XX, Henry Fayol trong “General and Industrial Management”
(Quản lý công nghiệp và tổng thể) (1949) đề cao quan hệ giao tiếp mang tính pháp
lý, nhấn mạnh đến quyền đưa ra mệnh lệnh gắn với trách nhiệm; quyền lực theo quan hệ thứ bậc; thống nhất chỉ huy; mọi thông tin truyền đi phải đi qua một kênh chính thức; không gian của kiểm soát thông tin phải có giới hạn; giao tiếp tập trung quyền lực; trong quan hệ đề cao tính trách nhiệm
David Truman với tác phẩm: “The Governmental Process” (Quy trình của
Chính phủ) cho rằng nếu có sự tham gia của nhiều bên trong hoạt động hành chính tất yếu phải có mâu thuẫn Tác giả quan tâm đến các hành vi hành chính, tính dân chủ trong quan hệ hành chính nhưng chưa đề cập đến cách gải quyết các mâu thuẫn
đó như thế nào
Max Weber (1864-1920) với tác phẩm “Essays in Sociology” (Những bàn
luận về xã hội học) rất quan tâm đến vấn đề hiệu quả giao tiếp trong quản lý xã hội Ông tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực thực hiện của công chức Chính phủ và chức năng của quyền hành pháp Ông nhấn mạnh đến ba loại quyền: quyền lực truyền thống, quyền lực thần thánh và quyền lực pháp lý Đó là cơ sở để ông mô
tả hình thức giao tiếp thứ bậc trong hoạt động dựa vào các quyền lực đó Elton Mayo
(1880 -1949) nghiên cứu về “The theory of human relation” (học thuyết quan hệ con
người) khẳng định tính khoa học, tính hiệu quả của quan hệ giao tiếp trong xã hội nói chung
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số cuốn sách đề cập đến giao tiếp trong tổ chức như tác giả Andreas P.Muller, Alfred Kieser với cuốn
“Communication in Organizations” (Giao tiếp trong tổ chức) (2003) xuất bản tại Berlin (Đức), hay của tác giả Stohl, C với cuốn “Organizational Comunication: Connectedness in Action” (Giao tiếp tổ chức: sự gắn kết trong hành động) (1995),
đầu đề cập đến khoa học giao tiếp trong các mô hình tổ chức khác nhau, đã phần nào phân tích được mối quan hệ giao tiếp trong các tổ chức nói chung
Cuốn “Communication and Organizational Culture” (Giao tiếp và văn hóa tổ
Trang 30chức) của Joann Keyton (Mỹ, 2005), nói đến mối quan hệ giữa giao tiếp với văn hóa
tổ chức Cuốn sách đã đề cập đến các mối quan hệ giao tiếp trong tổ chức trong bối cảnh đa văn hóa của xu thế hội nhập quốc tế
Những nghiên cứu về giao tiếp nói trên cung cấp nền tảng lý luận để nghiên cứu QHCC và QHCC của Chính phủ Đối với mỗi nhóm công chúng khác nhau, tại những thời điểm và không gian khác nhau, phải áp dụng những nguyên tắc giao tiếp không giống nhau Những công trình nghiên cứu về giao tiếp trong tổ chức, đặc biệt
là trong tổ chức nhà nước, góp phần hình thành nên các nguyên tắc trong hoạt động QHCC của Chính phủ hiện đại
Một số cuốn sách khác của Nga như “Деловое общение” (Giao tiếp công vụ);
“Деловое общение -Деловой этикет” (Hành vi công vụ); “Основы теории речи” (Lời nói trong thực thi công vụ); “Этикет от обезьяны к человеку” (Sự tiến hoá tới con người văn minh); “Речь о Речи - коммуникативная система человека” (Nền tảng giao tiếp) đều tập trung vào hai vấn đề: (1) coi quan hệ ứng xử,
giao tiếp công/công vụ là nền tảng của xây dựng hình ảnh, của QHCC đa chiều, là phương thức chuyển tải thông điệp từ chính quyền tới người dân; và (2) hướng dẫn các kỹ năng giao tiếp, QHCC cụ thể, trong đó nhấn mạnh kỹ năng và vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ của quá trình giao tiếp và QHCC
Nhìn chung, những công trình khoa học nghiên cứu về lý thuyết giao tiếp khá đầy đủ và phong phú, đặc biệt, một số công trình nhấn mạnh đến vai trò và đặc điểm của giao tiếp bên trong và bên ngoài tổ chức Tuy nhiên, những công trình này chỉ nghiên cứu về giao tiếp, chưa đề cập đến việc ứng dụng lý thuyết giao tiếp vào quá trình truyền thông nhằm xây dựng mối quan hệ tích cực với các nhóm công chúng liên quan Nói cách khác, những công trình này mang tính chất đặt nền móng cho việc phát triển thành lý thuyết QHCC
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng nói chung
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu toàn diện về QHCC chưa nhiều và phong phú như trên thế giới
Kiến thức chung về nghề QHCC được giới thiệu trong cuốn “Nghề PR – Quan
hệ công chúng” (2009) nằm trong Tủ sách hướng nghiệp Nhất nghệ tinh do Nhà
Xuất Bản Kim Đồng sưu tầm và ấn hành Nội dung của các cuốn sách này chủ yếu giới thiệu QHCC ở góc độ một nghề thực hành với những kinh nghiệm thực tế, không đi sâu vào kiến thức cơ sở lý luận truyền thông vốn được coi là cốt lõi, là nền tảng lý luận của QHCC
Học viện Báo chí Tuyên truyền đã tập hợp và xuất bản cuốn Kỷ yếu hội thảo
khoa học về QHCC Cuốn sách với từ đề “Quan hệ công chúng: Lý luận và thực tiễn” bao gồm bài viết của các học giả và cả những nhà thực hành QHCC trình bày
tại hội thảo Tuy nhiên, những kiến thức lý luận được giới thiệu trong sách còn rời
Trang 31rạc, thiếu tính hệ thống và chiếm một vị trí khiêm tốn Đa phần trong sách vẫn là những kinh nghiệm được tồng kết từ thực tế
Các chuyên gia về những lĩnh vực liên quan đến QHCC như báo chí, marketing cũng đã có ít nhiều đề cập đến lĩnh vực này, song thiếu sự đi sâu phân
tích Trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của Tạ Ngọc Tấn, QHCC chỉ được đề cập đến ở chương 9: “Lãnh đạo, quản lý và giao tiếp với các phương tiện truyền thông đại chúng” Như vậy, tác giả chỉ mới nêu lên khía cạnh “quan hệ với báo chí”
mà chưa nghiên cứu những khía cạnh khác của QHCC như quan hệ với chính phủ, quan hệ với nhà đầu tư, xây dựng và phát triển thương hiệu
Cuốn “Marketing căn bản” do Trần Minh Đạo chủ biên đề cập đến QHCC
dưới cách gọi “hoạt động tuyên truyền”, “hoạt động tổ chức dư luận xã hội” nằm trong nhóm công cụ xúc tiến bán hàng thuộc nội dung truyền thông marketing Phần này đã giới thiệu một phần lý thuyết truyền thông và kỹ thuật làm QHCC, song tác giả cũng chưa chỉ rõ đây là các hoạt động QHCC ứng dụng Tương tự, cuốn
“Marketing-Lý luận và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh” do Bộ môn Marketing
thuộc trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội soạn thảo cũng đề cập đến các hoạt động marketing, trong đó có vấn đề “chính sách giao tiếp” của doanh nghiệp như là một bộ phận của Marketing hỗn hợp Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ mới đề cập sơ qua
mà chưa đi sâu phân tích vai trò và ứng dụng của QHCC trong hoạt động marketing
Lưu Văn Nghiêm với cuốn sách “Quản trị quan hệ công chúng” cũng là một
công trình nghiên cứu về QHCC khá đồ sộ, tuy nhiên, những nghiên cứu của ông mang tính định lượng rất cao, thường áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh và các hoạt động kinh tế cụ thể Cuốn sách bao gồm 12 chương, trong đó, ngoài phần nghiên cứu
lý luận chung (bản chất và cơ sở lý thuyết của QHCC, xác định công chúng và công luận, mối quan hệ QHCC và pháp luật), tác giả cũng dành một dung lượng lớn của cuốn sách để đề cập và phân tích các hoạt động cụ thể của QHCC như: quảng cáo, tổ chức sự kiện, truyền thông và thông tin đại chúng, quản trị khủng hoảng, đạo đức nghề nghiệp…
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, một số cuốn sách của học giả Đinh Thị Thúy Hằng nghiên cứu về QHCC đã đặt bước tiến mới cho sự phát triển nghiên cứu
QHCC ở Việt Nam như: “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” (2007),
“PR - Lý luận và ứng dụng” (2008)
“PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” là một trong những cuốn
sách đầu tiên mang tính chất giới thiệu tổng hợp về QHCC dưới góc độ coi đây là một nghề chuyên nghiệp Cuốn sách tập trung vào mối quan hệ QHCC với truyền thông, những chiến lược trong QHCC, và hơn hết là đặt ra các vấn đề về đạo đức nghề nghiệp QHCC
“PR - Lý luận và ứng dụng” là sự tiếp nối nội dung của “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” trong bộ sách về QHCC, hợp tác xuất bản giữa Khoa
Trang 32Quan hệ công chúng và Quảng cáo (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) với công ty sách Alpha Trong cuốn sách này, tác giả tập trung vào 6 nội dung cơ bản: (1) Đại cương về QHCC; (2) Quản lý QHCC chiến lược; (3) QHCC ứng dụng trong một số loại hình tổ chức cụ thể; (4) Các hoạt động cụ thể của QHCC; (5) Các kỹ năng QHCC; và (6) Những vấn đề pháp luật liên quan đến ngành QHCC Đây có thể coi
là công trình mang tính chất toàn diện nhất về QHCC viết bằng tiếng Việt tính đến thời điểm hiện tại
Cuốn sách “PR - Từ chưa biết đến chuyên gia” (2015) của tác giả Hoàng Xuân Phương, “Quan hệ công chúng – Lý luận và thực tiễn” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng chung ý tưởng với “PR - Lý luận và ứng dụng”,
nghiên cứu QHCC từ góc độ tổng quan Trong đó, tác giả Hoàng Xuân Phương nhấn mạnh đến công tác nghiên cứu QHCC nhằm phát triển hoạt động này trong tương lai, và hoạt động quản lý khủng hoảng trong tổ chức Bên cạnh đó, cuốn sách cũng nghiên cứu lý luận trên cơ sở phân tích nhiều ví dụ thực tế Còn tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thì nhấn mạnh đến hoạt động QHCC tương ứng với các mô hình tổ chức và yếu tố đạo đức nghề nghiệp Tuy nhiên, cũng như nhiều công trình khác, các tác giả mới chỉ đề cập đến QHCC chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, chưa
đề cập đến hoạt động QHCC trong tổ chức, cơ quan nhà nước
Đỗ Thị Thu Hằng với cuốn sách “PR - Công cụ phát triển báo chí” nghiên
cứu sâu về mối quan hệ giữa QHCC và truyền thông và hoạt động báo chí Tác giả
khẳng định: “Hoạt động quan hệ công chúng của cơ quan báo chí có sự khác biệt về nội dung, tính chất, hình thức tổ chức khi so sánh với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khác” [48,tr.30] Thông qua đó, tác giả phân tích thực trạng và
những vấn đề đặt ra đối với hoạt động QHCC của các tờ báo dành cho thanh niên hiện nay qua khảo sát tại ba tờ báo cụ thể là Thanh niên, Tiền phong và Tuổi trẻ Ngoài ra, có một số cuốn sách là giáo trình của các trường đại học, cao đẳng
như: “Giáo trình Quan hệ công chúng” (2015) của Học viện Tài chính do tác giả Ngô Minh Cách và Đào Thị Minh Thanh đồng chủ biên; “Giáo trình Quan hệ công chúng” (2013) của Trường cao đẳng Cộng đồng Hà Nội do tác giả Nguyễn Thị
Thanh Huyền biên soạn Những công trình này có điểm chung đều là tài liệu căn bản phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên, nên những kiến thức mang tính tổng quan và lý luận khái quát Bên cạnh đó, các công trình này đều nghiên cứu QHCC trong doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, nếu áp dụng vào lĩnh vực chính trị hay trong hoạt động quản lý của Chính phủ thì rất nhiều nguyên tắc sẽ không còn phù hợp và thích ứng
Tập bài giảng “Quan hệ công chúng và giao tiếp công vụ” của Khoa Văn bản
và Công nghệ hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia cũng là nguồn tài liệu quan trọng khi nghiên cứu về QHCC, đặc biệt là nhìn nhận QHCC trong mối quan
hệ với hoạt động giao tiếp công vụ Những cuốn sách này là những cẩm nang cơ bản cho những người học và nghiên cứu về QHCC nói chung
Trang 33Các kĩ năng của QHCC như giao tiếp, đàm phán, thuyết trình được đề cập trong một số sách riêng lẻ Những kĩ năng viết tin bài được đề cập đến trong một số
sách viết về kĩ năng báo chí như bộ “Sổ tay phóng viên” do Nhà Xuất Bản Thông
Tấn ấn hành Bên cạnh đó, QHCC cũng được đề cập đến trong khá nhiều bài báo, nhưng báo chí thường chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu nghề nghiệp, phân tích thị trường, không đi sâu vào nghiên cứu
Một số bài báo khoa học của các học giả trên các tạp chí chuyên ngành cũng
đã đề cập đến hoạt động QHCC như: Tác giả Nguyễn Thị Hồng Chiêm với bài
“Hoạt động Quan hệ công chúng - Thành công và thất bại” đăng trên Tạp chí Thương mại số 43/2007; tác giả Ngô Thị Mỹ Hạnh với bài “Một số nguyên tắc sử dụng PR” đăng trên Tạp chí Thương mại số 17/2007 Những bài viết này nghiên cứu
thực trạng hoạt động QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đánh giá những thành công và thất bại của những chiến dịch QHCC điển hình, và đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động này trong các doanh nghiệp Vì vậy, những nghiên cứu này chưa bao quát được các lĩnh vực hoạt động của QHCC, đặc biệt là QHCC trong hoạt động của cơ quan HCNN
Nỗ lực tìm hiểu về ngành QHCC Việt Nam còn được thể hiện qua một số luận văn của sinh viên báo chí thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, và trường Đại học Xã hội Nhân văn Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới dừng lại mức độ khảo sát một cơ quan tiêu biểu, tìm hiểu thực tế tác nghiệp QHCC ở một số đơn vị nhỏ lẻ Một lần nữa, các nghiên cứu này lại thể hiện sự thiếu vắng nền tảng của một cơ sở kiến thức lý luận khoa học về QHCC
Nhìn chung, các kiến thức về QHCC trong các tài liệu nghiên cứu của Việt Nam được đề cập một cách rời rạc, thiếu một sự hệ thống hóa, chỉ đi sâu vào mảng thực tế mà chưa đi sâu vào phần kiến thức lý luận cơ bản Trong khi đó, QHCC lại là một lĩnh vực liên ngành, rất cần sự tổng kết, hệ thống hóa kiến thức
Nói tóm lại, hiện ở nước ta, mảng nghiên cứu về QHCC còn rất rời rạc, thiếu kiến thức về cơ sở lý luận khoa học, chưa được tập hợp, tổng kết thành tài liệu có tính hệ thống, cơ bản Nguồn tài liệu của nước ngoài tuy có những kiến thức khoa học lý luận phong phú, song cần phải có sự chọn lọc để giới thiệu, về phần kiến thức thực hành của tài liệu nước ngoài có sự khác biệt nhiều về văn hóa - chính trị - kinh
tế - xã hội, nên có nhiều điểm xa lạ, chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đo
đó, rất cần có các nghiên cứu bổ sung về thực trạng hoạt động QHCC tại Việt Nam
đề tăng cường khả năng ứng dụng của QHCC trong thực tế nước ta
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng của Chính phủ
Ở Việt Nam chỉ có một số ít các nghiên cứu đề cập đến việc ứng dụng QHCC trong hoạt động của Chính phủ và các cơ quan công quyền
Tiêu biểu là cuốn “PR - Lý luận và ứng dụng'’ (NXB Alphabook và Lao động
- Xã hội, 2008) do Đinh Thị Thúy Hằng chủ biên Trong Chương 3 của cuốn sách
Trang 34này đã đề cập đến lĩnh vực QHCC trong chính phủ, trong đó đã sơ bộ giải thích khái niệm quản lý thông tin trong chính phủ, và khẳng định tầm quan trọng, vai trò của QHCC trong việc nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của chính phủ Tuy nhiên, đây mới chỉ là những kiến thức nền tảng ban đầu về quản lý thông tin chính phủ, chưa đi sâu vào tình hình cụ thể của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính công hiện nay Hơn nữa, công trình khoa học này cũng chưa đưa ra được một mô hình quản lý QHCC có khả năng ứng dụng cho các cơ quan nhà nước tại Việt Nam
Đồng tác giả với cuốn sách nói trên còn có cuốn “Ngành PR tại Việt Nam”
Trong cuốn sách này, tác giả tập trung phân tích cụ thể về nghề QHCC ở Việt nam dựa trên những nghiên cứu và khảo sát thực tế Từ đó, tác giả đề cập tới sự cần thiết của việc sử dụng QHCC như một công cụ truyền thông của các cơ quan nhà nước trong bối cảnh Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Đặc biệt, trên cơ sở xem xét hoạt động truyền thông hiện nay của một số cơ quan nhà nước, tác giả đưa ra một số mô hình quản lý truyền thông cho các tổ chức, cơ quan nhà nước Đây cũng là một nguồn tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển hoạt động QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước hiện nay Tuy nhiên, công trình mới chỉ đưa ra được những gợi ý về mô hình quản lý thông tin
và truyền thông ra bên ngoài, chưa chú trọng đến hoạt động QHCC nội bộ, và cũng chưa tính đến sự phù hợp của mô hình đề xuất với bộ máy HCNN hiện nay
Cuốn “Tổ chức sự kiện theo chuẩn mực văn hóa” (Nhà xuất bản Lao động
2014) của Nguyễn Văn Hậu (Học viện Hành chính Quốc gia) cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức sự kiện trong hệ thống cơ quan nhà nước Tổ chức sự kiện cũng chính là một hình thức cơ bản của hoạt động QHCC Trong cuốn sách này, tác giả có phân tích những ảnh hưởng, tác động của các chuẩn mực văn hóa, đặc biệt là văn hóa hành chính đối với hoạt động tổ chức sự kiện Đây cũng là một trong những nghiên cứu hiếm hoi đề cập trực tiếp đến một dạng hoạt động của QHCC trong Chính phủ ở Việt Nam hiện nay
Bên cạnh đó, cuốn “Kỹ năng quản lý, tổ chức” (2015) của tác giả Nguyễn Văn
Hậu cũng có những nội dung liên quan đến các kỹ năng QHCC Những nội dung được trình bày trong cuốn sách là sự kết hợp giữa những nguyên tắc quản lý truyền thống với phương thức tổ chức quản lý hiện đại, giới thiệu những nguyên tắc, nội dung kỹ năng tổ chức hành chính, phục vụ cho hoạt động của các nhà quản lý trong
tổ chức, đặc biệt là tổ chức nhà nước Trong đó, nội dung kỹ năng lập kế hoạch phát triển tổ chức, quản lý rủi ro và tâm lý, phong cách lãnh đạo là những kỹ năng liên quan mật thiết đến hoạt động QHCC Những nghiên cứu của tác giả đặt nền móng cho việc áp dụng các kỹ năng này trong việc nâng cao năng lực của người làm QHCC và phát triển hoạt động này trong các cơ quan thuộc Chính phủ
“Giáo trình Quan hệ công chúng Chính phủ trong văn hóa đối ngoại” (2011)
của tác giả Lê Thanh Bình (chủ biên) và Đoàn Văn Dũng cung cấp những kiến thức
Trang 35nền tẳng của hoạt động QHCC của Chính phủ trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại Tác
giả xác định: “Quan hệ công chúng của Chính phủ gồm tất cả các hoạt động truyền thông ra bên ngoài và cả bên trong Chính phủ, giữa Chính phủ với công chúng, nhân dân (trong và ngoài nước), tạo sự hiểu biết, đồng thuận, ủng hộ giữa hai bên, nhằm mục đích xây dựng, phát triển mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa –
xã hội, đối ngoại của quốc gia trong suốt thời kỳ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn”
[8, tr.27] Trong cuốn sách này, tác giả tập trung làm rõ các khái niệm và vai trò của QHCC trong văn hóa đối ngoại, phân tích thực trạng cũng như các kinh nghiệm ứng dụng QHCC trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại của Chính phủ các nước, từ đó, đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động này tại Bộ Ngoại giao Như vậy, có thể thấy công trình này nghiên cứu trực tiếp hoạt động QHCC của Chính phủ, nhưng chỉ trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại, chưa bao quát được toàn bộ hoạt động này
Tác giả Nguyễn Văn Thâm với cuốn sách “Tiếp cận và giải quyết công việc cho dân trong tiến trình đổi mới” (2004) nghiên cứu về lý luận, kinh nghiệm, thực
trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tiếp cận và giải quyết công việc cho dân trong bối cảnh đổi mới đất nước Về cơ bản, việc tiếp cận và giải quyết công việc cho dân là một trong chuỗi các hoạt động liên quan đến QHCC của Chính phủ Hiệu quả của việc tiếp cận và giải quyết công việc cho dân sẽ quyết định phần nhiều đến thái độ và niềm tin của người dân đối với Chính phủ Vì vậy, công trình khoa học này cung cấp những kiến thức cơ bản trong quá trình tiếp cận và giải quyết công việc cho dân, nhằm đạt đến sự hài lòng của người dân Tuy nhiên, đây mới chỉ là một hoạt động nhỏ trong chiến lược QHCC của Chính phủ, và cũng mới chỉ dừng lại
ở nhóm công chúng là người dân QHCC còn rất nhiều nội dung rộng lớn khác cần được nghiên cứu
Một số bài đăng trên tạp chí về lĩnh vực này có thể kể đến như: Nguyễn Văn
Hậu có bài viết “Hồ Chí Minh và nghệ thuật xây dựng quan hệ công chúng của Chính phủ” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 102 năm 2015 Bài viết phân tích hoạt
động QHCC của Chính phủ trên góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa ra những bài học kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng từ tư tưởng của Người trong hoạt động QHCC của Chính phủ trong thời đại ngày nay
Trần Thị Thanh Thuỷ với bài viết về “Vai trò của PR trong hoạt động của Chính phủ” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 5 năm 2009 Bài viết phân
tích khái niệm QHCC, bản chất và phạm vi của QHCC trong Chính phủ, đánh giá khá tổng quát và sâu sắc đối với vai trò của QHCC trong xã hội nói chung và đối với
tổ chức cũng như hoạt động của Chính phủ nói riêng
Học giả Trần Đình Tuấn cũng bài viết “Vận động hành lang ở Mỹ và một số kinh nghiệm với Việt Nam” đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số tháng 5/2009 Tác giả Lê Thanh Bình với bài viết “Phát huy vai trò QHCC nhằm thực hiện hiệu quả toàn diện chính sách dân số Việt Nam” đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6/2005 Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Phượng với bài viết “QHCC đối với cơ quan
Trang 36HCNN - Vấn đề và giải pháp” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 10/2011
Những bài viết này thể hiện sự đào sâu nghiên cứu QHCC của Chính phủ trên những phương diện, lĩnh vực hoạt động khác nhau, tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi bài báo khoa học nên chưa thể hiện được toàn diện và cụ thể vấn đề, hầu hết chỉ mang tính chất ý tưởng ban đầu về hoạt động này
Chương 3 trong Tập bài giảng “Quan hệ công chúng và giao tiếp công vụ”
của Khoa Văn bản và CNHC – Học viện Hành chính Quốc gia cũng đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về QHCC trong hoạt động của Chính phủ nói chung
Tác giả Nguyễn Thị Hà với Đề tài cấp cơ sở “Quan hệ công chúng trong hoạt động của các cơ quan HCNN - Lý luận và thực tiễn” (Học viện Hành chính Quốc
gia, 2016) tiếp cận QHCC của các cơ quan HCNN trên 8 hoạt động: (1) Quan hệ báo chí – truyền thông, (2) Tổ chức sự kiện, (3) Quan hệ nội bộ, (4) Quan hệ cộng đồng, (5) Các ấn bản của cơ quan hành chính, (6) Vận động hành lang, (6) Đầu tư xã hội,
và (7) Quản lý khủng hoảng Tác giả cũng đã hệ thống hóa những kiến thức lý luận
về QHCC và QHCC Chính phủ, đưa ra những yêu cầu của hoạt động này trong cơ quan HCNN, từ đó, phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất hệ thống 10 giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này
Bên cạnh đó, có một số luận văn của Học viện Hành chính Quốc gia có đề tài
về QHCC của Chính phủ như: Trần Thanh Thảo (2010) với luận văn “Quan hệ công chúng trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính”, Cao Thị Thiên Phúc (2011) với luận văn “Quan hệ công chúng của Chính phủ Việt Nam đối với nhà khoa học” Những công trình này đã trực tiếp nghiên cứu
hoạt động QHCC của Chính phủ, nhưng chỉ trên những khía cạnh, lĩnh vực cụ thể hoặc giới hạn trong quy mô một luận văn thạc sĩ nên chưa khái quát được đầy đủ cơ
sở lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động này
Nhìn chung, các nghiên cứu về QHCC của Chính phủ trong nước mang tính chất khái quát bước đầu, chưa đi vào cụ thể, một số đề tài phân tích chủ yếu trên cơ
sở phương pháp định tính, chưa có những số liệu cụ thể để đánh giá về thực trạng và hiệu quả của hoạt động QHCC của Chính phủ Trong khi đó, theo tác giả nhận thấy, việc Chính phủ tạo dựng và duy trì mối quan hệ hữu ích với công chúng (công dân) của mình mang ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia Vì thế, cần
có những nghiên cứu cụ thể mang tính chất là cơ sở lý luận cho hoạt động này Và
đề tài “QHCC của Chính phủ trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam” sẽ là một trong những nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu đó Đó chính là tính thời sự, tính sáng tạo và sự không trùng lặp với các công trình đã công bố của đề tài
Trang 37cứu, song vận dụng nó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam thì hiện vẫn còn là vấn đề mới Các chuyên gia phương Tây nghiên cứu về truyền thông cũng đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thông và chính phủ, nhưng đó là phân tích dựa trên bối cảnh các nước tư bản tự do phuơng Tây, còn nghiên cứu khoa học về quan hệ truyền thông - chính phủ ở Việt Nam thi hầu như chưa được thực hiện
Theo nghiên cứu của khoa QHCC - Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm
2007, quan hệ truyền thông - báo chí là mảng nội dung, vận dụng QHCC trong thực
tế rất phổ biến tại Việt Nam Tuy nhiên, đây cũng chỉ mới dừng lại ở khía cạnh kĩ năng thực hành, còn quản lý và thực hành QHCC trong các cơ quan quản lý nhà nước thì vẫn là vấn đề khá mới mẻ về phương diện khoa học
Nghiên cứu về quản lý truyền thông, báo chí tại Việt Nam phần lớn chỉ tập trung vào góc độ quản lý nhà nước về báo chí, chứ chưa đi vào việc các cơ quan quản lý nhà nước tự quản lý thông tin báo chí của chính bản thân cơ quan mình như
thế nào Vấn đề về lãnh đạo, quản lý báo chí được đề cập đến trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của Tạ Ngọc Tấn (NXB Chính trị quốc gia, 2001) Tác giả đã giới
thiệu khái quát hệ thống bộ máy quản lý, lãnh đạo đối với báo chí ở nước ta, bao gồm các hệ thống các cơ quan từ Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin - Truyền thông) đến các UBND các tỉnh, đồng thời nhấn mạnh sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với hoạt động báo chí Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ mới đề cập đến việc lãnh đạo hệ thống báo chí toàn quốc nói chung chứ chưa đề cập đến việc các cơ quan trong bộ máy nhà nước cần phải quản lý thông tin về chính mình như thế nào Cuốn sách cũng đã giới thiệu một số kỹ năng cơ bản trong việc giao tiếp với báo chí, song vấn đề chiến lược quan hệ báo chí truyền thông của Chính phủ chưa được đề cập
Về vấn đề quản lý báo chí truyền thông Việt Nam trong tình hình hiện nay,
tác giả Trần Đăng Tuấn, trong bài viết “Một số vấn đề của lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay” đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 20 tháng 6
năm 2008 đã phân tích ba yếu tố khách quan tác động đến hoạt động truyền thông nói chung và báo chí nói riêng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là: (1) sự phát triển và phân hóa mạnh mẽ của các nhóm lợi ích xã hội, dẫn đến hiện tượng một số nhóm lợi ích tiêu cực sẽ tác động, xâm nhập, lợi dụng, gây ảnh hưởng, thậm chí có nguy cơ làm biến tướng hoạt động truyền thông; (2) tiềm lực thực hiện các hoạt động truyền thông trong xã hội (khu vực ngoài nhà nước) ngày càng lớn; công nghệ báo chí truyền thông thay đổi tận gốc rễ và có thể vượt qua các phương thức quản lý truyền thông truyền thống; (3) xu hướng tích hợp truyền thông, báo chí và công nghệ thông tin sẽ làm cho quá trình của nền “truyền thông thứ hai” (báo chí công dân, chủ yếu trên mạng Internet) diễn ra nhanh chóng Nền truyền thông thứ hai này tồn tại song song với nền truyền thông chính thống, nếu không có giải pháp chủ động chi phối, sử dụng thì tác động của nó có thể sẽ vượt qua cả nền truyền thông chính thống, và các phương pháp quản lý cũ có rất ít hiệu quả với nền truyền thông
Trang 38thứ hai Tác giả còn nhấn mạnh nếu nền truyền thông chính thống không thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, người ta có khuynh hướng tìm đến nền truyền thông thứ hai, và đây là điều rất nguy hiểm Từ đó, nhấn mạnh yêu cầu đặt ra đối với quản lý truyền thông hiện nay là phải chủ động đón đầu, không nên bị ngập vào
xử lý tình huống, và yêu cầu cần đầu tư, quan tâm đúng mức hơn đến việc tăng cường tiềm lực, năng lực của hệ thống báo chí truyền thông hiện có, để hệ thống này
có thể đáp ứng được những thách thức trên mặt trận thông tin Theo ông, tăng cường thực lực của hệ thống báo chí truyền thông nhà nước để truyền thông nhà nước nhất định đáp ứng được nhu cầu thông tin, nhất định chi phối được dư luận Đó là một trong những nền tảng quan trọng nhằm xây dựng và duy trì mối quan hệ tích cực giữa Chính phủ và người dân, và cũng là giải pháp hữu hiệu trong chiến lược QHCC của Chính phủ nói chung
Các quan điểm của các học giả nổi tiếng thế giới như Alison Theaker, Somerville, Scott Cutlip về vấn đề quản lý truyền thông trong chính phủ đã được
lan-tổng hợp trong cuốn “PR - Lý luận và ứng dụng” (2008), “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” (2007), “Ngành PR tại Việt Nam” (2010) do tác giả Đinh Thị
Thúy Hằng chủ biên Trong các công trình này, các tác giả đã nêu lên những nội dung của quản lý truyền thông báo chí, đồng thời phân tích mối quan hệ hai mặt giữa truyền thông và chính phủ
Công cụ QHCC sử dụng trong chính phủ cũng đã được tìm hiểu trong các cuốn sách này Tác giả và các cộng sự đã phác thảo về cơ bản QHCC như là một ngành, một nghề chuyên môn, giải thích rõ QHCC là gì, những nội dung cơ bản của
nó, những công cụ thực hành QHCC cơ bản và khả năng ứng dụng của nó trong hoạt động của Chính phủ nói riêng và trong các lĩnh vực khác nói chung
Cuốn sách “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Nguyễn
Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu tương đối tổng quan về hoạt động truyền thông Từ việc phân tích các quan niệm chung về truyền thông đến các lý thuyết truyền thông cơ bản, tác giả đã phân chia bao loại: (1) truyền thông cá nhân, (2) truyền thông nhóm, và (3) truyền thông đại chúng Những loại truyền thông này đặt nền tảng cho việc nghiên cứu cách thức truyền tải thông điệp trong hoạt động QHCC với các nhóm công chúng khác nhau và ở những mức
độ khác nhau Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu sâu về chu trình truyền thông, trong đó nhấn mạnh đến giai đoạn lập kế hoạch và giám sát, đánh giá hoạt động truyền thông với những hệ tiêu chí rất cụ thể Đây có thể là một trong những gợi ý quan trọng để Luận án kế thừa trong việc xây dựng hệ tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể đánh giá hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ
Công trình nghiên cứu “Quan hệ công chúng - Lý luận và thực tiễn” do
Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo, Học viện Báo chí Tuyên truyền thực hiện năm 2007 cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên về QHCC ở Việt Nam Công trình nghiên cứu này cho thấy ngành QHCC ở Việt `t`143Nam hiện nay còn rất non, trẻ,
Trang 39chỉ mới được ứng dụng chủ yếu trong doanh nghiệp Việc đào tạo QHCC chuyên nghiệp chỉ mới bẳt đầu nên lực lượng làm QHCC còn mỏng, yếu về kiến thức chuyên môn QHCC ở nước ta chủ yếu tập trung ở mảng quan hệ báo chí, song lại thiếu về mặt điều hành tư vấn chiến lược
Tóm lại, các công trình viết nghiên cứu về QHCC dưới góc độ truyền thông – báo chí bằng tiếng Việt chỉ đề cập nhiều đến hai nội dung: (1) quản lý nhà nước
về truyền thông – báo chí, (2) quan hệ với truyền thông – báo chí trong doanh nghiệp, vấn đề quan hệ truyền thông cũng chỉ được đề cập ở góc độ kỹ năng chứ chưa đưa tầm nhìn lên mức độ rộng của việc quản lý thông tin với việc xây dựng chiến lược thông tin phù hợp với quy mô, tầm vóc, nhiệm vụ, sứ mệnh của các cơ quan nhà nước
1.2.4 Các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng dưới góc độ giao tiếp
Người đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến lý thuyết giao tiếp của cán bộ đảng
viên một cách toàn diện và sâu sắc là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), bài “Cách viết” (1953) đề cập đến kỹ năng viết và nói để
giáo dục cán bộ đảng viên có thể thu phục được quần chúng nhân dân Trong đó, Bác nhấn mạnh đến yếu tố làm gương của những cán bộ lãnh đạo Đây cũng chính là nguồn cội của hoạt động xây dựng hình ảnh - một hoạt động quan trọng trong QHCC của Chính phủ sau này
Mai Hữu Khuê với cuốn “Kỹ năng giao tiếp trong hành chính” (1997) đề cập
đến lý thuyết nhu cầu của tâm lý học, động cơ chi phối đến giao tiếp nói chung và giao tiếp hành chính nói riêng, và một số kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết, phản hồi Những kỹ năng này chính là nền tảng cơ bản để nâng cao hiệu quả giao tiếp với người dân và các nhóm công chúng Những nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp hành chính là cơ sở để nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QHCC của Chính phủ
Tác giả Nguyễn Đình Tấn, Lê Ngọc Hùng với cuốn sách “Xã hội học hành chính - Nghiên cứu giao tiếp và dư luận xã hội trong CCHC nhà nước” (2004)
nghiên cứu giao tiếp trong quản lý HCNN trên cơ sở điều tra xã hội học về lợi ích, chức năng, đặc điểm giao tiếp trong hoạt động hành chính Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu về vai trò của dư luận xã hội trong công cuộc CCHC nhà nước Theo tác giả, “dư luận xã hội có những vai trò cơ bản như nhận thức, định hướng hoạt động, điều tiết hành vi, điều hòa quan hệ xã hội và giải tỏa tâm lý của xã hội Đối với CCHC, dư luận xã hội thể hiện rõ vai trò của diễn đàn công cộng, trên đó, các cá nhân và nhóm xã hội bày tỏ ý kiến, chia sẻ thông tin Qua đó, người dân tham gia vào quá trình quản lý xã hội và CCHC” [93, tr.156] Dư luận xã hội là một phần quan trọng trong việc hình thành thái độ của công chúng đối với tổ chức Vì vậy, nghiên cứu về dư luận xã hội luôn là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược QHCC của bất kỳ tổ chức nào, trong đó có Chính phủ
Trang 40Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Tiến (đồng chủ biên), Trần Anh Tuấn, Đào
Thị Ái Thi với cuốn “Giao tiếp ứng xử trong hành chính” (2001), Đào Thị Ái Thi với luận án tiến sĩ quản lý hành chính công “Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam”
(2008) đề cập đến những đặc điểm tâm lý của giao tiếp và một số kỹ năng giao tiếp mang tính kỹ thuật như nghe, nói, đọc, viết, phản hồi, là cơ sở cho việc nghiên cứu
lý thuyết giao tiếp nói chung, giao tiếp hành chính nói riêng Đặng Xuân Kỳ với tác
phẩm “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” (2004) cũng đã đề cập đến một
số kỹ năng giao tiếp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng
Cuốn “Cẩm nang quản lý” (2008) của tác giả Trần Thị Thanh Thủy với chuyên đề “Giao tiếp và kỹ năng thuyết trình” cũng nghiên cứu khá sâu sắc về quá
trình giao tiếp và ứng dụng nó trong hoạt động thuyết trình Giao tiếp và thuyết trình
là những kỹ năng cơ bản của người làm QHCC Vì vậy, những nghiên cứu này mang tính chất đặt nền móng cho việc triển khai các ý tưởng hoàn thiện kỹ năng QHCC trong Luận án
Tóm lại, những công trình khoa học về lý thuyết giao tiếp nói chung và giao tiếp hành chính nói riêng mang tính chất đặt nền móng cho việc nghiên cứu và ứng dụng QHCC trong hoạt động của Chính phủ Vì xét cho cùng, QHCC chính là xây dựng mối quan hệ tương tác hai chiều, muốn đạt hiệu quả thì phải dựa trên cơ sở là các học thuyết về giao tiếp Đặc biệt, những nghiên cứu này tạo cơ sở lý luận, mang tính chất gợi ý cho việc xây dựng những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QHCC của Chính phủ trong bối cảnh CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với Luận án
1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu
Từ việc hệ thống hóa tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, có thể thấy những công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề mang tính chất nền tảng cho nghiên cứu về hoạt động QHCC nói chung và QHCC của Chính phủ nói riêng
Những công trình khoa học này đã nghiên cứu và đưa ra rất nhiều quan niệm, khái niệm về QHCC, dựa trên góc nhìn và quan điểm của các lĩnh vực và học giả khác nhau, nhận diện QHCC thông qua việc so sánh và phân biệt QHCC với các lĩnh vực liên quan (quảng cáo, maketing…) Các nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của ngành QHCC trên thế giới cũng đã cho thấy đặc trưng của hoạt động này ở mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia
Bên cạnh đó, các công trình khoa học cũng đã đề cập đến các nguyên tắc của hoạt động QHCC trong việc xây dựng thương hiệu và uy tín của tổ chức nói chung,
từ đó đề xuất quy trình và mô hình chiến lược truyền thông và QHCC hiệu quả phù hợp với đặc điểm của một số quốc gia trên thế giới