Mặc khác, bên cạnh những DNNN đã biết huy động vốn, đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, ngày càng chiếm lĩnh được thị trường trong nư
Trang 1NGUYỄN THANH SANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2Mở đầu 1 Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC
3
1.1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước 3
1.1.1 Định nghĩa doanh nghiệp Nhà nước 3
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp Nhà nước 3
1.1.3 Hai phương pháp đánh giá hiệu quả doanh nghiệp Nhà
nước
4
1.2 Đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước 5
1.3 Vai trò và vị trí của doanh nghiệp Nhà nước 6
1.4 Sự cần thiết phải sắp xếp lại, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước
8
1.5 Một số kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp Nhà nước
trên thế giới
12
2.1.2 Vị thế của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước 16
2.2 Thực trạng về DNNN Thành phố Hồ Chí Minh 16
2.2.1 Sơ lược sự hình thành DNNN Thành phố Hồ Chí Minh 16
2.2.2 Quá trình sắp xếp lại DNNN TP.HCM trong 10 năm qua 17
2.2.3 Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn DNNN TP.HCM 19
Trang 32.2.3.1 Thực trạng về tài sản và vốn kinh doanh (vốn Nhà nước) 19
2.2.3.2 Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 22
2.3 Nguyên nhân, tồn tại của thực trạng yếu kém DNNN
TP.HCM trong thời gian qua
26
2.3.1 Số lượng DNNN vẫn còn nhiều, nhưng dàn tải, đa số có
quy mô nhỏ
26
2.3.2 Máy móc thiết bị lạc hậu 27
2.3.3 Tình hình tài chính không lành mạnh 30
2.3.4 Chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm còn cao 30
2.3.5 Thiếu việc làm và lao động dư thừa 31
2.3.6 Trình đô yếu kém của cán bộ quản lý và thiếu công
nhân có tay nghề cao
31
2.3.7 Cơ chế chính sách vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ 32
2.3.8 Các tổng công ty vẫn còn mang dáng dấp của một xí
nghiệp liên hiệp
33
2.3.9 Vai trò của cấp ủy Đảng và đoàn kết nội bộ 33
2.3.10 Một số nguyên nhân khác 34
2.3.11 Một số khó khăn, vướng mắc khác trong việc sắp xếp
lại doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM
34
Chương III:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DNNN
TP.HCM
36
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM
38 3.2.1 Các giải pháp vĩ mô đối với Trung ương 38
Trang 43.2.1.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền 38 3.2.1.2 Tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp lại DNNN 38 3.2.1.3 Xây dựng hệ thống, cơ chế, chính sách để nânhg cao
hiệu quả cạnh tranh các doanh nghiệp Nhà nước
42
3.2.1.4 Hoàn thiện cơ chế tài chính Tổng công ty 47 3.2.1.5 Thành lập công ty đầu tư tài chính 47 3.2.1.6 Thành lập công ty mua bán nợ và tài sản thế chấp 48
3.2.2 Các giải pháp của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng
cao vai trò và hiệu quả của DNNN TP.HCM trong thời
gian tới
50
3.2.2.1 Các giải pháp về tổ chức 50
3.2.3 Các giải pháp thuộc bản thân doanh nghiệp 55 3.2.3.1 Tập trung giải quyết công nợ khó đòi, vật tư hàng hóa
kém mất phẩm chất
55
3.2.3.2 Chi phí sản xuất và quản lý 56 3.2.3.3 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 56 3.2.3.4 Chiến lược đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ 56
Trang 5MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là TP.HCM), là trung tâm kinh tế lớn của cả nước Sự phát triển kinh tế của thành phố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung của đất nước Trong năm 2000, thành phố đã đóng góp 19,31% GDP; 30,6% ngân sách Nhà nước của cả nước Ngoài ra, TP.HCM cũng là một trong những địa phương có số lượng doanh nghiệp Nhà nước (sau đây viết tắt là DNNN) lớn nhất nước
Trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước thì kinh tế Nhà nước, trong đó có DNNN là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hoá đất nước Trong thời gian qua, DNNN, mặc dù có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước, nhưng tỷ trọng đóng góp vào GDP thành phố của DNNN TP.HCM ngày càng giảm sút Nếu như năm 1997, DNNN thành phố đóng góp vào GDP là 19,3% thì năm 2000 giảm xuống còn 16% Mặc khác, bên cạnh những DNNN đã biết huy động vốn, đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, ngày càng chiếm lĩnh được thị trường trong nước và có uy tín với nước ngoài, còn có một bộ phận không nhỏ lượng doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, hoạt động cầm chừng, trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, tạo gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, nếu chúng ta so sánh hiệu quả vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM với một số tỉnh lân cận như Bình dương, Bến tre, Kiên giang, hay tổng công ty Vât liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng) có địa bàn hoạt động chủ yếu tại TP.HCM … Thì càng thấy sự yếu kém của DNNN TP.HCM Do đâu, các DNNN TP.HCM, không phát huy được tiềm năng, sức mạnh vốn có của mình, sẽ có nhiều nguyên nhân và để tìm ra các nguyên nhân đó, từ đó có những giải pháp thích hợp để nâng cao hơn nữa vai trò
của DNNN nói chung và TP.HCM nói riêng, vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 6II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm đầu tàu dẫn dắt các thành thần kinh tế khác cùng phát triển trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
- Phân tích thực trạng tài chính của DNNN TP.HCM, có so sánh với cả nước và một số địa phương lân cận mà Kiểm toán Nhà nước khu vực phía Nam đã kiểm toán trong năm 2000, tìm ra nguyên nhân, để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn DNNN TP.HCM, cho xứng đáng với tiềm lực kinh tế mà TP.HCM sẵn có, xứng đáng là trung tâm kinh tế của đất nước
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng tình hình tài chính DNNN TP.HCM, có sử dụng một số chỉ tiêu so sánh của các tỉnh Bình dương, Bến tre, Kiêng giang và Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng) và số liệu kiểm kê 1/1/2000 của DNNN cả nước
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích, thống kê, so sánh và đối chiếu và đặt doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM trong hệ thống doanh nghiệp Nhà nước của cả nước để nghiên cứu, đồng thời chịu sự ràng buộc, điều chỉnh của các chính sách, chế độ của Nhà nước và sự chi phối của thị trường, cũng như vận dụng kinh nghiệm cải cách của một số nước trên khu vực và thế giới vào điều kiện thực tiễn của Việt nam và TP.HCM
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung của đề tài ngoài phần phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về doanh nghiệp Nhà nước
Chương II: Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM hiện nay
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM
Trang 7Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được định nghĩa trong điều I luật DNNN
được Quốc Hội thông qua ngày 20/04/1995 là: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà Nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hịện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao
DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lảnh thổ Việt nam”
1.1.2 Phân loại:
Căn cứ vào hình thức hoạt động thì có ba loại DNNN:
- DNNN độc lập: Là DNNN không có trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác, không phải là thành viên tổng công ty
- Tổng công ty: là một tập hợp có nhiều doanh nghiệp thành viên đặt dưới sự chỉ huy, kiểm soát hoạt động của tổng công ty Tổng công ty có các loại đơn vị thành viên: Đơn vị hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp Tổ chức bộ máy tổng công ty có: Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
- Loại DNNN là thành viên của tổng công ty, có thể là đơn vị hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp, loại doanh nghiệp này chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ của tổng công ty nhà nước
Cả ba loại DNNN trên đều có chức năng nhiệm vụ riêng, hệ thống trực thuộc khác nhau, có nhiều hình thức hơn, phạm vi hoạt động rộng hơn các hình thức DNNN đã có trước đây
Trang 8Căn cứ vào nội dung, chức năng thì có hai loại DNNN:
- DNNN hoạt động kinh doanh: Là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm vào mục tiêu lợi nhuận, nhằm đảm bảo bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao và có lãi DNNN hoạt động kinh doanh có quyền tổ chức, quản lý kinh doanh sao cho phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ Nhà nước giao, được quyền mở rộng qui mô theo khả năng và nhu cầu thị trường, tự nguyện tham gia các tổng công ty (trừ những công ty Nhà nước đặc biệt quan trọng do Chính phủ chỉ định), có quyền kinh doanh những ngành nghề phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ Nhà nước giao, kinh doanh bổ sung những ngành nghề phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ Nhà nước giao, kinh doanh bổ sung những ngành nghề khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, tự lựa chọn thị trường, định giá mua bán …
- DNNN hoạt động công ích: Là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Loại DNNN này có thể bị lỗ vốn và có thể được Nhà nước hỗ trợ vốn dưới nhiều hình thức nhằm mục tiêu mang lại những tiện ích cho công chúng hoặc những hình thức công ích khác
1.1 3 Hai phương pháp đánh giá hiệu quả DNNN:
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp, có nhiều chỉ tiêu để đánh giá, tuy nhiên do điều kiện hạn hẹp của đề tài, chỉ nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả đơn thuần của chủ đầu tư là hiệu quả sử dụng vốn (hay hiệu suất sử dụng vốn), có hai phương pháp cần xem xét để đánh giá được hiệu quả của doanh nghiệp:
Phương pháp một: Được xác định trên cơ sở lợi nhuận (lợi tức) mà vốn
mang lại (hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận) hàng năm:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn = Lợi nhuận ròng
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo lãi của một đồng vốn
- Các nhân tố ảnh hưởng: Lợi nhuận mang lại hàng năm (sau thuế thu nhập doanh nghiệp) và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (Đối với doanh nghiệp nhà
Trang 9nước bao gồm: vốn kinh doanh, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quĩ dự phòng tài chính, quĩ đầu tư phát triển)
Phương pháp hai: Cơ sở được xác định dựa trên mối quan hệ giữa doanh thu
và vốn chủ sở hữu
Hiệu suất sử dụng vốn = Doanh thu thuần
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần (không phụ thuộc vào thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, giảm giá, chiết khấu …)
- Các nhân tố ảnh hưởng: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và xác định vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
1.2 ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Một là về vấn đề tài sản: Đây là yếu tố quan trọng nhất của một đơn vị kinh
doanh Tài sản của doanh nghiệp là điều kiện đảm bảo cho các giao dịch kinh tế và điều quan trọng là mục đích sinh lời của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp nhà nước thì tài sản lại thuộc sở hữu của nhà nước, trong khi hoạt động kinh doanh lại do các doanh nghiệp tiến hành Vì vậy, một vấn đề quan trọng là giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sử dụng tài sản doanh nghiệp nhà nước, nhà nước khẳng định quyền sở hữu của mình đối với tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước, đầy đủ cả ba quyền là: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Cụ thể: nhà nước có quyền quyết định thành lập, sát nhập, giải thể, chuyển đổi; quyền quyết định mục tiêu chiến lược của công ty, quyết định cấp vốn, đầu tư, bổ sung, giao vốn; quyền quyết định mô hình quản lý tại các công ty, quyền kiểm tra, giám sát và một số quyền khác, đồng thời để đảm bảo cho quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, nhà nước giao quyền quản lý tài sản cho các doanh nghiệp Quyền quản lý tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước về cơ bản cũng gồm ba quyền trên nhưng có hạn chế hơn so với quyền sở hữu Cụ thể, quyền chiếm hữu và sử dụng của quyền quản lý tài sản trong việc doanh nghiệp được giữ tài sản và sử dụng chúng cho mục đích hoạt động của mình Riêng quyền định đoạt thì nhà nước cho phép doanh nghiệp có
Trang 10quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp, trừ những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo qui định của chính phủ phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc : hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn
Thứ hai về mục đích của doanh nghiệp nhà nước : Theo luật doanh nghiệp
nhà nước thì các doanh nghiệp nhà nước có hai loại là loại doanh nghiệp nhà nước hoạt động có mục đích kinh doanh và loại có mục đích hoạt động công ích Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh là nhằm mục đích sinh lời, điều này một mặt thể hiện sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, mặt khác các doanh nghiệp nhà nước cũng phải hình thành các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao cho Trong thực tế, nhà nước thường giao cho các doanh nghiệp nhà nước cả hai mục tiêu thương mại và xã hội cho các hoạt động của mình, với mong muốn phải là các tổ chức kiểu mẫu, vì vậy việc đưa ra quyết định trở nên phức tạp hơn nhiều khi các mục tiêu xã hội lẫn lộn với mục tiêu thương mại và đồng thời mang tính cưỡng ép với các nhà quản lý, những người chỉ muốn đạt được một vài mục tiêu trong nhiều mục tiêu mà họ phải thực hiện
Thứ ba về vấn đề quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước :
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhà nước còn chịu sự quản lý nhà nước trong các hoạt động của mình Sự quản lý này nằm trong khuôn khổ pháp luật như: việc ban hành các chính sách đối với từng loại doanh nghiệp nhà nước, qui định các biện pháp hỗ trợ, tổ chức qui hoạch chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước
1.3 VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trên thế giới, nước nào cũng có doanh nghiệp nhà nước nhưng vai trò của nó thì hầu như không giống nhau Vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở mỗi nước phụ thuộc vào đường lối chính trị chung và chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn cụ thể của nước đó Ở Việt Nam, vai trò của doanh nghiệp nhà nước cũng phụ thuộc vào hai yếu tố đó
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng và nhà nước ta khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, do đó các doanh nghiệp
Trang 11nhà nước phải giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế –xã hội và chấp hành luật pháp
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần phải duy trì doanh nghiệp nhà nước, đồng thời các doanh nghiệp nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo vì:
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, cần thiết có phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, mà cốt lõi là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Do đó, kinh tế nhà nước phải được đảm bảo giữ vai trò chủ đạo
- DNNN phải giữ vai trò chủ đạo để đảm bảo sự cân đối, ổn định và bền vững trong phát triển kinh tế, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội; có trách nhiệm khắc phục và hạn chế những khuyết tật của nền kinh tế thị trường Điều đó có ý nghĩa là DNNN có vai trò chiến lược là giữ vững sự cân đối và ổn định trong phát triển kinh tế nhiều thành phần
- Cần có những DNNN đầu tư vào những ngành kinh tế quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh mà các thành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân, đầu tư nước ngoài … không làm, khi đầu tư vào các ngành này, mục đích là để nhà nước giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội chứ không phải mục tiêu lợi nhuận
- Ngoài việc điều hành nền kinh tế bằng những chính sách kinh tế vĩ mô hoặc thông qua các công cụ của nhà nước, nhà nước cần nắm những doanh nghiệp nhà nước để làm đối trọng với các thành phần kinh tế khác nhằm mục đích hạn chế độc quyền khi nền kinh tế thị trường phát triển cao làm lũng đoạn nền kinh tế
Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước thể hiện qua các điểm chính sau:
- Các DNNN phải giữ được vai trò chủ đạo, trên thực tế nắm giữ những ngành, lĩnh vực kinh tế có liên quan đến an ninh, quốc phòng, liên quan đến các ngành then chốt của nền kinh tế Sự có mặt của DNNN trong các ngành này có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng của nền kinh tế, duy trì sự ổn định chính trị xã hội Điều này cho thấy tính chủ đạo của DNNN xuất phát từ vị trí chiến lược và khả năng chi phối nền kinh tế mà chỉ có DNNN mới có khả năng đảm nhận nổi, không có thành phần kinh tế nào có đủ khả năng làm được việc đó
Trang 12- Các DNNN phải là đòn bẩy, là công cụ mà nhà nước sử dụng để huy động vốn, tập trung vào các lĩnh vực mang tính chất chiến lược của nền kinh tế, tập trung và các hoạt động thu hút, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý… tạo
cơ sở cho sự phát triển kinh tế
- Các DNNN tham gia tích cực và có hiệu quả vào sự phát triển kinh tế bằng kết quả sản xuất kinh doanh Đối với Việt Nam hiện nay, khi tỷ trọng của DNNN trong tổng sản phẩm nội địa (sau đây viết tắt là GDP) ở mức cao thì hiệu quả hoạt động của DNNN có tác động rất lớn đến sự tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, hiện nay khu vực DNNN đang chiếm giữ một lượng vốn đầu tư lớn với những trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ và nhân lực có trình độ cao thì hoạt động của các DNNN sẽ là một yếu tố quyết định đến việc hình thành những chỉ tiêu kinh tế đã đề ra
- Các DNNN là những đơn vị đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hội nhập với nền kinh tế thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời là nhân tố đển nâng cao chất lượng sản phẩm hướng tới xuất khẩu nhằm hòa nhập với nền kinh tế thế giới
1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP LẠI, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tại đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Đảng đã khẳng định: kinh tế quốc doanh trong đó có doanh nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Tại đại hội VIII của Đảng,
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẩn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” và Đại hội IX một lần nữa khẳng định: “Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; DNNN được đổi mới, phát triển, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả” Trong hơn mười năm
qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay gắt, DNNN đã vượt qua nhiều
Trang 13thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
DNNN đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng thế và lực của đất nước DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm trong nước (GDP)(40%), trong tổng thu ngân sách nhà nước (khoảng 40%), kim ngạch xuất khẩu (trên 50%) và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài; là lực lượng quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, đảm bảo nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh DNNN ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường, năng lực sản xuất tiếp tục tăng, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nâng lên; đời sống của người lao động từng bước được cải thiện
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, DNNN cũng còn những mặt hạn chế yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng Hiện nay, DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển, chủ động hội nhập với kinh tế thế giới, có thể nêu ra các nhược điểm của DNNN như sau:
- Cơ cấu DNNN trong các ngành nghề còn bất hợp lý, và có sự dàn trải trong các nghành, các địa phương Cơ cấu ngành, vùng còn có sự chồng chéo và chưa hợp lý Có một số ngành có tiềm năng lớn nhưng chưa có doanh nghiệp đủ mạnh, tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển như các doanh nghiệp thuộc các ngành du lịch, công nghệ chế biến nông sản, cơ khí …
- Số lượng DNNN vẫn còn nhiều và quy mô nhỏ Qua tổng kiểm kê vào tháng 1/2000, số DNNN là 5.991 doanh nghiệp, trong đó hơn ¾ (4.477 doanh nghiệp, chiếm 75,7%) có số vốn dưới 10 tỷ đồng (tương đương 700.000 USD), trong khi so với các nước trong khu vực, các doanh nghiệp nhỏ có số vốn khoản 1.000.000 USD, vượt khỏi khả năng nguồn lực hiện có của Nhà nước Chỉ riêng việc bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp để đạt mức 30% như Chính phủ quy định, theo trính toán của các chuyên gia kinh tế cần khoảng 10.000 tỷ đồng, trong khi Nhà nước chỉ hổ trợ được khoản 200 tỷ mỗi năm, trong khi ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực không nhất thiết phải có DNNN
Trang 14- Số DNNN hoạt động kém hiệu quả (phụ lục 1.4.2), trong có 44% chưa có
hiệu quả, 15,7% không có hiệu quả Nếu tính cả các khoản lỗ của những năm trước chưa được bù đắp, thì với 30,8% doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, lỗ lũy kế đến 1/1/2000 là 5.079 tỷ đồng Qua kiểm kê, 314 doanh nghiệp do kinh doanh thua lỗ đã mất toàn bộ vốn kinh doanh là 1.231 tỷ đồng, ngoài ra còn mất vào nguồn vốn vay và vốn khác là 3.465 tỷ đồng Ngoài ra, nếu hạch toán đủ các chi phí như khấu hao cơ bản tài sản cố định, nợ khó đòi, vật tư mất kém phẩm chất … thì số lỗ thực sự sẽ còn cao hơn
Tính từ năm 1996 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của DNNN chậm, bình quân 6%/năm Tỷ suất lợi nhuận trên vốn bình quân là 10%, nếu tính trên tổng nguồn vốn kinh doanh thì chỉ đạt 3% Kết quả hoạt động của các DNNN có được như trên một phần cũng do Chính phủ có những biệp pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như cấp bổ sung vốn lưu động, hỗ trợ lãi vay, chuyển nợ tín dụng thành vốn ngân sách cấp, khoanh nợ, giãn nợ …
- Các DNNN hiện đang ở tình trang thiếu vốn trầm trọng, mặc dù quy mô vốn bình quân có tăng lên nhưng vẫn có khoảng 25% DNNN có vốn dưới 1 tỷ đồng Phần lớn các DNNN hiện nay chỉ đảm bảo 10% vốn lưu động, tức còn khoảng 20% thiếu vốn để đạt mức tối thiểu theo quy định Tình trạng này dẫn tới các doanh nghiệp phải vay vốn ngắn hạn và chịu lãi suất cao nên hiệu quả đầu tư thấp, khó thu hồi vốn và khó trả được nợ đến hạn, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán
- Trình độ công nghệ kỹ thuật của các DNNN còn lạc hậu về kỹ thuật và không đồng bộ
Một số tài sản cố định là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải được sản xuất và sử dụng từ những năm 1990 về trước, chiếm trên 30% Mức độ hao mòn hữu hình trên 50%, phần lớn đã qua bảo dưỡng, sửa chữa Các DNNN trung ương có tới 54,3% ở trình độ phổ thông, 41% ở trình độ cơ khí và chỉ có 4,7% ở trình độ tự động hóa Ơû các DNNN địa phương trình độ còn thấp hơn Hậu quả là năng suất lao động, chất lượng sản phẩm thấp làm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng rất lớn Giá thành một số mặt hàng sản xuất trong nước như sắt thép, phân bón, xi măng, kính xây dựng … cao hơn mặt hàng nhập khẩu cùng loại Nhiều tài sản đã khấu hao hết, nhưng giá trị còn lại trên sổ kế toán vẫn còn là do đánh giá lại nhiều lần Ngược lại nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ
Trang 15khấu hao thấp nên giá trị còn lại trên sổ kế toán cao, nhưng giá trị sử dụng thấp, khó có khả năng thu hồi vốn
- Trình độ quản lý còn thấp Đa số các nhà quản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo qua chuyên nghành chính quy, ngoài ra các cán bộ quản lý được đào tạo trước đây trong các ngành kinh tế kế hoạch hóa nên nay khi chuyển sang kinh tế thị trường, các kiến thức quản lý không còn phù hợp, phải đào tạo lại, đây là nhu cầu rất lớn
- Chế độ quản lý tài chính có một số vấn đề chưa theo kịp yêu cầu, đặc biệt là chế độ phân phối, trích lập các quỹ, chưa khuyến khích các doanh nghiệp tạo tích lũy để phát triển sản xuất
- Chế độ tiền lương: mặc dù có sự điều chỉnh quy định về đơn gía tiền lương, nhưng nhìn chung vẫn chưa khuyến khích người lao động có trình độ, tay nghề cao vào làm việc trong DNNN Hậu quả là các ngành mà Nhà nước còn độc quyền thì tiền lương – thu nhập cao, còn các ngành khác thì bị chi phối nhiều yếu tố, áp lực cạnh tranh; đồng thời người lao động có tay nghề, trình độ lao động
“chạy” sang làm việc cho các đơn vị liên doanh, đầu tư nước ngoài, trong khi chúng ta phải mất một thời gian dài và chi phí để đào tạo họ
- Về tình hình tài chính: tình hình công nợ của các doanh nghiệp rất nhiều, không mấy sáng sủa Tổng nợ phải thu đến 1/1/2000 là 187.091 tỷ đồng, gấp 1,43% vốn kinh doanh, trong đó nợ đến hạn chiếm 5,7%, quá hạn chiếm 11,3%, nợ khó đòi là 10.741 tỷ đồng, chiếm 5,7% tổng nợ phải thu Thực chất đây là những khoản nợ mất khả năng thu hồi của các doanh nghiệp, cũng chính là các khoản lỗ của doanh nghiệp
Hàng hóa, vật tư tồn kho mất kém phẩm chất: 1.600 tỷ đồng (1/1/2000), chủ yếu là vật tư tồn kho từ thời bao cấp, đã lỗi thời, không tiêu thụ được, để lâu giảm chất lượng, lạc hậu về kỹ thuật, giá trị giảm Tình trạng vật tư ứ đọng, mất kém phẩm chất các doanh nghiệp treo lại trông chờ Nhà nước, chưa có biện pháp xử lý Vì vậy làm tăng thêm gánh nặng cho chi phí bảo dưỡng, cất giữ và gây ứ đọng vốn, làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp thêm khó khăn
- Cơ chế quản lý các DNNN còn nhiều hạn chế và chưa theo kịp sự phát triển chung, có nhiều cơ quan quản lý Nhà nước nhưng lại không có cơ quan nào chịu trách nhiệm về hậu quả do các doanh nghiệp gây ra Nhà nước chưa có những biện pháp hiệu quả để thúc đẩy động lực hoạt động của các doanh nghiệp
Trang 16nhằm sử dụng hợp lý và tối ưu hiện có Xuất hiện tình trạng sử dụng nguồn lực của công ty, thực chất là của Nhà nước vào phục vụ lợi ích cá nhân và những nhóùm người hoạt động trong doanh nghiệp
Thực trạng của DNNN nêu trên đã dẫn tới phải sắp xếp, đổi mới quản lý DNNN nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN là nhiệm vụ cấp bách nhằm phát huy hết sức mạnh, tiềm năng sẵn có để tạo điều kiện cho DNNN phát huy được vai trò chủ đạo, nắm vững những vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đốt nước; đồng thời định hướng, hổ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác cùng phát triển
1.5 MỘT SỐ KINH NHIỆM CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới, ở bất kỳ một quốc gia nào, dù theo chế độ xã hội nào cũng đều có DNNN, đặc biệt là những nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa Sau đại thế chiến II, các nước xã hội chủ nghĩa đã thành lập tràn lan DNNN Tuy nhiên, theo thời gian, đến những năm 1990, các nước nhận thấy DNNN là kém hiệu quả, trì trệ, và chứa đựng nhiều tiêu cực, vì vậy các quốc gia phải tìm các giải pháp để đổi mới, cải cách DNNN nhằm:
- Tạo động lực khuyến khích để các DNNN nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa lợi nhuận;
- Tạo động lực để tăng trưởng kinh tế Khi các DNNN tiến hành cải cách, sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn, từ đó đóng góp của các DNNN trong nền kinh tế nói chung sẽ cao hơn khi các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường kinh doanh bình đẳng, trong phạm vi các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và phù hợp
- Bình ổn ngân sách Nhà nước: khi các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, Nhà nước chấm dứt tình tạng tài trợ cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, đây là mục tiêu cơ bản trong quá trình cải cáh DNNN của các nước
Kinh nghiệm của một số nước:
1.5.1 Các nước Tây Aâu:
Các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Ý … thường có rất ít các doanh nghiệp Nhà nước tồn tại dưới hình thức 100% vốn Nhà nước Đa số tập trung vào các doanh
Trang 17nghiệp công ích Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các nước này thường áp dụng các hình thức:
- Bán cổ phần của DNNN qua thị trường vốn;
- Bán một phần vốn, một phần tài sản, hay một xí nghiệp “con” trong DNNN cho tư nhân để cùng nhau quản lý doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả đồng vốn của Nhà nước;
- Bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên trong công ty
Ơû các nước này, Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp qua hình thức mua cổ phần với các mức cao thấp khác nhau tuỳ thuộc vào những yếu tố nhất định Số lượng cổ phần Nhà nước nắm giữ trong những doanh nghiệp này thường ở mức hống chế Tuy nhiên, ở đây có một điểm đáng quan tâm là vấn đề sở hữu và quản lý trong những doanh nghiệp này đã được hiểu theo một ý nghĩa mới: quyền ra quyết định không nhất thiết phải dựa vào tỷ lệ cổ phần nắm giữ mà quyết định đó phải được thực hiện theo đường lối của Bộ chủ quản, theo khuynh hướng chung của ngành
1.5.2 Một số nước Châu Á:
a Hàn quốc:
Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện quá trình cải tổ DNNN, bắt đầu từ các công ty thuộc ngành hàng không, ngân hàng, thương mại … bằng cách bán cho tư nhân, các tổ chức tài chính hoặc tổ chức lại thành doanh nghiệp mới Sau đó, Chính phủ Hàn quốc, thực hiện chủ trương đa dạng hóa sở hữu ở một số xí nghiệp quốc doanh chủ yếu như ngân hàng thương mại, bằng cách bán một phần hay toàn bộ tài sản của Nhà nước Hiện nay, năm chaebol hàng đầu – Hyndai, Samsung, Deewoo, LG, và Sunkyong chiếm 10% tổng sản phẩm nội địa (GDP) cả nước Tuy các chaebol phát triển từ doanh nghiệp gia đình chứ không phải do Nhà nước thành lập, nhưng mô hình này rất đáng để các Tổng công ty Việt nam tham khảo Hiện nay chính phủ Hàn quốc đang chi phối khoản 34 chaebol hàng đầu và đang thực hiện chương trình mang tên “giải pháp lớn” (Big Deal) với chủ trương tái cấu trúc, cải tổ và thu hep quy mô hoạt động nhằm tăng hiệu quả và tính cạnh tranh của các chaebol
b Trung quốc:
Trung quốc là một nước có nền kinh tế xuất phát điểm như Việt nam Sau hơn 20 năm cải cách, Trung quốc đã đạt được những thành thành tựu rất đáng
Trang 18khâm phục Riêng lĩnh vực cải cách DNNN, Trung quốc có nhiều bài học kinh nghiệm rất quý báu Một mặt, chính phủ Trung quốc thực hiện nhiều biện pháp để cải cách giá cả, ngân hàng, tài chính … nhằm tạo ra môi trường vĩ mô tốt của nền kinh tế thị trường cho các doanh nghiệp phát triển Trong vấn đề cải cách DNNN, Trung quốc tập trung giải pháp cổ phần hó và cho thuê DNNN …
Để sắp xếp lại DNNN, Trung quốc đã đưa ra một số gỉai pháp mang tính táo bạo, khẳng định một cách mạnh dạng các hình thức sở hữu phù hợp trong nền kinh tế thị trường, nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Quan điểm của Trung quốc là “nắm to bỏ nhỏ”, Nhà nước chủ trương chỉ “nắm” một số DNNN chủ yếu, còn lại sẽ tiến hành đa dạng hóa sở hữu, theo các hình thức như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, góp vốn liên doanh, hay giải thể sát nhập cho các DNNN và cho chuyển đảo nợ Nhà nước thành vốn Nhà nước Kết quả đã giảm bớt được gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và tăng được năng lực quản lý điều hành của doanh nghiệp dẫn đến tăng hiệu quả sử dụng vốn trong DNNN, từng bước giải quyết được tình trạng công hữu vô chủ, tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp Đến cuối năm 1999, 90% các DNNN Trung quốc đã đạt được tiến bộ rõ rệt, trong số 30 tỉnh thì đã có 26 tỉnh bắt đầu có lãi và số lỗ gỉam xuống được 8% so với năm 1998, đối với những DNNN đã cải cách thành công có những đặc trưng sau:
+ Quan hệ tài sản rõ ràng, có quyền tài sản pháp nhân toàn diện, là người bỏ vốn đầu tư, trở thành thực thể pháp nhân độc lập, được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ dân sự
+ Doanh nghiệp tự chủ kinh doanh theo pháp luật, tự chịu tách nhiệm lãi lỗ, nộp thuế theo quy định, có trách nhiệm bảo toàn và tăng giá trị trước người bỏ vốn
+ Người bỏ vốn dựa trên mức vốn đầu tư vào doanh nghiệp được hưởng các quyền lợi chính như: quyền lựa chọn người quản lý, quyền thu lợi từ tài sản và quyền quyết sách quan trọng Khi doanh nghiệp phá sản, người bỏ vốn phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình trước số nợ của doanh nghiệp
+ Nhà nước chỉ được coi là người bỏ vốn, không được can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chỉ có thể quản lý gián tiếp doanh nghiệp với tư cách là một cổ đông Doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh theo nhu cầu của thị trường
Trang 19+ Xây dựng chế độ lãnh đạo, quản lý, tổ chức doanh nghiệp khoa học; điều tiết mối quan hệ giữa người sở hữu, người kinh doanh và người lao động; xây dựng kết hợp cơ chế kinh doanh với cơ chế ràng buộc
Việc các DNNN Trung quốc đang hướng đến mô hình doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường đã phát triển ở trình độ cao, sẽ giúp các DNNN khắc phục sự lạc hậu và giữ được vai trò quan trọng, tạo thêm năng lực mới, giành được thắng lợi trong cạnh tranh và trên thị trường và giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Qua kinh nghiệm cải cách DNNN của các nước trên, ta nhận thấy, các nước có các mô hình khác nhau như:
- Tư nhân hóa hay cổ phần hóa;
- Bán hoặc cho thuê DNNN;
- Khoán cho tập thể người lao động;
- Đấu thầu quản lý DNNN;
- Sát nhập vào một doanh nghiệp khác;
- Giải thể hoặc cho phá sản
Tóm tắt chương I:
Kinh tế Nhà nước là thành phần phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa DNNN sẽ giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật Tuy nhiên, trong thời gian qua, các DNNN, vẫn là thành phần kinh tế đóng góp nhiều nhất cho GDP, cho ngân sách Nhà nước … Song vẫn bộc lộ nhiều yếu kém Vì vậy, vấn đề cải cách, sắp xếp lại DNNN là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn DNNN Mặt khác, cùng với đà phát triển của nền kinh tế toàn cầu, các nước trên thế giới đã và đang tiến hành cải cách DNNN Mỗi nước có cách làm khác nhau, không nước nào giống nước nào, vì tùy thuộc vào điều kiện thực tế kinh tế – xã hội và chế độ chính trị của mỗi nước Tuy nhiên, vẫn có những điểm tương đồng và có những điểm chung, những điểm quý báu rất đáng cho chúng ta rút kinh nghiệm, học hỏi, đặt biệt là các nước trong khu vực, nhất là Trung quốc, vì có đặc điểm xuất phát điểm, điều kiện kinh tế - chính trị – xã hội tương tự như nước ta, để vận dụng vào thực tiễn trong quá trình sắp xếp lại DNNN ở Việt nam
Trang 202.1.2 Vị thế của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước
TP HCM nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trung tâm lớn về kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông, giao lưu quốc tế lớn của đất nước
Theo số liệu thống kê năm 2000, GDP của TP.HCM chiếm tỷ trọng 19,31%, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 29,69%, giá trị dịch vu chiếm 24,74%, doanh số bán lẻ chiếm 28,32% của cả nước Tốc độ tăng trưởng GDP của TP.HCM trong giai đoạn 1996-2000 là 10,2%, trong khi của cả nước là 7% Năm
2000, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn TP.HCM chiếm tỷ trọng khoảng 30,6% thu ngân sách của cả nước và là 1 trong 5 địa phương có đóng góp cho ngân sách Nhà nước trung ương
2.2 THỰC TRẠNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TP.HCM
2.2.1 Sơ lược sự hình thành DNNN tại TP.HCM
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với cả nước, thành phố Sài gòn (lúc bấy giờ, đến 1976 mới đổi thành TP.HCM), bắt tay vào việc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Lúc này, các tổ chức kinh tế mà hạt nhân là các xí nghiệp quốc doanh là hạt nhân của nền kinh tế
Việc hình thành các xí nghiệp quốc doanh (tiền thân của DNNN) tại TP.HCM được hình thành từ 2 nguồn: quốc hữu hóa các cơ sở sản xuất kinh doanh
Trang 21do tư nhân và tư sản cũ để lại và trên cơ sở tổ chức sản xuất và phát triển công nghiệp quốc doanh địa phương
Quá trình quốc hữu hóa được diễn ra ngay từ khi miền Nam hoàn toàn giải phóng bằng việc tiếp quản các xí nghiệp do tư nhân và tư sản bỏ trốn ra nước ngoài Từ 1975 đến 1978, quá trình quốc hữu hóa diễn ra nhanh hơn cùng với chủ trương cải tạo công thương nghiệp của TP.HCM, đến cuối năm 1978, số lượng các
xí nghiệp quốc doanh do TP.HCM quản lý 142 đơn vị và 46 xí nghiệp công tư hợp doanh
Ngoài ra, thông qua việc tổ chức lại sản xuất và phát triển công thương nghiệp tại TP.HCM, đã hình thành một bộ phận đáng kể DNNN Các xí nghiệp quốc doanh loại này gắn liền với 2 cấp quản lý là cấp sở, ban ngành thành phố và các quận huyện quản lý Năm 1980, công nghiệp quốc doanh quận huyện quản lý chỉ chiếm 6,21% giá trị sản lượng công nghiệp quốc doanh TP.HCM, nhưng đến năm 1989, đã gia tăng lên 34,68% Điều này chứng tỏ, chỉ trong 10 năm, từ 1980 đến 1989, có sự gia tăng đáng kể các xí nghiệp quốc doanh do quận huyện quản lý
Hiện nay, các DNNN thuộc TP.HCM có 3 cơ quan quản lý là các sở, ban ngành TP.HCM; các quận huyện; và các tổng công ty được thành lập theo quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 của Chính phủ
2.2.2 Quá trình sắp xếp lại DNNN TP.HCM trong 10 năm qua
Trong 10 năm qua, 1991 – 2000, Chính phủ đã thực hiện 3 đợt đổi mới và sắp xếp lại DNNN TP.HCM là 1 thành phố có nhiều DNNN nhất, nên cũng tiến hành sắp xếp lại theo các đợt đổi mới và sắp xếp lại DNNN của Chính phủ
2.2.2.1 Đợt 1 (1991 – 1993):
Theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991, và quyết định 315/HĐBT, Nhà nước đã tiến hành các biện pháp tình thế để tập trung giải quyết về tổ chức, xây dựng cơ chế, chính sách và tài chính để sắp xếp các đơn vị cơ sở Đây cũng là lần đầu tiên tiến hành kiểm kê toàn bộ DNNN, đánh giá tình hình hoạt động và trên cơ sở đó đăng ký lại những doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn tiếp tục tồn tại Trong giai đoạn này, Nhà nước thí điểm chuyển từ phương thức quản lý trực tiếp việc đầu tư vốn và tài sản sang phương thức giao cho tập thể cán bộ công nhân viên và giám đốc trực tiếp quản lý, sử dụng để sản xuất kinh doanh Số lớn các
Trang 22DNNN thua lỗ kéo dài, ra đời một cách ồ ạt, tràn lan được thu gom và xóa sổ, đã làm giảm bớt đáng kể số lượng DNNN hoạt động yếu kém Nếu như năm 1991, số lượng DNNN TP.HCM khoảng 1.400 doanh nghiệp, thì đến cuối năm 1993 còn
523 doanh nghiệp, trong giai đoạn này, TP.HCM đã thực hiện thí điểm cổ phần hoá theo quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của Chính phủ là công ty Cơ điện lạnh (10/1993)
2.2.2.2 Đợt 2 (1994 – 1997):
Với các quyết định 90/TTg, 91/TTg ngày 7/3/1994 và chỉ thị 500/TTg ngày 25/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ, một lần nữa trật tự các doanh nghiệp được sắp xếp theo hướng chuyên môn hoá các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế bằng việc tạo ra các tổng công ty kinh doanh thay thế các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty có tính chất hành chính trung gian trước đó Luật DNNN được Quốc hội thông qua tháng 4/1995 đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng trong việc tạo ra khung pháp lý cho DNNN, phân định rõ quyền và nghĩa vụ của DNNN Cùng thời điểm, nghị định 28/CP ra đời, chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần có tính chất thí điểm Với lần sắp xếp này, TP.HCM tiếp tục thực hiện thí điểm cổ phần hóa theo quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của Thủ tướng chính phủ (cổ phần hoá công ty Ong mật - 6/1996), cổ phần hoá 7 doanh nghiệp theo NĐ 28/CP, và thành lập 7 Tổng công ty 90, trong đó có 6 Tổng công ty được thành lập trên cơ sở các đơn vị thành viên thuộc các sở: sở Thương mại, sở địa chính-nhà đất, sở xây dựng, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở du lịch hoạt động chuyên ngành và các đơn vị trực thuộc UBND Quận I thành lập Tổng công ty Bến thành, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực
Đến cuối năm 1997, số lượng DNNN TP.HCM còn 382 doanh nghiệp, trong đó đã cổ phần hóa 7 doanh nghiệp, sáp nhập giải thể 37 doanh nghiệp
2.2.2.3 Đợt 3 (1998 đến nay):
Các DNNN thực hiện sắp xếp lại theo NĐ 44/1998/NĐ/CP và chỉ thị 20/1998/CT/CP Nội dung cốt lõi của lần sắp xếp này là chuyển đổi sở hữu theo hình thức cổ phần hóa DNNN làm ăn có hiệu quả; giao bán , khoán cho thuê các doanh nghiệp nhỏ làm ăn kém hiệu quả Mục đích đạt tới của lần sắp xếp này là huy động vốn, tạo thêm động lực bằng xác định quyền làm chủ của người lao động qua sở hữu tài sản Qua lần sắp xếp này, đến cuối năm 2000, TP.HCM tiếp tục cổ phần hóa 39 doanh nghiệp, thu được 117,818 tỷ đồng để đầu tư cho các
Trang 23công trình trọng điểm khác; và sát nhập 19 doanh nghiệp; giải thể 3 doanh nghiệp, còn 321 doanh nghiệp hạch toán độc lập, trong đó các sở ban ngành quản lý 133 doanh nghiệp, quận huyện quản lý 81 doanh nghiệp và các tổng công ty quản lý 107 doanh nghiệp Trong giai đoạn này, TP.HCM cũng tiến hành phân loại doanh nghiệp hoạt động công ích và doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Hiện nay TP.HCM có 52 doanh nghiệp hoạt động công ích, chủ yếu thuộc các sở và quận huyện quản lý
Như vậy, qua 10 năm đổi mới, sắp xếp lại DNNN, TP.HCM đã giảm hơn 1.000 doanh nghiệp, từ 1.400 doanh nghiệp còn 321 doanh nghiệp (cuối năm 2000)
2.2.3 Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn DNNN TP.HCM
2.2.3.1 Thực trạng về tài sản và vốn kinh doanh (vốn Nhà nước)
a Tài sản
(Phụ lục 2.2.3 (số 1) đến phụ lục 2.2.3 (số 11))
Đến cuối năm 2000, TP.HCM quản lý 321 DNNN với tổng giá trị tài sản là 22.387.619 triệu đồng, bình quân 69.743,36 triệu đồng/doanh nghiệp; trong đó tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn là 12.209.016 triệu đồng, chiếm 54,53% tổng giá trị tài sản; và tài sản cố định (sau đây viết tắt là TSCĐ) và đầu tư dài hạn là 10.178.603 triệu đồng, chiếm 45,47% tổng giá trị tài sản Như vậy, giá trị tài sản doanh nghiệp bình quân là 69.743,36 triệu đồng, trong đó tài sản lưu động và đầu
tư ngắn hạn là 38.034,31 triệu đồng, TSCĐ và đầu tư dài hạn là 71.709,05 triệu đồng
Trong tổng TSCĐ và đầu tư dài hạn, thì nguyên giá TSCĐ là 8.882.030 triệu đồng, và giá trị còn lại là 5.052.883 triệu đồng, với tỷ lệ giá trị còn lại của TSCĐ là 56,89% so với nguyên giá TSCĐ Như vậy, nguyên giá TSCĐ bình quân
1 doanh nghiệp là 27.669,87 triệu đồng và giá trị còn lại bình quân là 17.741 triệu đồng
Nếu phân theo cấp quản lý, thì DNNN thuộc các sở ban ngành quản lý là 8.918.531 triệu đồng hay 39,8%; và quận huyện quản lý là 4.689.582 triệu đồng, chiếm 20,8 %; và các tổng công ty 90 của TP.HCM quản lý là 8.779.686 triệu đồng, chiếm 39,2% toàn bộ giá trị tài sản DNNN TP.HCM Trong toàn bộ các DNNN TP.HCM, các DNNN do Sở nhà đất quản lý có quy mô lớn nhất với giá trị bình quân là 505.000 triệu đồng (chỉ có 1 doanh nghiệp là công ty quản lý và kinh
Trang 24doanh nhà TP.HCM - hoạt động công ích), nếu không tính DNNN công ích này thì các DNNN do Sở thương mại quản lý có quy mô bình quân lớn nhất với giá trị tài sản bình quân 1 doanh nghiệp là 224.571 triệu đồng; còn nhỏ nhất là các DNNN
do sở xây dựng quản lý là 3.314 triệu đồng (chỉ 1 doanh nghiệp là công ty kiểm định xây dựng), kế đến là các DNNN do Tổng công ty nông nghiệp Sài gòn quản lý với giá trị tài sản bình quân 1 doanh nghiệp là 27.369 triệu đồng Trong các DNNN TP.HCM, doanh nghiệp có giá trị tài sản lớn nhất là công ty du lịch Sài Gòn (Tổng công ty Du lịch Sài Gòn), với tổng giá trị trị tài sản là 1.130.995 triệu đồng, và doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản nhỏ nhất là XN bánh tráng (Quận Củ chi), với tổng giá trị tài sản là 257 triệu đồng
Về nguyên giá TSCĐ, các DNNN do các Sở ban ngành quản lý là 3.945.015 triệu đồng chiếm 44,4%; và quận huyên quản lý có tổng nguyên giá TSCĐ là 2.415.762 triệu đồng, chiếm 27,2% và các Tổng công ty quản lý với tổng nguyên giá là 2.521.253 triệu đồng, chiếm 28,4% toàn bộ nguyên giá TSCĐ các DNNN TP.HCM Trong đó các DNNN do Sở nhà đất quản ly,ù có nguyên giá TSCĐ bình quân lớn nhất với giá trị là 353.000 triệu đồng/DN; kế đế là tổng công
ty du lịch Sài gòn (144.402 triệu đồng/doanh nghiệp); còn các DNNN do Sở xây dựng quản lý có nguyên giá TSCĐ ( bình quân nhỏ nhất với giá trị 1.654 triệu đồng) Về giá trị còn lại, các DNNN do quận huyện quản lý có giá trị còn lại là 82,1%; còn các DNNN do Sở giao thông công chánh quản lý có giá trị còn lại 15,9% là thấp nhất
b Về quy mô vốn kinh doanh (vốn Nhà nước):
(Phụ lục 2.2.3 (số 12) đến phụ lục 2.2.3 (Số 14))
Vốn Nhà nước trong DNNN bao gồm nguồn vốn kinh doanh, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính Đến cuối năm 2000, tổng vốn kinh doanh ( hay vốn Nhà nước) của các DNNN TP.HCM là 10.340.236 triệu đồng, trong đó các DNNN thuộc các sở ban ngành quản lý là 3.769.465 triệu đồng, chiếm 36,5%; các DNNN do quận huyện quản lý 2.424.382 triệu đồng, chiếm 23,4%; và các DNNN thuộc các Tổng công ty quản lý 4.146.389 triệu đồng, chiếm 40,1% tổng vốn Nhà nước
đó các DNNN do các sở ban ngành quản lý có vốn kinh doanh bình quân là 28.342 triệu đồng; quận huyện quản lý: 29.931 triệu đồng; và các DNNN thuộc các Tổng
Trang 25công ty quản lý có vốn kinh doanh bình quân là 38.751 triệu đồng Các DNNN thuộc Sở nhà đất quản lý có quy mô lớn nhất với vốn bình quân là 433.904 triệu đồng; và các DNNN thuộc Sở xây dựng quản lý có quy mô nhỏ nhất với vốn bình quân là 2.020 triệu đồng Doanh nghiệp có quy mô vốn lớn nhất là Công ty du lịch Sài gòn, với tổng vốn kinh doanh là 713.468 triệu đồng, và doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh nhỏ nhất là Trạm 50-03S (Sở giao thông), với tổng vốn kinh doanh là 191 triệu đồng Về vốn, các DNNN có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chỉ chiếm 2,24% trong khi số lượng chiếm 29,3%; Quy mô vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ chiếm 5,9% trong khi số lượng chiếm 27,1% Tổng hợp các doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng với tổng vốn kinh doanh là 840.912 triệu đồng với tỷ lệ 8,14% tổng vốn kinh doanh, trong khi có đến 56,1% tổng số DNNN TP.HCM (tương ứng 181/321 doanh nghiệp) Điều này chứng tỏ số lượng DNNN có quy mô nhỏ vẫn còn nhiều, đây là hệ quả của việc thành lập DNNN tràn lan trước đây
triệu đồng, với quy mô vốn bình quân là 23.750 triệu đồng; năm 1999, tổng vốn Nhà nước là 9.411.179 triệu đồng, tăntg 6,8%, với vốn kinh doanh bình quân là 26.362 triệu đồng, tăng 11% so với năm 1998; năm 2000, tổng vốn Nhà nước là 10.340.327 triệu đồng, tăng 929.148 triệu đồng hay 9,9% so với năm 1999, và vốn kinh doanh bình quân là 32.213 triệu đồng, tăng 22,2% so với năm 1999
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh, máy móc thiệt bị vẫn còn lạc hậu, sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầâu của thị trường, chỉ sản xuất những gì mà doanh nghiệp có mà không sản xuất theo hướng nhu cầu của thị trường, chưa có những doanh nghiệp thuộc các ngành lĩnh vực quan trọng như công nghệ thông tin, vật liệu mới …… Mặc khác, quy mô vốn của các DNNN TP.HCM nếu nhìn vốn bình quân thì chỉ tương đương các doanh nghiệp vừa và nhỏ của khu vực, tuy nhiên vẫn còn 56,38% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, sức cạnh tranh không cao Mặc dù, vốn không nhiều, máy móc thiết bị lạc hậu nhưng công suất sử dụng vẫn chưa hết Bên cạnh đó, đa số các DNNN TP.HCM vẫn chưa có chiến lược sản xuất kinh doanh, đầu tư mới máy móc thiết bị công nghệ do thiếu vốn kinh doanh, trong khi huy động từ các nguồn khác khó khăn, đặc biệt là phải trả lãi vay và thị trường tiêu thụ sản phẩm Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp không cao, chưa làm tốt vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế
Trang 26khác cùng phát triển Mặc khác, trước yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, khả năng cạnh tranh cao trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, đòi hỏi vốn kinh doanh phải lớn, trong khi khả năng bổ sung vốn có hạn và Nhà nước cũng không còn cấp bổ sung vốn kinh doanh cho doanh nghiệp, vì vậy cần phải có bước đột phá trong phương thức quản lý cũng như phải cải cách, đổi mới mạnh mẽ DNNN TP.HCM thì mới có hy vọng và tạo điều kiện để các DNNN TP.HCM ngày càng phát triển vững chắc, xứng đáng là trung tâm kinh tế của đất nước
2.2.3.2 Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
mô vốn kinh doanh tăng lên, từng bước đáp ứng về nhu cầu vốn kinh doanh Các DNNN TP.HCM cũng đã nhận thức và từng bước thích nghi dần trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các DNNN đã năng động hơn, chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh, cố gắng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất; đồng thời chủ động tìm kiếm thị trường, cố gắng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội … Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN TP.HCM vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Cụ thể, kết quả sản xuất kinh doanh trong 3 năm 1998, 1999,và 2000 như sau:
a Hiệu suất doanh thu trên vốn
(Từ phụ lục 2.2.3 (số 15) đến phụ lục 2 2.3 (số 20))
TP.HCM về tổng doanh thu thuần và vốn kinh doanh hàng năm, ta nhận thấy kết quả như sau:
22.303.832 triệu đồng, năm 1999: 23.342.533 triệu đồng, năm 2000 là 25.393.905 triệu đồng Tốc độ tăng năm 1999 so với năm 1998 là 4,7%, năm 2000 so với năm 1999: 8,8% Trong tổng doanh thu năm 2000, 27,4% số lượng doanh nghiệp có quy mô vốn trên 20 tỷ tạo ra 63,3% doanh thu Nhưng nếu chúng ta so về hiệu quả doanh thu trên vốn thì trong 3 năm 1998, 1999, 2000 liên tục giảm, cụ thể, năm 1998: 1 đồng vốn tạo ra 2,53 đ doanh thu, năm 1999 là 2,48đ, giảm 2% so 1998,
2000 là 2,46đ, giảm 1% so với 1999 Nguyên nhân năm 2000 giảm so với năm
1999 là các Tổng công ty giảm 7%, Quận huyện giảm 4%, trong đó giảm nhiều
Trang 27nhất là Tổng công ty Địa ốc Sài gòn giảm 22%, và tăng trưởng cao nhất là các doanh nghiệp trực thuộc UBND TP.HCM quản lý tăng 36% Như vậy hiệu quả doanh thu trên vốn liên tục giảm, không có hiệu quả Mặc khác, nếu chúng ta so sánh với DNNN một số địa phương phía nam năm 2000 thì 1 đồng vốn Nhà nước
của DNNN TP.HCM tạo ra doanh thu rất thấp, cụ thể (Phụ lục 2.2.3 –số 2):
TP.HCM là 2,45đ, trong khi Bình dương là 5,135đ (gấp 2,095 lần), Bến tre: 4,38đ (gấp 1,78 lần ), Kiên giang: 6,837đ (gấp 2,79 lần) hay tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng): 7,234đ (gấp 2,95 lần) Điều này chứng tỏ DNNN TP.HCM chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, khả năng chiếm lĩnh thị trường chưa tương xứng với quy mô vốn sẵn có của các doanh nghiệp Nhà nước TP.HCM, cũng như những thuận lợi về sản xuất kinh doanh như thị trường, khả năng nắm bắt thông tin, trình độ chất xám … Tiềm năng của DNNN TP.HCM là rất lớn, nhưng chúng ta chưa khai thác hết, nhằm tận dụng hết công suất, nguồn lực hiện có, vì vậy cần phải sắp xếp lại để tận dụng, khai thác những tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp
b Hiệu suất lợi nhuận trên vốn
(Từ phụ lục 2.2.3 (số 21) đến phụ lục 2.2.3 (số 27)
- Lợi nhuận trong 3 năm 1998, 1999, 2000 của DNNN TP.HCM tạo ra đều tăng, cụ thể như sau: năm 1998 là 573.898 triệu đồng; năm 1999 là 852.082 triệu đồng, tăng 278.184 triệu đồng so với năm 1998 hay 48,5%; và năm 2000 là 838.530 triệu đồng, giảm 13.552 triệu đồng so với năm 1999 hay giảm 1,6%; trong đó, 27,4% doanh nghiệp có vốn trên 20 tỷ đồng tạo ra 77,5% lợi nhuận (649.906 tr đồng/838.530 tr đồng) Trong khi, tốc độ tăng vốn kinh doanh năm
1999 so với 1998 là 6,8%, 2000 so với năm 1999 là 9,9%, điều này càng chứng tỏ sự yếu kém của DNNN TP.HCM
Nhưng nếu chúng ta so sánh tỷ lệ lợi nhuận trên vốn bình quân thì năm
2000 giảm so với năm 1999 (từ 9,05% xuống còn 8,11%), không tương xứng với tốc độ tăng vốn bình quân (năm 2000 so với năm 1999 tăng 6,8%) Nếu tính theo quy luật, quy mô vốn tăng thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tăng lên, nhưng đây là một nghịch lý, vốn tăng nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm sút
Mặc khác, nếu so sánh tỷ lệ lợi nhuận trên vốn kinh doanh năm 2000 của các DNNN TP.HCM với một số địa phương trong vùng thì ta nhận thấy rằng lợi
Trang 28nhuận trên vốn kinh doanh của TP.HCM là 8,11%, các DNNN Bình dương: 13,41% (gấp 1,65 lần), Bến tre: 12,87% (gấp 1,58 lần), Kiên giang: 10,66% (gấp 1,31 lần), Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng): 16,18% (gấp 1,99 lần), (phụ lục 2.2.3-số 2)… Như vậy nếu so sánh về hiệu quả kinh doanh thì DNNN TP.HCM cũng thua sút các DNNN các địa phương
Trong kinh doanh, nhà đầu tư thường quan tâm đến lợi nhuận tạo ra so với
1 đồng vốn bỏ ra Như vậy, nhà đầu tư phải tìm mọi biện pháp để thúc đẩy tăng nhanh lợi nhuận DNNN, ngoài mục tiêu hoạt động tạo ra lợi nhuận, còn thực hiện nhiệm vụ xã hội (phục vụ các hoạt động công ích, điều tiết thị trường ….) Nhưng nếu chúng ta hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, tức tạo ra lợi nhuận cao, đồng nghĩa với lợi ích của doanh nghiệp cũng tăng lên (như trích quỹ khen thưởng – phúc lợi tăng), tiền lương tăng (tiền lương so sánh với tốc độ tăng lợi nhuận) … thì kết quả kinh doanh của DNNN TP.HCM rất thấp, chỉ có 6,51 % năm 1998, tăng lên 9,05% năm 1999, và năm 2000 giảm xuống 8,11%, cho thấy tính không ổn định của DNNN TP.HCM, đồng thời nếu so với lãi suất ngân hàng thì cũng rất thấp, không hiệu quả
Tuy nhiên, nếu chúng ta đi sâu phân tích kỹ các DNNN theo cấp quản lý, thì các DNNN thuộc các sở khác quản lý (như Sở tài chính, Sở giáo dục, Sở lao động – thương binh – xã hội ….), có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn là cao nhất, năm 1998: 103,04%; năm 1999: 119,37%; năm 2000: 123,78%, trong đó chủ yếu là công ty Sổ xố kiết thiết TP.HCM (vốn chiếm 68%, lãi chiếm 90,42% và tỷ lệ lãi trên vốn là 163,8% năm 2000), do đây là loại hình kinh doanh đặc thù Kế đến là các DNNN do Sở Y tế quản lý, mặc dù trong 3 năm qua có giảm sút (năm 1998: 21,85%; năm 1999: 22,97%; năm 2000: 20,4%) Bên cạnh đó, vẫn còn các đơn vị kinh doanh không hiệu quả, đó là các doanh nghiệp trực thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý (lỗ 5.743 triệu đồng), các DNNN thuộc các Tổng công ty lợi nhuận trên vốn kinh doanh Nhà nước rất thấp (Bình quân lợi nhuận trên vốn năm qua các năm 1998: 4,16%; năm 1999: 4,89%; năm 2000: 5,07%), thấp nhất là các DNNN trực thuộc Tổng công ty Bến thành, với lợi nhuận trên vốn bình quân qua các năm 1998: 1,68%; năm 1999: 2,18%; năm 2000: 2,03%), hay các DNNN thuộc Tổng công ty Vật liệu xây dựng TP.HCM liên tục giảm (năm 1998: 7,27%; năm 1999: 6,58%; và năm 2000: 4,84%) Các tổng công ty xây dựng Sài gòn, Tổng công ty Thương mại Sài gòn, Tổng công ty địa ốc Sài gòn
Trang 29và các DNNN thuộc cấp quận huyện quản lý cũng đều rất thấp Như vậy, chúng
ta nhận thấy rằng, mô hình các tổng công ty 90 của TP.HCM hiện nay chúng ta cần xem xét, đánh giá lại, đặc biệt là năng lực quản lý của cấp lãnh đạo, mặc dù việc kinh doanh của doanh nghiệp đã được tự chủ hơn
- Tình hình lãi lỗ (phụ lục 2.2.3 (số 25))
Năm 2000, trong 321 DNNN TP.HCM có 277 doanh nghiệp kinh doanh có lãi, tỷ lệ 86%, tương ứng với số lợi nhuận là 868.071 triệu đồng; 23 doanh nghiệp hòa vốn, chiếm tỷ lệ 7,6%; và 22 doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, chiếm tỷ lệ 6,8% tương ứng với số lỗ là 26.341 triệu đồng Nếu tính về quy mô, thì các DNNN có vốn dưới 10 tỷ đồng kinh doanh lỗ chiếm 86,36% (19 trên 22 doanh nghiệp), chiếm 64,95% số lỗ (17.109 triệu đồng trên 26.341triệu đồng) Tuy nhiên, nếu số
lượng doanh nghiệp kinh doanh có lãi của TP.HCM là 86% (phụ lục 2.2.3-số 2),
thì tỷ lệ số lượng doanh nghiệp kinh doanh có lãi của TP.HCM cũng kém so với DNNN Bình dương (87,5%), Kiên giang (90%), Bến tre (92,3%), và chỉ hơn Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng) (81,8%)
Nếu phân tích 2 năm 1998, 1999 thì ta nhận thấy kết quả như sau:
Năm 1998, số doanh nghiệp có lãi là 296 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 79,78% với số lãi là 608.219 triệu đồng, số doanh nghiệp hòa vốn là 49, chiếm tỷ lệ 13,21%; và số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ là 26, chiếm tỷ lệ 7,01%, tương ứng với số lỗ là 34.321 triệu đồng Năm 1999, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi là 284 doanh nghiệp, tương ứng với số lãi là 895.094 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 79,55%; 42 doanh nghiệp hòa vốn, chiếm tỷ lệ 11,76%, và 31 doanh nghiệp kinh doanh lỗ, chiếm 8,68%, tương ứng với số lỗ là 43.012 triệu đồng
Như vậy, số lượng DNNN kinh doanh có hiệu quả đã được cải thiện (từ 79,87% năm 1998, lên 86,29% năm 2000), đây là 1 dấu hiệu tương đối khả quan, có được kết quả trên là do hiệu quả sắp xếp lại DNNN trong những năm trước và các chính sách của Nhà nước đã bắt đầu phát huy tác dụng Nhưng có một điều nghịch lý, mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi tăng lên nhưng hiệu quả lợi nhuận trên vốn lại giảm sút cũng như số lỗ cũng tăng lên (từ 34.321 triệu đồng năm 1998, tăng lên 43.012 triệu đồng năm 1999 và giảm xuống 26.341 năm 2000), phản ánh được phần nào thực trạng yếu kém của DNNN TP.HCM
Trang 302.3 NGUYÊN NHÂN, TỒN TẠI CỦA THỰC TRẠNG YẾU KÉM DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TP.HCM TRONG THỜI GIAN QUA
Qua số liệu phân tích trên, hiệu quả hoạt động của DNNN TP.HCM trong 3 năm qua đều thấp cả doanh thu trên vốn lẫn lợi nhuận trên vốn Về doanh thu trên vốn trung bình trong 3 năm: 1998 là 2,53đ, năm 1999 là 2,48đ, năm 2000 là 2,46đ Và lợi nhuận trên vốn lần lượt là 6,51%, 9,05% và 8,11% Còn nếu so sánh với các DNNN của các tỉnh lân cận như Bình dương, Bến tre, Kiên giang hay Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng) thì hiệu quả của DNNN TP.HCM đều thua kém, chưa thể hiện được vai trò đầu tàu của mình trong trong nền kinh tế mà TP.HCM đang gánh vác so với cả nước Sở dĩ, các DNNN TP.HCM yếu kém như trên, theo tôi có các nguyên nhân sau:
2.3.1 Số lượng DNNN vẫn còn nhiều nhưng dàn trải, đa số có quy mô nhỏ
Qua các đợt sắp xếp, số lượng các DNNN TP.HCM đã giảm nhiều, tuy nhiên đến 31/12/2000 vẫn còn 321 doanh nghiệp, chiếm khoảng 5% số lượng DNNN của cả nước Nếu theo cơ cấu ngành nghề, thì DNNN TP.HCM tuy nhiều nhưng còn dàn trải, có ở mọi ngành, mọi lãnh vực và trùng lắp (như các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng nhiều về số lượng nhưng khả năng cạnh tranh không cao so với các DNNN thuộc các cơ quan chủ quản khác; các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất giấy, cơ khí, thương mại, … ) nhưng lại thiếu những doanh nghiệp thuộc các ngành mũi nhọn như công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu mới
… theo xu hướng, yêu cầu phát triển của đất nước Chính vì thế, mặc dù nhiều, nhưng khả năng cạnh tranh, đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi của thị trường không cao
Năm 2000, mặc dù số vốn bình quân của DNNN TP.HCM là rất cao so với mức trung bình của cả nước và một số địa phương Vốn bình quân của các DNNN TP.HCM là 32.213 triệu đồng/doanh nghiệp, các tỉnh khác thấp hơn so với TP.HCM như Bình dương (18.029,7 triệu đồng), Kiên giang (14.367 triệu đồng), Bến tre (12.310 triệu đồng), Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 (Bộ xây dựng) (9.235,2 triệu đồng) … Nhưng số doanh nghiệp có quy mô lớn không nhiều
Hiện nay, các DNNN có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng là 181 doanh nghiệp chiếm 56,4% DNNN TP.HCM nhưng vốn chỉ chiếm 840.912 triệu đồng hay 8,14% Còn nếu cộng tất cả doanh nghiệp có vốn dưới 20 tỷ thì sẽ là 233 doanh nghiệp, chiếm 72,58% số lượng DNNN TP.HCM, nhưng vốn chỉ chiếm có
Trang 3116,07% Đây là một điều chênh lệch rất lớn Như vậy, quy mô vốn bình quân của các DNNN TP.HCM cao là nhờ một số ít doanh nghiệp có quy mô vốn thật sự lớn (trên 50 tỷ đồng) với số lượng chỉ có 13,4% (43 doanh nghiệp) nhưng vốn lại chiếm 70,59% (7.299.598 triệu đồng), trong đó có một số doanh nghiệp có số vốn rất lớn như: Công ty du lịch Sài gòn (Tổng công ty du lịch Sài gòn): 713.4698 tr đồng, Công ty Cấp nước (Sở giao thông công chánh – doanh nghiệp công ích): 606.754 tr đồng; Công ty dịch vụ phát triển đô thị (Tổng công ty Địa ốc Sài gòn): 520.255 tr đồng;…
Như vậy, nhìn chung quy mô vốn của các DNNN TP.HCM là nhỏ, không có khả năng cạnh tranh, quy mô vốn lớn của các DNNN là rất ít Chính vì quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp không có đủ vốn để mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường Đặc biệt, các doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để sản xuất kinh doanh rất trầm trọng Qua khảo sát một số doanh nghiệp thuộc tổng công ty xây dựng Sài gòn, Tổng công ty vật liệu xây dựng TP.HCM, Sở Công nghiệp … Thì đa số doanh nghiệp hoạt động bằng vốn chiếm dụng và vay ngân hàng là chủ yếu, nên không chủ động được sản xuất kinh doanh Mặt khác, do phải vay ngân hàng nên có một tỷ lệ lớn lợi nhuận đạt được dành để trả lãi vay nên hiệu quả kinh doanh không cao
Nếu tính bình quân, vốn lưu động chỉ đáp ứng được khoảng 10% -15% so với nhu cầu Các khoản vốn tín dụng và chiếm dụng của các doanh nghiệp bình quân là 1,04 lần so với vốn sản xuất kinh doanh hay 1 đồng vốn thì phải vay tín dụng và chiếm dụng 1,04đ, chính con số này cũng chứng minh phần nào khả năng thiếu vốn của doanh nghiệp
Mặt khác, một số doanh nghiệp có quy mô vốn lớn như trên chủ yếu là vốn về giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn vào các liên doanh với nước ngoài, nhưng hiệu quả liên doanh hầu như không có, nên cũng lý giải được phần nào tại sao các doanh nghiệp có vốn lớn nhưng tỷ lệ lãi trên vốn thấp
2.3.2 Máy móc thiết bị lạc hậu
(Phụ lục 2.3.2 (số 1), phụ lục 2.3.2 (số 2))
Trong 4 năm từ 1997 đến 2000, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và sữa chữa lớn của các DNNN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn chiếm tỷ trọng 27%-28%, chứng tỏ công tác đầu tư đã được các doanh nghiệp chú trọng, nhưng
Trang 32nhìn chung các DNNN Thành phố Hồ Chí Minh, thì trang bị kỹ thuật, công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu và thiếu đồng bộ, khả năng về vốn để đầu tư đổi mới còn hạn chế Đây cũng là nguyên nhân chính khiến cho DNNN TP.HCM có sản phẩm chất lượng kém, gía thành cao hơn so với các mặt hàng cùng loại của các đối thủ cạnh tranh và mẫu mã không đa dạng, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và nhu cầu của thị trường ngày càng cao
Về nguyên giá TSCĐ năm 1998 là 6.571.777tr đồng, năm 1999 là 8.361.577 tr đồng, tăng 1.789.800 tr đồng so với năm 1998 hay 27,23%; và năm
2000 là 8.882.030 tr đồng, tăng 520.453 tr đồng hay tăng 6,2% so với năm 1999 Về giá trị còn lại của tài sản cố định chỉ dao động 56%-57%, cụ thể năm 1998 là 56,55%; năm 1999 là 56,77% và năm 2000 là 56,89%, cho thấy tài sản cố định đã cũ nhiều, mức độ đầu tư, đổi mới máy móc thiệt bị chậm, đặc biệt là các Tổng công ty chỉ còn 26,5% năm 2000 Ngoài ra, nếu tính đủ, tính đúng khấu hao thì tỷ lệ này còn thấp hơn Mặc khác, số tài sản không cần dùng, chờ thanh lý năm 2000 là 48.451 tr đồng, chiếm 0.95% giá trị còn lại của tài sản cố định (48.451 tr đồng/50.052.883 tr đồng) Như vậy vẫn còn một số lượng lớn tài sản không được sử dụng cho sản xuất kinh doanh
Phần lớn các doanh nghiệp có máy móc thiết bị không đồng bộ, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng; giá trị còn lại của tài sản chủ yếu là nhà cửa, vật kiến trúc do tỷ lệ khấu hao thấp, thời gian khấu hao kéo dài, còn đa số máy móc thiết bị không còn khấu hao do đã khấu hao hết từ lâu nhưng không có nguồn đầu tư, đổi mới, cũng như máy móc thiết bị đã cũ kỹ lạc hậu cách đây 2 – 3 thế hệ như các doanh nghiệp thuộc ngành cơ khí (Sở công nghiệp), các công
ty xây dựng thuộc tổng công ty xây dựng Sài gòn … Chính vì vậy, đây cũng là nguyên nhân gây nên việc kinh doanh không hiệu quả Chúng ta có thể tưởng tượng được không 1 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tài sản chỉ là những khung nhà, còn máy móc chỉ là những thiết bị chuyên dùng thủ công, các công đoạn làm việc cũng là thủ công, còn máy móc thiết bị hiện đại, mới 100% thì không dùng đến ngay tại TP.HCM này, vì sợ sẽ tính khấu hao sẽ bị lỗ, sản xuất không có thị trường tiêu thụ sản phẩm, đến nỗi máy vi tính trong quản lý cũng không có mà thực tế lại có đấy (Công ty dịch vụ hoá mỹ phẩm – Sở công nghiệp – Chuyên sản xuất nước hoa); hay các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng trong
Trang 33tổng công ty xây dựng Sài gòn chỉ có dàn giáo là chủ yếu (ngoại trừ công ty xây dựng số 1) …
Tình trạng chậm đổi mới, đầu tư máy móc thiết bị tất yếu tình trạng thiết bị công nghệ nói chung là kém và còn lạc hậu
- Trình độ khoa học công nghệ: khả năng tiếp cận công nghệ và đổi mới công nghệ, chi phí nghiên cứu và triển khai, số lượng các bản quyền sáng chế, phát minh, đầu tư về kiểu dáng sản phẩm … là những quyết định hàng đầu về chất lượng và tính năng sản phẩm
Năm 1999 – 2000, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cùng với chuyên gia của Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật (JICA) đã xác định sáu (6) yếu tố quá trình cản trở quá trình đổi mới công nghệ trong DNNN ở Việt nam
BẢNG: 2.3.2 CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ TRONG DNNN
Thiếu hiểu biết về thị trường Nghiên cứu nhu cầu thị trường, tiếp thị điều yếu
Thiếu hiểu biết về công nghệ
thích hợp
Không nghiên cứu có hệ thống về công nghệ thích hợp với yêu cầu thị trường
Chưa có thị trường vốn trung hạn
và dài hạn
DNNN ít có khả năng lựa chọn về nguồn vốn, phụ thuộc vào nguồn vốn của ngân hàng
Thủ tục đầu tư phức tạp, mất
thới gian
Thủ tục đòi hỏi quá nhiều cấp xét duyệt, mất thời gia, công sức, tiền bạc
Một bộ phận người lao động
không ủng hộ
Số người lao động lớn tuổi, ít được đào tạo, e ngại, không tiếp cận được với công nghệ mới Lãnh đạo doanh nghiệp thiếu
quan tâm
Do không phải chịu sức ép cạnh tranh nên lãnh đạo DNNN không cần phải đổi mới công nghệ
(Nguồn: Thời báo kinh tế Sài gòn, số 50/2001 ngày 6/12/2001)
Đa số công ghệ được sử dụng ở Việt nam đều lạc hậu nhiều thế hệ, so với trình độ tiên tiến thế giới, do đó, hạn chế đáng kể khả năng sản xuất những sản
phẩm, dịch vụ có tính năng ưu việt, chất lượng cao
Trang 342.3.3 Tình hình tài chính không lành mạnh
(Từ phụ lục 2.3.3 (số 1) đến 2.2.3 (số 8))
Tình hình công nợ cũng là cũng là vấn đề nổi cộm ảnh hưởng đấn tình hình tài chính của các DNNN TP.HCM
(Phụ lục 2.3.3 (Số 1))
Qua bảng số liệu ta thấy rằng, mức thâm hụt giữa nợ phải thu và phải trả là rất lớn, cụ thể năm 1998: 4.044.587 triệu đồng; năm 1999: 5.165.313 triệu đồng; năm 2000: 5.629.231 triệu đồng, liên tục tăng qua các năm đã phản ảnh tình hình thiếu vốn tại các doanh nghiệp, chiếm 54,44% năm 2000
Mặc khác, trong tổng số nợ phải thu, thì tình trạng nợ phải thu khó đòi
chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số nợ phải thu (phụ lục 2.3.3 (số 6)), mặc dù
trong 3 năm 1998, 1999 và 2000, tình tạng này có có xu hướng giảm nhưng còn rất cao, cụ thể, năm 1998 là 467.975 triệu đồng, chiếm 11,3%; năm 1999 là 425.387 triệu đồng, chiếm 9,25%; và năm 2000 là 425.829 triệu đồng, chiếm 8,3% Thực chất đây là những khoản lỗ của doanh nghiệp, mất vốn trong kinh doanh, gây thực sự khó khăn cho doanh nghiệp Có doanh nghiệp khoản phải thu khó đòi chiếm 77,36% vốn kinh doanh của doanh nghiệp (công ty Vải sợi may mặc gia định – Tổng công ty Thương mại Sài gòn)
(Phụ lục 2.3.3 (số8))
Ngoài ra, hàng hóa tồn kho ứ đọng, mất kém phẩm chất, cũng như tài sản chờ thanh lý, lỗ lũy kế và các khoản khác cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình hình tài chính kém lành mạnh của doanh nghiệp
Mặc dù các khoản xem như mất vốn này có giảm qua các năm, cả số tuyệt đối (từ 882.681 tr đồng xuống còn 590.593 tr đồng năm 2000 hay tỷ lệ mất vốn so với vốn kinh doanh từ 10,01% xuống 5,7%), chứng minh các doanh nghiệp đã cố gắng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng đây cũng là một tỷ lệ cao, chứng tỏ công tác, quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn rất kém, không hiệu quả
2.3.4 Chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm còn cao
Một trong những yếu tố thu hút khách hàng, ngoài chất lượng, mẫu mã, bao
bì sản phẩm, thì giá cả cũng là một yếu tố rất quan trọng Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tiêu thụ với giá bán thấp hơn giá thành, doanh nghiệp sẽ bị lỗ Muốn vậy,
Trang 35phải bán cao hơn giá thành Thực tế hiện nay, các DNNN TP.HCM có giá thành sản phẩm cao hơn giá thành các sản phẩm cùng loại rất nhiều trên thị trường, vì vậy sản phẩm không tiêu thụ được, mất dần ưu thế trên thị trường, tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu không lường trước được
Trong cơ cấu giá thành sản phẩm, các chi phí khấu hao tài sản, chi phí tiêu hao nguyên nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn Máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu làm cho việc hao phí nguyên nhiên vật liệu cao tất yếu vẫn đến giá thành cao Mặc khác, cũng đòi hỏi lực lượng lao động nhiều hơn nên chi phí tiền lương cũng nhiều hơn … Ngoài ra, các chi phí tiếp tân, khánh tiết của các doanh nghiệp cũng rất nhiều, vì chi phí nếu có hóa đơn là thanh toán tiền nên chi vô tội vạ, các doanh nghiệp chưa đề ra quy chế rõ ràng về cấp nào được tiếp khách, mức khống chế tối
đa hay khoán chi phí Đây là vấn đề các doanh nghiệp cần quan tâm
2.3.5 Thiếu việc làm và lao động dư thừa:
Tuy việc sắp xếp lại DNNN trong thời gian qua đã giảm bớt một lượng khá lớn lao động, nhưng hiện nay, do thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường kém, nên vẫn còn một bộ phận khá lớn công nhân đang thiếu việc làm đang là áp lức khá lớn cho các doanh nghiệp
2.3.6 Trình độ yếu kém của cán bộ quản lý và công nhân có tay nghề cao
Hiện nay, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành và đội ngũ công nhân lành nghề của các DNNN TP.HCM vẫn còn yếu và thiếu, đặc biệt là những kiến thức về kinh tế thị trường Do đó, các doanh nghiệp đã thiếu chủ động, nhạy bén thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh thích ứng với những biến đổi thường xuyên của thị trường, bỏ lỡ nhiều cơ hội trong kinh doanh
Mặc khác, qua tiếp xúc với một số doanh nghiệp thuộc Sở công nghiêp và các đơn vị thành viện thuộc các Tổng công ty 90 của TP.HCM (ngoại trừ Tổng công ty nông nghiệp Sài gòn), số đội ngũ cán bộ quản lý (giám đốc, phó giám đốc) thì có khoản 10% -15% sợ trách nhiệm cá nhân, không dám làm, sợ vi phạm pháp luật (do không nắm vững pháp luật), chỉ hoạt động cầm chừng, sao cho doanh nghiệp hoạt động được, bởi lẽ, chức vụ của anh ta không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh
Bên cạnh thiếu việc làm cho người lao động, thì việc thiếu đội ngũ công nhân lành nghề, có tay nghề cao cũng là một nguyên nhân quan trọng Hiện nay,
Trang 36việc chi trả tiền lương của các DNNN mặc dù đã cải cách nhiều, nhưng chưa triệt để, vẫn duyệt đơn giá tiền lương, khống chế quỹ lương, mức tiền lương bình quân tối đa, giám đốc chưa có đầy đủ quền hạn trả tiền lương tương xứng với với sức lao động do người lao động bỏ ra, nên có hiện tượng một bộ phận không nhỏ cán bộ có năng lực quản lý, công nhân tay nghề cao chuyển sang làm việc cho các đơn vị kinh doanh bên ngoài, đặc biệt là các công ty đầu tư nước ngoài và các công ty liên doanh, làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm và tính năng động của doanh nghiệp
2 3.7 Cơ chế chính sách vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ
Hiện nay, mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế trong quản lý sản xuất kinh doanh, đơn vị được tự chủ hơn nhưng vẫn chưa đầy đủ, phù hợp với cơ chế thị ttrường và thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tự chủ sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vấn đề vốn kinh doanh
- Về vấn đề huy động vốn cho kinh doanh
Luật DNNN và NĐ 59/CP và NĐ 27/CP, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng khả năng huy động vốn để đầu tư Cơ chế tài chính của doanh nghiệp không hạn chế mức huy động vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền huy động tín dụng, vốn của các đối tượng khác để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở thỏa thuận giữa người cho vay và doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hiệu quả vốn vay, trả nợ cho người đi vay cả vốn gốc lẫn lãi Cơ chế tín dụng cho phép các doanh nghiệp được tiếp cận các nguồn vốn với các điều kiện như nhau Tuy hệ thống văn bản pháp luật về huy động vốn của DNNN tương đối đồng bộ, tuy nhiên nếu đi sâu phân tích kỹ thì nhận thấy các văn bản còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau vẫn còn, bên cạnh một số mặt tích cực hợp lý Thậm chí ngay trong cùng một văn bản cũng có mâu thuẫn như NĐ 59/CP, điều 11 ghi rõ
“doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới các hình thức: phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn, nhận vốn góp liên kiết vào các hình thức khác nhau Việc huy động vốn phải tuân theo các quy định của pháp luật, không làm thay đổi hình thức sở hữu của các doanh nghiệp” Quy định cho phép doanh nghiệp phát hành cổ phiếu nhưng lại không làm thay đổi hình thức sở hữu của DNNN Nhưng DNNN là doanh nghiệp một chủ, nếu DNNN phát hành cổ phiếu thì cổ đông có thể không chỉ là Nhà nước, như vậy khi DNNN phát hành cổ phiếu sẽ lập tức thay đổi
Trang 37sở hữu, từ 100% vốn Nhà nước sang sở hữu tập thể Như vậy, những quy định bất cập vẫn còn và gây cho doanh nghiệp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, nếu không sớm gỉai quyết thì đây cũng là một rào cản lớn trong tiến trình phát triển của DNNN nói chung và DNNN TP.HCM nói riêng
2.3.8 Các tổng công ty vẫn còn mang dáng dấp của liên hiệp xí nghiệp
Hiện nay, TP.HCM có 7 Tổng công ty 90, với 107 đơn vị thành viên hạch toán độc lập, chiếm 33,65% tổng số DNNN TP.HCM, nắm giữ 40,1% về vốn Nhà nước, tạo ra 41,3% doanh thu nhưng tạo ra 25,08% lợi nhuận, góp phần đáng kể trong việc cân đối chủ yếu về vật tư, hàng hóa, góp phần vào bình ổn giá, … Tuy nhiên, các tổng công ty này được thành lập chủ yếu dựa trên phép cộng các DNNN trực thuộc các sở hoặc Quận I trước đây, để đủ số thành viên và vốn theo quy định chứ không hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện và liên kết kinh tế, dựa trên những gắn bó về lợi ích và thị trường Do vậy, các doanh nghiệp thành viên phải tự bươn chảy, nên có xu hướng hoạt động độc lập, còn tổng công ty mà khó
“bảo” được các doanh nghiệp thành viên Ngay trong mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cũng đang nảy sinh nhiều vướng mắc: Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cùng do một cấp đề nghị và bổ nhiệm, cùng ký nhận vốn Nhà nước nên không xác định rành mạch trách nhiệm và địa vị pháp lý của mỗi chức danh Có nơi Tổng giám đốc xem nhẹ Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc ngược lại Hơn nữa, vẫn tồn tại cơ chế trích lập quỹ tập trung từ các doanh nghiệp thành viên lên Tổng công ty làm cho Tổng công ty vẫn mang dáng dấp của một liên hiệp xí nghiệp
Mặc khác, các doanh nghiệp thành viên phải trích vào chi phí tỷ lệ phần trăm trên doanh thu để nuôi bộ máy gián tiếp của Tổng công ty, mà đơn vị thì hầu như không được lợi gì so với trước đây, đây cũng là gánh nặng của các đơn vị thành viên
2.3.9 Vai trò cấp ủy Đảng và đoàn kết nội bộ trong cấp lãnh đạo
Một số đơn vị hoạt động yếu kém, ngoài một số nguyên nhân trên còn có nguyên nhân là vai trò của cấp ủy Đảng trong doanh nghiệp chưa được phát huy cũng như vấn đề đoàn kết nội bộ Do hạn chế về trình độ quản lý và nắm vững pháp luật, một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không thống nhất trong đường lối, phương án, chiến lược phát triển, kinh doanh của đơn vị hoặc bất hợp