Trong nước thì cung đã vượt cầu, cộng với tình hình dư thừa trên thế giới làm sụt giá đường một cách thảm hại, tình hình tiêu thụ do vậy càng thêm đen tối, … Hiện nay, với hơn 40 nhà máy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HUỲNH TUẤN CƯỜNG
LUẬNVĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2MỤC LỤC
I ĐỊNH NGHĨA THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
II GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT MARKETING MIX VÀ MỘT SỐ MÔ
HÌNH PHÂN PHỐI
1
1.2 SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI - CÔNG CỤ
1.2.1 Số lượng các cấp của kênh phân phối 2
1.2.2 Những mục tiêu, ràng buộc khi quyết định chọn kênh phân
1.3.3 Sự khác nhau giữa thị trường tiêu dùng và công nghiệp 8
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU SẢN PHẨM VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG
CỦA THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG
9
2.1.3 Các phụ phẩm của ngành đường 11
2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG VÀ ĐẶC
2.2.1 Mùa vụ và chu kỳ biến động giá 13 2.2.2 Năng lực sản xuất so sánh với nhu cầu 14
2.2.6 Chênh lệch giá giữa 2 miền Nam, Bắc 16
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG – TÌNH HÌNH PHÂN PHỐI – XÁC
Trang 33.1.2 Số lượng các nhà máy 21 3.1.3 Qui mô và phân bố các nhà máy 22
3.1.6 Giá mía nguyên liệu và chi phí sản xuất công nghiệp
3.1.7 Tồn tại khu vực sản xuất đường thủ công 25 3.1.8 Cơ cấu tiêu thụ trên bình diện cả nước: 25
3.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÂN PHỐI ĐƯỜNG Ở PHÍA
3.3.1 Phân tích tình hình tiêu thụ thời gian vừa qua 30
3.3.4 Mô tả-phân tích hệ thống phân phối của các NM luyện
3.4 NHỮNG BẤT HỢP LÝ, HẬU QUẢ CỦA HỆ THỐNG
PHÂN PHỐI HIỆN NAY
3.4.4 Nguồn cung nguyên liệu mía cho nhà máy bấp bênh 39
3.4.7 Dư cung, dư cầu cục bộ, thời điểm 41 3.4.8 Các nhà máy đối đầu trực tiếp, không đoàn kết 41 3.4.9 Ngành đường không thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn 42
Trang 4VỰC PHÍA NAM
3.8 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HỆ
THỐNG PHÂN PHỐI ĐƯỜNG TINH LUYỆN KHU VỰC
PHÍA NAM
46
3.8.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh 47
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI
ĐƯỜNG KHU VỰC PHÍA NAM
48
4.1 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI
Ở THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRỰC TIẾP
49
4.1.2 Hoàn thiện mạng lưới phân phối tận các vùng xa, sâu 52
4.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI Ở
4.2.2 Nối dài tầm ảnh hưởng của nhà máy đến các vùng
4.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI
Ở THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
55
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình kinh tế cả nước đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả, ngành công nghiệp mía đường Việt Nam đã hết sức chú trọng để phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là phát triển nông nghiệp nông thôn Từ sau đổi mới, vào năm 1994, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã định hướng mục tiêu sản xuất 1 triệu tấn đường vào năm 2000 Tuy nhiên đến nay tồn tại của chương trình này hiện là vấn đề nan giải của cả nước
Thực tiễn ngành mía đường Việt Nam đang phải trải qua muôn ngàn khó khăn : tình trạng canh tác còn lạc hậu, tổ chức chế biến còn nhiều bất cập, hạ tầng cơ sở không thuận lợi để chuyển sang cơ giới, hiệu quả sản xuất còn thua kém nhiều nước trong khu vực, hệ thống phân phối sản phẩm không khoa học, … tất cả đã làm giá thành sản xuất đường cao ở mức không ngờ Trong nước thì cung đã vượt cầu, cộng với tình hình dư thừa trên thế giới làm sụt giá đường một cách thảm hại, tình hình tiêu thụ do vậy càng thêm đen tối, …
Hiện nay, với hơn 40 nhà máy sản xuất đường đi vào hoạt động, đáp ứng không những đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, thậm chí còn dẫn đến tình trạng cung vượt cầu, dù rằng trong năm qua khá nhiều nhà máy đường và các đơn vị thương nghiệp đã xuất khẩu một lượng đường đáng kể nhưng vẫn không giải quyết được dứt điểm vấn đề tồn kho trên bình diện cả nước
Do đó, các nhà máy vẫn còn gặp nhiều khó khăn ở khâu tiêu thụ, cuộc cạnh tranh đầu ra giữa các nhà máy diễn ra ngày càng gay gắt Đặc biệt là trong cuộc cạnh tranh trên, các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài dựa vào sức tài chính mạnh nên đã chấp nhận bán dưới giá thành để giành thị phần, làm cho giá cả trên thị trường liên tục giảm mạnh, hầu như nhà máy nào cũng nằm trong tình trạng lỗ Thêm vào đó, thiên tai lũ lụt đã diễn ra ở miền Trung và Tây Nam bộ trong các năm qua đã gây thiệt hại nặng nề Từ đó làm cho thu nhập dân cư giảm dẫn đến sức mua cũng giảm mạnh
Các yếu tố trên đã làm cho tình hình sản xuất – kinh doanh của các nhà máy sản xuất đường trên cả nước nói chung và khu vực phía Nam nói riêng gặp rất nhiều khó khăn Như vậy, nếu không xây dựng, hoàn thiện hệ thống phân phối thì ngành đường phía Nam không thể nào cạnh tranh được ngay cả với các đơn vị trong nước chứ chưa nói tới các đơn vị của các nước trong khu vực Asean
Trang 6CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT MARKETING MIX
VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN PHỐI
1.1 SƠ LƯỢC VỀ MARKETING MIX :
Trong suốt thập kỷ 70 trở về trước, yếu tố trung tâm trong các chiến lược kinh doanh của rất nhiều công ty là tài chính Gần đây, các nhà kinh doanh mới
bắt đầu nhận th ấy rằng :“Marketing chính là yếu tố quan trọng nhất trong các chiến lược dài hạn”
Có rất nhiều định nghĩa về marketing, tuy nhiên đối với đề tài này tôi xin
chọn định nghĩa của John H.Crighton : “Marketing là quá trình cung cấp sản phẩm đang cần, đúng kênh, đúng luồng, đúng thời gian và vị trí”
Marketing là tổng hợp của 4 chiến lược (4P) 4P của marketing đó chính là : Sản phẩm (Product), giá (price), phân phối (Place), xúc tiến (Promotion)
- Chiến lược sản phẩm : là đường lối, biện pháp của doanh nghiệp nhằm
làm cho sản phẩm thích ứng với sự cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ với khối lượng lớn trong thời gian dài và chiếm được uy tín trên thị trường
- Chiến lược giá : trong quá trình tái sản xuất, giá cả là khâu cuối và nó thể
hiện kết quả của các khâu khác Giá cả là lĩnh vực thể hiện sự tranh giành lợi ích kinh tế và vị trí độc quyền của các thế lực
- Chiến lược phân phối : Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay tổ
chức hỗ trợ cho việc chuyển nhượng quyền sỡ hữu một sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu dùng
- Chiến lược xúc tiến : chiến lược này nhằm giúp đỡ các nhà kinh doanh tạo
ra và phát triển nhận thức, sự hiểu biết và lòng ham muốn mua hàng của người tiêu thụ
1.2 SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI - CÔNG CỤ CỦA MARKETING MIX
Phân phối chính là một kênh tiếp thị làm công việc chuyển hàng hoá từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng Nó lấp được khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu giữa người tiêu dùng với hàng hoá Những thành viên của kênh phân phối làm một số chức năng chủ yếu sau :
- Điều nghiên : thu thập thông tin cần thiết để hoạch định và tạo thuận tiện
cho sự trao đổi
- Cổ động : triển khai và phổ biến những truyền thông có sức thuyết phục
về những món hàng tung ra
- Tiếp xúc : tìm ra và truyền thông được với khách hàng tương lai
Trang 7- Thương thảo : cố gắng đi tới thỏa thuận về giá cả và các vấn đề khác
quanh món hàng đem bán để có thể bán được
- Phân phối vật phẩm : vận chuyển và tồn kho hàng hoá
- Tài trợ : huy động, phân chia tiền bạc để thanh toán các chi phí của kênh
- Chịu may rủi : chấp nhận những rủi ro liên quan đến việc điều hành hoạt
động của đường dây
Nếu nhà sản xuất thực hiện những chức năng này thì chi phí sẽ tăng và giá cả sẽ cao hơn Khi một số chức năng được chuyển giao cho giới trung gian thì chi phí và giá cả của nhà sản xuất sẽ thấp hơn, nhưng người trung gian phải tính
thêm chi phí hoạt động
1.2.1 Số lượng các cấp của kênh phân phối:
Dựa vào số lượng thành viên trong kênh phân phối mà người ta chia kênh phân phối thành kênh zero cấp, kênh 1 cấp, kênh 2 cấp, kênh 3 cấp và tổng quát là kênh n cấp
SƠ ĐỒ I.1 - CÁC CẤP CỦA KÊNH PHÂN PHỐI
Qua sơ đồ I.1 trên cho thấy, kênh phân phối càng nhiều cấp thì quãng đường sản phẩm đi từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng càng dài, chỉ cần trở ngại trong khâu nào đó thì kênh phân phối sẽ bị ách tắc, do đó kênh phân phối càng dài càng bất lợi và không hiệu quả
Trong hoạt động kinh doanh, kênh phân phối đóng vai trò quan trọng nhất
N XUA
ÁT
NGƯ ỜI TIÊ
U DÙ
Trang 8đơn vị sản xuất không đủ tiềm lực để trực tiếp phân phối và nếu có thể làm được thì chi phí cũng rất cao, không có hiệu quả kinh tế Hiện nay kênh thường sử dụng nhất là kênh 1 cấp và 2 cấp Kênh phân phối càng dài thì càng bất lợi cho nhà sản xuất vì giá cả sẽ bị tăng lên, công ty không kiểm soát được quá trình phân phối
1.2.2 Những mục tiêu, ràng buộc khi quyết định chọn kênh phân phối :
Việc thiết lập kênh phân phối theo mô hình nào là những quyết định quan trọng nhất của doanh nghiệp do kênh phân phối rất khó sửa đổi, cải tiến hoặc nếu thay đổi thì chi phí, thiệt hại về kinh doanh rất lớn
Việc hoạch định một kênh có hiệu quả phụ thuộc vào việc định rõ : cần vươn tới thị trường nào với mục tiêu nào? Những mục tiêu có thể là : mức phục vụ khách hàng tới đâu? các trung gian phải hoạt động thế nào? … mỗi công ty phải triển khai mục tiêu của mình trong tình hình những ràng buộc từ phía khách hàng, sản phẩm, giới trung gian, những người cạnh tranh, chính sách của công ty và môi trường chung quanh Việc thiết kế kênh phân phối phụ thuộc vào :
- Đặc điểm về người tiêu thụ : đặc điểm của khách hàng ảnh hưởng lớn đến
việc thiết kế kênh : khách hàng sống rải rác thì cần kênh phân phối dài, …
- Đặc điểm về sản phẩm : các sản phẩm dễ hư hỏng thì cần tiếp thị trực
tiếp, các sản phẩm cồng kềnh cần kênh phân phối ngắn để giảm tối đa cung đường vận chuyển và bốc xếp, các sản phẩm giá trị cao thường do nhân viên công ty đứng bán chứ không qua trung gian, …
- Đặc điểm của trung gian : việc thiết kế kênh phản ánh những mặt mạnh,
mặt yếu của các loại trung gian trong việc thực hiện các nhiệm vụ của họ
- Đặc điểm về cạnh tranh : việc thiết kế kênh cũng ảnh hưởng bởi các
đường dây của hãng cạnh tranh Nhà sản xuất có thể muốn cạnh tranh trong cùng hay kế cận với các điểm bán lẻ của hãng cạnh tranh
- Đặc điểm về công ty : đặc điểm của công ty giữ phần quan trọng việc lựa
chọn kênh Qui mô của công ty sẽ quyết định qui mô thị trường và khả năng của công ty trong việc tìm được những nhà trung gian ưng ý
- Đặc điểm môi trường : khi nền kinh tế đang suy thoái, công ty cần thiết sử
dụng các kênh ngắn và bỏ bớt những dịch vụ không cần thiết để hạ giá bán Khi công ty muốn kiểm soát toàn bộ quá trình phân phối, họ cần phải có điều kiện kèm theo về mặt tài chính, tổ chức và nhân lực Do các khả năng của công ty thường rất hạn chế, để quyết định lựa chọn kênh phân phối và xác định các chức năng trên thị trường lựa chọn, công ty cần nghiên cứu các vấn đề sau :
- Có các kênh phân phối nào để sử dụng cho sản phẩm của mình ?
- Cần phải sử dụng bao nhiêu trung gian trong từng giai đoạn của một thị trường và khả năng thâm nhập thị trường của công ty?
Trang 9- Xác định các nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của mỗi trung gian : một công ty kinh doanh thành công cần phải biết rằng mỗi nhiệm vụ phải được phân công cho trung gian nào làm tốt nhất?
- Các trung gian làm việc theo điều kiện, điều khoản nào : đó là việc xác định giá cả, các điều khoản tín dụng và thanh toán, mức chiết khấu và giảm giá, các dịch vụ bán hàng, …
Tóm lại : chiến lược phân phối cung cấp cho khách hàng đúng sản phẩm,
đúng thời gian, đúng vị trí trên cơ sở đúng kênh phân phối hay đúng luồng hàng
Vì phân phối có một vai trò quan trọng như thế nên việc xây dựng một hệ thống phân phối mạnh về số lượng cũng như chất lượng là ưu tiên số 1 của các nhà sản xuất hiện nay Ai chiếm lĩnh được phân phối người ấy thắng lợi trong cạnh tranh
Trong cuộc nghiên cứu về “Hàng Việt Nam chất lượng cao” của báo Saigon Tiếp thị về việc người tiêu dùng chọn lựa một sản phẩm, kết quả khảo sát cho thấy, ưu tiên chọn lựa được thống kê như sau :
1 Chất lượng tốt
2 Dễ mua , tiện lợi khi mua
3 Giá rẻ
4 Có quảng cáo tốt
Như vậy, phân phối mà biểu hiện là “sự dễ mua” được người tiêu dùng đánh giá rất cao trong thang bậc ưu tiên chọn lựa
1.3 MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN PHỐI :
Đường là sản phẩm đặc biệt Thị trường của nó là công nghiệp và tiêu dùng trực tiếp
1.3.1 Thị trường tiêu dùng trực tiếp :
Thị trường này được đặc trưng bằng 1 số mô hình phân phối sau :
1.3.1.1- Mô hình đại lý phân phối chọn lọc :
Là một mô hình được nhiều công ty chọn lựa nhất
BÁN SĨ
Trang 10Mô hình này có ưu điểm là gọn nhẹ, dễ thực hiện, không tốn nhiều chi phí và nhân sự, có hiệu quả khá cao nên được rất nhiều doanh nghiệp ưu chuộng và áp dụng ở tất cả các mặt hàng nhất là các loại hàng tiêu dùng Tuy nhiên mô hình này cũng có một số nhược điểm sau :
- Đại lý bán hàng thụ động
- Khó kiểm soát được kênh phân phối
Các chương trình tiếp thị phải thông qua trung gian nên hiệu quả chưa cao Sức cạnh tranh của kênh không cao do nhà sản xuất không tham gia được vào quá trình phân phối
1.3.1.2- Phân phối qua đại lý bán lẻ :
Hình thức phân phối này thích hợp cho loại hàng có nhãn hiệu, phổ hàng rộng và nhất thiết phải phân phối đại trà Đây thường là là loại hàng được mua trong các shop chứ không phải ở chợ Với hình thức này, nhà sản xuất không cần phải quá cẩn thận khi chọn đại lý vì phương châm của họ là càng nhiều đại lý càng tốt, miễn sao giữa các đại lý có một khoảng cách địa lý nhất định
Mô hình này có một số lợi điểm sau :
- Nhà sản xuất trực tiếp quản lý đại lý, gần gủi với khách hàng hơn, thông tin tiếp thị nhiều hơn
Đại lý có tính chuyên nghiệp cao: do là đại lý bán lẻ, không đủ sức kinh doanh nhiều mặt hàng của các công ty khác
Các chương trình quảng cáo khuyến mãi dễ thực hiện và có hiệu quả được các đại lý ủng hộ vì liên quan trực tiếp đến thu nhập của đại lý
Không phụ thuộc vào các khách hàng lớn, ít rủi ro
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi mất nhiều nhân sự để thực hiện, do đó chi phí quản lý khá cao
1.3.1.3- Phân phối qua nhà phân phối :
Trang 11
Mô hình phân phối này hiện nay được nhiều công ty hàng tiêu dùng lớn sử dụng có hiệu quả Điểm khác biệt của kiểu phân phối này là nhà sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình phân phối bằng cách cử các đại diện của công ty làm việc với nhà phân phối, kênh phân phối này còn được gọi là kênh phân phối dọc Nhà sản xuất chịu một phần trách nhiệm về bán hàng, tiếp thị nhờ vậy nó có một số ưu điểm sau :
- Kênh phân phối bán hàng chủ động
- Giao tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng gần gũi hơn thông qua đại diện mại vụ của công ty
- Có thể kiểm soát được kênh nên mọi hoạt động tiếp thị như quảng cáo, khuyến mãi có hiệu quả
Sức cạnh tranh trên kênh là rất mạnh do công ty trực tiếp quản lý phân phối, kênh phân phối cũng rất năng động có thể ứng phó với sự thay đổi của thị trường
Tuy nhiên thực hiện mô hình này đòi hỏi một số yêu cầu sau :
- Chi phí lớn và tốn nhân sự do công ty tham gia vào quá trình phân phối Phải có một phổ hàng đủ lớn hay hàng có lợi nhuận cao, đủ để bù đắp các chi phí về phân phối
1.3.1.4- Phân phối thông qua bán sỉ :
Kiểu phân phối này hiện nay vẫn còn khá thông dụng ở Việt Nam do hoàn cảnh thị trường quá độ, tuy nhiên hiện nay sức mạnh của nhà bán sỉ giảm sút do vai trò của các chợ đầu mối ngày càng giảm, loại hình này được các công ty nhỏ
ưa chuộng do phù hợp với vị thế của họ Loại hình này có các nhược điểm sau :
- Không kiểm soát được giá bán cho người tiêu dùng do tại mỗi cấp của kênh đều cố gắng tối đa hóa lợi nhuận, đẩy giá lên cao
- Mối liên hệ giữa nhà sản xuất và nhà bán sỉ là khá lỏng lẻo, các nhà bán sỉ kinh doanh quá nhiều mặt hàng nên không chú tâm kinh doanh hàng của công ty
- Không kiểm soát được thị trường, sự lưư thông của hàng hóa, do đó khi nhà bán sỉ không bán sản phẩm của Công ty thì việc tiêu thụ bị đình trệ
1.3.1.5- Phân phối thông qua siêu thị :
Hiện nay siêu thị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối
BÁN LẺ
ĐẠI LÝ BÁN LẺ
Trang 12Tuy nhiên việc phân phối qua siêu thị có một số nhược điểm sau :
- Chi phí phân phối lớn hơn (hoa hồng cao, các điều kiện khác)
- Các đòi hỏi về tín dụng cao hơn
- Các chi phí về khuyến mãi cao hơn
- Một số hàng hóa tại siêu thị có giá bán cao hơn ở chợ tạo cho người tiêu dùng cảm giác ngại mua sắm tại siêu thị
1.3.1.6- Phân phối truyền tiêu
Hình thức phân phối này mới xuất hiện tại Việt Nam do các công ty nước ngoài thực hiện, chủ yếu phân phối các loại hàng giá cao Nguyên tắc thực hiện như sau :
-Từ 01 đại lý lúc đầu sẽ sinh ra nhiều đại lý con khác, các đại lý con sẽ sinh ra đại lý con khác nữa Nói chung đây là hình thức nhân bản đại lý với nguyên tắc các đại lý sau sẽ hưởng hoa hồng ít hơn so với đại lý trước và là đại lý của đại lý trước
1.3.2 Thị trường công nghiệp :
Với ưu thế nhu cầu lớn và ổn định, ít rủi ro trong thanh toán, khu vực này trở thành điểm nóng để các nhà cung cấp cố gắng chiếm lĩnh dù thực tế hiệu quả và lợi nhuận không cao so với thị trường tiêu dùng
Trên thị trường này việc phân phối được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc sử dụng trung gian như một số mô hình phân phối đã nêu trong thị trường tiêu dùng trực tiếp : phân phối qua đại lý, phân phối qua nhà phân phối, phân phối thông qua bán sĩ Tuy nhiên hình thức phân phối trực tiếp là hiệu quả nhất
NHÀ SẢN
XUẤT ĐẠI LÝ CẤP 1 ĐL CẤP n ĐL CẤP n+1
ĐL CẤP n
ĐL CẤP n
ĐL CẤP n+1
ĐL CẤP n+1
………
………
………
………
CÔNG TY SẢN XUẤT
KHÁCH HÀNG CÔNG
PHÂN
PHỐI
TRỰC
TIẾP
PHÂN
Trang 131.3.3
Sự khác nhau giữa thị trường tiêu dùng và công nghiệp :
+ Nặng về thu hút (quảng cáo) và thúc
đẩy bán hàng (khuyến mãi) + Nặng về thúc đẩy (người bán) có sự hỗ trợ của dịch vụ + Nặng về bao bì nhản hiệu + Nặng về chất lượng và giá cả
+ Tác dụng thúc đẩy thường là dùng
các hình thức chiêu thị + Tác dụng thúc đẩy về cơ bản là quan hệ 1 – 1 + Chú trọng vào thị trường đại chúng + Chú trọng vào một số ít khách hàng
lớn (cá nhân) + Phân đoạn theo nhóm thị trường + Phân đoạn theo tầm quan trọng của
khách hàng + Quá trình ra quyết định mua ngắn,
thường do một cá nhân quyết định + Quá trình ra quyết định mua dài và có thể có nhiều người tham gia + Số lượng mua một lần thấp + Số lượng mua một lần cao
+ Thương hiệu là yếu tố hàng đầu khi
chọn lựa + Ngoài thương hiệu thì dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng
Khái quát : Qua những vấn đề trình bày ở chương I đã cho ta cái nhìn tổng
quát về marketing và tìm hiểu về những mô hình phân phối hiện nay, đây chính là căn cứ để tìm chọn phương pháp phân phối hiệu quả nhất nhằm hoàn thiện hệ thống phân phối đường tinh luyện phía Nam Tuy nhiên để những giải pháp đề xuất mang tính thực tế hơn chúng ta cần đi vào tìm hiểu về sản phẩm đường và những đặc trưng riêng có trên thị trường đường Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SẢN PHẨM VÀ NHỮNG
ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG
2.1 GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM ĐƯỜNG
2.1.1 Lịch sử ngành mía đường :
Trên thế giới hiện nay, ngoài cây mía, người ta có thể khai thác chế biến đường từ nhiều nguồn nguyên liệu khác Chẳng hạn các nước vùng ôn đới, quá lạnh không trồng mía được, người ta trồng củ cải đường ép lấy đường Ở các nước nhiệt đới và bán nhiệt đới có thể khai thác lấy đường từ buồng của các cây họ cọ như chà là, thốt nốt, … Ngoài ra từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhiều loại đường hoá học ngọt gấp nhiều lần đường mía đã được tổng hợp trong phòng thí nghiệm và một số chất đã được sử dụng khá phổ biến như đường saccharin, cyclamat, đường lấy từ vỏ cam quít, NDH, đường bắp, … ngọt hơn đường mía từ 300 đến 1.000 lần
Đường mía là sản phẩm của việc trích ly nước ép từ cây mía Loại cây này có tên khoa học là saccharum officinarum, thuộc họ thực vật gramineae, là loại cây được trồng và khai thác hàng năm, có thể khai thác lại qua nhiều vụ sau Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có gần khoảng 100 nước sản xuất đường, trong đó 70% sản lượng đường được sản xuất từ mía, còn lại khoảng 30% đường được sản xuất từ củ cải và 1 số loại cây khác
Theo cuốn The Sugar Cane - xuất bản lần 2 vào năm 1974, “cây mía được đề cập sớm nhất là trong các bản viết của Ấn Độ giai đoạn 1400-1000 trước công nguyên Tuy nhiên, sau nhiều cuộc điều tra kỹ lưỡng có đối chiếu và bàn luận với những bằng chứng cụ thể có giá trị, người ta đã kết luận rằng New Guinea là ngôi nhà đầu tiên của cây mía Quan điểm này hiện nay đã được chấp nhận một cách rộng rãi” Từ trung tâm này, mía được lan truyền đi trồng ở nhiều nơi trên thế
giới Ngày nay cây mía cho công nghiệp đường được trồng nhiều ở các nước nằm từ 350 vĩ tuyến bắc đến 350 vĩ tuyến nam, trong đó các nước sản xuất nhiều đường mía gồm có : Braxin, Australia, Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico, Cuba, Nam Phi, Thái Lan, Đài Loan, Philippines, …
Ở Việt Nam, việc trồng mía và sản xuất đường được ghi nhận bắt đầu từ năm 300-600 sau CN, do người Trung Quốc mang vào trồng ở Miền Bắc và sau đó lan dần xuống phía Nam Theo các tài liệu cũ, dân Giao Chỉ đã biết trồng mía
Trang 15phẩm đặc biệt làm quà cho triều đình Dưới triều Nhà Nguyễn (thế kỷ 18 và 19), đường trở thành một sản phẩm xuất khẩu bằng tàu của các nước phương Tây Trong thời kỳ Pháp thuộc, công nghệ sản xuất đường hiện đại hầu như chưa có, chỉ có 2 nhà máy có qui mô đáng kể là Hiệp Hoà và Tuy Hoà Sau chiến tranh chống Pháp (1954), công nghiệp đường hiện đại đã được xây dựng với 2 nhà máy Việt Trì 350TMN và Vạn Điểm 1.000TMN
2.1.2 Các loại đường mía :
Đường là sản phẩm cho năng lượng cao, 100gr đường cho 385 calo Trong khi đó, 100gr thịt chỉ cho 187calo, 100gr sữa cho 65calo Trong ngành đường Việt Nam, dựa vào công nghệ chế biến và đặc tính sản phẩm, cơ cấu sản phẩm đường truyền thống gồm có :
2.1.2.1- Đường tinh luyện RE + RS :
được sản xuất từ các nhà máy đường tinh luyện Chỉ có sản phẩm của các nhà máy tinh luyện mới được bắt đầu với chữ R (refined-tinh luyện) Loại đường này sử dụng tốt nhất cho tiêu dùng trực tiếp của người dân và làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thực phẩm cao cấp, dược phẩm, nước giải khát, … do hàm lượng đường cao, không có tạp chất, hoá chất độc hại, …thành phần tạp chất
ở dạng tạp chất tan và không tan như đường khử, kim loại, SO2 , … có hàm lượng rất nhỏ nên không độc hại cho cơ thể
2.1.2.2- Đường cát trắng :
được sản xuất tại các nhà máy sản xuất từ mía không có công đoạn tinh
luyện Sản phẩm này còn được gọi là đường trắng đồn điền-plantation white Về
mặt cảm quan, đường cát trắng có cảm quan gần giống như đường tinh luyện RS nhưng về mặt hoá lý có sự khác biệt hoàn toàn Hiện nay, do sự giống nhau về mặt cảm quan và sự thiếu hiểu biết nên đường cát trắng cũng được đồng hoá như đường tinh luyện RS Sản phẩm này chỉ thích cho các nhà máy sản xuất thực phẩm không cần chất lượng đường cao hoặc tiêu dùng của người dân có thu nhập thấp vì hàm lượng tạp chất, màu và chất không tan cao
2.1.2.3- Đường kết tinh, đường thô :
- Đường kết tinh : là loại đường sản xuất thủ công từ các lò đường của nông
dân Loại đường này có hàm lượng hoá chất, tạp chất, chất độc hại rất cao, không đảm bảo vệ sinh thực phẩm, không thích hợp với tiêu dùng trực tiếp do : + Các lò thủ công thường sử dụng các hoá chất độc hại như thuốc tẩy hoặc các hoá chất gốc sunfid, các chất này gây độc cho cơ thể và hàm lượng của nó trong đường vàng gấp cả chục lần mức tối đa được phép sử dụng trong thực
Trang 16+ Khi ly tâm, người ta thường sử dụng acid photphoric (H3PO4) để hạt đường có màu vàng tươi, óng ánh Acid này không được phép sử dụng trong thực phẩm
+ Quá trình chế biến thủ công rất mất vệ sinh và lẫn nhiều tạp chất độc hại Tuy nhiên do có màu vàng và mùi thơm đặc trưng của mía nên rất được người tiêu dùng ưa chuộng
+ Đường thô : đường vàng sản xuất từ các nhà máy công nghiệp được gọi là
đường thô Loại đường này tạp chất cũng rất cao, chỉ cung cấp cho các nhà máy luyện để sản xuất, tinh luyện lại
- Loại bỏ thiếu iod, vitamin A và sắt có thể nâng cao chỉ số IQ trong toàn quần thể tới 10 – 15 IQ, giảm tỉ lệ tử vong mẹ đến 1/3, giảm tỉ lệ tử vong sơ sinh tới 40% và nâng cao khả năng lao động
- Thiếu vi chất không phải chỉ đơn thuần là một vấn đề sức khỏe mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của một quốc gia Theo ước tính của Ngân hàng thế giới (WB 1994), thiếu vi chất ảnh hưởng tới ít nhất 5% tổng thu nhập quốc nội-GDP Đầu tư vào việc xoá nạn thiếu vi chất sẽ giảm chi phí cho chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tăng năng suất lao động và phát triển kinh tế
Tại Việt Nam, chương trình bổ sung iod đã được thực hiện qua chương trình muối iod quốc gia Riêng vitamin A đã bước đầu được bổ sung trong đường để loại trừ nạn thiếu vitamin A (đang được Cty Đường Biên Hoà sản xuất đại trà)
2.1.3 Các phụ phẩm của ngành đường :
Trong ngành sản xuất mía đường, ngoài sản phẩm chính là đường, còn có các phụ phẩm mà giá trị kinh tế của nó đôi khi còn vượt cả giá trị của đường thành phẩm Để hình dung được vấn đề ta hãy xem xét sơ đồ sau :
SƠ ĐỒ II.1 - CÁC CHÍNH PHẨM VÀ PHỤ PHẨM CỦA NGÀNH MÍA
ĐƯỜNG
Trang 17Như vậy, qua sơ đồ trên cho thấy, bên cạnh chính phẩm đường, khi ép và luyện đường người ta còn thu được rất nhiều phụ phẩm khác như : bã mía, bã bùn, mật rỉ, lá mía, ngọn mía, Mỗi phụ phẩm trên đều có giá trị rất lớn Cụ thể :
- Bã mía : bã mía chiếm 20 – 30% trọng lượng mía, có thể dùng để đốt với năng suất tỏa nhiệt : 3 tấn bã mía khô = 1 tấn dầu FO Thực tế tại các nhà máy
mía, nguồn năng lượng vận hành hoàn toàn được cung cấp bởi đốt bã, thậm chí còn dư để sản xuất điện cung cấp cho lưới quốc gia Ngoài ra bã mía còn dùng làm ván ép, làm giấy, nhựa dẻo, hoặc trích ra nguyên liệu cho sản xuất phim ảnh, sơn mài, sợi tổng hợp cho công nghiệp dệt, …
- Mật rỉ : chiếm từ 3 – 3,5% trọng lượng mía Phụ phẩm này chủ yếu làm
cồn, rượu và các sản phẩm khác như sirô, nước tương, thức ăn gia súc, men, bột ngọt, hoá chất (acetol, glycerin, este, amida hydrat, amida acetat, …), nâng cao chất lượng đường giao thông Riêng tại Việt Nam, mật rỉ đã được làm tăng giá trị tới mức kỷ lục nhờ 3 thị trường : cồn công nghiệp, rượu và bột ngọt Theo khảo
sát của Cơ quan phát triển Pháp “nếu cộng cả lượng mật rỉ trong sản xuất rượu, cồn, bột ngọt và 1 số sản phẩm khác thì Việt Nam sẽ cần ít nhất 600.000tấn mật rỉ/năm, tương ứng với sản lượng đường là 1.000.000tấn Như vậy thị trường mật rỉ
còn lâu mới bão hòa” – Cơ quan phát triển Pháp năm 98
- Bã bùn : là chất cặn lắng lại sau khi tách nước mía để sản xuất đường
- Nhiên liệu đốt lò
- Bột giấy, ván ép
- Men, nhựa dẻo
- Than hoạt tính
- Điện
Sản phẩm chính : ĐƯỜNG
- Thức ăn gia súc
- Rượu, dấm, cồn
- Men các loại
- Bột ngọt
- Hoá chất
Trang 18xuất men khô hoặc mang phơi khô làm phân bón cho cây mía Bùn lọc còn cho sáp như sáp ong dùng làm nguyên liệu quang dầu, tráng sáp, sơn máy, xi đánh giày, nguyên liệu cách điện, bản sáp roneo Ngoài ra bùn lọc được dùng để sản xuất phân hữu cơ vi sinh
Ngoài ra còn có lá mía được sử dụng làm thức ăn gia súc, làm phân xanh cho ruộng mía Ngọn mía chiếm 15 – 30 tấn/ha dùng làm hom trồng Gốc rễ mía sau khi phá bỏ gốc dùng làm chất đốt lò hay làm phân hữu cơ Tro lò đường của bã mía được dùng bón ruộng rất tốt
Nếu có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao, việc sử dụng các phế phẩm trên sẽ tạo giá trị lớn hơn cả giá trị của đường Trong tình hình cạnh tranh hiện nay, việc sử dụng có hiệu quả nguồn phế phẩm của đường sẽ làm hạ giá thành sản xuất Tuy nhiên tại Việt Nam các nguồn phế phẩm này đang bị sử dụng rất lãng phí và đây cũng chính là một nguyên nhân khiến giá thành đường Việt Nam không cạnh tranh được với quốc tế
2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ KÊNH PHÂN PHỐI:
Sản phẩm đường cũng là sản phẩm của ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng Như vậy việc phân phối thiết nghĩ là công việc bình thường Tuy nhiên, đây lại là sản phẩm có một số đặc trưng khác biệt dẫn đến yêu cầu phải tổ chức lại mạng lưới phân phối Cụ thể những đặc trưng đó như sau :
2.2.1 Mùa vụ và chu kỳ biến động giá :
Do đặc điểm sinh trưởng, vụ sản xuất mía đường Việt Nam thực sự chỉ kéo dài 6 tháng trong năm, 6 tháng còn lại các nhà máy tạm dừng sản xuất Như vậy, mặc dù việc tiêu thụ đường kéo dài liên tục nhưng hoạt động sản xuất chỉ tồn tại
6 tháng, 6 tháng còn lại nguồn đường phục vụ tiêu dùng là đường tồn kho
Tại Việt Nam, mùa vụ sản xuất kéo dài từ trung tuần tháng 10 (phía Nam) hoặc trung tuần tháng 11 (phía Bắc) năm trước và kết thúc chậm nhất vào tháng
4 (phía Nam) hoặc tháng 6 (phía Bắc) năm sau Trong giai đoạn này nguồn cung đường rất dồi dào do các nhà sản xuất cần phải đẩy mạnh tiêu thụ tối đa để có vốn tập trung thu mua mía Đặc điểm này khiến giá đường trong vụ rất thấp, gây thiệt hại rất nhiều cho nhà sản xuất Thực tế cho thấy, khi các nhà máy đường tập trung tiêu thụ tối đa trong chính vụ sẽ khiến đường nội địa thiếu hụt lúc hết vụ, khi đó giá sẽ vọt cao và tình hình nhập lậu đường qua biên giới sẽ xuất hiện với số lượng rất lớn và kéo dài Để giảm bớt khả năng này, giải pháp phân phối để rải đều nguồn đường ở tất cả các vùng, ngăn chặn đường nhập lậu được coi là giải pháp cần phải thực hiện
Từ đặc điểm về mùa vụ dẫn đến xuất hiện chu kỳ biến động giá rất rõ ràng Nếu là 1 người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực kinh doanh đường, khi
Trang 19khảo sát theo thời vụ mía đường ta sẽ thấy hàng vụ có 2 chu kỳ tăng giảm giá như sau :
- Vào đầu vụ mía giá giảm mạnh (khoảng tháng 11) khi các nhà máy bắt đầu mở máy và đưa sản phẩm của vụ mới ra thị trường
- Thời gian còn lại trong năm giá đường giảm nhẹ liên tục và nâng dần lên tại 2 đỉnh điểm Tết Trung Thu và Tết Nguyên Đán
Biểu hiện biến động giá có tính chu kỳ này theo đồ thị như sau :
ĐỒ THỊ II.2 - CHU KỲ BIẾN ĐỘNG GIÁ ĐƯỜNG
Căn cứ đồ thị trên ta thấy 2 đỉnh điểm của giá rất rõ trong năm, đây là đặc điểm các nhà sản xuất cần nhận biết để xác định chính sách tiêu thụ
2.2.2 Năng lực sản xuất so sánh với nhu cầu :
Theo thống kê đến thời điểm vụ 2000-2001, trong điều kiện đủ nguyên liệu để hoạt động, toàn bộ ngành công nghiệp mía đường Việt Nam có khả năng ép được khoảng 81.200TMN, nếu tính bình quân thời gian ép là 150ngày/năm và tỉ lệ tiêu hao là 11 mía/đường thì mỗi năm có khả năng sản xuất khoảng 1.100.000 tấn đường các loại (không tính 2 nhà máy chuyên tinh luyện đường là Biên Hoà
90.000tấn/năm và Khánh Hội 50.000tấn/năm) (cụ thể xem phụ lục 1)
Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ của Việt Nam đang nằm ở mức khoảng
750.000 tấn (xem phụ lục 2) Như vậy, hàng năm thị trường nội địa sẽ xuất hiện
lượng dư thừa khoảng từ 100.000 đến 300.000tấn đường Nếu nguồn đường này không được hệ thống kênh phân phối tốt dẫn đi tiêu thụ thì tồn đọng là nguyên nhân chính ảnh hưởng tới sự tồn tại của ngành mía đường non trẻ Việt Nam
Để lý giải nguyên nhân nguồn cung cấp lớn hơn nhu cầu, ta nhận thấy như
sau : Tính đến thời điểm năm 2001, Với “chương trình 1 triệu tấn đường vào năm 2000” đã thành công về mặt sản lượng Cụ thể so sánh giữa năm 1994 (năm bắt
Trang 20BẢNG II.3 - SO SÁNH CHÊNH LỆCH GIỮA NĂM 1994 VÀ 2000
Năm 1994 Năm 2000 Chênh lệch Tăng trưởng
Dân số (người) 72,96triệu 77,32triệu 4,36triệu + 6%
Diện tích trồng mía 150.000 ha 350.000 ha 200.000ha + 133% Tổng lượng mía 6,3 triệu tấn 18,8 triệu tấn 12,5triệu tấn + 198%
Sản lượng đường 364.000 tấn 1.100.000 tấn 736.000tấn + 177% Nhu cầu đường 490.000 750.000 tấn 260.000tấn + 47%
Dựa và bảng trên ta thấy nguồn cung đường đã tăng thêm hơn 150% trong
5 năm trong khi đó dân số chỉ tăng khoảng 6% và nhu cầu đường trong 5 năm vừa qua cũng chỉ tăng 47% Như vậy đã xuất hiện khoảng chênh lệch rất lớn giữa nguồn cung và cầu đường nội địa
2.2.3 Thị trường tiêu thụ :
Do đặc điểm riêng biệt, sản phẩm đường vừa phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng trực tiếp của người dân trong sinh hoạt hàng ngày (thị trường tiêu dùng)
vừa phục vụ cho nhu cầu của các nhà máy chế biến thực phẩm làm nguyên liệu
sản xuất (thị trường công nghiệp) Hai mảng thị trường này đều là thị trường chính và có tầm quan trọng rất lớn, ảnh hưởng tới việc tiêu thụ (thị trường tiêu dùng chiếm 58%, thị trường công nghiệp chiếm 42% trong tổng tiêu thụ) Tuy
nhiên, 2 mảng thị trường này có đặc điểm hoàn toàn khác biệt nhau, do đó đòi hỏi 2 hình thức phân phối khác nhau Đây cũng chính là một trong những đặc trưng dẫn đến việc cần thiết phải hoàn thiện lại mô hình phân phối cho ngành
2.2.4 Đường nhập lậu :
Sau thuốc lá, vải, gạch lát, hàng điện tử… hiện nay nạn buôn lậu đường trắng qua biên giới với những diễn biến phức tạp đang gây ra nhiều khó khăn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh đường trong nước, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, xã hội và đời sống của người dân lao động
Đường nhập lậu chủ yếu từ Thái Lan, Trung Quốc thẩm lậu vào nước ta trên hầu khắp các hướng biên giới Phía Bắc, đường Trung Quốc nhập lậu tại các tỉnh Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn và Lao Cai Ở khu vực Miền Trung, đường Thái Lan chủ yếu nhập lậu qua các địa bàn Lao Bảo-Quảng Trị, Cầu Treo-Hà Tĩnh Trên tuyến biên giới Tây Nam, đường từ Thái Lan, Indonexia, Malaixia nhập lậu qua các tỉnh Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp và An Giang Trong một đất nước đã có hệ thống luật pháp và thuế quan rõ ràng, việc nhập lậu hàng hoá qua biên giới là vấn đề không nên có Doanh nghiệp đã đóng thuế để duy trì hệ thống kiểm soát nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa hàng hoá trong và ngoài nước, do đó việc buôn lậu cho thấy kỷ cương, phép
Trang 21nước chưa nghiêm Đường nhập lậu với ưu thế cảm quan, giá bán rẻ, không thuế,… đã thật sự là trở ngại rất lớn cho ngành đường non trẻ Việt Nam
Theo con số không chính thức của Tổng Công ty Mía Đường II, lượng đường nhập lậu trong năm 1998 là 160.000tấn
2.2.5 Đặc điểm tiêu dùng trực tiếp :
Mặc dù đường tinh luyện sử dụng tốt nhất cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của con người, tuy nhiên ở Việt Nam và nhất là tại các tỉnh hoặc ở vùng sâu, vùng xa quan niệm của người dân vẫn cho rằng sử dụng đường vàng thủ công ngọt và an toàn hơn các loại đường công nghiệp Đây là quan điểm rất tai hại vì ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ cộng đồng do cơ thể phải liên tục hấp thụ những chất độc hại và đây là yếu tố tiêu cực làm cho ngành đường trong nước khó phát triển lên qui mô công nghiệp cao Do có nhu cầu nên khu vực sản xuất thủ công, qui mô nhỏ với trình độ công nghệ lạc hậu tồn tại đã làm hao phí của
cải xã hội (hàng năm tiêu tốn một lượng mía rất lớn nhưng chỉ cho ra lượng thành phẩm nhỏ Hiện nay, tỉ lệ tiêu hao của khu vực thủ công khoảng 20mía/đường, gấp đôi với chế biến công nghiệp) Đây cũng là một đặc trưng khiến hệ thống
phân phối phải làm sao đưa được đường công nghiệp đến tận tay người tiêu dùng, từng bước khắc phục dần tập quán, thói quen tiêu dùng đường thủ công
2.2.6 Chênh lệch giá giữa 2 miền Nam, Bắc :
Mức chênh lệch tương đối khác nhau đối với đường tinh luyện và đường trắng
- Đối với đường tinh luyện : từ tháng 4 đến tháng 12, giá ở Miền Bắc cao
hơn so với Miền Nam trong khoảng từ 250đ/kg đến 350đ/kg Tiền chênh lệch thậm chí thừa để trả tiền vận chuyển Đến mùa đông, khoảng chênh lệch giảm xuống thậm chí không còn chênh lệch, bởi vì đó là thời kỳ giá đường tinh luyện
ở Miền Nam tăng cao
- Đường cát trắng : khoản chênh lệch ít hơn so với đường luyện (trung bình
khoảng 60đ/kg), chỉ vượt hoặc đạt mức 200đ/kg vào tháng 11, tháng 12 và tháng
5 Vaò tháng 7, tháng 8 và nhất là tháng 2, đường trắng ở Miền Nam đắt hơn Miền Bắc
2.2.7 Mức tiêu thụ đầu người thấp :
Nhu cầu đường bình quân đầu người của Việt Nam còn lâu mới bằng mức trung bình của thế giới và khu vực (năm 2000, tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 44% trung bình thế giới và bằng 64% trung bình của khu vực Châu Á) trong khi đó đặc điểm chung của người Châu Á là thích ngọt Theo tính
toán của các nhà khoa học, mức tiêu thụ tối đa sinh lý là 50kg/người/năm (lượng đường tối đa cơ thể có khả năng hấp thụ tốt nhất)
Trang 22BẢNG II.4 - SO SÁNH TIÊU THỤ ĐẦU NGƯỜI CỦA VIỆT NAM VÀ
với Châu Á (%) 48% 48% 43% 47,5% 62% 64% 78% 92%
BẢNG II.5 - SO SÁNH GIỮA VIỆT NAM VỚI 1 SỐ NƯỚC TRONG KHU
Dựa vào thống kê trên cho thấy mức tiêu thụ đường của Việt Nam rất thấp,
trong tương lai tiềm năng phát triển thị trường của Việt Nam còn rất lớn
2.2.8 Việt Nam gia nhập AFTA :
AFTA hiện nay gồm 6 thành viên cũ : Brunei, Indonexi, Malaixia,
Philippine, Singapore và Thái Lan 6 nước này sẽ hoàn thành các nghĩa vụ vào
01/01/2003 Việt Nam gia nhập Asean giữa năm 1995 và phải kết thúc nghĩa vụ
vào 01/01/2006 Riêng Lào, Myanmar kết thúc vào 2008, Campuchia kết thúc
vào năm 2010
Để thực hiện thành công khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA) Hội nghị
Bộ trưởng các nươc Asean đã ký hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực
chung CEPT năm 1992, trong đó đề cập về việc giảm thuế trong thương mại nội
bộ khu vực Asean xuống còn từ 0 – 5% đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về
định lượng xuất nhập khẩu Danh mục các sản phẩm có liên quan đến CEPT
được chia làm 4 loại :
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế : các sản phẩm được cắt giảm thuế
quan với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường
- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế : tuy nhiên trong vòng 5
năm phải chuyển toàn bộ danh mục này sang danh mục cắt giảm thuế
Trang 23- Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm : các sản phẩm chỉ bắt đầu cắt giảm từ năm 2001 và kết thúc vào năm 2010 Tuy nhiên sẽ có 1 số linh hoạt
- Danh mục loại trừ hoàn toàn
Đường thô và đường tinh từ mía thuộc danh mục “các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm” Theo đó đến năm 2010, thuế suất thuế nhập khẩu phải
ở mức 0 - 5% và loại bỏ hoàn toàn các hàng rào phi thuế Thuế nhập khẩu Việt Nam hiện nay là 30-45% đường thô và 40-60% đường tinh luyện
Xu hướng khi hội nhập này sẽ khiến ngành mía đường Việt Nam rơi vào tình trạng khó khăn Không chỉ riêng ngành công nghiệp đường mà tổng thể tổ hợp nông-công nghiệp đường hiện nay không có sức cạnh tranh Công nghiệp đường của các nước đã phát triển từ lâu, cộng với năng suất mía, chữ đường cao đã khiến giá thành đường của họ rất thấp Trong khi đó giá thành sản xuất
đường Việt Nam khá cao so với thế giới (khoảng 230USD/tấn trong khi chỉ giá thành sản xuất của Việt Nam đã khoảng 310USD/tấn) Với chênh lệch về giá
thành này, khả năng ngành đường Việt Nam sẽ không thể phát triển hay nói thẳng ra là không thể tồn tại với nguồn đường nhập khẩu
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), trong 9 nước thuộc khối ASEAN thì có 5 nước có công nghiệp sản xuất đường Đứng đầu là Thái Lan, Philippine, Indonexia, Việt Nam, Malaixia Trong đó Thái Lan có năng lực sản xuất vượt xa nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu chiếm hơn 70% tổng lượng đường sản xuất ra Đặc biệt, duy nhất hiện nay trong khối Asean chỉ mỗi Thái Lan có thể sản xuất đường có lãi với mức giá hiện tại của thế giới Indonexia mặc dù sản xuất hơn 2triệu tấn/năm nhưng do tiêu thụ trong nước cao nên vẫn phải nhập khẩu cả trăm ngàn tấn/năm Tương tự, Singapore, Lào, Brunei, Campuchia đáp ứng nhu cầu bằng nhập khẩu
Các nước trong khối đều có lợi thế hơn hẳn Việt Nam khi gia nhập AFTA
do trình độ kinh tế vượt trội so với ta Việt Nam hy vọng chỉ có thể tác động và thu lợi từ 3 nước Myanmar, Lào, Campuchia, tuy nhiên 3 nước này lại chưa bãi bỏ hàng rào thuế quan vào thời điểm Việt Nam hội nhập hoàn toàn nên chúng ta không thể lợi dụng cơ hội Như vậy, vào thời điểm 2006, chúng ta phải đối phó với các thành viên hơn hẳn chúng ta về mọi mặt
BẢNG II.6 - TIẾN TRÌNH GIẢM THUẾ CỦA AFTA
TIẾN TRÌNH GIẢM THUẾ THEO NĂM MẶT HÀNG
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Trang 24Với tiến trình giảm thuế như trên, giải pháp căn cơ (ngoài việc tìm mọi cách giảm giá thành) để đón đầu đối phó tình hình chỉ còn là xây dựng hệ thống phân phối hoàn chỉnh để tạo bàn đạp vững mạnh chuẩn bị cạnh tranh
Khái quát : Tóm tắt nội dung chương II đã cho ta thấy khái quát về sản
phẩm của ngành mía đường, nhưng điều quan trọng nhất là đã thống kê những đặc trưng riêng có về mùa vụ, năng lực sản xuất, thị trường tiêu thụ, tình hình nhập lậu, …Những nét đặc trưng của thị trường này là căn cứ quan trọng để các giải pháp đề xuất mang được tính thực tế cao Tuy nhiên trước khi đi vào phần đưa ra các giải pháp ta cần tìm hiểu thêm về thực trạng của ngành mía đường và tình hình phân phối, tình hình cung cầu sẽ được nêu cụ thể ở chương III
Trang 25CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG – TÌNH HÌNH PHÂN PHỐI – XÁC ĐỊNH CUNG CẦU
3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÀNH ĐƯỜNG VIỆT NAM :
- Công nghiệp mía đường Việt Nam tuy tồn tại từ rất lâu đời nhưng mới được cơ khí hoá mức độ nhất định từ hơn 100 năm nay Đặc biệt trong nửa cuối thể kỷ 20 Tự động hoá và công nghệ mới luôn được đưa vào áp dụng giúp các nhà máy đường nhanh chóng đạt được năng suất, sản lượng cao Định mức sử dụng lao động từ 100người cho công suất 1.000TMN hiện chỉ còn 2 người ở những nhà máy hiện đại
- Xây dựng chương trình 1 triệu tấn đường vào năm 2000, là nhằm thực
hiện chỉ tiêu đề ra trong chiến lược 10 năm 1991-2000 : "đến năm 2000, nước ta đạt mục tiêu 800 ngàn đến 1triệu tấn đường" Vào thời điểm xây dựng chương
trình này (1993-1994) chúng ta dựa trên một số dự báo cao hơn dự kiến : thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta bình quân hàng năm đạt 8-9%; thu nhập của dân sẽ tăng lên và mức tiêu thụ đường cũng tăng tương ứng, bình quân 12kg/người/năm Thứ hai, dân số nước ta sẽ tăng hàng năm khoảng 1,8-1,9% và đến năm 2000 dân số cả nước là 80triệu người Như vậy, nếu sản xuất 1 triệu tấn đường thì cũng chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đường trong nước
Nhưng thực tế thời gian vừa qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế-tài chính khu vực và thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta chậm lại (khoảng 6%), điều đó có nghĩa là sức mua của dân về các loại hàng hoá nói chung và tiêu thụ đường nói riêng sẽ tăng rất chậm Mặt khác, nhờ kết quả của cuộc vận động kế hoạch hoá gia đình nên dân số đã tăng với tỉ lệ chậm hơn so với dự kiến (1,6% - kết quả tổng điều tra dân số đến 30/04/1999 dân số nước ta là 76,8 triệu người) Trong khi đó tốc độ tăng trưởng của sản xuất mía đường 5 năm qua tăng nhanh (bình quân > 50%/năm) Đến vụ 1999-2000 cơ bản chương trình đã đạt mục tiêu đề ra 1triệu tấn đường
Như vậy, với thực tế không sát với giả thiết khi xây dựng chương trình nên kết quả đạt được của chương trình 1 triệu tấn đường hiện nay đã vượt quá ngưỡng cần thiết để thỏa mãn nhu cầu hiện tại Tức là nhu cầu không tăng song song với sự phát triển của nguồn cung
- Không thể phủ nhận những lợi ích mà chương trình 1 triệu tấn đường đã mang lại cho nền kinh tế - xã hội nói chung và ngành mía đường nói riêng Nhưng cũng khó mà bỏ qua những khó khăn, bất cập mà chương trình đã đem đến cho những tổ chức, cá nhân có liên quan với ngành mía đường :
Trang 26và đi trước 1 bước so với tiến độ xây dựng nhà máy Tuy nhiên do nguồn vốn, khả năng của nông dân, kỹ thuật, … đã làm cho ngành mía đường mất cân đối từ khâu nguyên liệu đến khâu tiêu thụ thành phẩm
+ Cây mía được trồng tràn lan không tính đến cự ly vận chuyển và không tính đến công suất ép của các nhà máy Có tỉnh không có nhà máy nhưng lại có sẵn vùng mía nguyên liệu từ trước (Lâm Đồng, Bình Phước, …), có những tỉnh có nhà máy nhưng không đủ công suất ép hết mía trong vụ của nông dân (Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hoà, Gia Lai, …) và có tỉnh có nhà máy nhưng không đủ mía để chạy hết công suất (Tây Ninh, Huế,… ) Những vấn đề này làm cho nơi thì thừa nguyên liệu, trong khi những nơi khác không có để ép
+ Về phía nông dân trồng mía, tiền đầu tư cho mỗi hecta mía cây quá cao (từ 10-11 triệu đồng) Do ít vốn nên diện tích mía nhà máy đầu tư cho nông dân quá thấp (chỉ đạt khoảng 40-70% công suất ép của nhà máy), phần còn lại do nông dân tự trồng Phần mía nông dân tự trồng phải chịu nhiều rủi ro khiến nông dân thiệt hại rất lớn có khi phải phá sản hoặc nợ ngập đầu Chỉ cần một vụ như vụ 99-00 thì người nông dân đã không còn vốn đầu tư cho vụ trồng mới và tất yếu các nhà máy sẽ thiếu mía trong vụ tiếp theo
+ Về phía các nhà máy, do toàn bộ vốn đầu tư xây dựng nhà máy đều là vốn vay trong và ngoài nước, thời gian để trả nợ nước ngoài là khá ngắn (7 năm) theo lãi suất thương mại Theo thống kê, đến năm 2000, tổng vốn đầu tư xây dựng nhà máy lên đến 885 triệu USD, nếu tính cả vốn cho đầu tư vùng nguyên liệu thì tổng vốn chương trình 1 triệu tấn đường là từ 1.000 đến 1.100 triệu USD
(cụ thể cơ cấu vốn vay như sau : Ngân sách 0%, tính dụng thương mại 52,3%, doanh nghiệp tự đầu tư 0%, đầu trực tiếp nước ngoài 47,7%, trong đó vay Trung Quốc 88 triệu USD) Tính đến hết tháng 03/00, chỉ riêng phần lãi vay đến hạn
phải trả của các nhà máy này đã là 506 tỷ đồng
Tóm lại, toàn bộ nhà máy mới xây dựng toàn sử dụng tiền vay, phần lãi suất tiền vay đủ để các đơn vị này thua kém các công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài ngay trên mặt bằng sản phẩm chứ chưa nói đến các chính sách marketing khác
Xét về mặt tổng quát như số lượng nhà máy, công suất, phân bố, cơ cấu tiêu thụ ta có các số liệu sau :
3.1.1 Tình hình lao động :
Tính đến hôm nay, với chương trình mía đường đang triển khai đã góp phần xoa dịu bớt tình trạng căng thẳng về việc làm cho người lao động trong nước Thực tế, ngành đường trong nước hiện nay đã góp phần giải quyết, tạo công ăn,
việc làm ổn định cho trên 30.000 lao động công nghiệp, 600.000 lao động nông
nghiệp (tính đến tháng 02/01, tổng lao động trong ngành mía đường khoảng 2 triệu người-Bộ NN&PTNT), tận dụng được những vùng đất hoang hoá, không có
Trang 27Bên cạnh tạo việc làm cho số lao động trực tiếp cho ngành đường, các nhà máy đường còn kéo theo cầu lao động cho các ngành khác như bánh, kẹo, thực phẩm, hoá chất, cơ khí, thiết kế, tư vấn, điện lực, xây dựng, lắp đặt và các dịch vụ khác, … các hoạt động này tạo thêm hàng ngàn công việc khác hỗ trợ cho ngành đường
3.1.2 Số lượng các nhà máy :
Tính đến vụ 2000-2001, cả nước đã có tổng cộng 47 nhà máy Kể từ khi có chương trình mía đường, tốc độ phát triển thêm các nhà máy được đánh giá là rất nhanh so với tốc độ phát triển của các ngành khác Ngoài các nhà máy cũ và một số nhà máy đã xây dựng trước khi có chương trình mía đường, trong 5 năm thực hiện chương trình đã có 28 nhà máy mới được xây dựng với tổng công suất 49.550 TMN và 3 nhà máy mở rộng với qui mô lớn có tổng công suất 11.750TMN Theo dõi tình hình phát triển số nhà máy ta thấy như sau :
BẢNG III.1 - TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN NHÀ MÁY SẢN XUẤT
nhà máy
Tốc độ phát triển
Tổng công suất
(TMN) Tốc độ phát triển
(nguồn : Bộ NN & PTNT và Tổng Công ty mía đường II)
Dựa vào bảng trên, nếu lấy gốc thời gian tại thời điểm bắt đầu chương trình mía đường (vụ 94-95), và thời điểm so sánh là vụ 00-01 thì số lượng nhà máy tăng lên 266,7% (tương đương 44,5%/năm) và công suất tăng lên 659,22% (khoảng 110%/năm) Sự tăng trưởng này sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất về tình hình khó khăn của ngành mía đường hiện nay
Trang 283.1.3 Phân bố và qui mô các nhà máy :
Việc thực hiện chương trình mía đường tính đến hôm nay đã hoàn tất bản
đồ phân bố các nhà máy chế biến ở hầu như tất cả các vùng của Việt Nam Số
liệu phân bố nhà máy hiện nay như sau :
BẢNG III.2 - PHÂN BỐ CÁC NHÀ MÁY TẠI VIỆT NAM
Stt Khu vực Số lượng Csuất thiết kế (TMN) Tỉ lệ (%)
4 Cty đường luyện 2 140.000 tấn đường/năm
Tổng 47 140.000 tấn đường/năm 81.200 TMN
(cụ thể xem bảng phụ lục 1 về phân bố nhà máy)
Đa số các nhà máy đường công nghiệp của Việt Nam có công suất nhỏ
Công suất bình quân 1 nhà máy hiện nay là 1.804TMN, công suất bình quân này
tương đương của Trung Quốc, Ấn Độ Đặc điểm này do ta nhập nhiều thiết bị
của Trung Quốc (công suất 1.000TMN) và của Ấn Độ (1.250TMN) Qui mô như
trên không cho phép chúng ta phát huy hiệu quả việc tổ chức sản xuất công
nghiệp mà thế giới khuyến cáo : công suất nhà máy phải từ 2.500TMN trở lên
mới cho hiệu quả kinh tế tốt Tuy nhiên thực tế này lại phù hợp với giai đoạn khó
khăn về cơ sở hạ tầng và nguồn cung cấp nguyên liệu mía manh mún hiện nay
BẢNG III.3 - THỐNG KÊ QUI MÔ NHÀ MÁY
Công suất
(TMN) (Qui mô nhỏ) < 1.500 (Qui mô trung 1.500 - 2.500
bình)
> 2.500
(Qui mô lớn)
(Ghi chú : đã loại trừ 2 nhà máy đường luyện từ đường thô)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy qui mô nhà máy của Việt Nam chiếm tới
71% là công suất nhỏ Điều này là một cản ngại rất lớn của ngành mía đường
Việt Nam trong việc tạo lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hoá
3.1.4 Cơ cấu sản phẩm :
Trong tổng số 47 nhà máy hiện nay, nếu phân theo cơ cấu sản phẩm thì ta
có bảng sau :
Trang 29BẢNG III.4 - CƠ CẤU SẢN PHẨM Stt Chủng loại CS thiết kế Đường tương ứng Tỉ lệ SL Nmáy
(*) Đã loại trừ phần công suất dành cho đường thô, đường RS trong các nhà
máy mía có sản xuất tinh luyện
Với cơ cấu sản phẩm trên và sự linh hoạt trong chuyển đổi sản xuất giữa 2
sản phẩm RE - RS của các nhà máy mía, nhất là các nhà máy được đầu tư sau
này, theo đánh giá của các chuyên gia là khả năng cung cấp đường RE, RS cho
nhu cầu tiêu thụ là quá đủ thậm chí dư thừa Trong khi đó, do tính chất đặc biệt,
ngành mía đường Việt Nam tồn tại hai nhà máy chuyên tinh luyện đường RE
chất lượng cao từ nguồn đường thô (2 nhà máy không thể chạy từ mía) Nhu cầu
đường thô hàng năm cho 2 nhà máy này hoạt động được cân đối theo bảng :
BẢNG III.5 - NHU CẦU ĐƯỜNG THÔ HÀNG NĂM Nhà máy Công suất
(tấn TP/ngày) Ncầu đường thô (tấn/năm) Tổng nguồn cung ứng
Thừa - Thiếu
(*) tổng nguồn cung ứng nguyên liệu đường thô chỉ tính ở 2 nhà máy
chuyên sản xuất đường thô (La Ngà, Tây Ninh)
Theo bảng cân đối trên, trong trường hợp chỉ huy động nguyên liệu từ 2
nhà máy có chức năng chuyên sản xuất đường thô thì 2 nhà máy tinh luyện
đường từ đường thô không thể hoạt động được Thực tế từ trước đến nay, 2 nhà
máy này phải huy động nguyên liệu từ rất nhiều nguồn như : kết tinh thủ công,
nhập khẩu và đàm phán các nhà máy mía sản xuất 1 phần đường thô, thậm chí
trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng cả đường RS thành phẩm để luyện lại
thành RE (năm 98, 99) tạo rất nhiều lãng phí Với cơ cấu sản phẩm được xác
định khi xây dựng nhà máy đã tạo sự bất hợp lý rất lớn giữa 3 chủng loại RE -
RS - thô
Trang 30Trong chương trình 1 triệu tấn đường triển khai, các nhà làm chính sách thực sự lại không tính đến xây dựng nhà máy đường thô để cung cấp cho nhà máy tinh luyện dẫn đến 3 nghịch lý :
- Yêu cầu của chương trình là sản xuất đủ đường cho nhu cầu trong nước và không nhập khẩu Nhưng với cơ cấu ngành tập trung sản xuất đường RE, RS bắt buộc chúng ta phải nhập đường thô để duy trì hoạt động của nhà máy tinh luyện Điều này đi ngược lại yêu cầu của chương trình và chủ trương của Chính phủ
- Xu hướng phát triển cuả ngành đường Việt Nam là hạn chế sản xuất theo phương thức thủ công Tuy nhiên, với lượng đường thô công nghiệp quá ít bắt buộc phải duy trì khu vực thủ công để cung cấp nguyên liệu cho hoạt động cuả 2 nhà máy tinh luyện Điều này lại tiếp tục đi ngược lại xu hướng phát triển chung
- Trong thời gian gần đây, xu hướng thị trường thế giới đang chuộng đường thô, đường vàng hơn đường trắng Với cơ cấu sản phẩm quá thiên về đường trắng thực sự đã không đón đầu được xu hướng của thị trường thế giới cho xuất khẩu
3.1.5 Quản lý vĩ mô của Nhà nước :
Một số chính sách của Nhà nước đã gây ra những khó khăn nhất định cho ngành đường Việt Nam
Như chúng ta đã biết, các đơn vị sản xuất đường trong nước không được quản lý bởi cùng một tổ chức :
+ Các công ty liên doanh, 100% vốn nước ngoài : Bộ KH & ĐT quản lý + Một số nhà máy được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý + Còn lại là những đơn vị do địa phương quản lý
Ở phía các nhà máy trong những đơn vị chủ quản khác nhau dĩ nhiên sẽ chịu những qui định, chính sách khác nhau Trong trường hợp 1 đơn vị chủ quản đưa ra những qui định, chính sách bất hợp lý cho các đơn vị trực thuộc thì các nhà máy ở đơn vị chủ quản khác sẽ hưởng lợi Muốn có sự công bằng hợp lý cho tất cả đơn vị sản xuất đường trong cả nước thì đòi hỏi ít nhất Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch & Đầu tư và các địa phương phải có sự phối hợp đồng bộ, tham khảo ý kiến lẫn nhau trước khi ra bất kỳ chính sách, qui định gì cho các đơn vị trực thuộc
3.1.6 "Giá mía nguyên liệu và chi phí sản xuất công nghiệp đường Việt
Trang 31Đây là câu trả lời phỏng vấn của Tiến sĩ Claude Soupramanien-Phó viện trưởng viện nghiên cứu mía đường Maurice (Pháp) sau chuyến khảo sát về tình hình mía đường ở Việt Nam tháng 06/01 Theo ông thì giá nguyên liệu mía trong tổng chi phí sản xuất đường tại Việt Nam hiện ở mức quá cao, nếu đem so sánh thì cao hơn Braxin đến 87%, Uùc 43% và so với Thái Lan thì cao hơn 30% Trong khi đó, chi phí sản xuất đường công nghiệp cũng còn rất cao vì phần lớn các nhà máy đường có công suất nhỏ, nhưng chi phí khấu hao và các chi phí tài chính khác đều ở mức tối đa, nên chỉ riêng chi phí chế biến đường còn cao hơn Braxin 122%, Thái Lan 88%, và Uùc 76% Được biết, trong hội nghị tổng kết chương trình 1 triệu tấn đường của Chính phủ được tổ chức trong năm 2000 cho hay, trên thế giới trồng 1 ha mía cho tối thiểu 7 tấn đường, còn ở ta mới chỉ đạt phân nửa chỉ tiêu này Nên hạ giá mía nguyên liệu bằng cách tăng năng suất nông nghiệp là kiến nghị của Oâng Viện Phó Viện nghiên cứu mía đường Maurice
3.1.7 Tồn tại khu vực sản xuất đường thủ công :
Ngoài nguồn đường được sản xuất hàng năm từ các nhà máy công nghiệp, tại Việt Nam, nhất là các tỉnh phía Nam tồn tại một lượng đường sản xuất từ các lò thủ công Mỗi tỉnh có mía đều có hàng trăm lò đường thủ công, công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, hình thức ép đơn trên bộ che nhỏ 3-4 trục, chỉ trích ly được 50-60% lượng đường có trong mía, mức tiêu hao khoảng 18-25 tấn mía cho 1 tấn đường kết tinh, cao gấp 2 lần so với khu vực chế biến công nghiệp (hiện nay phần lớn lượng mía ở vùng châu thổ Sông Cửu Long được chế biến theo hình thức này)
Theo số liệu thống kê sơ bộ, cả nước có tới 2.100 cơ sở, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, đảm nhận chế biến 60% sản lượng mía, khoảng 6,9 triệu tấn mía Đồng bằng sông Cửu Long có 1.100 cơ sở, Đông Nam Bộ có 300 cơ sở, Duyên Hải Miền Trung 400 cơ sở Công suất bình quân mỗi cơ sở từ 20-25TMN Từ năm 1999 trở về trước, hàng năm khu vực này sản xuất ra trên 300.000 tấn đường Tuy nhiên số lượng lò thủ công bắt đầu biến mất với tốc độ nhanh từ năm
1999 do không cạnh tranh được với các nhà máy công nghiệp
3.1.8 Cơ cấu tiêu thụ trên bình diện cả nước :
Nếu lấy số liệu của năm 98 là năm bắt đầu có những thông tin chặt chẽ ta lập được bảng tỉ lệ cơ cấu tiêu thụ đường tại khu vực của cả nước như sau :
Trang 32BẢNG III.6 - CƠ CẤU TIÊU THỤ ĐƯỜNG CÁC KHU VỰC THEO TỈ LỆ %
Khu vực Cơ cấu đường Thị trường
Đường trắng công nghiệp
Đường trắng công nghiệp
Đường trắng công nghiệp
38% 36% 38%
CẢ NƯỚC
(Nguồn : Cơ quan phát triển Pháp)
Dựa vào bảng trên ta nhận thấy :
- Về phía thị trường công nghiệp, ở Miền Bắc cũng như Miền Nam, khách
hàng công nghiệp đa số phải sử dụng đường tinh luyện RE, RS và đường trắng
đồn điền trong sản xuất, chế biến
- Trong thị trường tiêu thụ trực tiếp, hầu như không có đường tinh luyện
- Ở Miền Bắc và Miền Nam có sự khác nhau rõ rệt : Ở Miền nam, đường thủ
công chiếm tỷ trọng áp đảo trong tiêu dùng trực tiếp, trong khi đó ở Miền Bắc tỷ
trọng loại đường này chỉ chiếm 1/3 Miền bắc được cung cấp chủ yếu là đường
trắng công nghiệp (gần 60%) trong khi đó ở Miền Nam đường thủ công chiếm gần
50% Cơ cấu này sẽ thay đổi theo hướng thị trường Miền Nam sẽ tiến gần tới thị
trường Miền Bắc không phải do thị hiếu người dân thay đổi mà do đường thủ công
sẽ ngày càng “hiếm” do sự biến mất với tốc độ nhanh của các lò thủ công
Ngoài ra, theo nhận xét, trong tình tình hiện nay cũng như trong tương lai,
mặc dù số lượng tiêu thụ trong từng thị trường cũng như từng miền sẽ thay đổi,
tuy nhiên cơ cấu các chủng loại đường trong thị trường sẽ rất ít biến động, chính
từ nhận xét này và tham khảo một số tài liệu đáng tin cậy của Bộ NN & PTNT,
Cơ quan phát triển Pháp, Tổng Công ty mía đường II, … tôi đưa ra thêm một số
cơ cấu làm căn bản giúp cho người làm công tác kế hoạch hoạch định những
chương trình liên quan như sau :
Trang 33- Trong tổng nhu cầu đường của cả nước, nhu cầu của khu vực công nghiệp chiếm 42%, của khu vực tiêu dùng trực tiếp chiếm 58%
- Trong tổng nhu cầu của thị trường tiêu dùng trực tiếp thì nhu cầu thị trường tiêu dùng Miền Bắc chiếm 40%, Miền Nam chiếm 60%
- Trong tổng nhu cầu đường của cả nước thì đường tinh luyện cho cả 2 khu vực công nghiệp và tiêu dùng chiếm 25%
- Trong tổng nhu cầu đường của cả nước thì tổng nhu cầu Miền Nam chiếm 68%, Miền Bắc chiếm 32%
- Trong tổng nhu cầu đường của Miền Nam thì nhu cầu khu vực công nghiệp là 46%, khu vực tiêu dùng chiếm 54%
- Trong tổng nhu cầu đường của Miền Bắc thì nhu cầu khu vực công nghiệp là 28%, khu vực tiêu dùng chiếm 72%
- Trong tổng nhu cầu đường Miền Nam thì đường tinh luyện chiếm 29%
- Trong tổng nhu cầu đường Miền Bắc thì đường tinh luyện chiếm 18%
- Trong tổng nhu cầu đường tinh luyện cả nước thì khu vực tiêu dùng chiếm 12%, khu vực công nghiệp chiếm 88%
- Trong tổng nhu cầu đường của khu vực công nghiệp thì đường tinh luyện chiếm 55% đến 58%
- Trong tổng nhu cầu đường của khu vực tiêu dùng thì đường tinh luyện chiếm 5%
- Trong tổng nhu cầu của khu vực công nghiệp thì nhu cầu cho công nghiệp Miền Nam là 74%, nhu cầu cho công nghiệp Miền Bắc là 26%
- Trong tổng nhu cầu đường tinh luyện cho khu vực công nghiệp thì nhu cầu đường tinh luyện của khu vực công nghiệp phía Nam là 76%, phía Bắc là 24%
Trên đây là 1 số tỉ lệ cơ cấu rất quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch Các tỉ lệ cơ cấu này sẽ thay đổi (rất chậm) theo hướng tỉ lệ đường tinh luyện sẽ tăng dần trong các khu vực thị trường và các miền
3.1.9 Kết luận : Từ các số liệu này ta rút ra những nhận xét về ngành mía
đường Việt Nam như sau :
- Miền Nam là khu vực tập trung các nhà máy có công suất thuộc loại lớn nhất nước khiến công suất sản xuất ở khu vực này rất lớn
- Miền Trung được coi là quê hương của mía đường, tuy nhiên do hình dạng địa lý hẹp, diện tích nhỏ, các vùng mía không tập trung với số lượng lớn nên mặc dù số lượng nhà máy nhiều nhưng công suất bình quân từng nhà máy lại thuộc loại nhỏ nhất nước
- Giá thành sản xuất còn quá cao, tỉ lệ, chi phí mía trong giá thành đường và chi phí chế biến rất cao
- Cả nước có 47 nhà máy nhưng hết 45 nhà máy sản xuất từ mía ra thành
Trang 34- Công suất sản xuất đường RS quá lớn (chiếm hơn 65% tổng công suất), trong khi loại đường này không phù hợp lắm cho việc tiêu dùng trực tiếp và chế biến thực phẩm chất lượng cao, điều này chứng tỏ tập quán tiêu thụ đường của người dân còn ở mức thấp
- Chỉ có 2 nhà máy sản xuất đường tinh luyện từ đường thô nhưng cần tới khoảng 160.000 tấn đường thô, trong khi các nhà máy sản xuất đường thô trong nước không đáp ứng được nhu cầu, phần thiếu hụt còn lại phải huy động chủ yếu từ các nhà máy không chuyên sản xuất đường thô của khu vực Miền Bắc hoặc mua từ nguồn đường sản xuất thủ công hoặc nhập khẩu
- Ngoài nguồn đường công nghiệp, tại Việt Nam, nhất là các tỉnh phía Nam tồn tại lượng đường sản xuất từ các lò thủ công có mức tiêu hao từ 18 đến 25 mía/đường (gấp 2 lần công nghiệp), sản lượng từ 200.000 đến 300.000 tấn/năm
- Về phía thị trường công nghiệp, cơ cấu đường cung cấp ở Miền Bắc cũng như Miền Nam, khách hàng công nghiệp đa số phải sử dụng đường tinh luyện
RE, RS và đường trắng đồn điền trong sản xuất, chế biến
- Về thị trường tiêu thụ trực tiếp, hầu như không có đường tinh luyện, trong khi đường tinh luyện lại là loại đường phù hợp nhất cho sử dụng trực tiếp
- Ở Miền Bắc và Miền Nam có sự khác nhau rõ rệt : Ở Miền nam, đường thủ công chiếm tỷ trọng áp đảo trong thị trường trực tiếp Trong khi đó ở Miền Bắc tỷ trọng loại đường này chỉ chiếm 1/3
- Ngành đường Việt Nam sử dụng lượng lao động rất lớn, góp phần giải quyết áp lực thất nghiệp cho Chính phủ
- Năng lực sản xuất ngành đường đã vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước
- Các cơ quan chủ quản các nhà máy sản xuất đường thường đưa ra những chính sách điều hành vĩ mô thiếu thực tế và không mang tính chiến lược
3.2 GIỚI THIỆU CÁC NHÀ MÁY ĐƯỜNG LUYỆN PHÍA NAM
Theo phân chia của Bộ NN&PTNT, ngành mía đường được chia 3 khu vực theo địa giới hành chính do Nhà nước qui định Cụ thể như sau :
- Miền Bắc : Từ Thanh Hoá trở ra Lạng Sơn
- Miền Trung : Từ Nghệ An vào tới Bình Thuận
- Miền Nam : Từ Đồng Nai, Bình Phước xuống Cà Mau
Tuy nhiên, để thuận tiện trong việc viết đề tài, từ phần này trở đi Miền Nam trong phần phân tích, đề xuất của tôi bao gồm từ Đà Nẵng vào Cà Mau
Xét theo phạm vi địa lý, ngành mía đường các tỉnh phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào) giữ vai trò khá quan trọng Diện tích mía các tỉnh phía Nam chiếm hơn 81% diện tích mía cả nước, cung cấp sản lượng hàng năm lên đến hơn 10triệu tấn, chiếm 83% sản lượng mía và 67% tổng công suất thiết kế của cả nước Riêng về phần nguyên liệu, theo đánh giá của Cơ quan Phát triển Pháp :
Ở vùng Bắc và Trung Bộ có lượng mía thiếu, phải tăng diện tích mới đáp
Trang 35Ở vùng Nam Trung Bộ và Nam bộ nhất là đồng bằng Sông Cửu Long lượng mía nhìn chung thừa rất nhiều, việc thiếu mía cục bộ chỉ do tưới thiếu do đó nếu khắc phục được vấn đề tưới sẽ tăng năng suất rất nhiều
Các nhà máy phía Nam được mở gần đây có được công nghệ vừa đa dạng, vừa nhiều trình độ từ các tập đoàn, công ty vốn có kinh nghiệm lâu năm trong ngành đường như : tập đoàn Bourbon(Pháp), KCP (Ấn Độ), Cty Danish (Đan Mạch), Cty STG (Úc), Cty Nagarjuna (Ấn Độ), ………
Trong lĩnh vực đường tinh luyện, theo thống kê, khu vực phía Nam chỉ có 5 nhà máy sản xuất đường tinh luyện Để có thể hình dung tổng quát về nguồn cung cấp đường tinh luyện ở phía Nam ta hãy đi sơ lược về các nhà máy này :
3.2.1 Công ty Nagarjuna (3.500TMN, tổng vốn đầu tư 33.000.000USD) :
Tập đoàn Nagarjuna là tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông nghiệp tại Ấn Độ và cũng đã khởi sự thành công dự án đầu tiên 100% vốn đầu tư của nước ngoài về công nghệ sản xuất đường ở Việt Nam Toạ lạc tại Huyện Bến Lức-Tỉnh Long An Đây là vùng nguyên liệu mía rộng lớn của Tỉnh Long An Trong tương lai Tỉnh đã dự kiến mở rộng vùng nguyên liệu từ 12.000ha lên 20.000ha Trong thời gian tới, Nagarjuna sẽ tăng công suất ép lên 6.000TMN Thiết bị của nhà máy có 90% là nhập từ Ấn Độ, công nghệ tinh luyện được Công ty Tate & Lyle của Vương quốc Anh cung cấp Nhãn hiệu đường tinh luyện Juna đã có mặt trên thị trường Việt Nam vào tháng 04 năm 1997
3.2.2 Công ty Đường Buorbon :
Bourbon là tập đoàn lớn của Pháp, kinh doanh nhiều ngành nghề Tính đến tháng 12/01, Tập đoàn này đã có 7 dự án tại Việt Nam với tổng vốn 570triệu USD, trong đó dự án nhà máy Đường Bourbon, Hệ thống Siêu thị Cora, cụm khu công nghiệp Bến Lức là lớn nhất
Công ty Đường Bourbon là liên doanh giữa Tỉnh Tây Ninh và tập đoàn Bourbon tuy nhiên hiện nay đã trở thành Công ty 100% vốn nước ngoài với công suất giai đoạn I là 8.000TMN, giai đoạn II trong năm 2001 sẽ nâng công suất lên 16.000TMN (lớn nhất Việt Nam) và có lắp đặt thêm 1 turbin phát điện từ nguồn phế liệu bã mía, có thể bán cho hệ thống lưới điện quốc gia Việt Nam với công suất thừa trên 30 MVA, đạt giá trị sản lượng điện trên 100 triệu Kwh mỗi năm (bằng hơn phân nửa lượng điện thương phẩm cả tỉnh Tây Ninh sử dụng trong năm 2000) Tính đến tháng 06/01, tổng vốn đầu tư cho Nhà máy đường Bourbon đã lên đến 110 triệu USD Công ty sản xuất đường tinh luyện từ mía, ngoài ra đơn vị này còn sản xuất và bán đường thô vào những giai đoạn cầu đường luyện thấp
3.2.3 Công ty Đường Khánh Hội - Khanh Hoi Sugar Company:
Nhà máy chính thức hoạt động từ năm 1957 với chức năng lọc đường thô
Trang 36cũng đã nhập công nghệ để sản xuất nước uống đóng chai, rượu rhum, thạch dừa
Dây chuyền sản xuất và công nghệ của Pháp, tuy nhiên không đồng bộ Sản xuất theo phương pháp photphat hoá để xử lý dung dịch đường
3.2.4 Công ty Đường Bình Dương :
Công ty Đường Bình Dương hiện có công suất 2.000TMN Sản xuất thêm các sản phẩm phụ như vôi, phân hữu cơ, kẹo dẻo Ngoài ra còn liên doanh với Cty Lotte Nhật Bản, Lotte Hàn Quốc và Cty Marubeni Nhật Bản thành lập Cty Liên doanh Lotte Việt Nam chế biến swing gum và bánh kẹo với vốn đầu tư là 10triệu USD, Bình Dương góp 25% vào năm 1997 Bình Dương cũng đã có dự án nhà máy đường thô tại Bình Phước với công suất ép 2.000TMN nhưng chưa triển khai thực hiện được vì vướng chính sách hạn chế của nhà nước
Tiềm năng sản xuất của Bình Dương bao gồm :
- Công suất 2.000TMN, số lượng đường khoảng 20.000-30.000tấn/vụ
- Công suất sản xuất cồn : 3.000 – 5.000 lít/ngày
- Sản xuất bánh kẹo có công suất 2.000kg/ngày
- Sản xuất bia 3.000 – 5.000 lít/ngày
Công nghệ sản xuất trước đây theo qui trình vôi hoá, hiện nay sản xuất theo phương pháp sunphit hoá axit Sản phẩm của Công ty Đường Bình Dương chủ yếu là đường RS, đường RE chỉ là phụ phẩm với tỉ lệ khoảng 30% và có chất lượng không ổn định
3.2.5 Công ty Đường Biên Hoà :
Công ty Đường Biên Hoà đi vào hoạt động năm 1971 với dây chuyền thiết
bị của Hitachi, Tsukisna, Kikai, Musuitakasaco, Iconworks, Kubota, Ebaka, … đây là dây chuyền hiện đại theo công nghệ tiên tiến trên thế giới lúc bấy giờ Đến thời điểm hiện nay vẫn được đánh giá là dây chuyền sản xuất đường tinh luyện hiện đại trong cả nước và khu vực Đông Nam Á
Hiện nay Biên Hoà đã xây dựng nhà máy sản xuất đường thô ở Tây Ninh với công suất 3.500 TMN để chủ động một phần nguyên liệu cho sản xuất Công
ty Đường Biên Hoà chuyên sản xuất đường tinh luyện RE, RS các loại với công suất 300tấn/ngày, rượu các loại, đường thô, phân vi sinh
3.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÂN PHỐI ĐƯỜNG Ở PHÍA NAM :
3.3.1 Phân tích tình hình tiêu thụ thời gian vừa qua :
Lịch sử ngành mía đường Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng kể từ năm 1998 trở về trước liên tục phải nhập khẩu với số lượng đường rất lớn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước (bình quân 94.000tấn/năm)
(Phụ lục 4) Với khả năng cung cấp nội địa không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng,
thời gian này khách hàng phải tự động tìm đến nhà sản xuất
Trang 37Lần theo lịch sử ngành đường từ ngày thống nhất đất nước đến nay, quan hệ cung cầu theo tôi nên được phân thành 3 giai đoạn :
- Giai đoạn 1 : từ năm 1976 đến 1998 : giai đoạn này, nguồn cung thiếu
triền miên, nhu cầu chỉ được xoa dịu bằng nguồn đường nhập khẩu, đây chính là
cơ sở để các tập đoàn, công ty lớn chuyên đường của thế giới quyết định đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất đường ở Việt Nam
- Giai đoạn 2 : từ năm 1999 đến năm 2000 : xảy ra khủng hoảng thừa
đường Giai đoạn này ngành mía đường rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng với nguy cơ sụp đổ khi sản phẩm làm ra không tiêu thụ được và giá bán nằm dưới giá thành sản xuất
- Giai đoạn 3 : năm 2001 : giai đoạn này, quan hệ cung - cầu lại rơi vào
khủng hoảng thiếu đường Tuy nhiên giai đoạn này sẽ không kéo dài hơn 1 đến
2 năm vì với diện tích mía đã qui hoạch và công suất chế biến đã lắp đặt đảm bảo, thậm chí dư thừa cho tiêu thụ
Với 3 giai đoạn như được liệt kê ở trên đã cho thấy sự phát triển không mang tính vững chắc của ngành Cở sở phát triển không được dựa trên các nền tảng cơ bản như : hệ thống phân phối tốt, cải tiến giá thành, cải tiến chất lượng, phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng nhu cầu, … Chính đây là nguyên nhân khiến quan hệ cung - cầu trồi sụt không bình thường Không ở đâu như Việt Nam, khi 2 điểm tận cùng của thừa và thiếu lại diễn ra lặp lại hàng năm Đây
cũng chính là căn bệnh "trầm kha" của các ngành công nghiệp dựa vào chế biến
cây nông nghiệp của Việt Nam, chẳng hạn như cây lúa, cây điều, cây tiêu, caphe, cao su, … Điều này càng chứng tỏ khả năng điều chỉnh cấp vĩ mô của các cơ quan cấp Bộ quá yếu kém
Nếu lấy số liệu tồn kho ở các thời điểm đầu và cuối các giai đoạn sẽ cho ta thấy rõ hơn tình trạng cung - cầu bấp bênh của ngành
Giai đoạn 1 : năm 1998 : tồn kho cuối vụ 60 tấn
Giai đoạn 2 : năm 1999 : tồn kho cuối vụ 350.000 tấn, số lượng tồn kho phải giải quyết bằng cách xuất khẩu trong 2 năm 1999 và 2000 (xuất khẩu năm
2000 khoảng 200.000 tấn, chịu lỗ khoảng 45triệu USD)
Giai đoạn 3 : năm 2001 : mới tới tháng 06/01 tồn kho chỉ còn khoảng 150.000 tấn(bằng 48% so với cùng kỳ năm 2000), số lượng này không đủ đáp ứng cho nhu cầu đến cuối vụ và bắt buộc phải tạm dừng các hợp đồng xuất khẩu không hiệu quả để đáp ứng nhu cầu trong nước
Như vậy, theo nhận xét ta thấy, sau thời gian dài ổn định trong tình trạng thiếu đường Chỉ trong vòng 3 năm (kể từ năm 1999 đến năm 2001), ngành đường đã trải qua quá nhiều biến động với những xáo trộn thăng trầm đến cực điểm của hiện tượng thừa - thiếu
Trang 38Riêng về đường luyện thì trước năm 1997, khi nhắc về sản phẩm đường luyện chất lượng cao, cả Việt Nam chỉ có 2 đơn vị là Công ty Đường Biên Hoà
và Nhà máy Đường Khánh Hội là đáng kể Với đặc điểm "một mình một chợ",
việc tiêu thụ sản phẩm làm ra đối với hai đơn vị này không phải là vấn đề khó khăn Bối cảnh này khiến 2 đơn vị trên gần như ngủ quên quá lâu trên lợi thế cạnh tranh sẵn có mà mình được hưởng Tình hình tiêu thụ, phân phối đường luyện chỉ trở nên trầm trọng kể từ năm 1997 khi lần lượt Nagarjuna của Ấn Độ và Bourbon của Pháp chính thức xây dựng nhà máy và đem sản phẩm thâm nhập thị trường Miền Nam
Cuộc chiến ác liệt bắt đầu bùng nổ kể từ năm 1999, khi khả năng cung cấp
đã vượt quá nhu cầu tiêu dùng trong nước Tuy nhiên thực chất của "cuộc chiến"
này không thực sự lành mạnh khi các nhà máy, đặc biệt là các nhà máy có vốn nước ngoài dựa vào nguồn vốn mạnh, bất chấp lỗ lớn đã sử dụng chính sách giá
“tiêu diệt” để giành giật, “mua” khách hàng của nhau chứ không nhằm mục đích mở thêm thị trường Hậu quả "tàn nhẫn" của giai đoạn cạnh tranh vừa qua là sự
thua lỗ lớn và đồng loạt diễn ra ở tất cả các nhà máy Cụ thể Nhà máy Bourbon lỗ 150 tỷ năm 99, và 198tỉ trong năm 2000, Công ty Đường Biên Hoà trong 2 năm 1999 và 2000 mỗi năm lỗ khoảng 20 tỷ, Nhà máy Nagarjuna sắp sửa không chịu nổi áp lực tài chính nên bắt buộc phải chuyển sang hướng bán lại nhà máy để thu hồi 1 phần vốn đã bỏ ra trước khi chính thức từ giã thị trường
Việt Nam quá "cay đắng", hạt đường đối với các nhà đầu tư Ấn Độ không còn
ngọt như họ tưởng trong những ngày đầu tiên khởi công xây dựng nhà máy,
Công ty Đường Khánh Hội "vờ vật, thoi thóp", lúc hoạt động , lúc nghỉ dường
như chỉ chờ thời điểm chấm dứt một quá khứ hoạt động sôi nổi và hiệu quả của
Diễn biến xuất khẩu của các nhà máy đường luyện phía Nam trong 2 năm
99 và 2000 (2 năm diễn ra tình trạng thừa đường) giống như cuộc đua về sự "chịu đựng”, 2 nhà máy đường luyện nội địa là Biên Hoà và Khánh Hội bắt buộc phải
"chạy đôn chạy đáo" để tìm thị trường xuất khẩu, chấp nhận chịu lỗ để giảm bớt một phần nguồn cung quá dư thừa Trong khi đó các “ông lớn” có vốn nước
ngoài lại lợi dụng cơ hội này để lấn sâu thêm vào thị phần của 2 đơn vị bạn đang
Trang 39"đau khổ" tìm đầu ra ở thị trường quốc tế Trong 2 năm 99 và 2000, Biên Hoà và
Khánh Hội đã xuất khẩu chiếm ¼ tổng lượng xuất khẩu đường của Việt Nam Giá đường xuất khẩu từ năm 1999 đến 2001 đạt mức bình quân 270USD/tấn Trong khi đó để doanh nghiệp đủ hoà vốn sản xuất thì đường RE theo thông báo của Công ty Đường Biên Hoà phải đạt tối thiểu 300USD/tấn Với giá xuất bình quân như thời gian vừa qua các doanh nghiệp không có lời, nếu
không muốn nói là lỗ Trong khi đó Công ty Đường Buorbon cho rằng :”xuất khẩu với giá 280USD/tấn(FOB-Tp.HCM) trong khi còn chịu chi phí vận chuyển từ nhà máy đến cảng, kiểm định, thủ tục hải quan, …Đó là chưa kể đến rủi ro và tiền trả chậm, trong khi giá đường trong nước từ năm 1999 đến năm 2000 từ 3.900 – 4.300đ/kg (tương đương từ 276-304USD/tấn) thì tiêu thụ nội địa có lời hơn”
Nhìn chung việc xuất nhập khẩu đường của các nhà máy đường luyện phía Nam hiện nay chỉ diễn ra ở 2 đơn vị Biên Hoà và Khánh Hội, mức trung bình xuất khẩu hàng năm từ năm 1998 đến nay khoảng 10.000 tấn đến 20.000 tấn/năm Các đơn vị còn lại không quan tâm đến thị trường này
3.3.3 Xu hướng thị trường đường luyện :
Dựa vào số liệu có được và những nhận xét trên ta thấy có 2 xu hướng chính đối nghịch nhau tác động tới thị trường đường tinh luyện
- Xu hướng dài hạn :
+ Xu hướng tiêu dùng đang bắt buộc chuyển dần sang đường công nghiệp
do nguồn đường thủ công đang ngày càng hiếm
+ Với đời sống ngày càng cao, việc sử dụng đường trực tiếp đang chuyển dần sang sử dụng gián tiếp Xu hướng này khiến nhu cầu đường khu vực công nghiệp ngày càng tăng Đây là chuyển đổi thuận lợi cho các đơn vị sản xuất đường luyện vì khách hàng công nghiệp bắt buộc sử dụng đường công nghiệp + Nhu cầu đường bình quân đầu người của Việt Nam còn lâu mới bằng mức trung bình thế giới và khu vực (năm 2000, tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 44% trung bình thế giới và bằng 64% trung bình của khu vực Viễn Đông), do đó sức cầu sản phẩm đường còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Từ đặc điểm trên cho thấy nhu cầu tiêu thụ đường công nghiệp sẽ ngày càng tăng trong đó có đường luyện Đây là xu hướng thuận lợi của thị trường
- Xu hướng ngắn hạn :
+ Với giá thành đường luyện của nhà máy tinh luyện độc lập cao hơn của nhà máy tinh luyện từ mía trong khi chất lượng gần như tương đương nhau, do đó nếu được phân phối tốt, thị trường chắc chắn sẽ sử dụng hết lượng đường tinh luyện từ mía mới chuyển sang đường tinh luyện từ đường thô Trong khi đó
Trang 40+ Chất lượng đường RS ngày càng được cải thiện nhất là về cảm quan, xu hướng thị trường công nghiệp và tiêu dùng đang chuyển dần sang đường RS để giảm giá thành và chi tiêu
+ Đường ngoại sẽ tràn vào Việt Nam và lấn áp ngành đường trong nước khi
cánh cửa bảo hộ mở toang để đón những luồng “gió” mới cho nền kinh tế
Với các căn cứ trên cho thấy tiêu thụ đường tinh luyện trong ngắn hạn là vô cùng khó khăn, ngõ hẹp cho đường tinh luyện chính là những khoảng trống trên thị trường mà hiện tại các sản phẩm cấp thấp hoặc đường ngoại không khai thác hết do không có hệ thống phân phối hoàn chỉnh
3.3.4 Mô tả-phân tích hệ thống phân phối của các NM luyện phía Nam :
3.3.4.1/ Kênh của Công ty Đường Bourbon :
Nhìn bên ngoài, kênh phân phối của Bourbon là khá hoàn hảo có thể đáp ứng được nhiều đầu vào của thị trường, tận dụng được mọi lợi thế Kênh phân phối được trải ra trên cả 2 thị trường tiêu dùng trực tiếp và công nghiệp nhưng
lại trùng “luồng” của các nhà máy khác đã xây dựng từ trước Việc trải rộng
phạm vi phân phối chỉ nhằm vào những thị trường đang có sẵn, co cụm ở những thị trường béo bở, giành giật khách hàng từ tay những nhà cung cấp khác Chấp nhận thua lỗ lớn trong giá cung cấp so với giá thành để tạo chỗ đứng cho mình Mô hình phân phối này thực tế chưa khai thác được toàn bộ thị trường mà chỉ tập trung giành giật ở những thị trường lớn Dùng sức mạnh tài chính để đẩy đối thủ ra ngoài kênh phân phối của mình
3.3.4.2/ Công ty Đường Nagarjuna :
Mô hình phân phối của Công ty này như sau :
SIÊU THỊ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
BÁN LẺ
CHÀO BÁN TRỰC TIẾP