1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2004-2010

119 312 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn không giải quyết hết các nội dung liên quan đến bền vững, và cũng không có điều kiện đi vào các lĩnh vực chuyên sâu thuộc về thiết kế xây dựng, sinh học, tài chính và dự án đầu

Trang 1

ĐINH KIỆM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

1.1 Lý luận tổng quan về phát triển du lịch bền vững 1

1.1.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững 1

1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến phát triển du lịch bền vững 2

1.1.3 Xu hướng phát triển du lịch bền vững và mối quan hệ tổng hoà

với phát triển chung của du lịch 5

1.2 Những nguyên tắc đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững 6

1.2.1 Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý 6

1.2.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải 6 1.2.3 Phát triển phải gắn liền với bảo tồn tính đa dạng 7

1.2.4 Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế -xã hội 7 1.2.5 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 7

1.2.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 8

1.2.7 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về môi trường 8

1.2.8 Tăng cường quảng cáo tiếp thị một cách có trách nhiệm 9

1.2.9 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu 9

1.3 Quy trình phân tích đánh giá thực hiện phát triển du lịch bền vững 10 1.3.1 Đánh giá dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn 10

1.3.2 Đánh giá dựa vào hiện trạng môi trường hoạt động du lịch 11

Trang 3

1.3.3 Đánh giá dựa vào thực trạng hoạt động của ngành du lịch 11

1.4 Vai trò của du lịch bền vững trong trong nền

kinh tế- xã hội hiện nay 11

1.5 Kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững

của một số nước trên thế giới 12

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 13

1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 14

1.5.3 Kinh nghiệm của Philíppines 15

1.5.4 Kinh nghiệm của Australia 16

1.5.5 Kinh nghiệm của Indonesia 18

Kết luận chương 1 20

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH

BÌNH THUẬN TRONG THỜI GIAN QUA 21

2.1 Tổng quan về thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận 21 2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên kinh tế- xã hội tỉnh Bình Thuận 21 2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1991-2003 22 2.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững tỉnh Bình Thuận 29 2.2.1 Tính bền vững của các nguồn tài nguyên 29

2.2.2 Tính bền vững của môi trường du lịch Bình Thuận 37

2.2.3 Kết quả vận hành hệ thống du lịch trong thời gian qua 45

2.3 Đánh giá chung về sự phát triển bền vững của du lịch Bình Thuận 49 2.3.1 Những thành công 50

2.3.2 Những tồn tại 51

2.3.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thiếu bền vững

đối với du lịch Bình Thuận 54

2.3.4 Tổng kết các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng

phát triển bền vững của ngành du lịch Bình Thuận 55

Kết luận chương 2 57

Trang 4

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH

BỀN VỮNG TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2004 - 2010 58 3.1 Các quan điểm cơ bản, định hướng và mục tiêu phát triển

du lịch bền vững của tỉnh Bình Thuận đến năm 2010 58

3.1.1 Những quan điểm phát triển 58

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch Bình Thuận đến năm 2010 58

3.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra của thế giới trong phát triển

du lịch bền vững có thể vận dụng ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận 73 3.4 Kiến nghị 76

3.4.1 Đối với cấp quản lý vĩ mô 76

3.4.2 Đối với UBND tỉnh, Các huyện, thành phố trực thuộc 76

3.4.3 Đối với sở Thương mại Du lịch tỉnh Bình Thuận 77

PHẦN KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài :

Bình Thuận nằm vào vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, nằm trên trục giao lưu kinh tế của vùng Nam Trung bộ và Tây nguyên và là cửa ngõ phía Đông của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng động lực với tốc độ tăng trưởng mạnh nhất của cả nước, gắn liền với một thị trường hết sức rộng lớn và sôi động

Ngoài vị trí thuận lợi, Bình Thuận còn được thiên nhiên ưu đãi rất giàu có tài nguyên

tự nhiên phục vụ cho du lịch như biển, rừng, hồ nước -ghềnh thác, hải đảo,…Ngoài ra

ở đây còn phong phú về tài nguyên du lịch nhân văn như: lễ hội của các dân tộc Chăm, Raglay, K’Ho, người Hoa…, các di tích lịch sử mang tầm vóc quốc gia, các đền đài cổ

có giá trị kiến trúc,…Đây là những tiền đề cơ bản tạo điều kiện cho du lịch Bình Thuận

có những bước phát triển nhảy vọt

Mặc dù tiềm năng du lịch giàu có như vậy nhưng việc khai thác phục vụ cho du lịch thời gian qua chưa tương xứng với những lợi thế vốn có của Bình Thuận Ngành du lịch Bình Thuận thật sự vươn dậy từ sau sự kiện nhật thực toàn phần năm 1995, mà Phan Thiết được may mắn là nơi quan sát tốt nhất Từ thời điểm này, ngành du lịch của tỉnh bắt đầu phát triển và dần khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế địa phương Đặc biệt những năm gần ngành du lịch đang có những bức phá ngoạn mục để dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Bình Thuận

Với những thời cơ thuận lợi như vậy, nhưng nhìn lại bước đường gần 10 năm qua ngành du lịch vẫn còn tồn tại những bất cập Biểu hiện của một sự phát triển tự phát, nóng vội, thiếu ổn định và tiềm ẩn những nguy cơ mà mặt trái của ngành du lịch thường mang đến đó là sự suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, là sự ô nhiễm môi trường và sự xâm hại đến các tài nguyên nhân văn khó có thể tái tạo,…

Trang 6

Từ đó vấn đề bức xúc đặt ra cho ngành du lịch Bình Thuận trong thời gian tới là nhanh chóng xem xét, khắc phục những tồn tại để xây dựng chiến lược đầu tư khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên sẳn có sao cho hợp lý,bền vững và đạt hiệu quả cao nhất Xuất phát từ những yêu cầu mang tính cấp bách như trên, việc định hướng và đề ra những giải pháp thiết thực cho phát triển du lịch bền vững của Bình Thuận từ nay đến năm 2010 là một việc làm có ý nghĩa quan trọng cho ngành du lịch của địa phương Việc hình thành nghiên cứu nội dung đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2004-2010” dưới dạng một luận văn cũng không ngoài mục đích hướng đến giải quyết yêu cầu bức xúc nêu trên

2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :

- Mục đích nghiên cứu :đề tài hướng mục đích vào việc nghiên cứu đề xuất các giải

pháp phát triển bền vững cho ngành du lịch tương đối còn non trẻ ở Bình Thuận Với những giải pháp tổng hợp này sẽ giúp cho du lịch Bình Thuận điều chỉnh những bước

đi hợp lý ở hiện tại và tiếp tục xác lập những định hướng phát triển theo mục tiêu bền vững của hoạt động du lịch trong tương lai

- Nhiệm vụ nghiên cứu :nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là nêu lên những lý luận và

thực tiễn về nội dung phát triển du lịch bền vững Trên cơ sở lý luận đó đi sâu phân tích đánh giá hiện trạng phát triển du lịch chung cũng như phát triển du lịch bền vững của Bình Thuận từ năm 1991 đến 2003,cuối cùng luận văn tập trung đề xuất một số giải pháp theo định hướng phát triển bền vững cho hoạt động du lịch của tỉnh Bình Thuận trong thời kỳ 2004- 2010

3/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian đề tài giới hạn nghiên cứu toàn cảnh hoạt động

của du lịch Bình Thuận trong khoảng thời gian từ 1991-2003 và những năm tiếp theo

- Phạm vi không gian : đề tài được giới hạn trong phạm vi địa giới của tỉnh Bình Thuận

nhưng cũng sẽ gắng kết tầm hoạt động của du lịch Bình Thuận với các tỉnh lân cận cũng như các trung tâm du lịch lớn của khu vực để các giải pháp đưa ra có tính gắn kết

và bao quát hơn

Trang 7

Luận văn không giải quyết hết các nội dung liên quan đến bền vững, và cũng không có điều kiện đi vào các lĩnh vực chuyên sâu thuộc về thiết kế xây dựng, sinh học, tài chính

và dự án đầu tư,…

4/ Phương pháp nghiên cứu:để thực hiện đề tài, các phương pháp được áp dụng gồm:

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin : thông qua việc thu thập các thông tin, dữ

liệu, các báo chính thức của các đơn vị quản lý chuyên ngành du lịch từ Trung ương đến địa phương (Tổng cục Du lịch Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, Sở Thương mại và Du lịch Bình Thuận, thành phố HCM và các tỉnh lân cận,…) các cơ quan ban ngành của Bình Thuận ( Sở Văn hoá Thông tin, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Khoa học Công nghệ Môi trường, Cục Thống kê Bình Thuận,…) và các tài liệu lịch sử, địa chí của các vùng đất trong tỉnh,…Ngoài ra còn tham khảo các tài liệu nước ngoài để phân tích, tổng hợp, đối chiếu, chỉnh lý từ đó giúp cho việc xây dựng các giải pháp về phát triển du lịch bền vững của Bình Thuận có tính sát hợp hơn

- Phương pháp khảo sát hiện trạng tại địa bàn Bình Thuận, đến các khu du lịch trọng

điểm để quan sát, thẩm tra và đánh giá sự phân bố khách du lịch, hiện trạng các nguồn tài nguyên du lịch đang được khai thác từ đó có các nhận định đúng đắn về thực trạng hoạt động liên quan

- Các phương pháp khác: như Duy vật biện chứng, suy diễn, logic, hồi quy tương quan

và các phương pháp toán học

5/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :

- Nêu được những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam và thế giới; những tiêu chuẩn và nguyên tắc cũng như đề ra quy trình nhằm phân tích đánh giá hoạt động phát triển du lịch bền vững của một vùng lãnh thổ

- Đúc kết kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của một số nước có điều kiện tự nhiên kinh tế tương đồng với Việt nam thuộc khu vực và trên thế giới, qua đó liên hệ đối chiếu với thực tiễn của Việt Nam nói chung và Bình Thuận nói riêng để làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp cụ thể cho phát triển du lịch bền vững của Bình Thuận

- Đề xuất được các giải pháp theo từng nhóm cụ thể để phát triển du lịch bền vững đến năm 2010 của tỉnh BìnhThuận

Trang 8

6/ Hạn chế của đề tài :

Nội dung du lịch sinh thái gắn bó chặt chẽ với du lịch bền vững Đối với địa bàn Bình Thuận tài nguyên tự nhiên hết sức đa dạng phong phú là tiền đề để hình thành các

loại hình du lịch sinh thái: rừng, biển, sông ngòi, ghềnh thác, ao hồ,… đây là một mãng

nội dung rất rộng lớn mà luận văn chưa có điều kiện đi sâu phân tích để xây dựng thành một phần riêng biệt làm toàn diện hơn cho đề tài

7/ Kết cấu nội dung :

Nội dung luận văn gồm có 3 phần chính, được kết cấu theo 3 chương như sau :

Chương 1: Những cơ sở lý luận và kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững

Chương 2: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận trong

thời gian qua

Chương 3 : Một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2004-2010

*****

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM

VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 LÝ LUẬN TỔNG QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững :

Lý thuyết phát triển bền vững bắt đầu xuất hiện vào thập niên 1980, năm 1987, khái niệm phát triển bền vững chính thức được đưa ra tại Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) nổi tiếng với tên gọi là Uỷ ban Brundtland

Theo định nghĩa Brundtlant thì : “ Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau” Hạn chế của định nghĩa này là

chỉ xoay quanh vấn đề phát triển kinh tế

Tại Hội nghị về Môi trường Toàn cầu RIO-92 và RIO-92+5 các nhà khoa học đã bổ

sung về khái niệm phát triển bền vững : “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa ba hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và

hệ xã hội”

Hệ xã hội

Hệ tự nhiên

Hệ kinh tế

Hệ

xã hội

Phát triển bền vững

Sơ đồ trình bày quan niệm về phát triển bền vững

Triển khai quan niệm này, Jacobs và Sadler (1992) cho rằng phát triển bền vững là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống nói trên, đồng thời họ xác định phát triển bền vững không cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với các hệ khác, hay nói cụ thể hơn thì phát triển bền vững là sự dung hoà tương tác và thoả hiệp giữa 3 hệ thống trên nhằm đưa ra các mục tiêu hẹp hơn cho sự phát triển bền vững

Tuy chưa thể đưa ra được một khái niệm toàn diện về phát triển bền vững, nhưng các nhà nghiên cứu có thể bước đầu tiếp cận nội dung về phát triển bền vững theo hai quan điểm :

Trang 10

+ Quan điểm phát triển kinh tế : “Phát triển bền vững là một quá trình tăng trưởng về kinh tế trên cơ sở đảm bảo sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên tự nhiên, có cân nhắc đến việc bảo vệ môi trường sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và của các thế hệ tiếp sau”

+ Quan điểm môi trường và tài nguyên : “Phát triển bền vững là hoạt động khai thác

và sử dụng và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên (tái tạo và không tái tạo) đảm bảo duy trì khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ, trong đó có cân nhắc đến việc bảo vệ môi trường và duy trì tính đa dạng sinh học”

1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến phát triển du lịch bền vững

* Quan niệm về du lịch bền vững trên thế giới:

Việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế trong thời gian trước đây đã cho thấy thiếu tính bền vững, đang đe doạ huỷ hoại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đến các nền văn hoá bản địa Lâu dài, hậu quả này sẽ lại ảnh hưởng đến bản thân

sự phát triển của ngành du lịch Chính vì vậy, từ đầu thập niên 1990 các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu và đưa ra khái niệm “phát triển du lịch bền vững”nhằm khuyến cáo và tiến đến hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch, bảo đảm sự phát triển lâu dài Một số loại hình du lịch bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường đã bắt đầu xuất hiện như : “Du lịch sinh thái”, “Du lịch gắn với thiên nhiên”; “Du lịch khám phá”; “Du lịch thay thế”; “Du lịch mạo hiểm”…đã góp phần nâng cao hình ảnh về một loại hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững

Hiện nay trong quá trình thống nhất về nhận thức, quan niệm về phát triển du lịch bền

vững vẫn còn những bất đồng, đặc biệt giữa những người coi phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo nguyên tắc chính là bảo tồn tài nguyên môi trường và văn hoá với

những người xem nguyên tắc hàng đầu của phát triển du lịch bền vững là sự tăng trưởng về kinh tế do du lịch mang lại Những người coi du lịch chủ yếu là lợi nhuận thì

cho rằng : Du lịch bền vững là quá trình hoạt động du lịch mà ở đó có thể duy trì được

sự phát triển trong một thời gian, giai đoạn không xác định Tuy nhiên, quan niệm này

đã gặp phải sự chỉ trích, phê phán mạnh mẽ của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu về tài nguyên và môi trường

Trang 11

Hiện nay đa số các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: “Du lịch bền vững được hiểu là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”

Năm 1992 tại Rio de Janeiro, Trong Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp quốc, Tổ chức Du lịch Thế giới – WTO đã đưa ra định nghĩa mang tính hệ thống

hơn: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”

* Quan niệm về phát triển du lịch bền vững đối với Việt nam :

Ở nước ta, quan điểm “phát triển bền vững” được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng cường kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải tạo môi trường”

Khái niệm về du lịch bền vững còn khá mới mẽ Đã có nhiều cuộc hội thảo quốc gia

về du lịch sinh thái, du lịch bền vững được tổ chức tại Việt Nam, nhưng vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất Hiện nay, một số các nhà nghiên cứu về du lịch sinh

thái ở Việt nam đều cho rằng: “Du lịch bền vững là du lịch có trách nhịêm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết của cộng đồng” được xem như là loại

hình du lịch sinh thái

Các khái niệm này chưa rõ ràng, vì du lịch sinh thái chỉ là một khía cạnh của du lịch bền vững, du lịch bền vững bao hàm nhiều đặc điểm: vừa bảo đảm bền vững vừa môi trường, kinh tế, văn hoá và xã hội, đồng thời tạo ra một sự cân bằng tổng thể tích cực về các lĩnh vực trên Nếu so với số loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch văn hoá,…thì du lịch bền vững là sự tổng hợp đầy đủ nhất các loại hình

Trang 12

du lịch đó Một điểm quan trọng trong nội dung của du lịch bền vững là kết hợp được các thực tiễn về môi trường, văn hoá, xã hội và kinh tế

* Sản phẩm du lịch bền vững :

- Sản phẩm du lịch: sản phẩm du lịch là một tổ hợp tất cả các dịch vụ mà khách du lịch

tiêu thụ kể từ lúc họ rời khỏi nhà cho đến lúc trở về Sản phẩm này có thể là trọn gói hoặc là sự ghép lại của nhiều yếu tố vô hình và hữu hình thể hiện qua các hoạt động mà khách du lịch tham gia khi họ đến điểm du lịch

Hai nhà nghiên cứu Jeffries và Jos-Krippendorf cho rằng sản phẩm du lịch của một

quốc gia hay một địa phương sẽ được cấu thành bởi sáu nhóm yếu tố cơ bản gồm : Các

di sản thiên nhiên; tài nguyên thiên nhiên; các di sản nhân tạo; các yếu tố văn hoá tinh thần; hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc; những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch; các chính sách kinh tế - tài chính - xã hội

- Sản phẩm du lịch bền vững : Du lịch bền vững là sự sử dụng các môi trường thiên

nhiên trong kinh doanh hoạt động du lịch sao cho thu được lợi nhuận kinh tế lâu dài, đồng thời tiếp tục bảo vệ được môi trường, phát huy kế thừa những truyền thống của

cộng đồng địa phương Theo như Paul F.J Eagles thì có bốn loại du lịch thiên nhiên

bền vững quen thuộc và trọng điểm như sau :

+ Du lịch sinh thái: bao gồm đi du lịch để khám phá, học hỏi về các môi trường thiên

nhiên

+ Du lịch tham quan nơi hoang dã: là sự giải trí của con người thông qua việc đi du

lịch đến môi trường thiên nhiên hoang sơ, không có sự tácđộng phiền nhiễu của con người

+ Du lịch mạo hiểm: là sự thực hiện có kết quả của cá nhân con người qua những cảm

xúc hồi hộp về môi trường nguy hiểm đang chi phối quanh họ

+ Du lịch cắm trại: đi bằng phương tiện cơ giới, đồng thời đây cũng là những hoạt

động ngoài trời quen thuộc

Sản phẩm du lịch bền vững nhờ có tính độc đáo riêng và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại nên ngày nay nó đã được hầu hết du khách ưa chuộng

Trang 13

1.1.3 Xu hướng phát triển du lịch bền vững và mối quan hệ tổng hoà với phát triển chung của du lịch

Ngày nay, trên phạm vi toàn cầu, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá-xã hội của con người và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ Đặc biệt trong hai thập kỷ trở lại đây, ngành du lịch có tốc độ phát triển chưa từng có, tạo được những giá trị kinh tế và lợi nhuận cao, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới Trước tình hình đó, người ta đã báo động

về một xu hướng phát triển du lịch chỉ với mục tiêu đơn thuần về kinh tế mà không chú

ý đến những vấn đề khác, đặc biệt là sự đe doạ huỷ hoại môi trường sinh thái và đe doạ tàn phá giá trị văn hoá của các dân tộc Xuất phát từ yêu cầu bức xúc này, vấn đề du lịch bền vững được đề cập tới, như một khái niệm mới, thể hiện một đòi hỏi khách quan

và rất gay gắt để đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, vững chắc của ngành kinh tế du lịch trong thời kỳ mới

Xu hướng phát triển của du lịch bền vững không phải là một hiện tượng có tính nhất thời, một hoạt động có tính phong trào mà là một đòi hỏi khách quan của thời đại, có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế-lợi nhuận của bản thân du lịch mà sâu xa hơn còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội, của quốc gia, của cộng đồng – trong quan hệ với việc khai thác tài nguyên và môi trường tự nhiên và văn hoá nhân văn

Sự phát triển của du lịch thường gắn liền với việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn, trong nhiều trường hợp cũng có ý nghĩa đối với các hoạt động kinh tế khác Phát triển du lịch bền vững có mối quan hệ nội hàm với phát triển bền vững, vì cả hai nội dung đều có liên quan đến môi trường Hơn nữa phát triển du lịch và môi trường luôn có mối quan hệ tương hỗ với nhau Môi trường trong du lịch cũng bao hàm ý nghĩa rộng lớn Đó là môi trường tự nhiên, văn hoá, kinh tế, chính trị

và xã hội Vì vậy việc khai thác phải được gắn với việc bảo vệ và phát triển tài nguyên môi trường Muốn du lịch phát triển thì cần một môi trường thuận lợi với nguồn tài nguyên phong phú, vì đây không chỉ là yếu tố tạo nên sản phẩm du lịch mà còn góp phần nâng cao chất lượng và làm nên tính đa dạng của sản phẩm du lịch

Trang 14

Phát triển du lịch mà không tính đến việc khai thác hợp lý, đến việc bảo vệ, quản lý và tôn tạo các tài nguyên tự nhiên và văn hoá thì bản thân du lịch sẽ không thể phát triển bền vững và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của xã hội

1.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

Có 9 nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững cụ thể như sau:

1.2.1 Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của các loại sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước, các rạn san hô,…và khả năng bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Điều này cũng có nghĩa là tài nguyên và môi trường du lịch cần được hiểu đó không phải là “hàng hoá cho không” mà phải được hạch toán ở chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có được nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp môi trường

1.2.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải

từ hoạt động du lịch sẽ góp phần gia tăng sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là

sự phát triển không bền vững của ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung

Tuy nhiên, sự suy thoái môi trường không chỉ do nguyên nhân từ hoạt động du lịch

mà còn có thể do nhiều nguyên nhân khác Ở những khu vực có sự phát triển đồng thời của nhiều ngành kinh tế thì hoạt động du lịch chỉ là một trong nhiều hoạt động có tác động đến môi trường.(ví dụ ở sự xuống cấp của môi trường biển ở Mũi Né- Phan thiết

có nguyên nhân do sự mở rộng dân cư, hoạt động khai thác-chế biến thuỷ sản)

Khai thác hoạt động du lịch cần lưu ý, ở những nơi mà hoạt động du lịch là chủ yếu

thì việc hạn chế sự tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi những tổn hại về môi trường trong tương lai và góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch

Trang 15

1.2.3 Phát triển phải gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo

nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Nơi nào có tính đa dạng cao về tự nhiên, văn hoá và xã hội, nơi đó có khả năng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường tính đa dạng thiên nhiên văn hoá và xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch Trong thực tế cho thấy, nếu phát triển du lịch đúng nguyên tắc thì bảo đảm hoạt động du lịch sẽ là động lực góp phần tích cực duy trì sự đa dạng của thiên nhiên

Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá bằng việc khích lệ các hoạt động văn hoá dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẽ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá…Du lịch còn tạo thêm công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hoá xã hội

1.2.4 Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có mối quan hệ liên ngành, liên vùng cao vì vậy

mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm làm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của

du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường

1.2.5 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương

Để phát triển kinh tế xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng việc khai thác

các tiềm năng tài nguyên là điều tất yếu Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế chung và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này thúc ép cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình suy kiệt tài nguyên và gây tổn hại đến môi trường sinh

Trang 16

thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vũng của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung Chính vì vậy việc chia

sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển du lịch bền vững

1.2.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ giúp họ

tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với tài nguyên, môi trường du lịch, cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Điều này rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch

Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch

Hoạt động phát triển du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và văn hoá cho cộng đồng, song ngược lại sự tham gia thực sự của cộng đồng sẽ làm phong phú thêm tài nguyên và sản phẩm du lịch Hơn thế nữa khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên

và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch, sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du lịch như chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn du khách, cho thuê nhà để ở, nấu

ăn cho khách, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm.v.v…

1.2.7 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường

Đối với bất kỳ hoạt động phát triển nào con người luôn đóng vai trò quyết định Một

lực lượng lao động được đào tạo có trình độ nghiệp vụ không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Sự phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ những người thực hiện không chỉ trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc bảo vệ phát triển tài nguyên và môi trường

Trang 17

Đưa nhận thức về quản lý môi trường vào chương trình đào tạo của ngành du lịch sẽ đảm bảo cho việc thực hiện những chính sách và luật pháp về môi trường tại các cơ sở

du lịch

Một nhân viên được trang bị tốt những kiến thức về môi trường, văn hoá sẽ có thể làm cho du khách có ý thức trách nhiệm và nhận thức đúng về môi trường, về những giá trị văn hoá truyền thống Điều này sẽ góp phần tích cực vào vịệc bảo đảm cho sự phát triển bền vững về du lịch

1.2.8 Tăng cường quảng cáo tiếp thị một cách có trách nhiệm

Quảng cáo tiếp thị luôn là một hoạt động không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động du

lịch nào, đảm bảo thu hút khách tham gia, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch Chiến lược quảng cáo, tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định đánh giá về khả năng đáp ứng của các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cũng như việc cân đối các sản phẩm du lịch cụ thể

Hoạt động quảng cáo tiếp thị thiếu trách nhiệm sẽ tạo cho khách những hy vọng không thực tế do thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến sự thất vọng của du khách về các sản phẩm du lịch được đưa ra phục vụ Kết quả của hoạt động này sẽ là thái độ tẩy chay của du khách đối với cộng đồng và những sản phẩm du lịch của địa phương ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của du lịch Việc quảng cáo, tiếp thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hoá và xã hội và các giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thoả mãn của khách đối với các sản phẩm du lịch Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách, đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch

1.2.9 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa

trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Hơn thế nữa, trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những tác động cần phải nghiên cứu để có những giải pháp phù hợp điều chỉnh sự phát triển Như vậy việc thường xuyên cập nhật những thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là cần thiết, không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền

Trang 18

vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường …

Tóm lại những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện đầy đủ sẽ đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch, phát triển bền vững chính

là chìa khoá cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch

1.3 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

Hệ thống du lịch được xem là một tổng thể các yếu tố tự nhiên, văn hoá, kinh tế,

chính trị và xã hội Trong quá trình vận hành của hệ thống nếu các yếu tố này được sắp xếp hợp lý, tạo được sự tác động tương hỗ một cách hài hoà, đáp ứng yêu cầu đặt ra của các bộ phận trong tổng thể lúc đó hệ thống được đánh giá là bền vững Ngược lại chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của các bộ phận trong hệ thống thì sẽ làm thay đổi toàn bộ Do

hệ thống du lịch mang tính chất phức hợp và đa ngành nên rất nhạy cảm trước những thay đổi của môi trường, và nó không được xem là hệ thống ổn định vì nó chứa những yếu tố bất định và không tiên đoán được chính xác Hệ thống du lịch là một phần của hệ thống kinh tế, do đó sự vận động của nó là cũng không ngoài mục tiêu kinh tế như: khả năng sinh lợi, doanh thu, khoản nộp ngân sách, thị phần chiếm lĩnh, khả năng cạnh tranh…Hệ thống du lịch có mối liên hệ cấu tạo từ tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, nên trong quá trình vận hành nó có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống sinh thái –xã hội, đồng thời phát sinh mâu thuẩn gay gắt đó là: hướng đến khai thác tối đa các nguồn tài nguyên để thu được lợi nhuận làm suy giảm khả năng cung cấp và tái tạo của hệ thống tài nguyên tự nhiên và nhân văn

Căn cứ vào việc đúc kết những nguyên tắc cụ thể để đảm bảo phát triển du lịch bền vững ở mục 1.2, có thể tổng lược quy trình phân tích đánh giá tính bền vững của hệ thống du lịch theo ba nội dung cơ bản như sau :

1.3.1 Đánh giá dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn

Thực hiện đánh giá gồm phân tích đánh giá các tiềm năng phục vụ du lịch, đánh giá thực trạng khai thác và các chính sách quản lý khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên

và nhân văn

Trang 19

1.3.2 Đánh giá dựa vào hiện trạng môi trường hoạt động du lịch

Đánh giá về môi trường tự nhiên- kinh tế-xã hội, môi trường văn hoá, môi trường quốc tế, môi trường an ninh chính trị, môi trường cạnh tranh nội bộ, cạnh tranh khu vực

và quốc tế…

1.3.3 Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của ngành du lịch

Thực hiện đánh giá dựa trên các nội dung: đánh giá tình hình kinh doanh dịch vụ du lịch; Tình hình nộp ngân sách; Quy mô đầu tư và cơ cấu đầu tư; Tình hình nhịp độ tăng trưởng du khách trên các thị trường, Các tác động mang lại cho hoạt động du lịch.( tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường,…)

Đây là những quy trình chính được dùng để đánh giá tính bền vững cũng như căn cứ

để đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong các chương sau

1.4 VAI TRÒ CỦA DU LỊCH BỀN VỮNG TRONG NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY

Du lịch ngày càng trở thành một ngành kinh tế đang phát triển mạnh ở nước ta, có

nhiều tiềm năng và đang từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Yêu cầu cao nhất của sự phát triển du lịch là phát triển du lịch bền vững Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng phát triển du lịch bền vững là mấu chốt của sự thành công

Do mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường là một trong những mối quan hệ phức tạp nhất trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển bền vững, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đang hướng về xu hướng toàn cầu hoá Việc tìm ra một tập hợp các biện pháp nhằm sử dụng, quản lý duy trì và tái tạo các nguồn tài nguyên tự nhiên một cách hiệu quả, giúp cho cuộc sống của con người và tự nhiên được hài hoà và cân bằng trong tổng thể phát triển Đây là yếu tố hết sức quan trọng vì :

- Du lịch bền vững mang tính chất giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng đồng dân cư sở tại

- Phát triển du lịch theo hướng bền vững làm giảm thiểu sự nghèo đói và ngăn ngừa sự suy thoái môi trường trong hiện tại và tương lai

Trang 20

- Là phương thức nâng cao sức khoẻ, cải thiện chế độ phúc lợi xã hội Nếu không phát triển bền vững thì tương lai cuộc sống của họ sẽ gặp bế tắt do các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt

- Đây cũng là một trong những biện pháp để trực tiếp cứu lấy thiên nhiên, và như vậy

sẽ cứu lấy con người một cách gián tiếp Điều này cũng là nền tảng căn bản cho một nhận thức mới về lối sống hướng đến tương lai bền vững

- Du lịch bền vững, tạo ra những sản phẩm có sức thu hút ngày càng lớn, đem lại cho

du khách những chuyến du lịch với chất lượng và hiệu quả cao Đây cũng là một định hướng đầy triển vọng đồng thời cũng khẳng định vị trí của ngành du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế chung của đất nước

- Du lịch bền vững còn là chất xúc tác trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị giữa các nước trong khu vực và bạn bè trên khắp thế giới Điều này sẽ tạo điều kiện cho lượng khách ngày càng tăng và như thế sẽ thu hút nhiều dự án đầu tư của nước ngoài Như vậy phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay và nền kinh

tế tri thức là phương thức giúp con người phát triển cân bằng và toàn diện Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước mà còn phù hợp ý nghĩa thực tiễn của việc quy hoạch phát triển bền vững đối với các hoạt động du lịch, góp phần làm hạn chế các hoạt động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường và cảnh

quan sinh thái

1.5 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Việt Nam có tốc độ tăng trưởng du lịch ở mức cao nhưng lại đi kèm với sự phát sinh

các tác động tiêu cực Để có thể phát triển du lịch một cách hài hoà, bền vững và ngăn chặn kịp thời những tác động tiêu cực thì sự nghiên cứu, tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nước về phát triển du lịch bền vững bao gồm các chính sách du lịch bền vững, các kinh nghiệm thành công về phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ khai thác tài nguyên, giữ gìn bảo vệ môi trường, bảo vệ các giá trị văn hoá gắn với mối quan hệ cộng đồng, đồng thời cũng cần chú trọng nghiên cứu một số mô hình đã được xây dựng và áp dụng có hiệu qủa về phát triển du lịch bền vững ở một số nước Đây là một viêc làm hết sức cần thiết, giúp giảm thiểu những tổn thất các nguồn lực xã hội, do

Trang 21

chủ quan trong quá trình quản lý hoạt động du lịch gây ra Kinh nghiệm của các nước

có thể kể đến là :

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Trung Quốc trong cuối thập niên 1990 đã nỗi lên như một quốc gia có tốc độ tăng

trưởng du lịch hàng đầu thế giới Ngành du lịch Trung Quốc đã có bước phát triển nhảy vọt, những kết quả khả quan đạt được là nhờ ngành du lịch Trung Quốc đã có quá trình định hướng chiến lược phát triển trong 20 năm qua Nếu nghiên cứu kỹ, có thể thấy ngành du lịch Trung Quốc đã chọn cho mình một hướng đi đúng Đó là sự nâng cao chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế, thủ tục hành chính gọn nhẹ, giao thông thuận lợi, giá cả hợp lý, sản phẩm du lịch theo chuyên đề rất đa dạng Đặc biệt trong thập kỷ gần đây Chính phủ Trung quốc đã chú trọng đến việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển du lịch bền vững, thông qua các hoạt động cụ thể như xây dựng các quy hoạch tổng thể về du lịch; quản lý phát triển du lịch bền vững bao gồm công tác chỉ đạo, điều phối và kiểm soát, nhằm gắn kết các nguồn lực dành cho xây dựng và thực hiện các chính sách du lịch quốc gia Thúc đẩy và tạo điều kiện thu hút nhiều sự tham gia của khu vực tư nhân và sự hợp tác giữa khu vực nhà nước với các thành phần kinh tế khác

Du lịch xanh là một chủ đề chính của du lịch Trung Quốc, được ra đời từ năm 1999,

từ đó, Chính phủ đã không ngừng quan tâm bảo vệ môi trường Họ đã tổ chức các hội thảo về phát triển du lịch bền vững; về quản lý và phát triển du lịch sinh thái của từng địa phương; xây dựng và truyền bá những thuận lợi của tiện nghi du lịch…Kết quả của những hội thảo ấy là hướng Trung Quốc đi vào việc phát triển du lịch sinh thái và xem đây là một trong những cách tác động trực tiếp và tích cực đến việc phát triển bền vững Vào thời điểm năm 2000, Trung Quốc đã bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 10 Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sử dụng công nghệ tạo ra những sản phẩm sạch và xanh, thu hồi chất phế thải, đồng thời Chính phủ đã xây dựng và quản lý sâu rộng hệ thống xanh của đất nước Họ cố gắng hướng du lịch trở thành một bộ phận không thể thiếu và có mối quan hệ bền chặt với môi trường Những định hướng và hoạch định kế hoạch thực hiện của Trung Quốc nêu trên là những kinh nghiệm quý báu cho chúng ta tham khảo

Trang 22

1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan

Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Thái Lan là một nơi thu hút khách du

lịch nhiều nhất chỉ đứng sau Trung Quốc và Malaysia Thành công mang lại ngoài những lợi thế về tài nguyên du lịch và môi trường hiện có, còn phải kể đến các chính sách, chiến lược phát triển bền vững của quốc gia mà Chính phủ Thái Lan đã áp dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả

Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan giai đoạn 1997-2003, quốc gia này

đã tập trung vào hai hướng ưu tiên chính là bảo vệ, bảo tồn các nguồn tài nguyên và tài sản du lịch phục vụ phát triển bền vững lâu dài và để thế giới công nhận là một điểm du lịch nổi tiếng nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của nền văn hoá Thái Lan Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT) hỗ trợ các cộng đồng bản địa trong việc duy trì sức hấp dẫn của các điểm tham quan du lịch TAT đã xây dựng các quy hoạch tổng thể và hỗ trợ về kỹ thuật, trong một số trường hợp còn hỗ trợ về tài chính nhằm giúp các địa phương phát triển du lịch Chính phủ Thái Lan đã có nhiều sáng kiến độc đáo và sáng tạo, triển khai những chương trình phát triển du lịch bền vững có chất lượng như

“chương trình loại trừ tác động của xã hội” TAT còn phối hợp với Cục Bảo tồn Rừng

và các cơ quan liên quan ở địa phương triển khai 13 dự án giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức cho lãnh đạo và nhân dân địa phương về giá trị của các di sản thiên nhiên và văn hoá cũng như lối sống của họ

Cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan (TAT) đã khuyến cáo và đưa ra 8 biện pháp bảo

vệ môi trường thiên nhiên của các khu du lịch gồm:

- Hạn chế số lượng khách du lịch trên cơ sở sức chứa của khu du lịch

- Có biện pháp quản lý sự ra vào các khu bảo tồn

- Giảm lượng chất thải và nâng cao mức độ trong sạch

- Huy động vốn đóng góp

- Thành lập trung tâm điều phối

- Quản lý chất lượng dịch vụ

- Phân chia khu vực

- Ký hiệu chỉ dẫn thông tin chi tiết rõ ràng tại các địa điểm

Điển hình tại vườn quốc gia Khao Yai, là vườn quốc gia lớn nhất ở Thái Lan, nằm gần thủ đô Bangkok thu hút số lượng lớn du khách đến vì mục đích tham quan cảnh

Trang 23

quan thiên nhiên, xem các loài động thực vật hoang dã, đi bộ, leo núi, cắm trại Ban quản lý vườn quốc gia có nguồn thu từ lệ phí vào cửa và từ kinh doanh một số cơ sở lưu trú, hoặc thu các phí đặc biệt do cấp phép kinh doanh cho 4 nhà hàng trong địa phận của vườn Hoạt động du lịch sinh thái, du lịch hướng về thiên nhiên ở Khao Yai đã đem lợi ích kinh tế mà vẫn duy trì bảo tồn được tài nguyên do lượng khách đến vẫn tăng lên nhưng chỉ được phép đến tham quan 10 % diện tích khu vực

Tại Thái Lan các hoạt động đã được tiến hành nhằm giữ gìn vệ sinh môi trường, giữ

gìn kiến trúc truyền thống và áp dụng tiêu chuẩn “lá xanh” để đánh giá việc bảo vệ môi

trường sinh thái đối với các khách sạn

Đối với hoạt động phát triển du lịch sinh thái văn hoá tại Thái Lan, Chính phủ và các

cơ quan hữu quan đã bắt đầu phát động một phong trào nhằm khôi phục lại giá trị nguyên bản của văn hoá và đất nước Thái Lan Trung tâm của phong trào là phát triển

du lịch sinh thái, gắn du lịch với bảo vệ môi trường, cảnh quan và các giá trị truyền thống của đất nước Chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu làng mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối và giảm tiếng ồn, gìn giữ phong cách kiến trúc Thái Lan

Trong mối quan hệ của cộng đồng với sự nghiệp phát triển du lịch sinh thái Thái lan

đã thông qua hiến pháp mới nhằm công nhận sự tham gia của người dân địa phương vào việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và trực tiếp khuyến khích người dân địa phương tìm các phương thức để quản lý các nguồn lực của mình vì lợi ích phát triển của cộng đồng, điều này tạo cơ sở cho người dân địa phương tham gia vào sự phát triển

du lịch để phát triển cộng đồng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

1.5.3 Kinh nghiệm của Philippines :

Philippines là quốc gia có đặc điểm lãnh thổ phân bố thành quần đảo rộng lớn, đia

hình phong phú, đa dạng và bị chia cắt bởi nhiều núi non, là một quốc gia có lợi thế về cảnh quan biển đảo thơ mộng nên Philippines đã tận dụng được lợi thế này để phát triển các loại hình du lịch sinh thái biển Vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong chiến lưọc phát triển du lịch cho từng vùng cụ thể của quốc gia này, nhưng những kinh nghiệm thành công của ngành du lịch Philippines cũng cần cho các nước có điều kiện phát triển tương

đồng tham khảo Về thành công, đó là Chính phủ chủ trương đẩy mạnh “ phát triển du lịch bền vững trên quan điểm bảo vệ môi trường” Ngoài ra Chính phủ Philippines còn

Trang 24

quan tâm đầu tư xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên quanh những vùng núi cao, thêm vào đó là những nơi tập trung các loại thú hoang dã quý hiếm; các hải đảo đều được quy hoạch rõ ràng và được bao phủ bởi những thảm xanh của các vườn cây ăn trái Bên cạnh đó để phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phục vụ cho hoạt động du lịch, Chính phủ còn tiến hành các chương trình phục hồi các di sản văn hoá và lịch sử nhằm thông qua việc phát triển hoạt động du lịch bền vững với các sản phẩm du lịch văn hoá bền vững đặc hữu Điển hình là việc quy hoạch khu du lịch thị trấn Vigan, định hướng quy hoạch được xây dựng với mục tiêu tăng trưởng gắn bó mật thiết với việc phục hồi lại các di sản văn hoá và lịch sử Bộ Du lịch Philippines đã ban hành một loạt các bộ luật mang nội dung bảo tồn các địa danh văn hoá lịch sử có giá trị cho phát triển du lịch, xác định rõ Vigan là điểm du lịch văn hoá quan trọng Hoạt động

du lịch ở đây không chỉ góp phần bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của Vigan phục vụ cho mục đích phát triển bền vững, mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào việc phục hồi và tái phát triển các ngành công nghiệp và ngành nghề thủ công truyền thống trong khu vực như sản xuất gốm sứ (Burnay), gạch Vigan cổ, dệt thủ công, nghề nhuộm vải…

Ngoài ra, Chính phủ ban hành chính sách kêu gọi tư nhân hợp tác với chính phủ nhằm đảm trách các vấn đề về vệ sinh và quản lý môi trường Song song với hoạt động này, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được tiến hành rộng rãi Các khoá đào tạo dài hạn, ngắn hạn được tổ chức thường xuyên, tài liệu được in ấn gồm nhiều hình ảnh đẹp, minh hoạ rõ và có tính giáo dục cao, được phát miễn phí có tác dụng khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường trong lòng mỗi người dân Đây có thể nói là những nhân tố góp phần thúc đẩy ngành du lịch của Philippines tăng trưởng nhanh trong các năm qua

1.5.4 Kinh nghiệm của Australia :

Để định hướng và quản lý hoạt động ngành du lịch, Chính phủ Australia chủ động

đóng góp và sự nghiệp phát triển du lịch thông qua đầu tư vào các dự án phục vụ cho phát triển du lịch bền vững, thiết lập các mối liên kết và mạng lưới hoạt động mang tính chiến lược giữa các ngành và chính phủ, cung cấp thông tin, phát triển công tác đào tạo

và giáo dục nhận thức trong ngành du lịch và các cơ quan khác thuộc Chính phủ Đúc kết từ những dự án đã thực hiện, Chính phủ chỉ đạo tập trung vào các lĩnh vực :

Trang 25

- Giám sát chặt chẽ và hạn chế tác động của khách du lịch đối với các nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt trong các mùa cao điểm

- Tổ chức các khoá đào tạo cho cán bộ quản lý, điều hành hoạt động du lịch, cung cấp các tài liệu phục vụ công tác tự nghiên cứu…

- Thiết lập hệ thống sử dụng các nguồn tài nguyên và xử lý chất thải hiệu quả, và huấn luyện đội ngũ làm công tác bảo dưỡng các thiết bị xử lý chất thải

- Cần có sự tham gia của cộng đồng bản địa vào quá trình phát triển du lịch

Ngoài ra, Chính phủ Australia còn quan tâm đặt ra các vấn đề cơ bản đối với phát triển du lịch bền vững có liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các nội dung đề cập gồm :

+ Giáo dục nội dung hoạt động du lịch sinh thái

+ Quan tâm đến sự công bằng

* Kinh nghiệm xây dựng các chính sách về du lịch sinh thái của Australia :

Được sự trợ giúp và tư vấn của chuyên gia quốc tế, năm 1992, Chính phủ Australia kịp thời ban hành các văn kiện hỗ trợ cho hoạt động phát triển du lịch bền vững Ba văn kiện về du lịch được Chính phủ Australia và Hiệp hội Lữ hành Châu Á-Thái Bình Dương (PATA) phối hợp soạn thảo và ban hành đó là:

+ Chiến lược Du lịch quốc gia

+ Chiến lược quốc gia về phát triển bền vững sinh thái

+ Du lịch bản địa - Ngành công nghiệp sinh lợi trong một môi trường bền vững

Ba văn kiện này có tác dụng rất lớn trong việc đồng thời đặt nền tảng cho việc xây

dựng Chiến lược du lịch sinh thái quốc gia cũng như đóng góp cho việc hình thành mục

tiêu phát triển bền vững với các địa phương, của ngành du lịch quốc gia theo hướng phát triển hoạt động gắn với cộng đồng trong việc bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên

thiên nhiên phục vụ du lịch

Trang 26

1.5.5 Kinh nghiệm của Indonesia :

Giống như Philippines, Indonesia là một quốc gia với quần đảo rộng lớn, rừng nhiệt

đới có diện tích lớn nhất so với các nước Đông Nam Á, Indonesia có nhiền thiên đường biển đảo đẹp, nỗi tiếng trên thế giới Chính phủ Indonesia đã sớm đề ra chiến lược du lịch định hướng thiên nhiên, bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc hướng tới phát triển du lịch bền vững

Chính phủ Indonesia đã xây dựng thành công nhiều mô hình du lịch sinh thái, nỗi tiếng và thành công hơn cả phải kể đến mô hình phát triển du lịch bền vững Bali

* Bài học kinh nghiệm từ việc xây dựng mô hình du lịch Bali:

Năm 1990, dưới sự hỗ trợ của tổ chức UNDP, dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch

được xây dựng, và được Chính phủ thông qua

Mô hình du lịch được định hướng và xác lập với các đặc điểm :

Dự án phát triển du lịch bền vững của Bali nhằm quản lý du lịch và quy hoạch phát triển toàn diện Quy hoạch nhằm tạo ra sự phát triển cân bằng, đã tập trung định hướng thành 16 vùng hiện có, đồng thời bổ sung các vùng mới, vùng biển, đất liền Ở 16 vùng được chia làm ba loại chính: vùng biển phía Nam Bali, các vùng biển khác, vùng đất liền Ba loại vùng được phân biệt về cơ bản theo các đặc trưng: tài nguyên thiên nhiên, cường độ phát triển, các loại hoạt động, đặc điểm nguồn khách Mỗi vùng đều có chính sách phát triển khác nhau dựa trên đặc trưng cơ bản

Dự án bao gồm ba đặc điểm và bảy tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững gồm: + Ba đặc điểm :

™ Duy trì các nguồn tài nguyên sản xuất

™ Giữ vững bản chất văn hoá và sự cân bằng trong văn hoá

™ Phát triển là một quá trình tăng chất lượng cuộc sống

+ Bảy tiêu chuẩn đánh gía:

Trang 27

™ Phát triển

Dự án du lịch Bali hội đủ các cơ hội phát triển bền vững:

Nền văn hoá đặc sắc, giàu bản sắc, nhiều đền chùa, các điệu nhảy, âm nhạc, nghệ thuật truyền thống

Môi trường tự nhiên phong phú và đa dạng

Môi trường cuộc sống hấp dẫn, sống động

Các hoạt động thúc đẩy du lịch

Dự án cũng đứng trước những thách thức :

Phải hòa giải mâu thuẫn giữa ưu tiên quốc gia và ưu tiên địa phương

Phải giải quyết cácvấn đề mất cân đối trong vùng thông qua đa dạng các loại hình, quy mô phát triển du lịch một cách thích hợp

Phải tăng cường liên kết tích cực giữa du lịch và các thành phần kinh tế khác, quản

lý sự cạnh tranh giữa các ngành trong việc sử dụng nguồn tài nguyên, đảm bảo thu lợi

và phân phối đồng đều trong cộng đồng

Phải đảm bảo chất lượng môi trường tự nhiên được duy trì, giải quyết các vấn đề xói mòn biển, cung cấp và chất lượng nguồn nước, cung cấp năng lượng và xử lý chất thải, sự thay đổi của đất, sự phá huỷ rừng

Phải tính toán, theo dõi các quản lý các chuyển biến về văn hoá xã hội

Phải nâng cấp cơ sở hạ tầng

Phải cân bằng giữa nhu cầu của khách và dân địa phương

Các chính sách làm cơ sở cho phát triển du lịch:

Có bốn yếu tố cơ bản để xác định các loại hình du lịch thích hợp cho Bali:

Loại hình thu hút : văn hoá, tự nhiên và giải trí

Sự phân bổ giữa đất liền và bờ biển

Các đặc điểm của vùng: có ba loại tiềm năng du lịch khác nhau là điểm, tuyến, phạm vi rộng

Thực trạng phát triển: phát triển nhanh, phát triển và kém phát triển

Chính phủ Indonesia đã thực hiện quy hoạch phát triển bền vững toàn vùng Bali rồi mới quy hoạch bền vững chi tiết ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất từ vùng đến địa phương

Trang 28

Với nỗ lực của Chính phủ và sự hưởng ứng hỗ trợ của cộng đồng sở tại, dự án du lịch bền vững Bali được các chuyên gia du lịch quốc tế đánh giá là một trong những dự án

du lịch bền vững tốt và thành công nhất trong khu vực Bali hiện trở thành một trung tâm du lịch nhộn nhịp hàng đầu ở Đông Nam Á, hàng năm mang về cho Indonesia một lượng ngoại tệ đáng kể từ du lịch, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế quốc gia

Do với vai trò quan trọng như vậy nên Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Thuận nói riêng cần phấn đấu trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn và bền vững trong tổng hoà thiên nhiên - nhân văn và kinh tế

Để hướng đến mục tiêu như vậy, trong chương 1 luận văn tập trung làm rõ những nội dung về phát triển bền vững, đặc biệt đi sâu phân tích nội dung về phát triển du lịch bền vững Đồng thời cũng cố gắng đúc kết, nêu lên những kinh nghiệm thực tiễn của các nước đã triển khai thành công cũng như không thành công từ các mô hình về phát triển du lịch bền vững Để từ đó có cơ sở xem xét và cân nhắc những bước đi của hoạt động du lịch đối với ngành du lịch cả nước và của tỉnh Bình Thuận theo định hướng phát triển bền vững Ngoài ra đây còn là nền tảng cần thiết cho việc phân tích thực trạng hoạt động du lịch của Bình Thuận theo hướng phát triển bền vững được đề cập ở chương 2, làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp ở chương 3

Trang 29

CHƯƠNG 2

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH THUẬN 2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên - kinh tế- xã hội tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là tỉnh ở khu vực duyên hải cực Nam Trung bộ, nằm vào vùng kinh tế

Đông Nam bộ, có diện tích tự nhiên 7.854 km2 Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, Tây giáp Đồng Nai, Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng tàu, Đông giáp biển Đơn vị hành chính gồm thành phố Phan Thiết và 7 huyện : Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh và huyện đảo Phú Quý cách đất liền khoảng 120 km

Dân số toàn tỉnh theo thống kê năm 2002 là 1.114.800 người tương ứng với mật độ dân số là 142 người /km2

Bình Thuận nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200km, cách thành phố Đà Lạt 135

km, cách thành phố Nha Trang 250 km Chạy qua địa phận của tỉnh có các trục giao thông quan trọng như : quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt, quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết với thành phố Đà Lạt và các tỉnh Nam Tây nguyên, quốc lộ 55 nối liền Thành phố Vũng Tàu với các vùng ven biển Bình Thuận

Đối với đường thuỷ Bình Thuận còn nằm gần đường hàng hải quốc tế, riêng địa bàn đảo Phú Quý là một nút giao thông quan trọng trong hệ thống hàng hải quốc gia và quốc tế

Bên cạnh đó, với chiều dài 192 km bờ biển, có nhiều eo vịnh, hải đảo ven bờ, đa dạng về địa hình, ngoài ra còn phải kể đến những cảnh quan, môi trường biển sạch đẹp đang là những nhân tố tích cực góp phần cho việc phát triển ngành du lịch của tỉnh Một dạng tiềm năng đáng giá khác mà Bình Thuận có được là tài nguyên nhân văn Toàn tỉnh hiện có 26 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đông nhất phải kể đến người Chăm ( 29.000 người, chiếm hơn 60% dân số người Chăm của cả nước) Bình Thuận là địa bàn sinh sống lâu đời của người Chăm, cùng với những đặc điểm độc đáo, đa dạng

về văn hoá-kiến trúc trong quá trình phát triển xã hội tộc người đã mang lại những di sản nhân văn độc đáo làm phong phú thêm tiềm năng du lịch của tỉnh Bình Thuận

Trang 30

Với vị trí và các ưu thế về tài nguyên thiên nhiên-nhân văn nêu trên, lại nằm trong tam giác phát triển du lịch là: Thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt - Nha Trang Bên cạnh

đó với mối quan hệ truyền thống vốn có từ trước với địa bàn trọng điểm kinh tế phía Nam, tâm điểm là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận sẽ có điều kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh lân cận, vùng Nam Tây nguyên và của

cả nước Những lợi thế về phát triển kinh tế toàn diện như trên sẽ tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để Bình Thuận xây dựng thành công một ngành du lịch phát triển theo hướng bền vững, một ngành kinh tế mũi nhọn tạo động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển toàn diện

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1991-2003

Toàn cảnh về hoạt động du lịch Bình Thuận trong thời kỳ 1991- 2003, có thể ghi nhận như sau :

* Lượng du khách đến địa bàn tỉnh Bình Thuận

Dựa vào các sự kiện xãy ra tại địa phương đã thu hút khách du lịch đến tham quan Tình hình khách du lịch đến địa bàn Bình Thuận thời gian qua có thể chia ra hai giai đoạn: từ 1991-1995 và từ 1996-2003

Giai đoạn 1991-1995: thời kỳ này địa danh Phan Thiết vẫn còn xa lạ đối với nhiều

người, hoạt động du lịch còn mang tinh tự phát, khách du lịch đến Bình Thuận do các tour lữ hành từ thành phố Hồ Chí Minh đưa đến, hoặc các du khách tự tổ chức, và đi riêng lẽ, chủ yếu là du khách nội địa họ đi hành hương vào các dịp lễ hội (như Chùa Hang, Chùa Núi TàKou, Dinh Thầy Thím,…) một số ít đến nghỉ mát ở các vùng biển trong các kỳ nghỉ…Lượng khách đến Bình Thuận trong giai đoạn này có tốc độ tăng trưởng bình quân 24,5%/năm

Giai đoạn 1996-2003: ảnh hưởng sau sự kiện nhật thực toàn phần, cùng với nhu cầu du

lịch tăng nhanh của khách nội địa, vùng Mũi Né – Phan Thiết nỗi lên như một địa danh

du lịch mới, tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng khách đã tăng nhanh đạt trên 56,5%/năm

+ Khách du lịch quốc tế : Chiếm tỷ trọng khoảng 17% trong tổng lượng du khách đến

Chủ yếu khách quốc tế đến Bình thuận là chuyển tiếp từ địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trong đó chiếm đa số là Châu Âu ( chiếm 54,8% gồm Pháp, Đức, Anh, Hà Lan,…), tiếp đến là khách Châu Á (chiếm 22,7% gồm Nhật, Hàn Quốc, Trung

Trang 31

Quốc,…) còn lại là khách Mỹ, Úc, Việt kiều và các nước khác Các loại hình du lịch

mà khách quốc tế quan tâm đó là nghỉ dưỡng, tham quan tìm hiểu văn hoá địa phương Tốc độ gia tăng bình quân của khách du lịch quốc tế giai đoạn 1 là 19,10% và giai đoạn 2 là 43,71% Với tốc độ tăng trưởng bình quân như trên cho thấy, mặc dù Bình Thuận còn là địa bàn khá mới mẻ đối với khách quốc tế nhưng càng ngày có sức hấp dẫn lớn đối với du khách, ngay cả trong thời điểm xãy ra khủng hoảng tài chính Châu Á (1997-1998), lượng khách quốc tế vẫn không giảm sút so với nhiều nơi khác

Số lượng khách quốc tế đến Bình Thuận chỉ bằng 1,5% so với khách quốc tế đến Việt Nam và bằng 2,8 % lượng khách đến thành phố Hồ Chí Minh, con số quá nhỏ bé, mặc

dù cự ly từ TP Hồ Chí Minh đến Bình Thuận chỉ có 200km Điều này chứng tỏ việc quảng bá những hình ảnh của Bình Thuận chưa đến được với du khách, và có thể các chương trình marketing du lịch chưa gây được ấn tượng hoặc sản phẩm du lịch chưa

thật sự đáp ứng được nhu cầu của khách quốc tế

Bảng 2.1 : Tình hình khách quốc tế đến Việt Nam, TP Hồ Chí Minh và Bình

Thuận thời kỳ 1991-2003

Khách quốc tế đến Việt Nam Khách quốc tế đến thành phố

Hồ Chí Minh

Khách quốc tế đến Bình Thuận Năm

Số lượng (người) tăng (%) Tốc độ Số lượng (người) tăng (%) Tốc độ Số lượng (người) tăng (%) Tốc độ

(Nguồn : Sở Thương Mại và Du lịch Bình Thuận và Tổng cục Du lịch Việt Nam )

Do đặc điểm khách quốc tế đến Bình thuận hầu hết là khách đi từ thành phố Hồ Chí Minh, dựa vào dãy số liệu của 13 năm từ 1991-2003, đã lập mô hình hồi quy để phân tích tìm mối quan hệ tương quan về định lượng giữa sự biến động của lượng

Trang 32

khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh với lượng khách quốc tế đến Bình Thuận Mô hình được thiết lập dưới dạng hàm tuyến tính như sau :

(Số lượng khách QT đến Bình Thuận ) = β1 + β2 (lượng khách QT đến TP HCM )

Y i = β1 + β2 X i

Sử dụng phần mềm kinh tế lượng EVIEWS và EXCELL cho thấy: hệ số tương quan của mô hình thiết lập R 2 =0,695 ; hệ số thống kê Fisher F = 25,173 (từ bảng

phân tích ANOVA); các hệ số hồi quy β1 = -39047,813 và β2 = 0,0806

Trị số thống kê Student t 2 ứng với hệ số góc β2 là 5,017( đạt mức ý nghĩa thống kê khá mạnh)

Từ các tham số hồi quy và thống kê trên cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê với

độ tin cậy 95% (mức tin cậy α = 5%), biến số về lượng khách quốc tế đến Bình Thuận được giải thích bằng biến số lượng khách đến TPHCM Và mô hình vừa lập

có thể sử dụng để giải thích mối tương quan này

Sử dụng số liệu từ mô hình hồi quy trên, ta có thể giải thích về mối quan hệ định

lượng về sự biến thiên khách quốc tế giữa hai địa bàn như sau : “Trong thời kỳ từ 1991-2003, nếu lượng khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh tăng 1% thì lượng khách quốc tế đến địa bàn Bình Thuận có thể tăng lên 0,081%”

( Xem mô hình chi tiết ở phụ lục số 1 và 2 )

+ Khách du lịch nội địa: Cùng với sự gia tăng khách quốc tế khách du lịch nội địa

cũng gia tăng khá đột biến Lượng khách du lịch nội địa chiếm tỷ trọng từ 82 –83% trong tổng số và có biến động khá lớn : giai đoạn 91-95 tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 25,15%/năm Nhưng đến giai đoạn 1996-2003 thì tốc độ này là 58,10%/năm Tốc độ tăng trưởng này gấp 1,3 lần so với tốc độ gia tăng của khách

quốc tế cùng thời kỳ

Nguồn khách nội địa đến Bình Thuận chủ yếu đến từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ Họ đến với nhiều mục đích khác nhau như tham quan thắng cảnh, nghỉ dưỡng ở môi trường biển, thăm thân nhân, hành hương tại các chùa chiền, miếu mạo, hoặc đến vào các dịp lễ hội Do vậy thị trường khách cũng rất đa dạng Đặc biệt vào các dịp lễ, tết, dịp nghỉ cuối tuần lượng khách đến Bình Thuận

Trang 33

rất đông, dẫn đến tình trạng ách tắt các tuyến giao thông, các khu du lịch và cơ sở nghỉ trọ trở nên quá tải

Để hạn chế hiện tượng này, ngành du lịch tỉnh Bình Thuận cần nhanh chóng quy hoạch, sắp xếp lại các tuyến điểm du lịch, thường xuyên nghiên cứu tổ chức các dịp

lễ hội, các sự kiện du lịch vào các tháng vắng khách, vào dịp đầu tuần, đồng thời cải tạo nâng cấp các khu du lịch hiện có để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nội địa cũng như quốc tế

* Doanh thu :

Cùng với vị thế ngày càng phát triển vững mạnh, Du lịch khẳng định xu thế trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh bên cạnh các ngành có thế mạnh khác như thuỷ sản, nông lâm nghịêp,…Du lịch Bình Thuận đang có bước đi vững chắc thể hiện doanh thu qua các năm đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định Năm

1991 doanh thu bước đầu chỉ đạt 7,054 tỷ đồng, năm 1996 đạt 32,5 tỷ, qua 5 năm doanh thu tăng gấp 4,6 lần Đến năm 2000 doanh thu đạt 122,9 tỷ đồng tăng gẩp 3,78 lần so với năm 1996 Năm 2003 doanh thu du lịch đạt 285 tỷ đồng, tăng gầp 9,3lần so với năm 2000 Như vậy qua thời gian 13 năm tính từ thời điểm 1991 đến nay, doanh thu du lịch của Bình thuận đã tăng gấp 40,5 lần Nếu chỉ tính từ thời điểm 1995 khi ngành du lịch Bình Thuận có những yếu tố đột phá cho đến thời điểm hiện nay thì doanh thu cũng tăng gấp 9,3 lần So sánh về tốc độ tăng bình quân hằng năm của doanh thu du lịch theo từng thời kỳ cho thấy :

+ Thời kỳ 1991-2000 : tốc độ tăng bình quân 37,39 %/năm

+ Thời kỳ 2000-2003 : tốc độ tăng bình quân 32,40 %/năm

Tốc độ tăng bình quân toàn cả hai thời kỳ là 36,1 1% /năm

Bảng 2.2 : Tình hình doanh thu ngành du lịch Bình Thuận thời kỳ 1991-2003

Đơn vị tính : triệu đồng

Trong đó

Năm Tổng

doanh thu ngành du lịch Bình Thuận

Lưu trú Ăn uống Dịch vụ Kinh

doanh tổng hợp

Tốc độ tăng so với năm trước (%)

1991 7.045 453 909 253 5.430 -

1992 8.281 774 2.319 499 4.595 17,54

1993 12.172 1.016 3.453 506 7.197 46,99

1994 14.267 1.548 2.198 - 10.521 17,21

Trang 34

(Nguồn : Sở Thương Mại và Du lịch Bình Thuận )

Cơ cấu tỷ trọng trong doanh thu du lịch đang có chiều hướng chuyển dịch tích cực Doanh thu từ lưu trú trước chỉ chiếm 15% trong tổng doanh thu, hiện nay đã tăng lên 33,32%; doanh thu từ ăn uống trước là 30,4% nay tăng lên 35,1%; doanh thu từ dịch vụ trước là 6,3% nay lên đến 9,22%

Về cơ cấu thành phần kinh tế tham gia trong hoạt động du lịch cũng có sự chuyển biến theo xu thế chung Nếu thời điểm 1994 khu vực kinh tế nhà nước chiếm 100% trong doanh thu, thì hiện nay khu vực nhà nước chỉ còn chiếm 25,16%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 50,1%, còn lại các thành phần kinh tế khác chiếm 24,74%

* Chất lượng của sản phẩm du lịch :

Vấn đề cải thiện nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch từ năm 2000 trở lại đây được nhiều đơn vị kinh doanh du lịch quan tâm, tuy nhiên nội dung hoạt động chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp giữa chính quyền và các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn Hiện nay nội dung và chất lượng sản phẩm du lịch chủ yếu do các cơ sở lưu trú (khách sạn, resort, nhà nghỉ,…) và các công ty du lịch lữ hành ở các tỉnh lân cận, tự nghiên cứu và cải tiến theo yêu cầu của khách Các đơn vị kinh doanh du lịch trong tỉnh còn rất bị động, thiếu tính sáng tạo trong việc thiết kế nhằm khai thác tiềm năng du lịch sẳn có Nhìn chung chất lượng của sản phẩm du lịch so với những năm 90 đã được cải tiến khá nhiều, thể hiện qua việc nhiều khu nghỉ mát, khách sạn, nhà nghỉ đã được nâng cấp, nhiều nội dung mới được đưa vào khai thác phục vụ du khách, làm phong phú và đa dạng hoá sản phẩm du lịch

Bình Thuận còn có thế mạnh là du lịch nhân văn, nhưng nội dung này chưa được quan tâm khai thác, hiện tại trong lĩnh vực này chỉ mới tổ chức dạng “cởi ngựa xem

Trang 35

hoa”, nghèo nàn về nội dung, hình thức thì kém sức thu hút và thiếu sự gắn kết tham gia của cộng đồng sở tại

* Hoạt động lữ hành du lịch :

Do thời gian phát triển ngành du lịch chưa dài, nên nhiều hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Bình Thuận chưa phát triển, điển hình là hoạt động du lịch lữ hành, có thể nói đây là một họat động còn non yếu nhất, các hoạt động du lịch lữ hành do các cơ

sở tham gia chủ yếu là dịch vụ vận chuyển, phối hợp với các cở sở kinh doanh du lịch của Thành phố HCM để tổ chức điều phối các tour, tổ chức đón khách tại chỗ, hoạt động tương đối có hiệu quả phải kể đến Công ty Du lịch Bình Thuận, các khu Resort (như Mũi Né-Sinh Càfê, Novotel…)

* Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch :

Trong những năm từ 1996 đến nay, tỉnh Bình Thuận đã tập trung đầu tư xây dựng những cơ sở vật chất hạ tầng và kỹ thuật nhằm thúc đẩy phát triển ngành du lịch

Bằng nguồn vốn ngân sách, hằng năm tỉnh Bình Thuận đã dành một tỷ lệ thích đáng (bình quân chiếm khoảng 35% vốn XDCB ) để đầu tư làm mới hoặc nâng cấp các cơ sở hạng tầng phục vụ các hoạt động kinh tế nói chung và cho du lịch nói riêng, các công trình chủ yếu bao gồm: các trục đường nối các khu thị tứ du lịch ven biển, các hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện,…Đối với các cơ sở vật chất cho du lịch, bên cạnh nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước, tỉnh còn tranh thủ kêu gọi các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhờ đó nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch được đầu tư với số lượng ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được phần nào yêu cầu của du khách trong và ngoài nước

* Thu hút đầu tư phát triển du lịch :

Hoạt động thu hút đầu tư thời gian qua tập trung chủ yếu ở hai khu vực là Phan Thiết

và Hàm Thuận Nam, từ cuối năm 2003 các nhà đầu tư bắt đầu phát triển ở Hàm Tân, Bắc Bình và Tuy Phong Tổng quát, tính đến thời điểm cuối năm 2003, toàn tỉnh có 263

dự án đầu tư du lịch đã được UBND tỉnh Bình Thuận chấp thuận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 2.633 tỷ đồng, trong đó có 53 dự án đã hoàn thành và đưa vào hoạt động; 12

dự án vừa hoạt động vừa tiếp tục xây dựng mở rộng; 72 dự án đang xây dựng; 126 dự

án (chiếm tỷ lệ 47,9%) chưa triển khai do nhiều nguyên nhân như mới có văn bản chấp

Trang 36

nhận đầu tư, đang làm thủ tục giao đất, cho thuê đất hoặc vướng mắc trong khâu giải toả, đền bù Nếu chia theo thành phần đầu tư dự án:

+ Các dự án đầu tư nước ngoài: Tổng số dự án được cấp phép đầu tư có 15 dự án bao

gồm: 7 dự án đã đi vào hoạt động (Khách sạn Novotel, Công ty Golf, Hải Dương resort, Victoria, Eco Hàm Tiến, Khu lặn biển Scuba, Du lịch Cát Trắng), tổng diện tích được chấp thuận là 75,9 ha và tổng vốn đầu tư là 434,25 tỷ đồng; có 7 dự án còn đang trong giai đoạn lập hồ sơ thuê đất, thiết kế, đền bù, giải toả…

+ Các dự án đầu tư trong nước: Tổng số dự án được chấp thuận đầu tư là 257 dự án

(trong số này đã loại trừ 26 dự án bị UBND tỉnh thu hồi ) trong đó có 57 dự án đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích đất là 62,62 ha, tổng vốn đăng ký là 296,2 tỷ đồng ;

có 68 dự án đang xây dựng; 15 dự án mới có văn bản chấp thuận đầu tư; 29 dự án đang được thẩm định chờ quyết định cho thuê đất; 88 dự án chưa triển khai do nhiều lý do

* Trình độ tổ chức quản lý trong hoạt động du lịch :

Cùng với nhịp độ phát triển và đa dạng hoá ngày càng cao của ngành du lịch, trình độ

tổ chức quản lý các hoạt động du lịch của Bình Thuận được nâng cao, ngày càng đi vào chiều sâu Các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế, đã từng bước đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn và tranh thủ sự hỗ trợ tư vấn nghịêp vụ của các chuyên gia trong cũng như ngoài nước để hoàn thiện công tác tổ chức quản lý.Về mặt quản lý nhà nước, những năm gần đây tỉnh có quan tâm chỉ đạo nhằm kiện toàn tổ chức hoạt động của Sở Thương Mại và Du lịch, nhiều phòng ban chức năng chuyên quản về du lịch được thành lập Ngoài ra, tỉnh cũng cho tiến hành sắp xếp lại các DNNN đang kinh doanh du lịch, tiến hành cổ phần hoá một số công ty ăn uống khách sạn, công ty kinh doanh du lịch của tỉnh Tại các địa phương có các điểm khai thác kinh doanh du lịch, đã xúc tiến thành lập các Ban quản lý khu du lịch (như BQL khu Hàm Tiến Mũi Né, khu du lịch Tuy Phong, khu du lịch Hàm Tân, khu du lịch Hàm Thuận Nam… )

Nhìn chung trình độ tổ chức quản lý du lịch trong những năm gần đây đã có những tiến bộ rõ rệt góp phần thúc đẩy ngành du lịch Bình Thuận phát triển mạnh mẽ

Trang 37

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH BÌNH THUẬN

Để có cơ sở cho việc đề ra các giải pháp phát triển bền vững của ngành du lịch cho phần sau, luận văn sẽ đi sâu đánh giá thực trạng về tính bền vững của hoạt động du lịch Bình Thuận trong thời gian qua dựa trên những tiêu chí về quy trình bền vững đã nêu ở chương một

2.2.1 Tính bền vững của các nguồn tài nguyên

* Nguồn tài nguyên thiên nhiên :

Mặt khác Bình Thuận còn là cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh miền Trung, Nam Tây Nguyên với Thành Phố Hồ Chí Minh, Vùng Đông Nam bộ và Nam bộ

Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, Đã tạo cho Bình Thuận có điều kiện mở rộng giao lưu phát triển kinh tế chung và kinh tế du lịch nói riêng với vùng kinh tế trong điểm phía Nam, nơi có nguồn khách du lịch đông đảo nhất của cả nước, và các vùng kinh tế Nam bộ trù phú khác Đây chính là yếu tố tích cực góp phần phát triển bền vững của du lịch Bình Thuận

+ Tài nguyên Sinh vật :

Về thực vật, theo kết quả kiểm kê hiện trạng rừng năm 1999, diện tích đất rừng của Bình Thuận là 368.319 ha, chiếm 46,9 % đất tự nhiên, trữ lượng gỗ là 19,508 triệu m3

gỗ và 95,6 triệu cây tre nứa Diện tích đất rừng tự nhiên là 344.385 ha, so với vùng Nam Bộ, Bình Thuận là tỉnh có diện tích rừng tự nhiên và trữ lượng gỗ lớn nhất (chiếm khoảng 45,5%)

Nhìn chung hệ sinh thái thực vật ở Bình Thuận tiềm ẩn nhiều nguồn lợi phong phú đối với tham quan, nghiên cứu của khách du lịch Trên địa bàn tỉnh hiện có hai khu bảo

Trang 38

tồn thiên nhiên cấp quốc gia: khu bảo tồn thiên nhiên Biển Lạc Núi Ông ( tổng diện tích 37.623 ha) và khu bảo tồn thiên nhiên Núi Tàkou (17.823 ha)

Trong năm 2001, các công ty trong tỉnh đã đầu tư xây dựng hệ thống cáp treo Takou với tổng kinh phí lên đến 60 tỷ đồng, nằm trong tổng thể khai thác khu bảo tồn thiên nhiên Núi Tàkou nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở chỗ tổ chức khai thác du lịch lịch sử Các khu vực sinh cảnh khác trên địa bàn tỉnh chưa được quan tâm khai thác cho hoạt động du lịch Gần đây có những tour du lịch sinh thái, tham quan thắng cảnh thiên nhiên được các công ty du lịch lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đưa khách đến như tour Biển Lạc – Thác Bà, tour Đa Mi –Hàm Thuận,…Tuy nhiên đây chỉ là những tour du lịch sinh thái còn mang tính tự phát, tổ chức nhỏ lẻ, lượng khách không đông

Về động vật dưới tán rừng, theo thống kê Bình Thuận có 57 loài thú, thuộc 23 họ -10

bộ trong đó có 47 loài được xếp vào loại động vật quý hiếm; 13 loài chim thuộc 40 họ -

17 bộ; có 28 loài bò sát; 12 loài ếch nhái

Ngoài động vật hoang dã trên cạn, Bình Thuận có trên 500 loài cá (146 loài cá nổi và

392 loài cá đáy ), 146 loài san hô, trên 100 loài động vật phù du rất có giá trị trong việc

tổ chức các tour tham quan, tour nghiên cứu lặn biển,câu cá và đây còn là nguồn thực phẩm phong phú góp phần tạo nên phong cách ẩm thực hải đặc sản của vùng Bình Thuận

+ Tài nguyên khí hậu :

Bình Thuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu mang đặc trưng của nhiệt đới cận xích đạo với điều kiện bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao quanh năm và ít biến động, nhiệt độ trung bình hằng năm ở các vùng đồng bằng và đồi núi thấp từ 26-27oC, vùng núi cao nhiệt độ trung bình năm từ 21- 24oC Độ ẩm trung bình năm khoảng 75%-85%, mùa ẩm trùng với mùa mưa

Mùa mưa ở đây trùng với mùa gió Tây-Nam, bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến hết tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình năm tại Bình Thuận từ 800mm –1600 mm

Chế độ gió và bão: Bình Thuận có hai mùa gió đối lập nhau rõ rệt : mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây-Nam Tốc độ gió bình quân năm khoảng từ 3,2m/s đến 5,7m/s Bão và áp thấp nhiệt đới được ghi nhận là khu vực ít xãy ra nhất so với các tỉnh miền

Trang 39

Trung và phía Bắc Theo số liệu quan sát được trong suốt 84 năm (từ 1910 đến 1994) chỉ có tổng cộng 19 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực Bình Thuận (trung bình 5 năm mới có một cơn bão)

Tóm lại khí hậu Bình Thuận mang sắc thái của chế độ khí hậu Đông Nam bộ và Nam Tây nguyên, với nền nhiệt độ ven biển khá cao,lại giảm dần ở các vùng cao nằm sâu trong đất liền, ít xãy ra giông bão, gió mát, bầu trời quanh năm hầu như trong sáng

và đầy nắng, đây hình thái khí hậu được xem là thích hợp để khai thác toàn diện một nền du lịch sinh thái, du lịch biển ở vùng nhiệt đới

+ Tài nguyên cảnh quan du lịch tự nhiên : ( xem mô tả chi tiết ở phần phụ lục 4)

Trong các nguồn tài nguyên du lịch nổi bật của Bình Thuận phải kể đến hàng đầu là biển đảo xinh đẹp-trong lành, cảnh quan thiên nhiên, núi non thơ mộng-hùng vĩ

- Về tài nguyên thắng cảnh biển:

Có ưu thế với 192km chiều dài bờ biển, như là một bao lơn trông ra biển Đông xanh biếc, cùng với đặc điểm địa hình có nhiều nhánh núi đâm ra tận biển đã tạo cho Bình Thuận có nhiều bãi biển đẹp được nhiều người biết đến như :

Bãi biển Cà Ná-Vĩnh hảo; Bãi biển Bình Thạnh; Cụm bãi biển Vĩnh Thuỷ-Đồi Dương

và Thương Chánh (Phan Thiết ); Bãi biển Rạng (Hàm Tiến ); Bãi sau Mũi Né- Hòn Rơm; Bãi Hòn Hồng- Lạch Chùa –Vũng Môn; Bãi biển xã Tiến thành (Phan Thiết); Bãi biển Thuận Quý – Khe Gà (Hàm Thuận Nam ); Bãi biển Đồi Dương (Hàm Tân)

- Các Cù Lao và hải đảo : (xem mô tả chi tiết ở phần phụ lục 4)

Đảo Phú Quý ; Cù lao Câu ; Hòn Bà (Hàm Tân)

- Các tài nguyên tự nhiên khác :

Suối tiên ( thuộc địa phận xã Hàm Tiến-Phan Thiết); Lầu Ông Hoàng (Phan Thiết); Động cát bay Mũi Né; Đồi cát Trinh nữ (Hoà Thắng-Bắc Bình); Ngảnh Tam Tân (Hàm Tân) ; Mũi Khe Gà (Hàm thuận Nam); Thác Bà (Tánh Linh); Thác Reo(Đức Linh); Cảnh quan Bàu Trắng (Hoà Thắng-Bắc Bình); Hồ Biển Lạc (Tánh Linh); Hồ Sông Quao (Hàm Thuận Bắc ); Các suối nước khoáng, nước nóng có giá trị, thu hút khách du

lịch có nhu cầu chữa bệnh, điều dưỡng tại Bình Thuận: như suối nước khoáng Vĩnh Hảo (Tuy Phong), suối nước khoáng ĐaKai (Đức Linh), suối nước khoáng Văn Lâm (Hàm Thuận Nam), suối nước nóng Bưng Thị (Hàm Thuận Nam), suối nước khoáng Phong Điền (Hàm thuận Nam), suối nước khoáng Núi Bà (Hàm Thuận Bắc)…

Trang 40

Tóm lại Bình thuận là tỉnh ven biển được thiên nhiên ưu đãi, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng: về biển, về eo vịnh và đảo biển, nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, đa dạng về tài nguyên sinh vật, đây là tiền đề cơ bản để Bình Thuận định hướng phát triển một nền du lịch tự nhiên - bền vững

* Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn :

Với nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc thù mà Bình Thuận có được, góp phần làm tăng tính hấp dẫn và không trùng lặp của các loại hình du lịch sinh thái, tham quan- nghỉ dưỡng, thì nguồn tài nguyên nhân văn mang phong cách đa sắc tộc của người Chăm và người Việt xưa và nay trên mãnh đất Bình Thuận đã làm tăng tính cách độc đáo của các loại hình du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng Nói đến tài nguyên nhân văn là phải nói đến thành phần văn hoá vật thể và phi vật thể Nội hàm nó đã mang một giá trị nhân văn nhất định và tạo nên nội dung đặc trưng cho các sản phẩm du lịch về văn hoá Các giá trị văn hoá đó bao gồm: bề dày lịch sử của quá trình hình thành và phát triển vùng đất, các di tích đền đài miếu mạo, các công trình kiến trúc, các viện bảo tàng, văn hoá

ẩm thực, phong tục tập quán, sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống của địa phương,…Những nội dung này sẽ tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển các loại hình

du lịch nghiên cứu, khảo cứu, thưởng ngoạn, du lịch cộng đồng,…Thông qua đó sẽ làm nên giá trị văn hoá truyền thống của Tỉnh Bình Thuận vì nó đã thể hiện giá trị của sự sáng tạo văn hoá được kết tinh trong mỗi sản phẩm Các thành tố văn hoá đặc thù của Bình Thuận hình thành nên tài nguyên nhân văn như sau:

+ Dân cư, dân tộc:

Tại thời điểm năm 2002, theo thống kê Bình Thuận có 1.114.800 người Trong đó dân số thành thị 23,51%, dân số nông thôn chiếm 76,49% Mật độ dân số trung bình là

142 người/ km2 Trong đó cao nhất là huyện đảo Phú Quý (1310 người /km2) và PhanThiết (924 người/km2), thấp nhất là huyện Bắc Bình (60 người/km2) So với vùng Đông Nam Bộ, thì cơ cấu xã hội của dân số Bình Thuận còn nặng sắc thái nông nghiệp nông thôn và mật độ dân số còn thấp Bình Thuận là nơi cư trú của 37 dân tộc, trong đó Kinh 93,04%; Chăm 2,84%; Raglay 1,21%; Hoa 1,07%, còn lại 1,84% là 33 dân tộc khác (Nùng,Châu Ro,Tày,K’ho,…)

So với các địa phương khác trong cả nước, người Chăm ở Bình Thuận có số lượng đông nhất, trong đó tập trung chủ yếu ở Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc Đa số

Ngày đăng: 07/01/2018, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w