1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình mở cửa thị trường ngân hàng theo Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ

101 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những tác động của hiệp định đối với thị trường dịch vụ, trong đó có thị trường dịch vụ ngân hàng, là chưa rõ ràng và ít được các tác giả đề cập đến mặc dù việc tìm hiểu và đá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TỐNG THANH HẢI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG TIẾN TRÌNH MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-HOA KỲ

Chuyên Ngành : Kinh Doanh Ngoại Thương

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Ts HÀ NAM KHÁNH GIAO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Năm 2004

MỤC LỤC

Trang 2

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI và CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ TỰ

DO HOÁ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT

NAM – HOA KỲ……… 1

1.1 Vai trò và hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại ………1

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại……….1

1.1.2 Chức năng của NHTM 1.1.3 Nghiệp vụ của NHTM………3

1.2 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại………4

1.2.1 Cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM……… 4

1.2.2 Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM……… 5

1.3 Hoạt động của NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay……11

1.3.1 Sự hình thành và phát triển NHTMCP tại Việt Nam……… 11

1.3.2 Quản lý nhà nước đối với loại hình NHTMC……….13

1.3.3 Vị thế của NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam 14

1.4 Tự do hoá thị trường dịch vụ ngân hàng theo HĐTMVN-HK 15

1.4.1 Nguyên tắc chung của các cam kết trong HĐTMVN-HK 15

1.4.2 Cam kết của Việt Nam trong HĐTMVN-HK về mở cửa thị trường ngân hàng 16

Kết luận chương 1 19

Chương 1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và TÁC ĐỘNG CỦA HĐTMVN-HK ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH……… 20

2.1 Tác động của việc hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM – Trường hợp các NHTMCP tại TP Hồ Chí Minh… 20

2.1.1 Một số quan điểm lý luận về tác động của tự do hoá thị trường dịch vụ ngân hàng đối với hệ thống NHTM của các nước thực hiện mở cửa 20

2.1.2 Các kết quả nghiên cứu thực tế về tác động của việc tự do hoá ngành ngân hàng đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nước.21 2.1.3 Tác động của việc thực hiện HĐTMVN-HK đối với NHTM Việt Nam và NHTM tại TP Hồ Chí Minh .23

Trang 3

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của NHTMCP trên địa bàn Thành Phố Hồ

Chí Minh .26

2.2.1 Thực trạng môi trường hoạt động của các NHTMCP tại TP Hồ Chí Minh………26

2.2.2 Thực trang hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh…27 2.2.3 Kết luận về tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTMCP trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh 39

2.3 Phân tích định lượng mối quan hệ giữa lợi nhuận và các yếu tố khác của Ngân hàng TMCP trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh……….41

2.3.1 Phương pháp phân tích và lựa chọn mô hìn………41

2.3.2 Mô hình và dữ liệu sử dụng……….42

2.3.3 Phân tích các mô hình……… 44

2.3.4 Các kết luận từ mô hình……… 46

2.3.5 Hạn chế của mô hìn……….46

Kết luận chương 1.,……….47

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG……….48

3.1 Các quan điểm, định hướng và mục tiêu của phát triển hệ thống ngân hàng Thương Mại Cổ Phần trên địa bàn TP Hồ Chí Minh………48

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng TMCP thành phố Hồ Chí Minh………49

3.2.1 Giải pháp về mở rộng hoạt động……….49

3.2.2 Các giải pháp về khách hàng và sản phẩm……… 52

3.2.3 Các giải pháp về quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng………53

3.2.4 Các giải pháp liên quan đến hoạt động ngân hàng……….58

3.3 Một số kiến nghị63 3.3.1 Đối với NHNN………63

3.3.2 Đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng……….64

Kết luận……… 66

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

¾ HĐTMVN-HK : Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ

¾ HĐTM : Hiệp định thương mại

¾ TCTD : Tổ chức tín dụng

¾ NHTM : Ngân hàng thương mại

¾ NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

¾ NHTMQD : Ngân hàng thương mại quốc doanh

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng câu hỏi phỏng vấn i

Hình 1.1 Sơ đồ tổng quát về nghiệp vụ của NHTM iv

Hình 1.2 Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM v

Hình 1.3 Hệ thống NHVN từ năm 1975-1986 vi

Hình 1.4 Hệ thống NHTM Việt Nam từ 1987-1990 vi

Hình 1.5 Hệ thống NHTM Việt Nam từ 1990 –trở lại đây vii

Hình 1.6 Cam kết mở cửa thị trường ngân hàng của Việt Nam theo HĐTMVN-HK viii Bảng 1.1 Số lượng NHTM Việt Nam từ 1991-2003 xi

Bảng 1.2 Tỷ trọng vốn và tài sản của NHTMCP trong ngành Ngân hàng xi

Bảng 2.1 Tình hình hoạt động của các DN Việt Nam xii

Bảng 2.2 Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng của các DN Vừa và nhỏ xii

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng và thanh toán qua tài khoản cá nhân xiii

Bảng 2.4 Tỷ trọng một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của TP Hồ Chí Minh so với cả nước xiii

Bảng 2.5 Danh Sách Các Ngân Hàng Có Hội Sở Trên Địa Bàn Tp HCM xiv

Bảng 2.6 Tình hình lợi nhuận của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh xv

Bảng 2.7 Lợi Nhuận của các NH trên địa bàn TP Hồ Chí Minh xv

Bảng 2.8 Tình hình vốn tự có của các NHTMCP trên địa bàn TP HCM xvi

Bảng 2.9 Tình hình huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh xvii

Bảng 2.10 Tình hình cho vay của các NHTM trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh xvii

Bảng 2.11 Tỷ trọng doanh thu ngoài hoạt động tín dụng của các NHTM xviii

Bảng 2.12 Bảng Kết Quả Khảo Sát xix

Bảng 2.13 Chi phí (CP) trong hoạt động của các NHTM CP xx

Bảng 2.14 Bảng tổng hợp số liệu cho mô hình xxi

Bảng 2.15 Kết quả phân tích hồi quy đối với biến phụ thuộc là lãi trước thuế xxii

Bảng 2.16 Kết quả phân tích hồi quy đối với biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận xxiii Bảng 2.17 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát lợi thế cạnh tranh theo đối tượng khách hàng xxiv

Bảng 2.18 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát lợi thế cạnh tranh theo lĩnh vực hoạt động xxiv

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài :

Đến nay, sau gần 3 năm kể từ ngày Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa

Kỳ có hiệu lực thực hiện, Hiệp Định đã có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam mà tiêu biểu là mở đường cho sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, những tác động của hiệp định đối với thị trường dịch vụ, trong đó có thị trường dịch vụ ngân hàng, là chưa rõ ràng và ít được các tác giả đề cập đến mặc dù việc tìm hiểu và đánh giá những tác động của nó

là hết sức cấp thiết bởi vì các cam kết về mở của thị trường dịch vụ ngân hàng trong hiệp định là những cam kết đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực này và đối tác của Việt Nam là một nước có trình độ phát triển công nghệ ngân hàng vào bậc nhất thế giới Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, việc tìm hiểu và đánh giá những tác động của Hiệp Định càng cấp thiết hơn vì Thành phố là nơi tập trung mạnh nhất thị trường dịch

vụ ngân hàng của cả nước Xuất phát từ nhu cầu này, tác giả đã chọn lựa đề tài “Một

số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Thành Phố Hồ Chí Minh trong tiến trình mở cửa thị trường ngân hàng theo Hiệp Định Thương Mại Việt Nam Hoa Kỳ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của

mình

2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :

Mục tiêu đặt ra của việc nghiên cứu là đề ra các giải pháp nhằm nâng cao nâng cao lợi nhuận của các NHTMCP có hội sở đặt tại TP Hồ Chí Minh để từ đó giúp các ngân hàng trên địa bàn có những bước đi phù hợp với tiến trình thực hiện mở cửa thị trường ngân hàng của Việt Nam theo Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong đó có nhìn đến việc mở cửa theo tinh thần cam kết gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới trong thời gian tới của Việt Nam

3/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Trang 7

Việc nghiên cứu tác động của Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ được giới hạn trong phạm vi các NHTMCP có Hội sở đặt tại Thành Phố Hồ Chí Minh

và chỉ xem xét đến yếu tố hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận của ngân hàng

4/ Phương pháp nghiên cứu:

Để thưc thực hiện đề tài tác giả đã phối hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp khảo sát trực tiếp thông qua các câu hỏi, phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích thống kê định lượng, phương pháp suy luận logic và phương pháp phân tích duy vật biện chứng

5/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :

- Hệ thống những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận của ngân hàng thương mại, hệ thống những cam kết của Việt Nam

về mở cửa thị trường tài chính ngân hàng theo Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ

- Tổng hợp những nghiên cứu, đánh giá ở cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia

về tác động của tự do hóa thị trường ngân hàng đến lợi nhuận của các ngân hàng trong nước trong thời gian qua

- Phân tích tình hình hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP HCM

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận của các NHTMCP trên địa bàn

TP HCM trong bối cảnh thực hiện những cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng theo Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Trang 8

7/ Kết cấu trình bày của luận văn:

Nội dung luận văn gồm có 3 phần chính, được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: “Tổng quan về NHTM và cam kết của Việt Nam về tự do hóa thị

trường NH theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ” trình bày những quan điểm lý luận về hiệu quả kinh doanh của NHTM, đánh giá vị trí của các NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng trong nước trong HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ

Chương 2: “Tác động của HĐTM Việt Nam-Hoa Kỳ và Thực trạng hoạt động

của các NHTMCP trên đĩa bàn TP Hồ Chí Minh” nghiên cứu, dự báo những tác động của việc thực thi các cam kết trong HĐTM đến hiệu quả kinh doanh, mà cụ thể là lợi nhuận, của các NHTMCP trong nước nói chung, đồng thời trình bày các kết quả nghiên cứu của tác giả về thực trạng hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, phân tích sự liên hệ giữa lợi nhuận NH và các nhân tố khác cũng như xem xét những mặt mạnh, yếu cơ hội và nguy cơ của các NHTMCP trên địa bàn trong tiến trình thực hiện tự do hóa thị trường ngân hàng

Chương 3 : “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP

Tp Hồ Chí Minh trong tiến trình mở cửa thị trường NH” Trên cơ sử những phân tích

đã trình bày ở Chương 2, Chương 3 tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao lợi nhuận của các NHTMCP trong bối cảnh mở cửa thị trường dịch vụ NH theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Trang 9

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI và CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ TỰ DO HOÁ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THEO

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KỲ

1.1 Vai trò và hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngày nay, do sự phức tạp trong nghiệp vụ, sự khác biệt về tập quán, chính sách

và điều kiện phát triển của mỗi quốc gia nên việc định nghĩa thế nào là một NHTM giữa các quốc gia thường không có sự đồng nhất với nhau Tại Pháp, NHTM được xem là doanh nghiệp mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền từ công chúng dưới hình thức nhận ký thác hoặc hình thức khác và sử dụng chúng cho các nghiệp vụ về tín dụng, chiết khấu và tài chính Tại Hoa Kỳ, NHTM là công ty kinh doanh cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Tại Việt Nam, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng được quốc hội ban hành tháng 06 năm 2004 đã định nghĩa Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

có liên quan, hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng

và cung ứng các dịch vụ thanh toán

Tuy các quan niệm về Ngân hàng khác nhau giữa các nước nhưng nhìn chung, NHTM có thể được hiểu là loại hình định chế tài chính trung gian trực tiếp giao dịch với khách hàng với ba hình thức kinh doanh cơ bản là nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng Trong đó, việc nhận tiền gởi không kỳ hạn, tiền gởi thanh toán là một đặc thù để phân biệt NH với các định chế tài chính trung gian khác như Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính …

Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMCP là NHTM được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, có vốn do các

cổ đông đóng góp dưới hình thức cổ phiếu Trách nhiệm của cổ đông đối với hoạt

Trang 10

động của NHTMCP được giới hạn trong số cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ Luật các TCTD năm 1997 của Việt Nam quy định NHTMCP phải có vốn góp của nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và tên gọi đầy đủ là Ngân hàng NHTMCP nhà nước và nhân dân Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi bổ sung Luật các TCTD do Quốc hội thông qua ngày15/06/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2004 thì các NHTMCP hiện nay không yêu cầu phải có phần vốn góp của nhà nước hoặc của doanh nghiệp nhà nước

Hoạt động của NHTMCP được đánh giá có một số ưu điểm so với hình thức ngân hàng khác như khả năng tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, Ngân hàng được quản lý thông qua Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị là những người chủ

sở hữu nên đảm bảo phần nào quyền lợi của người góp vốn cũng như trách nhiệm của

họ đối với hoạt động của NH

1.1.2 Chức năng của NHTM

NHTM có ba chức năng cơ bản như sau:

Chức năng của một tổ chức tài chính trung gian: NHTM là nơi giúp cho người thừa vốn và người đang thiếu vốn gặp nhau thông qua hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, NHTM không thực hiện chức năng này như một công ty môi giới mà tự mình đứng ra kinh doanh

Vai trò thủ quỹ giữ tiền và thanh toán: NHTM cung cấp tài khoản giao dịch và tạo cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế Chức năng này của NHTM vừa giúp giảm tổn phí giao dịch thanh toán của xã hội vừa đảm bảo được sự

an toàn, chính xác và nhanh chóng trong thanh toán

Chức năng tạo tiền: NHTM tạo thêm tiền trong lưu thông trong hoạt động huy động, tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng Theo Paul A Samualson và William D Nordhalls, tổng số tiền mở rộng thêm trong hệ thống ngân hàng sẽ bằng tích giữa số tiền mới đưa vào hệ thống ngân hàng với số nhân tiền gởi Số nhân tiền gởi bằng nghịch đảo của tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương đối với các NHTM Tóm lại ta có công thức: Td = d / r

Trong đó: Td tổng số tiền mở rộng thêm trong hệ thống ngân hàng

d Số tiền gởi mới đưa vào hệ thống ngân hàng

r tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Trang 11

1.1.3 Nghiệp vụ của NHTM

NHTM thực hiện rất nhiều nghiệp vụ trong quá trình hoạt động và số lượng các nghiệp vụ này ngày càng tăng cùng với sự phát triển của NH Một cách tổng quát, các nghiệp vụ được xếp vào ba nhóm là nghiệp vụ tài sản có, nghiệp vụ tài sản nợ và nghiệp vụ dịch vụ - ngoại bảng (Hình 1.1)

1.1.3.1 Nghiệp vụ tài sản nợ

Nghiệp vụ tài sản nợ là các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn hoạt động, nó tác động làm thay đổi bên nợ của bảng cân đối tài sản NH Hiện nay, tài sản nợ của các NHTM tập trung vào năm nhóm phổ biến là vốn tự có (vốn chủ sở hữu), tiền gởi không kỳ hạn, tiền gởi có kỳ hạn, các khoản vay trên thị trường tiền tệ và cuối cùng là các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng và NHNNc Nghiệp vụ tài sản nợ đóng vai trò giải quyết đầu vào của NH và hoạt động nghiệp vụ tài sản nợ thường làm phát sinh các khoản chi phí vốn đối với NH

1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản có

Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng, nó tác động làm thay đổi bên có của bảng cân đối tài sản NH Nghiệp vụ tài sản có của NHTM thường bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến dự trữ tiền (bao gồm tiền tại kho ngân hàng và tiền trên tài khoản vãng lai của ngân hàng tại NHNNc); cho vay (bao gồm cho vay khách hàng và cho vay trên thị trường liên ngân hàng); đầu tư chứng khoán và đầu tư vào tài sản khác (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị…) Hoạt động nghiệp

vụ tài sản có đóng vai trò giải quyết đầu ra đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng có luôn luôn gắn chặt với các nghiệp vụ tài sản nợ, nơi giải quyết đầu vào cho NH và sự gắn kết này đảm bảo NH hoạt động một cách trôi chảy, an toàn và hiệu quả

1.1.3.3 Nghiệp vụ ngoại bảng

Nghiệp vụ ngoại bảng là các nghiệp vụ mà khi thực hiện chúng không làm thay đổi tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng Thực chất các nghiệp vụ ngoại bảng là hoạt động cung cấp dịch vụ thuần tuý của NH như cất giữ tài sản, thu chi hộ, bảo lãnh, tư vấn đầu tư, phát hành tín dụng thư, chuyển tiền … Các nghiệp vụ ngoại bảng mang

Trang 12

lại nhiều tiện ích gia tăng cho khách hàng trong khi chi phí vốn của ngân hàng hầu như bằng khơng Chính vì đặc thù này mà ngày nay các NH trên thế giới thường rất chú tâm đến khai thác các nghiệp vụ này nhằm gia tăng lợi nhuận

1.2 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM

NHTM nĩi chung và loại hình NHTMCP nĩi riêng sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn huy động để cho vay và cung cấp các dịch vụ cĩ thu phí khác với hy vọng các khoản thu được sẽ nhiều hơn chi phí nhằm thu lợi nhuận cho các bên đã bỏ vốn vào NH Do đĩ, về mặt lý thuyết, giá trị cổ phiếu của Ngân hàng trên thị trường chứng khốn sẽ là thước đo tốt nhất phản ánh tình hình và hiệu quả kinh doanh kinh doanh của NH vì giá cổ phiếu phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với hoạt động ngân hàng đĩ Nếu giá cổ phiếu được giao dịch tự do trên thị trường chứng khốn cao hơn mệnh giá cổ phiếu của NH chứng tỏ thị trường và nhà đầu tư đã đánh giá cao hiệu quả kinh doanh của NH nĩi chung và khả năng sinh lợi của NH nĩi riêng và ngược lại

Tuy nhiên, chỉ số giá trị thị trường của cổ phiếu ngân hàng khơng phải lúc nào cũng cĩ sẵn và đáng tin cậy nhất là khi thị trường chứng khốn cịn chưa phát triển, các cổ phiếu ngân hàng cịn chưa được giao dịch tự do chính thức trên thị trường như

ở Việt Nam Do đĩ, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM, các nhà phân tích phải sử dụng các chỉ số về lợi nhuận để thay thế chỉ số giá thị trường của cố phiếu

NH Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá lợi nhuận của ngân hàng thường được sử dụng là:

Tỷ lệ thu nhập ngoài

lãitrên tổng tài sản sinh lời

Thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi Tổng tài sản sinh lời

=

Thu nhập sau thuế Tỷ lệ thu nhập trên

vốn chủ sở hữu (ROE) =

Vốn chủ sở hữu Thu nhập sau thuế Tỷ lệ thu nhập trên

tổn g tài sản (ROA) = Tổng tài sản

Thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi Tỷ lệ thu nhập từ lãitrên

tổng tài sản sinh lời = Tổng tài sản sinh lời

Trang 13

Trong các chỉ tiêu trên, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu thể hiện rõ nhất hiệu quả kinh doanh của NHTM vì nĩ thể hiện giá trị lợi nhuận thu được đối với mỗi đồng vốn bỏ ra ROE cĩ thể được phân tích:

Tỷ lệ thu

nhập trên

vốn chủ sở

hữu (ROE)

Thu nhập sau thuế

Tổng tài sản

= Tổng doanh thu từ hoạt động

Tổng doanh thu từ hoạt động

Tổng vốn chủ sở hữu x

Từ việc phân tích này ta thấy rằng ROE phụ thuộc vào:

(A) là tỷ lệ sinh lời trong hoạt động của ngân hàng, tỷ lệ này phản ánh tính hiệu quả của việc quản lý chi phí để đảm bảo rằng với mỗi đồng doanh thu tạo ra thì mức lợi nhuận sau thuế thu được là tối đa

(B) là tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản, tỷ lệ này phản ánh mức độ tạo ra doanh thu trên tổng tài sản cĩ của ngân hàng tức đánh giá tính hiệu quả của NH trong các hoạt động cĩ sử dụng tài sản như cho vay, đầu tư…

(C) là tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn Đây là chỉ tiêu đo lường trực tiếp địn bẩy tài chính của ngân hàng, nĩ phản ánh giá trị tài sản được tạo ra trên

cơ sở một đơn vị vốn chủ sở hữu đồng thời nĩ cũng phản ánh mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn vay, vốn huy động

1.2.2 Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM

Như đã phân tích ở trên, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) của NHTM

là hàm số của các biến tổng doanh thu từ hoạt động, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu Do

đĩ, tất cả các yếu tố cĩ tác động đến các nhân tố này đều ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

1.2.2.1 Mơi trường kinh tế và chính sách kinh tế chung của nhà nước

Ngân hàng là ngành cung cấp dịch vụ và vốn cho các ngành kinh tế khác, nên khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định các doanh nghiệp kinh doanh phát triển thì hoạt động của ngân hàng cũng phát triển, đặc biệt là hoạt động tín dụng Khi nền kinh tế bị suy thối, hàng hố của các doanh nghiệp khơng tiêu thụ được sẽ làm các doanh

Trang 14

nghiệp lâm vào nguy cơ mất khả năng trả các khoản nợ đến hạn và do vậy đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn

Ở mức độ hẹp hơn, sự thay đổi chính sách của nhà nước đối với một ngành, một lĩnh vực nào đó sẽ tác động không chỉ đến bản thân các doanh nghiệp trong ngành

mà qua các doanh nghiệp này tác động đến các ngân hàng đang có danh mục đầu tư nặng về các ngành đó

1.2.2.2 Chính sách tài chính – tiền tệ của quốc gia

Hoạt động của ngân hàng ngoài việc bị tác động bởi các chính sách kinh tế còn

bị tác động bởi chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia Trong giai đoạn thực hiện thắt chặt tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng trở nên khó khăn hơn do nhu cầu vốn trong nền kinh tế giảm sút, các dự án đầu tư mới giảm làm giảm nhu cầu tín dụng cũng như các nhu cầu về dịch vụ khác của ngân hàng , qua đó tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng

Bên cạnh đó, việc áp dụng các công cụ quản lý của nhà nước như quản lý ngoại hối, điều hành tỷ giá, quản lý lãi suất, dự trữ bắt buộc … cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua những cơ chế khác nhau Ví dụ, với những quy định quá chặt về trạng thái ngoại hối sẽ hạn chế các NH tham gia các cơ hội đầu cơ, kinh doanh trên những đồng tiền có xu hướng biến động về giá; Việc quản lý tỷ giá trong phạm vi giao động hẹp làm các NH gặp khó khăn khi khai thác các sản phẩm như mua bán kỳ hạn (forward) hay mua bán quyền chọn (options)…

1.2.2.3 Môi trường văn hoá xã hội

Trình độ dân cư, thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng, niềm tin của dân chúng vào ngân hàng có tác động vào hiệu quả của các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp, mức độ rủi ro trong kinh doanh qua đó tác động đến chi phí hoạt động của ngân hàng như chi phí dự phòng rủi ro, chi phí tiếp thị quảng cáo cũng như tác động đến việc khuyến khích các ngân hàng tung ra các sản phẩm dịch vụ mới… vì vậy tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Đối các nước phát triển, niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, trình độ dân trí cao, người dân đã có thói quen sử dụng các dịch vụ của ngân hàng nên các khoản dự trữ rủi ro trong hoạt động của các NH có xu hướng thấp hơn và ngân hàng thường không phải mất nhiều thời gian và chi phí để giới thiệu

Trang 15

sản phẩm mới đến với người tiêu dùng như ở các nước đang phát triển

1.2.2.4 Vốn tự có của ngân hàng

Vốn tự có (vốn chủ sở hữu) là vốn riêng của ngân hàng có được do các chủ sở hữu đóng góp cộng với lợi nhuận được giữ lại sau khi trừ các khoản đã bù lỗ trong quá trình hoạt động kinh doanh Vốn tự có ngoài việc dùng để mua sắm trang thiết bị cho hoạt động, ý nghĩa quan trọng hơn là dùng để bù đắp những rủi ro, thất thoát trong quá trình cho vay và đầu tư của ngân hàng, tạo lập lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng qua đó giúp ngân hàng hoạt động ổn định Ngoài ra, lượng vốn tự có lớn giúp ngân hàng có thể tiếp cận các dự án lớn, có mức độ rủi ro cao cũng như khả năng triển khai các dự án đầu tư mới, sản phẩm mới để qua đó tạo lập và duy trì khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng như tiếp cận các cơ hội khai thác lợi nhuận

Bên cạnh việc xem xét vốn tự có về mặt số lượng, vốn tự có của các ngân hàng thương mại còn được xem xét ở góc độ tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản hoặc tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (tỷ lệ an toàn vốn) Tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng trong việc xem xét mức độ an toàn vốn tự có của ngân hàng, Theo Hiệp Ước BASEL, tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng phải đạt được tối thiểu từ 8% trở lên Tại Việt Nam, theo Quyết Định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/08/1999 thì các TCTD (ngoại trừ chi nhánh NHNNg) cũng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%

1.2.2.5 Chất lượng tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng

Chất lượng của tài sản nợ và tài sản có của NH có tác động rất lớn đến lợi nhuận của các NHTM vì nó tác động đến cả hai nhân tố thu nhập và chi phí trong hoạt động ngân hàng

Chất lượng tài sản nợ Trên bảng cân đối của các NHTM phần lớn tài sản nợ là

là các khoản ngắn hạn như tiền gởi không kỳ hạn, tiền gởi phát hành séc, tiền gởi có

kỳ hạn nhưng được quyền rút trước hạn và những khoản tiền gởi này được trả với mức lãi suất khác nhau, có tính nhạy cảm với lãi suất khác nhau Đối với những NH

có cơ cấu tiền gởi ngắn hạn và không kỳ hạn cao trong tổng tài nợ thì việc mở rộng cho vay đòi hỏi phải có nhiều chi phí hơn vì NH phải dành một lượng lớn trong các khoản tiền gởi này vào dự trữ phòng khi người gởi tiền có nhu cầu rút vốn Ngược lại,

Trang 16

đối với các NH có thể khai thác được các nguồn vốn dài hạn, các nguồn vốn ít nhạy cảm với lãi suất thì hiệu quả cho vay sẽ tăng lên nhờ giảm chi phí

Chất lượng tài sản có Chất lượng tài sản có liên quan mật thiết đến chất lượng

của các khoản cho vay và đầu tư của ngân hàng Việc ngân hàng tập trung cho vay trong những ngành hoặc đối tượng có nhiều rủi ro mặt dù thu được mức lãi suất cao, gia tăng lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng có thể sẽ để lại những tổn thất lớn về sau Do

đó, chất lượng của các khoản vay, các khoản đầu tư và chất lượng của khách hàng vay đều có tác động lớn đến lợi nhuận của ngân hàng

1.2.2.6 Trình độ quản trị Ngân hàng

Quản trị ngân hàng bao gồm rất nhiều lĩnh vực, dưới đây là một số lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

a Quản trị các rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Việc quản trị rủi ro có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

vì nó góp phần giảm thiểu tổn thất trong quá trình hoạt động Hơn nữa, việc quản trị tốt các rủi ro trong ngân hàng còn đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế vì sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ có tác động đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là những người gởi tiền, mà không chỉ đối với bản thân ngân hàng Có nhiều loại rủi ro trong quá trình hoạt động của ngân hàng (Hình 1.2), trong đó có bốn loại rủi ro đặc thù là rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng phải dùng các khoản vốn khả dụng lãi suất cao để thanh toán cho các nhu cầu chi trả của ngân hàng Để nhận biết và lượng hoá rủi ro thanh khoản chúng ta thường dùng các chỉ tiêu như tỷ trọng cho vay trên tổng tài sản; tỷ trọng tiền mặt và tiền gởi thanh toán tại các Ngân hàng khác trên với tổng tài sản Hiện nay NHNNc quy định (bằng Quyết Định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/08/1999) hai chỉ tiêu cơ bản mà các NHTM phải đảm bảo duy trì để hạn chế rủi ro thanh khoản của ngân hàng là tỷ lệ “tài sản có” có thể thanh toán ngay với “tài sản nợ” phải thanh toán ngay (theo quy định phải bằng 1 vào thời điểm cuối ngày giao dịch) và tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung và dài hạn (theo quy định chỉ 30% vốn huy động ngắn hạn được cho vay trung dài hạn) Một trong những nguy cơ mà các ngân hàng luôn phải quan tâm xử lý trong rủi ro thanh khoản là sự rút tiền hàng

Trang 17

loạt của khách hàng làm ngân hàng mất khả năng chi trả tạm thời hoặc bị phá sản nếu không có các biện pháp dự trù và phương án xử lý hợp lý

Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng không thể thu hồi được các khoản nợ đã cho vay Khi có rủi ro tín dụng, ngân hàng phải dùng chính lợi nhuận và vốn tự có của mình để bù đắp các tổn thất nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính của ngân hàng,

do đó lợi nhuận và nguồn vốn tự có của ngân hàng bị giảm Rủi ro tín dụng là dạng rủi

ro thường được các NHTM và NHNNc rất quan tâm vì nó thường xuyên xảy ra, nhất

là trong thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc sau các cuộc khủng hoảng tài chính hoặc sau khi nhà nước thay đổi chính sách Hiện nay, Chính phủ và NHNNc đã có rất nhiều quy định liên quan đến việc quản lý rủi ro tín dụng trong các NHTM như quy định về

tỷ lệ cho vay tối đa với từng khách hàng, cho vay không có tài sản đảm bảo, các đối tượng khách hàng không được phép cho vay… Để lượng hoá mức độ rủi ro tín dụng người ta thường xem xét tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng

Rủi ro lãi suất xuất hiện do có sự không cân xứng về kỳ hạn và lãi suất giữa tài sản nợ (các khoản vốn huy động) và tài sản có (các khoản vốn cho vay) Do đó, tỷ số giữa tài sản nhạy cảm với lãi suất so với nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là tiêu chí thường được quan tâm nhất trong việc quản trị rủi ro lãi suất

Rủi ro tỷ giá xảy ra khi có sự thay đổi trong giá trị của các đồng tiền làm thay đổi giá trị thị trường của tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng khi quy về đồng tiền hạch toán Để lượng hoá và đánh giá tủi ro ngoại hối mà ngân hàng đang phải chịu, các nhà quản trị thường quan tâm đến chỉ tiêu trạng thái ngoại hối của ngân hàng

b Tổ chức và các quy định nội bộ của ngân hàng

Việc tổ chức bộ máy hiệu quả, hướng tới khách hàng sẽ giúp ngân hàng không chỉ thu hút, giữ chân khách hàng mà còn giúp ngân hàng khai thác hết giá trị mà một khách hàng có thể mang lại cho ngân hàng cũng như giảm chi phí cho việc quản lý Hiện nay, các ngân hàng thương mại thường tổ chức bộ máy của mình theo hai dạng

là tổ chức theo chức năng và tổ chức theo đối tượng khách hàng

Tổ chức theo chức năng là phân chia các bộ phận giao tiếp với khách hàng theo từng chức năng mà nó đảm nhiện như bộ phận tín dụng, kế toán, quản lý tài khoản và giao dịch, bộ phận thanh toán quốc tế… Nhược điểm lớn nhất của hệ thống tổ chức

Trang 18

này khi một khách hàng cần nhiều dịch vụ thì phải liên hệ với nhiều bộ phận trong ngân hàng tạo cho khách hàng cảm giác phức tạp, e ngại khi sử thêm dịch vụ Hơn nữa kiểu tổ chức này làm các nhân viên từng bộ phận không quan tâm nhiều đến các nhu cầu khác của khách hàng mà ngân hàng có thể đáp ứng được vì nhân viên của bộ phận này thường không biết rõ về các sản phẩm của bộ phận khác, do đó hạn chế số lượng các dịch vụ một khách hàng có thể sử dụng tại ngân hàng và làm cho giá trị mà một khách hàng có thể mang lại cho ngân hàng không thể đạt mức tối đa Cuối cùng, việc quản lý, theo dõi và chăm sóc khách hàng của ngân hàng không được chặt chẽ vì trách nhiệm đối với khách hàng bị phân tán ở các bộ phận khác nhau

Hình thức tổ chức theo đối tượng khách hàng là việc ngân hàng thiết lập các bộ phận giao tiếp với khách hàng theo từng nhóm đối tượng khách hàng với những loại nhu cầu giống nhau như phòng phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân, phục vụ khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, … Với cách tổ chức này, mỗi loại khách hàng khi giao dịch với ngân hàng sẽ chỉ cần phải liên hệ một bộ phận cụ thể, một nhân viên cụ thể và nhân viên này sẽ đáp ứng hầu như tất cả các nhu cầu dịch vụ của khách hàng Cách tổ chức này khắc phục các hạn chế của tổ chức theo chức năng, tuy nhiên nó lại đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải có trình độ cao hơn, hiểu biết sâu hơn để cùng một lúc có thể hiểu và thực hiện nhiều nghiệp vụ khác nhau Hiện nay, ngân hàng ở các nước phát triển thường tổ chức bộ máy theo đối tượng khách hàng

Hệ thống quy trình, quy chế nội bộ bao gồm toàn bộ các văn bản, quy định liên quan đến trình tự thực hiện các nghiệp vụ, trình tự kiểm tra, giám sát trong ngân hàng

và cơ cấu bộ máy để thực hiện những quy định đó Hệ thống quy chế nội bộ hoàn chỉnh, hoạt động có hiệu quả trước hết đảm bảo việc cung cấp dịch vụ của ngân hàng được trôi chảy, an toàn và đồng nhất, tránh được tình trạng lợi dụng chức vụ trong ngân hàng để trục lợi cá nhân thứ đến là làm căn cứ để xem xét, đánh giá, phát hiện lỗi sai phạm và xác định trách nhiệm của từng nhân viên khi có sự cố cũng như các phương án xử lý, khắc phục sự cố Hệ thống quy trình, quy chế nội bộ của ngân hàng phải được phổ biến trong toàn bộ nhân viên và phải liên tục được cập nhật, điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của ngân hàng, của pháp luật và môi trường kinh tế xã hội từng thời điểm

Trang 19

1.2.2.7 Nguồn nhân lực, trình độ công nghệ của ngân hàng

Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ nhất về mặt pháp lý với rất nhiều quy định buộc phải tuân theo trong mọi hoạt động, các nghiệp

vụ của ngân hàng cũng rất phức tạp và đòi hỏi tính chính xác cao, nhanh chóng, do đó trình độ nhân viên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng nói chung và đến lợi nhuận của ngân hàng nói riêng Hơn nữa, với xu hướng chuyển đổi tổ chức ngân hàng từ mô hình tổ chức theo chức năng sang mô hình tổ chức theo đối tượng khách hàng như hiện nay buộc nhân viên ngân hàng phải biết và chuyên về nhiều loại nghiệp vụ do đó trình độ, năng lực của người nhân viên ngân hàng ngày càng đỏi hỏi cao Ngoài ra, do sản phẩn của ngân hàng thường là vô hình và chất lượng thường được khách hàng đánh giá thông qua cách họ cảm nhận được trong quá trình nhận được dịch vụ từ nhân viên ngân hàng nên có thể nói nhân viên là yếu tố quyết định tạo nên tạo ra chất lượng dịch vụ và hình ảnh của khách hàng về ngân hàng

Hiện nay có rất nhiều công nghệ được áp dụng trong hoạt động kinh doanh, trong đó công nghệ thông tin đang là động lực, là tiền đề cho thương mại điện tử mà trong đó ngân hàng sẽ tiếp tục đóng vai trò là nơi thanh toán tiền nhanh chóng, tiện lợi

và an toàn giũa người bán và người mua Hiện nay, công nghệ thông tin đang đóng góp rất lớn đối với việc triển khai các tiện ích mới trong lĩnh vực ngân hàng như thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ATM, giao dịch qua internet, ngân hàng tại nhà… Vì vậy, những ngân hàng có sự đầu tư thoả đáng cho công nghệ sẽ có nhiều khả năng mở rộng khai thác thị trường thương mại điện tử cũng như thu hút được các khách hàng nhờ triển được sản phẩm gia tăng giá trị mới cho khách hàng

1.3 Hoạt động của NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay

1.3.1 Sự hình thành và phát triển NHTMCP tại Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam gắn liền với những biến động chính trị, xã hội của đất nước Trước 1975, Việt nam có hai hệ thống ngân hàng khác nhau ở hai miền Miền Bắc có hệ thống Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương theo địa giới hành chính và do nhà nước độc quyền sở hữu và quản lý Miền Nam tổ chức hệ thống ngân hàng theo mô hình của

Trang 20

các nước tư bản chủ nghĩa bao gồm Ngân hàng trung ương, ngân hàng phát triển, NHTM thuộc sở hữu nhà nước, các NHTM tư nhân, NHNNg và cơ sở tiết kiệm Từ

1975 đến 1986 hệ thống Ngân hàng Việt Nam được tổ chức thống nhất theo mô hình của Miền Bắc trước đó (Hình 1.3)

Từ 1986, cùng với chính sách cải tổ của Việt Nam, hệ thống ngân hàng cũng có

sự thay đổi, mặc dù các NHTM được hình thành nhưng tất cả thuộc sở hữu nhà nước, các thành phần kinh tế khác chưa được phép tham gia hoạt động ngân hàng (Hình 1.4) Tuy nhiên, hệ thống tổ này bộc lộ nhiều bất cập, không thích ứng được với tiến trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, làm cản trở tiến trình hội nhập và thu hút đầu

tư nước ngoài của Việt Nam nên đến 1990 hệ thống được cải tổ

Từ 1990, Pháp lệnh NHNNc và Pháp lệnh các Tổ chức tín dụng đã đánh dấu sự cải tổ trong hệ thống ngân hàng trong đó tách bạch dần vai trò của NHNNc như là ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng đóng vai trò ngân hàng trung gian Bên cạnh đó, dấu ấn của cuộc cải cách này là sự cho phép các thành phần kinh tế khác cùng tham gia kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng thông qua việc cho phép thành lập các NHTMCP nhà nước và nhân dân, NHLD và Chi Nhánh NHNN (Hình 1.5) Chính nhờ sự thay đổi này mà trong thời gian từ 1991 đến 1995 đã có đến 48 NHTMCP, 18 Chi Nhánh NHNNg và 4 NHLD đã được cấp giấy phép hoạt động

Đến năm 1997, Pháp lệnh NHNNc và Pháp lệnh các Tổ chức tín dụng đã được nâng lên thành Luật NHNNc và Luật Các tổ chức tín dụng càng khẳng định chính sách đã đề cập trong các Pháp lệnh trước đó đồng thời chức năng của NHNNc và các

tổ chức tín dụng tiếp tục được làm rõ Theo Luật Các tổ chức tín dụng, TCTD được phân thành hai loại hình là Ngân hàng và TCTD phi ngân hàng Loại hình Ngân hàng bao gồm các dạng ngân hàng như NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Loại hình TCTD phi ngân hàng là các tổ chức được thực hiện kinh doanh thường xuyên một số hoạt động ngân hàng nhưng không được phép nhận tiền gởi không kỳ hạn và làm các dịch vụ thanh toán TCTD phi ngân hàng bao gồm các Công ty Tài chính, Công ty cho thuê tài chính và các TCTD phi ngân hàng khác

Sau khi Luật các TCDT ra đời, số lượng các NHTMCP đã tăng mạnh lên 84

Trang 21

ngân hàng vào năm 1997 Tuy nhiên, nhìn chung quy mô hoạt động của các NHTMCP này còn nhỏ bé, sức cạnh tranh không cao, công tác quản lý của Nhà nước

và NHNN còn chưa sâu sát, ảnh hưởng của khủng hoản tiền tệ châu Á đã dẫn đến hàng loạt NHTMCP hoạt động không hiệu quả và buộc phải đóng cửa hoặc sáp nhập lại với nhau nên đến 2003 số lượng NHTMCP đang hoạt động trên cả nước chỉ là 36 ngân hàng (Bảng 1.1)

1.3.2 Quản lý nhà nước đối với loại hình NHTMCP

Các NHTMCP đang hoạt động hiện nay được chia làm hai loại là NHTMCP đô thị và NHTMCP nông thôn trong đó các NHTMCP đô thị có phạm vi nghiệp vụ được phép hoạt động rộng hơn Hiện nay Chính phủ và NHNNc đang quản lý các NHTMCP trên các mặt chủ yếu như sau:

Về phạm vi hoạt động: Hiện 25 NHTMCP đô thị hoạt động ở các tỉnh, thành

phố trên cả nước về nguyên tắc có thể tham gia đầy đủ các nội dung của nghiệp vụ ngân hàng như các ngân hàng thương mại quốc doanh, tuy nhiên có một số lĩnh vực

mà các NHTMCP đô thị phải xin phép NHNNc trước khi thực hiện như kinh doanh ngoại hối, vàng trên thị trường trong và ngoài nước, phát hành chứng chỉ tiền gởi, trái phiếu để huy động vốn, thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế

Về sở hữu: Theo quy định tại Quyết định 1122/2001QĐ-NHNN ngày

04/09/2001 của thống đốc NHNN thì các NHTMCP đô thị phải có ít nhất 35 cổ đông trong đó bị khống chế về cơ cấu cổ phần như cá nhân không được phép sở hữu quá 15% vốn điều lệ của NHTMCP; tổng cổ phần sở hữu bởi những người trong một gia đình tại một ngân hàng không được phép vượt quá 30% vốn điều lệ; Phần sở hữu của Doanh nghiệp Nhà nước không được vượt quá 40% vốn điều lệ của ngân hàng; Phần

sở hữu của các pháp nhân không phải doanh nghiệp nhà nước không được vượt quá 30% vốn điều lệ của NHTMCP Hơn nữa, việc chuyển nhượng cổ phần trong một số trường hợp phải được sự cho phép của NHNNc như cổ phần ghi tên của hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, chuyển nhượng cổ phiếu ký danh vượt quá 20% vốn điều lệ… Tuy nhiên, Luật sửa đổi Luật các TCTD của Quốc Hội ban hành năm

2004 có hiệu lực từ 1/10/2004 đã bãi bỏ yêu cầu về vốn của nhà nước trong các

Trang 22

NHTMCP và do vậy các NHTMCP hiện nay không còn được gọi là NHTMCP nhà nước và nhân dân nữa

Về vốn điều lệ: NHTMCP bị giới hạn và kiểm soát về việc sử dụng vốn điều lệ

như không được phép đầu tư vào tài sản cố định vượt quá 50% vốn điều lệ, việc thay đổi vốn điều lệ phải được chấp nhận bằng văn bản của NHNNc và phải thực hiện trong năm tài chính

Vấn đề an toàn trong hoạt động: NHTMCP cũng như các NHTM khác phải

tuân thủ yêu cầu của NHNNc về các tỷ lệ đảm bảo an toàn như : Khả năng thanh khoản được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay với tài sản

“Nợ” phải thanh toán có điều chỉnh theo hệ số rủi ro tại một thời điểm nhất định của ngân hàng; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu bằng tỷ lệ vốn tự có so với tổng tài sản có kể cả các cam kết ngoại bảng được điều chính theo hệ số rủi ro; Tỷ lệ tối đa các nguồn vốn ngắn hạn được dùng để cho vay trung và dài hạn Các tỷ lệ này thay đổi theo từng thời kỳ phụ thuộc vào quy định của NHNNc và theo quy định hiện hành các NHTMCP được áp dụng chung tỷ lệ với các loại hình ngân hàng khác

Bên cạnh các quy định mang tính đặc thù trên, NHTMCP còn phải thực hiện các các quy định rất chặt chẽ khác của NHNN, Bộ Tài Chính và của Chính Phủ trong các lĩnh vực ngân hàng như các NHTM khác như quy định về cho vay không có tài sản, nhận tài sản đảm bảo, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các chế độ kế toán, báo cáo, qui định

về thanh tra, kiểm tra của NHNNc, đảm bảo tình trạng ngoại hối, tỷ giá ngoại tệ mua bán trên thị trường hằng ngày …

Các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày: Hiện nay NHTMCP cũng như các NHTM

khác đều phải tuân theo những quy định của NHNNc về cung cấp dịch vụ kinh doanh hằng ngày như nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, đầu tư, huy động tiền gởi, kinh doanh ngoại tệ…

1.3.3 Vị thế của NHTMCP trong hệ thống ngân hàng Việt Nam

Sau hơn 10 năm hoạt động, hệ thống NHTMCP Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến động cả về chất lẫn về lượng nhưng nhìn chung xu thế là ngày càng được hoàn thiện và phát triển không ngừng và khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và trong nền kinh tế đất nước nói chung

Trang 23

Trong những năm gần đây, hoạt động của khối NHTMCP đã có những bước tiến vượt bật trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực huy động vốn và cho vay Tổng huy động vốn của khối NHTMCP từ chỗ chỉ chiếm 10,8% thị phần trong năm

2002 đã tiến lên đạt 11,9% thị phần trong năm 2003 Tương tự, lĩnh vực cho vay cũng gia tăng từ 9,2% thị phần lên mức 10,6% thị phần Việc gia tăng thị phần huy động và cho vay cũng đã làm tăng được tỷ trọng tài sản của các NHTMCP trong tổng tài sản của các ngân hàng từ mức 9,7% lên mức 10,9%

Một điều đáng quan tâm nữa là mặc dù có sự gia tăng mạnh dư nợ tín dụng so với các loại hình ngân hàng khác nhưng tỷ trọng nợ quá hạn của các NHTMCP trong toàn ngành ngân hàng lại có sự giảm sút đáng kể từ mức chiếm 16,8% tổng nợ quá hạn năm 2001 xuống còn 6,4% trong năm 2003 Điều này chứng tỏ các NHTMCP đã

xử lý vấn để nợ quá hạn rất tốt đồng thời việc giảm này cũng cho thấy chất lượng tài sản có (các khoản cho vay và đầu tư) của các NHTMCP đã được cải thiện đáng kể(Bảng 1.2)

1.4 Tự do hoá thị trường dịch vụ ngân hàng theo HĐTMVN-HK

Hiệp định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ (HĐTMVN-HK) là một trong những hiệp định về thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, không những hiệp định mở đường cho hàng hoá Việt Nam được thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ mà Hiệp Định còn là bước tiếp cận của Việt Nam đối với những nguyên tắc trong tự do hoá thương mại, đặc biệt là thương mại dịch vụ, toàn cầu trong khuôn khổ WTO

1.4.1 Nguyên tắc chung của các cam kết trong HĐTMVN-HK

Cam kết của các bên trong hiệp định được thực hiện theo hai nguyên tắc là Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và Nguyên tắc về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia

Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc Các Bên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho các

dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn

so với sự đối xử mà Bên đó dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào

Nguyên tắc về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia

- Trong các lĩnh vực các Bên đã cam kết về tiếp cận thị trường theo lộ trình cụ thể,

Trang 24

các Bên sẽ không đưa ra các biện pháp nhằm ảnh hưởng đến hoạt động tiếp cận thị trường như hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ bằng việc quy định số lượng doanh nghiệp, cho phép độc quyền hay đòi hỏi phải kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết trước khi cho phép; Các hạn chế về tổng trị giá của các giao dịch dịch vụ hay tài sản, hạn chế về tổng số lượng giao dịch dịch vụ hay tổng số lượng đầu ra của dịch vụ bằng việc qui định hạn ngạch số lượng hay các đòi hỏi kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết; Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được thuê trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hay hạn chế số thể nhân một nhà cung cấp dịch vụ có thể thuê trong khi những thể nhân này là những người cần thiết và liên quan trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ; Đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ phải thông qua hình thức thực thể pháp lý nhất định để

có thể cung cấp một dịch vụ; Hạn chế về sự tham gia góp vốn nước ngoài hay hạn chế

tỷ lệ tối đa đối với phần nắm giữ vốn của bên nước ngoài hay tổng trị giá của từng dự

án hay tổng số dự án đầu tư nước ngoài

- Trong các lĩnh vực dịch vụ, mỗi Bên dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của mình

1.4.2 Cam kết của Việt Nam trong HĐTMVN-HK về mở cửa thị trường ngân hàng

Theo cam kết của Việt Nam tại HĐTMVN-HK, các nhà cung cấp dịch vụ tài ngân hàng của Mỹ được phép cung cấp trong 12 phân ngành dịch vụ từ việc nhận tiền gởi và các khoản tiền từ công chúng đến việc tham gia phát hành chứng khoán (Hình 1.6) Việc triển khai các dịch vụ này được xác định trên bốn hình thức cung cấp dịch

chính-vụ theo chuẩn của WTO là:

(1) Cung cấp qua biên giới – Là hình thức mà theo đó nhà cung cấp dịch vụ vẫn ở

Mỹ và cung cấp dịch vụ cho người sử dụng là cá nhân hay thể nhân Việt Nam Chúng

ta không có cam kết mở cửa cụ thể cho các hoạt động cung cấp dịch vụ này

(2) Sử dụng ở nước ngoài - Là hình thức người sử dụng dịch vụ Việt Nam đến Mỹ

và sử dụng các dịch vụ tài chính tại đó Chúng ta cam kết không hạn chế hoạt động này theo Hiệp Định

(3) Hiện diện thể nhân – Là hình thức nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ sẽ cử đại diện của mình (một thể nhân) đến Việt Nam để cung cấp dịch vụ Việt Nam cũng không có

Trang 25

các cam kết mở cửa cụ thể cho loại hình cung cấp dịch vụ này

(4) Hiện diện thương mại – Là hình thức nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ thiết lập

sự có mặt của mình tại Việt Nam thông qua các pháp nhân như Ngân hàng chi nhánh, Ngân hàng con Việt Nam cam kết không hạn chế sự hiện diện thương mại của các Ngân hàng Hoa Kỳ, trừ các quy định sau:

Quy định hạn chế chung:

a Việc hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức Chi nhánh Ngân Hàng Hoa Kỳ, Ngân hàng Liên Doanh Việt Nam - Hoa Kỳ, Ngân hàng con của ngân hàng Hoa Kỳ đều phải nộp đơn xin phép

b Vốn của Ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh của Ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam tối thiểu là 15 triệu USD và phải có văn bản bảo lãnh chịu mọi trách nhiệm về chi nhánh tại Việt Nam Vốn của Ngân hàng liên doanh Việt Nam – Hoa Kỳ, Ngân hàng con của Ngân hàng Hoa Kỳ tối thiểu là 10 triệu Chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ không được đặt các điểm giao dịch phụ thuộc

c Việt Nam được quyền hạn chế việc tham gia cổ phần của các Ngân hàng Hoa

Kỳ tại các NHTMQD được cổ phần hoá như mức tham gia của các ngân hàng Việt Nam vào các ngân hàng này

Quy định hạn chế cụ thể theo lộ trình

a Trong vòng ba năm sau ngày Hiệp định có hiệu lực (cụ thể là đến 10/12/2004) Ngân hàng liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ không được nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất Sau thời hạn này, các Chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ, NHLD với Hoa Kỳ chỉ được phép nhận thế chấp quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và có được quyền sử dụng đất trong trường hợp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này mất khả năng thanh toán, phá sản, giải thể Cũng sau thời điểm 10/12/2004, Việt Nam dành đối xử quốc gia đầy đủ đối Chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ, NHLD với Hoa Kỳ về quyền tiếp cận các NHTW trong các hoạt động tái chiết khấu, swap và forward

b Trong vòng 8 năm từ ngày Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam có quyền hạn chế quyền nhận tiền gởi bằng Đồng Việt Nam từ các pháp nhân Việt Nam của Chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam theo lịch trình Năm thứ nhất CN Ngân hàng Hoa Kỳ

Trang 26

chỉ nhận tiền gởi VND tối đa 50% vốn pháp định đã chuyển vào, tăng dần đến 900% vào năm thứ 7 và được bãi bỏ vào năm thứ 8 (tức vào 10/12/2009) Sau 10/12/2009, Các ngân hàng có vốn đầu tư của Hoa Kỳ được quyền phát hành thẻ tín dụng như các ngân hàng Việt Nam

c Sau 9 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (tức sau ngày 10/12/2010) Ngân hàng Hoa Kỳ được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ tại Việt Nam Trong thời gian đó, các ngân hàng Hoa Kỳ có thể thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của phí Hoa Kỳ không dưới 30% nhưng không vượt quá 49%

d Trong vòng 10 năm từ ngày Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam có quyền hạn chế quyền nhận tiền gởi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam của Chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam theo lịch trình Năm thứ nhất CN Ngân hàng Hoa Kỳ chỉ nhận tiền gởi VND tối đa 50% vốn pháp định đã chuyển vào, tăng dần đến 1000% vào năm thứ 9 và được bãi bỏ vào năm thứ 10 (tức vào 10/12/2011)

e Chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán Hoa Kỳ được phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam

Tóm lại, các cam kết và lộ trình như trên của Việt Nam hướng tới ba vấn đề là:

- Mở rộng các dịch vụ ngân hàng mà các ngân hàng, nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ được phép cung cấp trong thời gian tới, trong đó bao gồm những loại dịch vụ mà các ngân hàng thương mại trong nước hiện nay vẫn chưa cung cấp

- Loại bỏ dần những hạn chế đối với ngân hàng Hoa Kỳ trong cung cấp dịch vụ

- Cho phép các ngân hàng Hoa Kỳ có thêm nhiều tài sản trong hệ thống NHTM Việt Nam (thông qua hình thức mua cổ phần, thành lập chi nhánh, ngân hàng con)

- Đi đôi với việc thực hiện các cam kết trên là việc Việt Nam phải thực hiện minh bạch hoá chính sách, giảm dần các biện pháp hành chính kiểm soát hoạt động ngân hàng

Trang 27

Kết luận chương 1

Chương 1 tác giả đã tập trung hệ thống và trình bày các vấn đề lý luận chung về NHTM trong đó xét kỹ đến việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM thông qua đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng, xem xét các yếu tố tác động đến lợi nhuận nhằm làm cơ sở cho những phân tích, đánh giá về hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP trong chương 2 Phần cuối chương 1 tác giả tóm lược và hệ thống hóa lại những cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng theo HĐTMVN-HK nhằm làm rõ những bước mà Việt Nam phải thực hiện trong thời gian tới để thực thi hiệp định để từ đó có cái nhìn cụ thể hơn về những thay đổi trên thị trường ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới

Trang 28

Chương 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và TÁC ĐỘNG CỦA HĐTMVN-HK ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tác động của việc hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng đối với hiệu quả

kinh doanh của các NHTM – Trường hợp các NHTMCP tại TP Hồ Chí Minh

2.1.1 Một số quan điểm lý luận về tác động của tự do hoá thị trướng dịch vụ ngân

hàng đối với hệ thống NHTM của các nước thực hiện mở cửa

Như đã trình bày ở chương 1, thực hiện HĐTMVN-HK trong thời gian tới ở Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng thực chất là việc chúng ta mở rộng hơn thị trường dịch vụ ngân hàng cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ trên cả hai mặt là vốn đầu tư và số lượng lĩnh vực được phép tham gia hoạt động Do đó, việc xem xét tác động của việc thực hiện HĐTMVN-HK đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam thực chất là xem xét tác động của việc chúng ta mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng đến các NHTM Các tác động này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực cụ thể như sau:

Tác động tích cực:

- Cải thiện tính hiệu quả của hệ thống ngân hàng Điều này có được là do các NHNNg gây sức ép cạnh tranh trong việc cải thiện chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng các sản phẩm tài chính mới của các ngân hàng trong nước

- Tạo cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế về các vấn đề tài chính, dịch vụ ngân hàng qua

đó nâng cao uy tín, địa vị của các ngân hàng trong nước

- Nâng cao trình độ quản lý của các ngân hàng trong nước Khi NHNNg được tham gia thị trường chắc chắn sẽ áp dụng trình độ quản lý cao và trình độ này sẽ được chuyển cho các nhân viên người bản xứ làm thuê trong các NHNHg Những người này sau một thời gian làm việc cho NHNHg sẽ mang kiến thức mới quay về làm việc cho các ngân hàng trong nước và qua đó cải thiện trình độ quản lý của ngân hàng trong nước

- Góp phần thúc đẩy kiện toàn hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng, qua đó góp phần giúp các NHTM hoạt động an toàn hơn, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh cũng như việc cạnh không lành mạnh

Trang 29

Tác động tiêu cực

- Các NHNNg với khả năng tốt về đánh giá rủi ro, cung cấp dịch vụ và sức mạnh về vốn sẽ chiếm lấy các khách hàng tốt, khách hàng có nhiều tiềm năng và đẩy cho các ngân hàng trong nước khách hàng có mức độ rủi ro cao Điều này làm ảnh hưởng đến hoạt động và lợi nhuận của các ngân hàng trong nước

- Các NHNNg còn làm giảm mức độ ổn định của các ngân hàng trong nước Do năng lực tài chính của các NHTM trong nước còn yếu, trình độ quản trị ngân hàng còn thấp nên khi đương đầu cạnh tranh với các NHNNg, các ngân hàng trong nước sẽ có thể phản ứng bằng cách chấp nhận những hoạt động có tính rủi ro cao hơn nhằm duy trì lợi nhuận để tồn tại Các hoạt động rủi ro này, cùng với khả năng quản trị kém, sẽ tác động nghiêm trọng đến ngân hàng trong tương lai

- Nguồn nhân lực của các ngân hàng trong nước bị ảnh hưởng do các NHNNg với mức lương cao thu hút những người có năng lực về phía họ Tình trạng thiếu nhân lực

có trình độ cao sẽ tác động tiêu cực đến việc phát triển của ngân hàng

Tóm lại, việc tự do hoá ngành ngân hàng sẽ có những tác động tích cực đến hệ thống tài chính quốc gia, đến lợi ích của khách hàng nói chung nhưng xét vấn đề dưới góc độ của các ngân hàng trong nước thì tác động tiêu cực là chủ yếu

2.1.2 Các kết quả nghiên cứu thực tế về tác động của việc tự do hoá ngành ngân

hàng đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nước

Theo công trình nghiên cứu của Asli Demirguc-Kunt, Luc Laeven and Ross Levine (2003) sử dụng số liệu của 1400 ngân hàng ở tại 72 quốc gia khác nhau đã có những kết luận như sau:

- Các quốc gia càng có quy định khó khăn về gia nhập thị trường trong nước đối với các ngân hàng nước ngoài thì lợi nhuận của các ngân hàng nội địa ở các quốc gia đó càng cao Tác động này thực sự mạnh mẽ khi có sự cạnh tranh tự do trong nền kinh tế

- Ở các nước đang phát triển, càng có những quy định chặt chẽ trong việc quản trị, điều hành ngân hàng thì lợi nhuận của ngân hàng trong nước càng cao

- Thêm vào đó công trình nghiên cứu này còn kết luận rằng, với các điều kiện khác được giữ nguyên thì việc tập trung tài sản (xác định bằng tỷ lệ tài sản nắm bởi 3 ngân

Trang 30

hàng lớn nhất so với tổng tài sản trong ngành ngân hàng) trong lĩnh vực ngân hàng có tác động tích cực đến lợi nhuận ròng của ngân hàng trong nước

- Các quốc gia càng hạn chế ngân hàng tham gia các hoạt động phi truyền thống như bảo lãnh phát hành chứng khoán, bào hiểm … thì lợi nhuận của các ngân hàng lại cao hơn Điều này được giải thích bởi việc cho phép các ngân hàng trong nước mở rộng lĩnh vực sẽ làm cho hoạt động bị phân tán vì các ngân hàng này bị cuốn vào những lĩnh vực mới không phải là thế mạnh mà lơ là những lĩnh vực kinh doanh cũ làm cho lợi nhuận toàn cục bị giảm sút

Cũng xem xét vấn đề lợi nhuận của các ngân hàng trong nước bị tác động như thế nào khi mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng, tác giả Ross Levine (2002) đã thực hiện nghiên cứu số liệu từ 1.165 ngân hàng ở 47 quốc gia có xét đến các yếu tố khác biệt giữa các quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy việc hạn chế các ngân hàng nước ngoài tham gia thị trường trong nước làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng trong nước Điều này ngầm ý rằng khi thực hiện mở của thị trường ngân hàng trong nước, thì lợi nhuận của các ngân hàng trong nước có xu hướng giảm đi so với khi được bảo hộ

Trước đó, tác giả Stijn Claessens, Asli Demirguc and Harry Huiginza (1998) trên cơ sở dữ liệu khảo sát từ năm 1988 đến 1995 ở 80 quốc gia, bao gồm quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển cũng đã đi đến kết luận rằng:

- Đối với các nước đang phát triển, phần sở hữu nước ngoài trong hệ thống ngân hàng càng lớn thì lợi nhuận và chi phí hoạt động của các ngân hàng trong nước càng giảm Điều này ngầm ý rằng khi mở cửa các ngân hàng trong nước đã phải giảm rất mạnh các khoản phí thu từ khách hàng Kết luận này cho thấy việc nới lỏng các quy định về hạn chế sự thâm nhập của các NHNNg sẽ làm tăng ích lợi cho người sử dụng dịch vụ nhưng làm giảm lợi nhuận của bản thân các ngân hàng trong nước

- Số lượng các NHNNg tham gia vào thị trường trong nước có tác động làm giảm lợi nhuận các ngân hàng trong nước nhiều hơn là thị phần mà các NHNNg chiếm được trên thị trường Nói cách khác, các NHNNg ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng trong nước là do sự tham gia của họ vào thị trường hơn là việc họ giành lấy thị phần đáng kể sau đó

Trang 31

Các nghiên cứu ở cấp độ khu vực và quốc gia cũng có kết luận tương tự về tác

động của việc mở cửa thị trường ngân hàng Trong đó đáng chú ý là các kết quả nghiên cứu thu được tại các nước đang phát triển đã thực hiện mở của thị trường tài chính-ngân hàng như Ấn Độ, Argentina và Braxin

Tại Ấn Độ, theo kết quả nghiên cứu của Petya Koeva (2003) cho thấy sức ép cạnh tranh gia tăng trong quá trình tự do hoá tài chính tại Ấn độ đã làm lợi nhuận của các ngân hàng đã có sự suy giảm đáng kể mặc dù chính sức ép này cũng làm giảm các chi phí trung gian trong hoạt động của ngân hàng, tức tạo ra lợi ích cho người tiêu dùng nói chung

Tại Argentina và Braxin, hai quốc gia Châu Mỹ La Tinh đã thực hiện mở cửa thị trường tài chính và dịch vụ ngân hàng vào thập niên chín mươi, một nghiên cứu của Gorge Clarke, Robert Cull, Laura D’Amato và Andrea Molinari (1999) về các ngân hàng Argentina và của Marcos Roberto Vasconcelos và Jose Ricardo Fucidji về các ngân hàng Braxin cũng cho thấy ở tại hai quốc gia này, các NHNNg thực sự tạo ra

áp lực cạnh tranh lên các ngân hàng trong nước Dưới tác động của cạnh tranh, lợi nhuận của các ngân hàng trong nước hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cấp tín dụng công nghiệp đã có sự giảm sút đáng kể Tuy nhiên, NHNNg ít ảnh hương hơn đối với những ngân hàng trong nước tập trung hoạt động vào việc cho vay tiêu dùng cá nhân Điều này được giải thích nhờ những lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng trong nước

có được do hiểu rõ thị trường nội địa và vì các NHNNg trong những năm đầu thâm nhập thường tập trung vào lĩnh vực cấp tín dụng công nghiệp cho những nhà đầu tư nước ngoài hơn là khách hàng trong nước sở tại

Tóm, lại, cho đến nay các công trình nghiên cứu đánh giá tác động của việc mở cửa thị trường ngân hàng dù ở quy mô khu vực, toàn cầu hay quốc gia đều có chung kết luận rất đáng quan tâm là việc mở cửa thị trường ngân hàng luôn làm lợi nhuận của các ngân hàng trong nước bị giảm, mặc dù việc mở cửa thị trường là có mang lại lợi ích cho người tiêu dùng

2.1.3 Tác động của việc thực hiện HĐTMVN-HK đối với NHTM Việt Nam và NHTM

tại TP Hồ Chí Minh

2.1.3.1 Tác động của việc thực hiện HĐTMVN-HK đối với các NHTM Việt Nam

Trang 32

Hiện nay, do các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng theo

lộ trình của HĐTMVN-HK chưa đến thời hạn phải thực hiện hoàn toàn nên việc xem xét tác động của nó đối với hiệu quả kinh doanh mà cụ thể là lợi nhuận của các NHTM Việt Nam bằng các thông tin trong nước là rất khó có thể thực hiện

Tuy nhiên, dựa vào các kết quả nghiên cứu thống kê thực nghiệm đã được công

bố về tác động của mở cửa thị trường ngân hàng như đã trình bày ở phần trên, chúng

ta có thể thấy rằng khi thực hiện tự do hoá thị trường ngân hàng, đặc biệt là cho phép

sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài, luôn làm cho lợi nhuận của các ngân hàng thương mại nội địa ở các nước đang phát triển có xu hướng bị giảm sút Việt Nam chúng ta, với nét tương đồng là quốc gia đang phát triển và có thị trường tài chính còn chưa hoàn chỉnh, cũng sẽ không thể là ngoại lệ trong quá trình thực hiện mở cửa thị trường tài chính- ngân hàng Nói cách khác, các NHTM nói riêng và NHTMCP Việt Nam hiện nay đang đứng trước nguy cơ bị giảm hiệu quả kinh doanh khi Việt Nam thực hiện mở cửa thị trường tài chính-ngân hàng

Mặc dù HĐTMVN-HK là một hiệp định song phương nên việc mở cửa thị trường tài chính-ngân hàng của Việt Nam chỉ được áp dụng đối với các ngân hàng Hoa Kỳ mà không phải đối với tất cả các nước, nhưng do các ngân hàng Hoa Kỳ là những Ngân hàng lớn và rất có uy tín trên thế giới, hơn nữa hầu như tất cả các tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn trên thế giới đều có Ngân hàng chi nhánh của mình tại Hoa Kỳ nên khi Việt Nam mở cửa cho các ngân hàng Hoa Kỳ thì các tập đoàn ngân hàng ở các quốc gia khác có thể vào Việt Nam thông qua thiết lập ngân hàng con của chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ Nguy cơ về việc suy giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh doanh của các NHTM trong nước sẽ còn tăng hơn nữa khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện một cách đầy đủ các cam kết trong thời gian tới vì theo thông tin từ Đoàn đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam thì những cam kết mở cửa của chúng ta trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng đối với WTO còn thông thoáng hơn những cam kết của Việt Nam trong HĐTMVN-HK

2.1.3.2 Tác động của việc thực hiện HĐTMVN-HK đối với NHTMCP tại TP Hồ

Chí Minh

Tính đến cuối năm 2003 có 17 NHTMCP đặt Hội sở trên địa bàn TP Hồ Chí

Trang 33

Minh trong đó 16 NHTMCP đô thị và 1 NHTMCP nông thôn hình thành nên một mạng lưới gồm 45 chi nhánh cấp 1, 40 chi nhánh cấp 2, 40 phòng giao dịch Ngoài ra còn có 5 chi nhánh cấp 1 khác của các NHTMCP có hội sở ngoài TP Hồ Chí Minh Điều này cho thấy số lượng chi nhánh của các NHTMCP ngoài thành phố là không đáng kể, hơn nữa, những chính sách, chiến lược phát triển, chiến lược kinh doanh của các NHTMCP chủ yếu phụ thuộc vào hội sở nên trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ quan tâm đến các NHTMCP đô thị có hội sở tại thành phố Hồ Chí Minh mà không xét đến chi nhánh của các NHTMCP ngoài thành phố Hồ Chí Minh và NHTMCP nông thôn trên địa bàn (NHTMCP Nông thôn An Bình) Cụm từ NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh được dùng để chỉ các NHTMCP đô thị có hội sở đặt tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Đối với các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, tác động tiêu cực của việc thực thi HĐTMVN-HK, và sắp tới là các cam kết trong khuôn khổ WTO, sẽ còn mạnh hơn ở những địa phương khác vì các nguyên nhân:

- TP Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính lớn nhất cả nước, là nơi nhu cầu về sử dụng dịch vụ tài chính cao ở cả mức độ doanh nghiệp lẫn cá nhân Đây là lực hút đối với các ngân hàng nước ngoài muốn mở rộng thị trường, tìm kiếm lợi nhuận

- TP Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi có tốc

độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất cả nước và chiếm tỷ trọng rất lớn các nhà đầu tư nước ngoài Điều này thu hút các ngân hàng mở chi nhánh của họ tại đây nhằm phục

vụ cho các nhà đầu tư mỗi nước

- Tp Hồ Chí Minh có cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

và nguồn nhân lực phát triển nhất cả nước, phù hợp cho hoạt động của ngành ngân hàng vốn rất cần những nhân viên có trình độ cao và hệ thống thông tin đảm bảo

Tất cả những yếu tố trên sẽ tạo ra lực hút rất lớn để các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài, trước hết là Hoa Kỳ, chọn TPHCM làm nơi mở chi nhánh, mở ngân hàng con, tạo nên sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các NHTMCP trên địa bàn Thực

tế hoạt động ngân hàng trong thời gian qua đã chứng minh rất rõ cho nhận định này thông qua số ngân hàng có vốn nước ngoài được mở tại TP Hồ Chí Minh so với cả nước Tính đến cuối năm 2003, có đến 15 trong tổng số 26 chi nhánh NHNNg hoạt

Trang 34

động tại Việt Nam đặt chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 56%, đó là chưa kể 3 trong số 11 Chi nhánh NHNNg còn lại tuy không mở chi nhánh chính nhưng cũng đã đặt Chi nhánh phụ tại TPHCM; Có 23 trong tổng số 40 văn phòng đại diện của các NHNNg (chiếm 57,5%) đã chọn TPHCM làm nơi hoạt động Đặc biệt, 100% ngân hàng Liên Doanh đều đặt Hội sở tại TPHCM

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của NHTMCP trên địa bàn Thành Phố

Hồ Chí Minh

2.2.1 Thực trạng môi trường hoạt động của các NHTMCP tại TP Hồ Chí Minh

2.2.1.1 Vị trí của TP Hồ Chí Minh là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các

Ngân hàng TMCP

Tại Quyết định số 44/1998/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xem vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) phía Nam gồm Thành Phố Hồ Chí Minh cùng với ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương như là một không gian kinh tế thống nhất và là hạt nhân cho sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ có mối quan hệ chặt chẽ với khu vực Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long Thực tiễn trong những năm qua cho thấy VKTTĐ phía Nam là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất cả nước Trong giai đoạn 1991-1999 trong khi nhịp độ tăng trưởng của cả nước là 7,6% thì của vùng kinh tế đạt 11,2%, năm 2001 vùng đạt mức tăng trưởng 10,9% vượt xa mức trung bình cả nước là 6,8% GDP bình quân đầu người trong vùng ở mức cao bằng 2,7 lần

so với mức trung bình của cả nước

Cơ cấu đầu tư của VKTTĐ phía Nam cũng thể hiện sự năng động của các thành phần kinh tế đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài quốc doanh Trong khi VKTTĐ phía Bắc còn dựa nhiều vào Nhà nước với mức đầu tư của nhà nước đến 62% thì tỷ lệ này ở VKTTĐ phía Nam chỉ là 37,5% Ngược lại, vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vốn đầu tư nước ngoài tại vùng KTTĐ phía Nam tương ứng là 21,7% và 40,58% so với vùng KTTĐ phía Bắc là 15,91% và 22,19%

Theo số liệu thống kê năm 2003 của Tổng cục thống kê (Bảng 2.1), vùng KTTĐPN là vùng tuy chỉ tập trung 34,2% số lượng các DN trên cả nước nhưng hiệu

Trang 35

quả kinh doanh của các doanh nghiệp này là rất cao, chiếm đến 63,4% tổng lợi nhuận trước thuế tạo ra trong cả nước Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng vốn của các DN trong vùng cũng cao hơn 10% so với mức trung bình cả nước (đạt tỷ lệ 44.1% so với 33.8% của cả nước) Tỷ lệ này tạo ra môi trường tương đối an toàn cho hoạt động tín dụng cho các ngân hàng trong vùng so với ở các vùng khác trong cả nước

2.2.1.2 Nhu cầu của xã hội đối với dịch vụ ngân hàng còn rất cao

Theo điều tra của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam thì tỷ lệ vốn vay trên tổng tài sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ là 229 triệu/1.710 triệu, tức khoản 13.4% và cũng chỉ có khoản 50% số DNVVN được khảo sát là có vay nợ và hầu hết là vay từ các nguồn khác nhau Riêng đối với nguồn vốn ngân hàng, chỉ có 24,7% số doanh nghiệp khảo sát là có thử tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, trong đó chỉ có 20,2% là thành công (Bảng 2.2) Từ những kết quả này cho thấy hiện nay khả năng mở rộng hoạt động tín dụng của các NHTM đối với đối tượng khách hàng DNVVN là rất lớn

Bên cạnh đó, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng cá nhân như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ… cũng ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng dân trí và thu nhập của dân cư, đặc biệt là dân cư ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với thu nhập bình quân đầu người gấp đôi mức trung bình của cả nước Trong vòng 2 năm từ 2001 đến hết năm 2003, số lượng tài khoản cá nhân trên địa bàn TP HCM đã tăng lên gần gấp 3 lần

và số dư trung bình trên các tài khoản này cũng tăng lên trên 3 lần (Bảng 2.3)

2.2.1.3 Ảnh hưởng của thực hiện các cam kết tự do hoá mậu dịch đến hoạt động NH

Các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM mặc dù có trình độ công nghệ cao và

có tỷ chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ nền kinh tế (Bảng 2.4) Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM vẫn còn nhỏ bé, trình độ công nghệ còn lạc hậu, có sức cạnh tranh kém Do đó, khi thực hiện các cam kết tự do hoá mậu dịch một số doanh nghiệp ở một số ngành sẽ rơi vào tình trạng khó khăn hoặc phá sản do không cạnh tranh nổi với các sản phẩm cùng loại nhập ngoại Thêm vào đó, việc chậm gia nhập vào WTO đã làm cho một các ngành có thế mạnh của Việt Nam không có điều kiện để phát huy và làm cho các doanh nghiệp

ở các ngành này có nguy cơ mất thị trường xuất khẩu Hậu quả của tình hình kinh

Trang 36

doanh sa sút của các doanh nghiệp thường là sự gia tăng khoản nợ quá hạn của các doanh nghiệp này tại ngân hàng qua đó gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với NHTMCP thì tác động nói trên càng trầm trọng hơn vì hiện nay

do vốn tự có của các NHTMCP không cao nên thường không thể cho vay đối với các

DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao mà chỉ cho tiếp cận được đối tượng khách hàng là doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH vừa và nhỏ, có năng lực cạnh tranh kém, rất dễ lâm vào khó khăn

2.2.1.4 Môi trường pháp lý, môi trường cạnh tranh được cải cách theo hướng tăng

cường sự tự chủ của các NHTMCP và tiếp cận với các định chế của WTO

Sau giai đoạn nhà nước tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các NHTM sau hàng loạt vụ án kinh tế lớn liên quan đến các ngân hàng như vụ Tamexco, Epco-Minh Phụng… trong những năm gần đây, Chính phủ và NHNNc đã ban hành nhiều quy định theo hướng tăng cường tính tự chủ của các NHTM, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng Quan điểm này được thể hiện

rõ trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng vừa được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực vào tháng 10/2004 Theo Luật sửa đổi thì hoạt động tín dụng chính sách đã hoàn toàn tách ra khỏi hoạt động tín dụng thương mại, các NHTM không còn phải thực hiện chức năng của các ngân hàng chính sách như ưu tiên đối với các vùng, lĩnh vực như vùng núi, hải đảo hay người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Các TCTD Nhà nước không còn được đối xử thiên vị; Các NHTM tự chịu trách nhiệm trong việc có yêu cầu phải có tài sản đảm bảo hay không trước khi cấp tín dụng; Giảm một số hoạt động buộc các ngân hàng phải xin phép NHNN như hoạt động phát hành các chứng chỉ tiền gởi; Giảm các yêu cầu về đảm bảo tỷ lệ an toàn của các NHTM; Bãi bỏ yêu cầu phải có phần vốn của Nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước trong các NHTMCP…

Bên cạnh đó, trong thời gian qua cơ chế điều hành nền kinh tế của nhà nước cũng có nhiều bước đi tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng như NHNNc đã cho phép các NHTM thực hiện một số nghiệp vụ mới như mua bán ngoại

tệ hoán đổi với khách hàng, mua bán quyền chọn ngoại tệ, nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, bãi bỏ giới hạn lãi suất cho vay để ngân hàng và người vay tự thoả thuận, mở rộng

Trang 37

biên độ mua bán đồng Đô la Mỹ từ mức 0,1% lên 0,5% so với tỷ giá chính thức của NHNNc công bố, cho các ngân hàng rộng quyền hơn trong việc xử lý tài sản đảm bảo của các khoản nợ quá hạn …

Trong thời gian tới, theo Chương trình hành động của Chính phủ ban hành theo Quyết định 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về công tác xây dựng, sửa đổi bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách thương mại đã đưa ra định hướng “hoàn thiện hệ thống pháp luật cho sát hợp với các định chế của Tổ chức thương mại thế giới và các cam kết quốc tế … Sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh hoặc bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách không phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã đang và sẽ thoả thuận” Bộ tư pháp và NHNN sẽ phải tiếp tục rà soát lại các quy phạm pháp luật hiện hành và có những sửa đổi thích hợp theo định hướng trên

Tất cả những chuyển biến trên điều theo hướng tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho ngân hàng, mở rộng những lĩnh vực dịch vụ mà ngân hàng được phép tham gia Điều này một mặt tạo điều kiện cho các ngân hàng đẩy mạnh kinh doanh thu lợi nhuận nhưng mặt khác nó cũng có xu hướng làm các ngân hàng mất tập trung do mải

mê đi vào các lĩnh vực mới mà không khai thác hết tiềm năng của những thị trường đang có lợi thế cạnh tranh

2.2.2 Thực trang hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Hiện nay có 16 NHTMCP đô thị có Hội sở đóng trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh có giấy phép hoạt động còn hiệu lực (Bảng 2.5) Trong số đó có 02 Ngân hàng đang trong quá trình sát nhập, giải thể mà trên thực tế là không còn kinh doanh (NH Nam Đô, NH Việt Hoa) nên không được xem xét; 02 ngân hàng mới được thành lập trong năm 2003 trên cơ sở sát nhập một số tổ chức tín dụng lại với nhau (NH Việt

Á, NH Sài Gòn) nên chưa có số liệu và cơ sở khảo sát; 01 ngân hàng có số vốn điều lệ quá thấp, không đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu của NHNNc đối với loại hình NHTMCP đô thị, đang được NHNNc xem xét hướng giải quyết (NH Gia Định) nên cũng không được khảo sát Do đó, trong luận văn này, tác giả chỉ khảo sát trên 11 NHTMCP có Hội sở đặt tại TP Hồ Chí Minh Việc không xét đến hoạt động của 5 NHTMCP còn lại vì các lý do nói trên theo tác giả là hoàn toàn xác đáng và nó không

Trang 38

làm ảnh hưởng đến kết quả của việc đánh giá tình hình chung của các NHTMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Do đó, các kết quả rút ra từ khảo sát trên 11 NHTMCP này cũng có thể được xem là tình hình chung của tổng thể các NHTMCP trên địa bàn TP HCM trong giai đoạn được khảo sát

2.2.2.1 Lợi nhuận của các NHTMCP

Trong năm 2002, tất cả 11 ngân hàng TMCP trên địa bàn TP HCM được khảo sát đều hoạt động kinh doanh có lãi với tỷ lệ lợi nhuận trước thuế (chưa trừ các khoản

dự phòng) trung bình đạt đến 18,8 % cho toàn khối Tỷ lệ này cao gần gấp ba lần so với lãi suất của huy động tiền gởi bình quân trong nước So sánh một cách tương đối với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROE) của năm 2002 của các nước trong khu vực như Philippines (4,8%) Thái Lan (7,6%) Hàn Quốc (16,1%) thì tỷ lệ lợi nhuận trong các NHTMCP tại TP HCM vẫn hấp dẫn hơn Hiệu quả kinh doanh trong năm 2003 của các NHTMCP tiếp tục tăng đạt tỷ lệ lãi trước thuế trung bình (chưa trừ các khoản chi

dự phòng) là 19,8% (Bảng 2.6)

Xét về tỷ trọng lợi nhuận của các loại hình ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh, lợi nhuận của khối NHTMCP chiếm tỷ trọng khá cao và có dấu hiệu tăng trong những năm qua, từ mức chiếm 38,48% trong năm 2002 lên chiếm 39,3% trong năm 2003 Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2003 của khối NHTM cũng cao hơn so với tốc độ chung của toàn ngành ngân hàng trên địa bàn, tuy còn thấp hơn nhiều so với các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài (ngân hàng liên doanh và Chi nhánh NHNNg) (Bảng 2.7)

Tuy nhiên, mức lợi nhuận của các ngân hàng TMCP trên địa bàn không đồng đều nhau Về cơ bản chúng ta có thể thấy hiện nay các NHTMCP của TP HCM đang phân thành 03 nhóm

Nhóm thứ nhất là các NHTMCP đã khẳng định được tên tuổi của mình trong thời gian qua, có mức lợi nhuận cao (khoản trên 100 tỷ đồng) có nguồn vốn tự có lớn (trên 300 tỷ) bao gồm 04 NH là NH Á Châu, NH Sài Gòn Thương Tín, NH Đông Á,

NH Xuất Nhập Khẩu Các ngân hàng này có tỷ lệ lợi nhuận cao từ 20 đến 40% Ngoài

ra đặc điểm của nhóm ngân hàng này là có được uy tín khá lớn trong hoạt động ngân hàng, được nhiều người biết đến và có nhiều tiềm năng cho việc mở rộng hoạt động,

Trang 39

tăng cường vốn tự có Bên cạnh đó các ngân hàng này còn có được sự hỗ trợ rất mạnh

về vốn, trình độ quản lý, cơ chế hoạt động của các “ngoại lực” như NH Á Châu, NH Sài Gòn Thương Tín là các quỹ đầu tư, NH Đông Á là các nguồn cho vay và chuyên gia từ các chương trình tín dụng của ngân hàng Thế giới, NH Phát triển Châu Á, NH Xuất Nhập Khẩu có sự hỗ trợ của cổ đông lớn là NH Ngoại thương Việt Nam, sự tài trợ của ngân hàng Thế giới

Nhóm thứ hai bao gồm các NHTMCP đang có sự củng cố, đầu tư tăng tốc, có mức lợi nhuận trung bình từ 20 đến 100 tỷ, vốn tự có ở mức trung bình là NH Phương Nam, NH Phương Đông, NH Sài Gòn Công Thương, NH Phát triển Nhà TP Tỷ lệ lợi nhuận của nhóm này vào khoản 20%

Nhóm cuối cùng bao gồm các ngân hàng còn lại có lợi nhuận trung bình trên dưới 10 tỷ đồng và nguồn vốn tự có thấp dưới 100 tỷ như NH Nam Á, NH Tân Việt,

NH Đệ Nhất Tỷ lệ lợi nhuận của các ngân hàng này giao động trong khoản 15% Đây

là các ngân hàng vừa thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt của NHNNc và đang trong quá trình chấn chỉnh, xắp xếp lại Việc phát hành cổ phiếu để tăng vốn của các ngân hàng này có phần khó khăn hơn hai nhóm còn lại

2.2.2.2 Vốn tự có

Tính đến cuối năm 2003, nhìn chung các NHTMCP trên địa bàn TP HCM đã tăng đủ số vốn điều lệ tối thiểu theo quy định của NHNNc (trừ NH Gia Định không được khảo sát) trong đó có một số NHTMCP có số vốn rất cao như NH Sài Gòn Thương Tín – Sacombank (505 tỷ đồng), NH Á Châu (424 tỷ đồng), NH Xuất Nhập Khẩu – Eximbank (300 tỷ) Ngoài ra các ngân hàng này cũng đang có kế hoạch tiếp tục tăng vốn trong năm 2004 như Eximbank tăng từ 300 lên 500 tỷ, Sacombank tăng lên 700 tỷ đồng, ngân hàng Á Châu tăng lên 557 tỷ đồng… Mức vốn này hiện còn rất nhỏ so với mức vốn của của 04 NHTM quốc doanh (Bảng 2.8) Tuy nhiên, không giống như việc tăng vốn tự có của các NHTM quốc doanh hiện đang gặp phải một số khó khăn do nguồn vốn bổ sung của nhà nước còn hạn chế và việc cổ phần hoá còn nhiều trở ngại, việc tăng vốn tự có của các NHTMCP hiện đang gặp rất nhiều thuận lợi, đặc biệt là các ngân hàng đang ở tốp đầu, vì mức lợi nhuận trong các năm qua ở các ngân hàng này luôn cao như đã trình bày ở trên nên việc phát hành thêm cổ phiếu

Trang 40

là rất dễ dàng Đến nay TP HCM có 3 trong số 4 ngân hàng TMCP trên toàn quốc được phép gọi vốn của các cổ đông nước ngoài với tỷ lệ tối đa 30% là NH Á Châu,

NH Phương Nam và NH Sài Gòn Thương Tín

Tuy số vốn tự có còn nhỏ, nhưng do quy mô hoạt động của các NHTMCPcũng còn nhỏ, thường chỉ mang tính địa phương, chưa có mạng lưới khách hàng trải rộng

cả nước nên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản (chưa được điều chỉnh theo hệ số rủi ro) của các NHTM CP hiện khá cao (trung bình 7,75%), khá cao so với khối các NHTMQD chỉ đạt mức xấp xỉ 4% Khi được điều chỉnh theo hệ số rủi ro của các tài sản có, hệ số nói trên của các NHTMCP sẽ còn tăng lên và đạt mức trên 8% theo thông lệ quốc tế và theo yêu cầu của NHNNc

2.2.2.3 Huy động vốn

Từ năm 1996 đến năm 2003, tỷ trọng huy động vốn của khối NHTMCP trong tổng huy động vốn của các NHTM trên địa bàn TP HCM không có sự biến động lớn, trung bình chỉ đạt mức 28-29% Điều này làm cho tốc độ tăng của lượng tiền gởi thu hút được trong thời kỳ này của các NHTMCP chỉ ở mức trung bình so với tốc độ tăng trưởng chung của hệ thống ngân hàng (443.5% so với 436.7% chung của toàn hệ thống), cao hơn so với mức tăng của khối NHTMDQ (417.8% ) nhưng thấp xa so với tốc độ tăng của khối NHNNg (577.2%) trong cùng thời kỳ (Bảng 2.9)

Trong thời gian qua mặc dù các NHTMCP trên địa bàn TP HCM luôn có lãi suất huy động vốn cao hơn so với khối NHTMQD từ 0,02 đến 0,05% nhưng nguồn vốn thu hút được lại không tăng nhanh hơn, nguyên nhân được cho là do niềm tin của người dân vào hình thức ngân hàng này chưa được vững chắc do ấn tượng xấu về những vụ đổ bể hợp tác xã tín dụng trong quá khứ như vụ nước hoa Thanh Hương, Công ty Anh Đào… và đến nay, niềm tin này cũng còn rất kém, tiêu biểu là hiện tượng rút tiền hàng loạt tại NHTMCP Á Châu xảy ra vào trung tuần tháng 10/2003 của người gởi tiền chỉ vì những tin đồn thất thiệt Chính sự yếu kém trong lòng tin này

đã đặt ra rất nhiều vấn đề mà các NTMCP phải giải quyết bao gồm quản trị rủi ro thanh khoản, xây dựng thương hiệu ngân hàng, tạo lập lòng tin… Chính vì vậy, qua kết quả khảo sát của tác giả, chỉ có duy nhất một ngân hàng tự đánh giá hoạt động huy động vốn là là hoạt động có lợi thế cạnh tranh cao nhất trong các lĩnh vực hoạt động

Ngày đăng: 07/01/2018, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w