1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam

87 430 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế với khu vực và thế giới, cần có ngôn ngữ kế toán chung cho sự kết nối các thông tin tài chính, do đó hệ thống kế toán Việt Nam nói chung - hệ thốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐÀO THỊ NGUYỆT HẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN CAO HỌC

Đề tài : MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TÀI

KHOẢN KẾ TOÁN VIỆT NAM

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế với khu vực và thế giới, cần có ngôn

ngữ kế toán chung cho sự kết nối các thông tin tài chính, do đó hệ thống kế toán

Việt Nam nói chung - hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam nói riêng cần được

tiếp tục cải cách và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của

nhiều đối tượng, đồng thời hội nhập với hệ thống thông tin trong khu vực và trên

thế giới trên cơ sở các chuẩn mực kế toán quốc tế và các nguyên tắc kế toán

được chấp nhận

Do đó , tác giả đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống tài

khoản kế toánViệt Nam” , tuy nhiên Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu

đề xuất một số giải pháp hòan thiện: “Hệ thống tài khoản kế toán Việt nam”

cho các loại hình Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh

Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

1) Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kế toán, hệ thống kế toán, hệ

thống tài khỏan kế toán

2) Khảo sát thực trạng việc ban hành, bổ sung, sửa đổi và thực tiễn áp dụng

hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đánh giá hệ thống

tài khoản kế toán Việt Nam hiện hành

3) Trình bày quan điểm cá nhân và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hệ thống tài

khoản kế toán Việt Nam gồm :

+ Hoàn thiện loại, số lượng , tên gọi và ký hiệu tài khoản kế toán

+ Hoàn thiện về nội dung , kết cấu một số tài khoản kế toán

+ Hoàn thiện về phương pháp kế toán : đối với chiết khấu thanh toán ,

bất động sản đầu tư , đầu tư vào Công ty liên kết …

Người thực hiện : ĐÀO THỊ NGUYỆT HẰNG

Lớp : Cao Học 10 – Đêm 2 Người hướng dẫn khoa học TS : TRẦN VĂN THẢO

Trang 3

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN

1.1 Tổng quan về kế toán:

1.1.1 Bản chất kế toán:

1.1.1.1 Định nghĩa về kế toán:

Tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển của

nền sản xuất xã hội mà có những định nghĩa khác nhau về kế toán Tham khảo

các tài liệu về kế toán, có nhiều tác giả hay tổ chức đề cập đến định nghĩa về kế

toán như sau:

_ Trong thời kỳ kế toán còn phôi thai, người ta quan niệm kế toán là một

phương pháp tính toán và phân tích kết quả về những sự giao dịch liên quan đến

tiền bạc của tư nhân, tập thể và các phương pháp theo dõi những diễn biến của

giao dịch ấy

_ Định nghĩa hiện đại về kế toán rộng hơn nhiều:

Năm 1970, Viện kế toán công chứng Hoa kỳ (AICPA) đã thay đổi định

nghĩa về kế toán: “Kế toán là quá trình nhận diện, đo lường và truyền đạt thông

tin kinh tế để cho phép người sử dụng thông tin đó đánh giá và ra quyết định “{

53, 6} Định nghĩa này hướng vào đối tượng sử dụng thông tin kế toán và chức

năng của kế toán

Nhìn chung, quan điểm hiện đại trên cho rằng không nên nhầm lẫn giữa

việc ghi sổ kế toán với kế toán Ghi sổ với công việc kỹ thuật đơn thuần là việc

ghi chép các thông tin về quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị Kế toán

ngoài công việc ghi sổ còn bao gồm các chức năng khác , người làm công việc kế

toán còn phải phân tích, diễn giải các thông tin tài chính, lập các báo cáo tài

chính, thực hiện kiểm toán, thiết lập hệ thống kế toán, lập kế hoạch dự báo và

cung cấp các dịch vụ về kế toán - kiểm toán - thuế

_ Đối với Việt Nam:

♦Theo Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước ban hành theo quyết định số

25/ HĐBT ngày 18/03/1989: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con

số dưới hình thức giá trị, hiện vật, thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá

trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của tài sản, quá trình và kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước cũng như của

từng tổ chức, xí nghiệp”{ 60, 7-9}

Trang 4

♦Theo Luật Kế toán đã được Chủ tịch Nước công bố theo Lệnh số

12/L-CTN ngày 26 tháng 6 năm 2003: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân

tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời

gian lao động “

Qua các định nghĩa trên cho thấy thành công lớn nhất của Việt nam là qua

15 năm đổi mới kể từ năm 1988 đến nay, Việt nam đã hoàn thiện và phát triển

nhận thức, quan điểm, tư duy mới về kế toán trong cơ chế mới - cơ chế thị trường

theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước Kế toán không đơn thuần là

công việc ghi chép các hoạt động kinh tế một cách thụ động, mà thực sự là việc

tổ chức hệ thống thông tin kinh tế, tài chính, thông tin toàn diện, tin cậy cho việc

điều hành và đề ra các quyết định kinh tế Kế toán không chỉ là công cụ quản lý

kinh tế, tài chính của Nhà nước, mà còn là công cụ, phục vụ cho việc đề ra quyết

định kinh doanh của các chủ sở hữu, chủ đầu tư và các bên thứ ba

1.1.1.2 Bản chất kế toán:

Đó là một môn khoa học, một nghề nghiệp , một ngôn ngữ, một hệ thống

thông tin, một công cụ quản lý kinh tế , một công cụ cung cấp thông tin cho việc

đề ra các quyết định hữu ích

Xét trên góc độ kế toán là một ngành khoa học:

Là một môn khoa học thì kế toán là một hệ thống thông tin thực hiện phản

ánh và giám đốc mọi diễn biến của quá trình hoạt động thực tế liên quan đến lĩnh

vực kinh tế – tài chính của một tổ chức , một đơn vị thông qua việc sử dụng một

hệ thống các phương pháp riêng biệt gắn liền với việc sử dụng 3 loại thước đo :

tiền , hiện vật và thời gian lao động trong đó thước đo bằng tiền là chủ yếu

Xét trên góc độ kế toán là một nghề nghiệp chuyên môn:

Là nghề nghiệp thì kế toán được hiểu đó là nghệ thuật tính toán và ghi

chép bằng con số mọi hiện tượng kinh tế -tài chính phát sinh trong đơn vị để cung

cấp một cách toàn diện và nhanh chóng các thông tin về tình hình và kết quả hoạt

động kinh doanh của đơn vị , tình hình sử dụng vốn của đơn vị

Sự phát triển của nghề nghiệp kế toán đại diện cho sự phát triển của thực

tiễn kế toán ở một quốc gia và có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của khoa

học kế toán, với sự phát triển kinh tế của quốc gia đó Nó được đánh giá qua sự

phát triển của số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ kế toán, đội ngũ chuyên

gia kế toán, sự hình thành và phát triển của các tổ chức nghề nghiệp Ngay trong

Luật kế toán Việt nam cũng đã xem hoạt động kế toán là một nghề độc lập và

Trang 5

cũng qui định rõ tổ chức hoặc cá nhân có quyền hành nghề kế toán khi được cấp

chứng chỉ hành nghề

Xét trên góc độ kế toán là một ngôn ngữ:

Kế toán được nhận thức là một ngôn ngữ kinh doanh , quan điểm này đã

được Hội nghề nghiệp về kế toán của nhiều nước thừa nhận bởi vì giữa ngôn ngữ

và kế toán có nhiều điểm tương đồng tiềm ẩn, ngôn ngữ kế toán được chuyển thể

từ ngôn ngữ chung thành những ký hiệu của kế toán, sắp xếp theo một hệ thống

có căn cứ và mô phỏng theo một số nguyên tắc nhất định.Cấu trúc văn phạm của

ngôn ngữ kế toán gồm 2 yếu tố:

_ Các ký hiệu hay đặc điểm từ vựng của một ngôn ngữ được dùng để nhận

diện các khái niệm cá biệt và trình bày bằng ký hiệu mà kế toán sử dụng

_ Các nguyên tắc văn phạm của một ngôn ngữ tức là cách sắp xếp cú pháp

của mọi ngôn ngữ Trong kế toán, các nguyên tắc văn phạm nhằm chỉ các thủ tục

phải tuân thủ khi xây dựng các số liệu tài chính của DN

Xét trên góc độ kế toán là một hệ thống thông tin :

Kế toán luôn được xem là một hệ thống thông tin Đó là một quá trình nối

kết một nguồn thông tin (thường do kế toán viên thực hiện) với tập hợp những

nguồn nhận thông tin (những nguồn sử dụng) Theo quan điểm kế toán là một hệ

thống thông tin, có thể hiểu là: “Quá trình mã hoá các quan sát theo ngôn ngữ của

kế toán thành các ký hiệu qua các báo cáo của hệ thống đó và giải mã chúng để

truyền đạt các kết quả “ù

Hệ thống thông tin kế toán nếu được thiết kế tốt là một hệ thống đóng có

quan hệ, chưa các tiến trình chuyển đổi dữ liệu đầu vào(các nghiệp vụ kinh tế

phát sinh liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh của DN) thành các kết xuất

và vận dụng kiểm soát nội bộ để giới hạn ảnh hưởng của môi trường đến hệ

thống

Hệ thống thông tin kế toán được xem là hoàn hảo nếu nó đạt được 4 mục

tiêu:

+ Cung cấp thông tin kịp thời, trung thực, có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt

để phát hiện và ngăn chặn các sai sót kịp thời

+ Phải được hoàn thành trong giới hạn thời gian nhất định

+ Phải phù hợp với yêu cầu thông tin của DN

+ Người sử dụng phải hài lòng với hệ thống

Xét trên góc độ kế toán là một công cụ quản lý, một công cụ cung cấp

thông tin để kiểm tra, kiểm soát , để đề ra các quyết định hữu ích:

Trang 6

Xét trên khía cạnh một công cụ quản lý kinh tế thì kế toán là một hoạt

động phục vụ với chức năng là cung cấp thông tin định lượng , chủ yếu mang bản

chất tài chính về một đơn vị, một tổ chức kinh tế Trong khía cạnh này kế toán ra

đời do yêu cầu quản lý kinh tế, trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế, kế

toán là một công cụ quan trọng không thể thiếu trong quản lý kinh tế , nó góp

phần tích cực trong việc kiểm tra, kiểm soát nhằm bảo vệ tài sản quốc gia, bảo vệ

tài sản Doanh nghiệp, nó góp phần thực hành tiết kiệm, ngoài ra còn giúp cho

việc đề ra các quyết định quản lý, các quyết định kinh doanh, đầu tư, cho vay …

hữu hiệu

1.1.2 Phân loại kế toán:

1.1.2.1.Căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin kế toán:

Kế toán được chia thành hai loại: kế toán tài chính và kế toán quản trị

Hiện nay, giữa các nước có nhiều cách gọi khác nhau về hai loại kế toán này, phổ

biến nhất là theo cách gọi của các nuớc Anh , Mỹ :“Financial Accounting “-Kế

toán tài chính và “Management Accounting”- Kế toán quản trị.Trong khi đó nhiều

nước Châu Âu như: Bồ Đào Nha, Pháp … thì gọi Kế toán tài chính là Kế toán tổng

quát “Comptabilité General”và Kế toán quản trị là Kế toán phân tích

“Comptabilité Analitique”

Trong đó:

+ Kế toán tài chính: là kế toán tuân thủ các quy định về nguyên tắc kế

toán do Nhà nước đề ra hoặc được chấp nhận chung Kế toán tài chính được sử

dụng để cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân ở bên ngoài doanh nghiệp

hay còn gọi là cung cấp cho các đệ tam nhân

+ Kế toán quản trị : xử lý và cung cấp các thông tin cho nhà quản lý trong

quá trình điều hành hoạt động của doanh nghiệp

Sự khác nhau giữa 2 loại kế toán này thể hiện qua bảng sau :

Kế toán tài chính Kế toán quản trị

1- Mục đích của kế

2- Đối tượng cung

cấp, sử dụng thông

tin của kế toán

Chủ yếu là các tổ chức, cá nhân bên ngoài DN như: các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan thuế …

Các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp

Trang 7

3- Đặc điểm của

thông tin

- Thông tin được cung cấp

“vừa đủ”û cho các đối tượng bên ngoài, đảm bảonguyên tắc “bí mật thông tin kinh tế”

- Thông tin có tính khách quan, thống nhất phản ánh những sự kiện quá khứ nhằm kiểm tra, kiểm soát, đánh giá công bằng hoạt động SXKD của các DN

- Được đánh giá với thước

đo bằng tiền, gắn với nguyên tắc bảo toàn tài sản củaDN trên phương diện giá trị

Thông tin được cung cấp cho công tác quản lý nội bộ

- Thông tin có tính khách quan nhưng có giới hạn, đôi khi mang nhiều tính chủ quan (theo nguyên tắc tự chủ), phản ánh những sự kiện cả trong quá khứ và dự báo trong tương tai nhằm cung cấp thông tin sát thực tế kinh doanh cho bộ máy quản trị DN

- Được đánh giá bằng nhiều loại thước đo, gắn với nguyên tắc bảo toàn tài sản của DN trên phương diện hiện vật

4- Nguyên tắc cung

cấp thông tin

Tuân thủ theo những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán đã quy định

Do nhà quản lý quyết định nhằm đảm bảo sự hữu ích cho công tác quản lý Do đó không có nguyên tắc chung

5- Phạm vi phản ánh Phản ánh toàn bộ tình hình tài

chính của DN một cách tổng quát

Phản ánh từng mảng, từng bộ phận hoạt động, từng khâu công việc

6- Kỳ báo cáo Thực hiện chế độ báo cáo

theo định kỳ

Có thể lập báo cáo bất cứ thời điểm nào, tuỳ theo yêu cầu quản lý

7- Mức độ chính xác Tính chính xác cần cao hơn so

với kế toán quản trị

Tính kịp thời cần hơn tính chính xác

8- Phương pháp xử

lý thông tin

Theo 04 phương pháp:

- Chứng từ

Vẫn sử dụng các phương pháp của kế toán tài chính

Trang 8

- Tài khoản – Ghi sổ kép

- Đánh giá

- Tổng hợp và cân đối

nhưng không bắt buộc phải ghi kép, có sử dụng phương pháp thống kê, đồ thị toán học,…

1.1.2.2 Căn cứ vào mức độ phản ánh các đối tượng kế toán:

+ Kế toán tổng hợp: thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng

quát về hoạt động kinh tế - tài chính của DN Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị

tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết

quả hoạt động kinh tế - tài chính của DN

+ Kế toán chi tiết: thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi tiết

về hoạt động kinh tế - tài chính của DN Kế toán chi tiết nhằm chi tiết hoá thông

tin về các đối tượng kế toán đã được phản ánh ở kế toán tổng hợp, không chỉ sử

dụng thước đo tiền tệ mà còn sử dụng thứơc đo hiện vật, thước đo thời gian lao

động

1.1.2.3.Căn cứ vào cách ghi chép và thu nhận thông tin:

+ Kế toán đơn: phản ánh đối tượng kế toán một cách độc lập, riêng lẻ,

không thể hiện mối quanhệ giữa các đối tượng kế toán với nhau

+ Kế toán kép: phản ánh sự vận động của các đối tượng kế toán dưới ảnh

hưởng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, trong mối quan hệ khách quan giữa

các đối tượng kế toán

1.1.2.4.Căn cứ vào phương pháp xác định doanh thu, chi phí:

+ Kế toán trên cơ sở tiền: doanh thu chỉ được ghi nhận khi thu được tiền

và chi phí chỉ được ghi nhận khi đã trả tiền

Kế toán trên cơ sở tiền hầu như ít được áp dụng trong thực tiễn kinh doanh

với lý do căn bản là việc thu, chi tiền mặt thường không thống nhất với các hoạt

động tài chính diễn ra trong một kỳ kinh doanh của mỗi Doanh nghiệp Nếu áp

dụng kế toán trên cơ sở tiền mặt sẽ dẫn tới sự không phù hợp giữa doanh thu và

chi phí trong kỳ

+ Kế toán trên cơ sở dồn tích: yêu cầu việc áp dụng nguyên tắc ghi nhận

doanh thu và nguyên tắc phù hợp, nhằm cung cấp thông tin về doanh thu và chi

phí phù hợp với nhau trong mỗi kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp, tức là doanh

thu được ghi nhận vào kỳ mà sản phẩm, hàng hoá được bán ra, dịch vụ được thực

hiện ; chi phí được ghi nhận vào kỳ kế toán mà chi phí được sử dụng để tạo ra

doanh thu chứ không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền

Trang 9

1.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán:

Thông tin kế toán là một trong những nguồn thông tin kinh tế quan trọng

nhất đối với những người sử dụng thông tin kế toán Những thông tin đó sẽ quyết

định đến việc thành hay bại của một doanh nghiệp, một tổ chức hoặc một cá nhân,

thậm chí ở tầm của một quốc gia

1.1.3.1 Căn cứ vào mối quan hệ trách nhiệm và lợi ích: đối tượng sử

dụng thông tin kế toán có thể chia thành 3 nhóm như sau:

+ Những nhà quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở DN:

Chủ Doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc Họ sử dụng thông tin kế

toán để hoạch định mục tiêu cho DN, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các

mục tiêu đó và ra những quyết định điều chỉnh, quản lý kịp thời nhằm giúp hoạt

động kinh doanh của DN đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Những người chủ và

những nhà quản lý DN phải biết được tiềm lực của DN như thế nào ? giá trị tài sản

là bao nhiêu ? tình hình công nợ như thế nào ? DN làm ăn có lãi không ? có thể

mở rông qui mô kinh doanh không ? …

+ Những người có lợi ích trực tiếp: Nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ …

Họ quan tâm đến thông tin kế toán, vì thông tin kế toán cung cấp cho họ

hiệu quả hoạt động của DN, tình hình công nợ và khả năng thanh toán, khả năng

và thu nhập tiềm tàng trong tương lai để làm cơ sở cho các quyết định đầu tư, cho

vay vốn hay bán chịu hàng hoá …

+ Những người có lợi ích gián tiếp:

Họ sử dụng thông tin kế toán theo mục đích riêng của họ

♦Cơ quan Thuế: sử dụng thông tin kế toán nhằm theo dõi tình hình thực

hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước

♦Các cơ quan thống kê, kế hoạch: sử dụng thông tin kế toán nhằm mục

đích thu thập thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý và phát triển nền kinh tế

quốc dân, …

♦Các cơ quan Chính phủ: sử dụng thông tin kế toán để đánh giá thực trạng

nền kinh tế từ đó hoạch định những chính sách, chiến lược phát triển nền kinh tế

quốc gia

1.3.1.2 Căn cứ vào vị trí và khả năng ảnh hưởng đến hệ thống kế

toán: đối tượng sử dụng thông tin kế toán có thể chia thành 2 nhóm:

+ Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán ở bên trong DN: gồm các nhà

quản lý và chủ DN, họ cần thông tin để ra các quyết định quản lý DN hàng giờ,

hàng ngày, hàng tháng

Trang 10

+ Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán ở bên ngoài DN: gồm các đối

tượng còn lại như cổ đông, chủ nợ, Nhà nước … họ cần thông tin làm cơ sở cho các

quyết định đầu tư, cho vay … liên quan đến lợi ích kinh tế của họ

1.1.4 Hệ thống kế toán:

Mọi tổ chức trong quá trình hoạt động đều phải tổ chức một hệ thống kế

toán để ghi chép, theo dõi biến động tài sản, nguồn vốn và quá trình hoạt động

kinh tế của tổ chức đó

Hệ thống kế toán xét theo nghĩa hẹp là hệ thống mà qua đó các nghiệp vụ

kinh tế tài chính thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của đơn vị được thu thập, tổng hợp, xử lý và truyền đạt thành những thông tin

hữu ích cho người sử dụng Hệ thống kế toán này có thể được thực hiện bằng thủ

công dưới hình thức viết tay hay bằng cách sử dụng các phần mềm kế toán, các

công cụ điện toán như: máy vi tính, mạng vi tính … theo các phương pháp kế toán

như: lập chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp và cân đối kế toán

Hệ thống kế toán xét theo nghĩa rộng bao gồm tập hợp nhiều vấn đề có

liên quan đến hệ thống như:

_ Cơ sở pháp lý tác động, chi phối hoạt động kế toán: Luật Doanh nghiệp,

Luật thuế, Luật phá sản, Luật thương mại,Chuẩn mực kế toán …

_ Các qui định về tài chính kế toán như: hệ thống chứng từ kế toán, hệ

thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán, hệ thống báo cáo tài chính

Để xây dựng một hệ thống kế toán hữu hiệu có thể cung cấp những thông

tin hữu ích cho mọi đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong cũng như ngoài

nước, thì việc nghiên cứu các yếu tố của môi trường tác động đến sự phát triển

của kế toán là rất cần thiết Hơn nữa xuất phát từ sự phát triển của kế toán để đáp

ứng được những điều kiện và nhu cầu riêng biệt của mỗi quốc gia mà nếu không

xem xét những yếu tố đã tạo ra sự khác biệt về thực hành kế toán mỗi nước thì

khó có thể hoà hợp với kế toán các nước trên thế giới

1.2 Môi trường kế toán:

Môi trường kế toán là tập hợp các yếu tố thuộc môi trường quốc tế và môi

trường quốc gia ảnh hưởng đến sự thay đổi và phát triển của kế toán, chúng tác

động mạnh mẽ đến việc hình thành các quan điểm, chuẩn mực, nguyên tắc và

phương thức thực hành kế toán Tác động của 2 loại môi trường này đối với kế

toán như sau:

1.2.1 Môi trường quốc tế :

Trang 11

Các yếu tố thuộc môi trường quốc tế như : xu hướng hội nhập, sự phát triển

thị trường tài chính quốc tế ; sự mở rộng các dịch vụ tài chính và kinh doanh quốc

tế , sự phát triển kế toán trên thế giới… dẫn đến nhu cầu cần hài hoà các chuẩn

mực, nguyên tắc kế toán quốc tế Tất cả những điều đóù tác động đến sự thay đổi

của kế toán

Liên Xô, các nước Đông Âu ,Trung Quốc và Việt nam đã và đang thay đổi

theo hướng tiếp cận với kinh tế thị trường, đẩy mạnh xu hướng cổ phần hoá DN đã

mở ra nhiều cơ hội mới cho đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết Do đóù , cũng

phần nào tác động đến sự thay đổi của kế toán

Mặt khác, sự toàn cầu hoá thị trường vốn đòi hỏi cần có ngôn ngữ kế toán

chung cho sự kết nối các thông tin tài chính, tạo thuận lợi cho khả năng hợp tác

quốc tế và đánh giá hiệu quả kinh doanh, đã dẫn đến xu hướng các quốc gia chú

trọng việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho kế toán nước mình, xây dựng chuẩn

mực kế toán riêng nhưng theo sát thông lệ kế toán quốc tế, điều đó cũng ảnh

hưởng đến sự thay đổi của kế toán

1.2.2 Môi trường quốc gia: gồm một số các yếu tố sau :

( Nguồn TL : Bài giảng môn Lý thuyết Kế toán – Khoa Kế toán Kiểm toán –

Trường ĐHKT {Chương 4, trang 59-61})

1.2.2.1 Sự ràng buộc về kinh tế - chính trị: yếu tố này ảnh hưởng đến

sự phát triển kế toán của mỗi quốc gia, thông qua việc chi phối đến vấn đề xác

lập các kiểu mẫu kế toán của mỗi nước Nói đến tác động của môi trường kinh tế

- chính trị đối với kế toán là nói đến tác động của các yếâu tố sau:

* Nền kinh tế - cơ chế quản lý kinh tế:

Nền kinh tế là hệ thống các quan hệ kinh tế và để kiểm soát nền kinh tế

phải dựa trên cơ sở của một cơ chế quản lý kinh tế thích hợp

_ Nền kinh tế thị trường:

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó quan hệ kinh tế giữa các chủ

thể được biểu hiện qua mua bán hàng hoá - dịch vụ trên thị trường Thái độ ứng

xử của từng chủ thể kinh tế hướng vào lợi nhuận theo sự dẫn dắt của giá cả thị

trường, các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá, các yếu tố nhân lực, vật lực đều

là hàng hoá, tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tư do cạnh tranh trong khuôn khổ của

luật pháp, sản xuất và bán sản phẩm theo quan hệ cung cầu, khách hàng là thượng

đế

Với những đặc trưng trên, yêu cầu quản lý trong cơ chế thị trường đòi hỏi

kế toán phải được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc linh hoạt, kịp thời, trung thực và

Trang 12

đầy đủ, thông tin do kế toán cung cấp phải hữu ích, đáp ứng được yêu cầu của đối

tượng sử dụng thông tin

_ Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước:

Là nền kinh tế hỗn hợp vừa có cơ chế tự điều chỉnh của thị trường thực hiện

thông qua giá cả thị trường, cung cầu hàng hoá và cạnh tranh ; vừa có cơ chế quản

lý điều tiết của Nhà nước (thể hiện thông qua hệ thống luật pháp, bằng đòn bẩy

tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả, thuế…)

Kế toán phải đáp ứng và thoả mãn yêu cầu quản lý DN theo yêu cầu tự

điều chỉnh của thị trường, yêu cầu quản lý Nhà nước trên nguyên tắc dễ làm, dễ

hiểu, minh bạch, công khai, dễ kiểm tra, kiểm soát

* Thuế:

Thuế là một công cụ của Nhà nước dùng quản lý nền kinh tế, tham gia điều

tiết thu nhập các DN và mọi tầng lớp dân cư Những biến đổi vế thuế có ảnh

hưởng đến công tác kế toán Ví dụ: sự thay đổi chế độ thuế ở Việt Nam từ thuế

doanh thu sang thuế giá trị gia tăng dẫn đến sự thay đổi về thủ tục chứng từ, về

cách hạch toán …

Hiện nay đang có 2 khuynh hướng:

+ Khuynh hướng phá vỡ mối liên hệ giữa kế toán và thuế: phát sinh ở các

nước trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có

kế toán chính thống , có kế toán thuế tách biệt

+ Khuynh hướng liên kết các qui định về thuế và kế toán: phát sinh tại các

nước mà thị trường chứng khoán giữ vai trò khiêm tốn, có kế toán chính thống có

thể trở thành kế toán thuế

* Ngoài ra còn một số các yếu tố khác như: thị trường chứng khoán ,

lạm phát, giải thể, các loại hình kinh doanh …

1.2.2.2 Hệ thống luật pháp :

Hệ thống luật pháp có tác động đáng kể đến hệ thống kế toán Tại các

quốc gia có Luật kế toán nằm trong Luật quốc gia thì kế toán phải hoàn toàn tuân

thủ các điều ghi trong bộ luật nhằm giúp cho các thông tin kế toán thật sự hữu ích,

có giá trị trong việc đề ra các quyết định kinh doanh Tại các quốc gia chưa có

Luật kế toán, tính tuân thủ chưa nghiêm làm hạn chế giá trị thông tin kế toán

1.2.2.3 Yếu tố văn hoá – xã hội:

Những giá trị của một nền văn hóa ảnh hưởng đến sự phát triển của kế

toán, biểâu hiện thông qua việc nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của nhà quản

Trang 13

lý, ảnh hưởng của nó đến tổ chức kế toán về lựa chọn hình thức kế toán, vi tính

hoá công tác kế toán, độ tin cậy của thông tin kế toán …

1.2.2.4 Yếu tố phát triển hạ tầng giáo dục đào tạo về kế toán:

Đây là yếu tố tác động đáng kể đến sự phát triển kế toán hiện nay, ảnh

hưởng đến chất lượng thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng, giúp

đào tạo đội ngũ cán bộ thực hành kế toán – kiểm toán, chuyên gia và giảng viên

kế toán, giúp truyền bá những tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến

Tóm lại : dưới sự tác động của môi trường kế toán không chỉ hệ thống kế

toán mà các bộ phận cấu thành nên hệ thống kế tóan trong đó hệ thống tài khoản

kế toán là một bộ phận quan trọng của nó chắc chắn cũng có những thay đổi

tương ứng Vậy , hệ thống tài khỏan kế tóan là gì ?

1.3- Tổng quan về hệ thống tài khoản:

1.3.1 Tổng quan về tài khoản:

1.3.1.1 Bản chất của tài khoản:

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản của DN vận động

và có nhiều hình thái khác nhau Nguồn hình thành tài sản cũng vận động và thay

đổi Quá trình diễn biến này cùng là quá trình phát sinh chi phí, doanh thu và kết

thúc một kỳ hoạt động, kinh doanh, DN cần phải xác định kết quả hoạt động, kinh

doanh của đơn vị mình Kế toán cần tổ chức, phản ánh và kiểm tra sự tồn tại và

biến động của từng đối tượng kế toán bằng phương pháp thích hợp , đó là phương

pháp tài khoản

Vậy , tài khoản là gì ? Tài khoản kế toán là phương pháp phân loại nghiệp

vụ kinh tế phát sinh theo yêu cầu phản ảnh và giám đốc một cách thường xuyên

, liên tục và có hệ thống số hiện có và tình hình biến động của từng loại tài sản ,

từng loại nguồn vốn cũng như các quá trình sản xuất kinh doanh khác nhau trong

doanh nghiệp

Qua định nghĩa này có thể nêu một số đặc điểm cơ bản của phương pháp tài

khỏan :

_ Về hình thức : tài khoản được xem là một đơn vị lưu trữ các dữ kiện kế

toán , biểu hiện dưới hình thức sổ kế toán tổng hợp , dùng để ghi chép số tiền về

số hiện có cũng như sự biến động của từng đối tượng kế toán cụ thể dựa trên cơ sở

phân loại các nghiệp vụ kinh tế theo các tiêu thức nhất định Mỗi đối tượng kế

toán được mở một tài khoản riêng Tùy theo từng quốc gia mà tên gọi , số hiệu ,

số lượng tài khỏan … sẽ do Nhà nước hay do DN qui định

Trang 14

_ Về nội dung : tài khoản phản ánh thường xuyên , liên tục sự hiện có và

tình hình biến động của từng đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của DN

_ Về chức năng : tài khoản giám đốc một cách thường xuyên và kịp thời

tình hình sử dụng từng loại tài sản , nguồn vốn

1.3.1.2.Cấu tạo của tài khoản:

Cấu tạo hay kết cấu tài khoản bao gồm 2 bên: bên trái gọi là bên Nợ, bên

phải gọi là bên Có để phản ánh được hai mặt vận động đối lập trong một đối

tượng kế toán Nợ và Có chỉ là thuật ngữ của kế toán xuất phát từ các thuật ngữ

gốc La tinh: Debit (Nợ), Credit (Có).Trong thực tế, tài khoản thường được trình

bày dưới dạng một trang sổ, các trang sổ này được đóng lại thành quyển gọi là Sổ

Cái có dạng:

TÀI KHOẢN ………

Ghi chú

Số dư đầu kỳ Số phát sinh trong kỳ

Tổng số phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ

đối ứng Diễn giải

Số tiền

Trên tài khoản kế toán có các thông tin:

_ Số dư đầu kỳ: phản ánh giá trị của tài sản, số tiền của nguồn vốn hiện có

tại thời điểm đầu kỳ

_ Số phát sinh tăng trong kỳ: phản ánh số tiền của tài sản, nguồn vốn, chi

phí, doanh thu tăng thêm trong kỳ

_ Số phát sinh giảm trong kỳ: phản ánh số tiền của tài sản, nguồn vốn, chi

phí, doanh thu giảm đi trong kỳ

_ Số dư cuối kỳ: phản ánh giá trị của tài sản, nguồn vốn hiện còn tại thời

điểm cuối kỳ

Số dư cuối kỳ = Số dư đầu kỳ + Số phát sinh tăng – Số phát sinh giảm

Trong học tập và nghiên cứu , để đơn giản người ta thường ký hiệu tài

khoản dưới dạng chữ T như sau:

Nợ Tài Khoản Có

Trang 15

1.3.1.3 Tài khoản và ghi sổ kép (đối ứng tài khoản):

Đối ứng tài khoản là phương pháp kế toán phân loại để phản ánh và kiểm

tra sự vận động của các đối tượng kế toán trong mối quan hệ mật thiết và khách

quan với nhau

Hai bộ phận họp thành phương pháp đối ứng tài khoản là tài khoản và ghi

sổ kép Trong đó: ghi sổ kép là việc phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào

các tài khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ và mối quan hệ

khách quan giữa các đối tượng kế toán

Ghi sổ kép dựa trên nguyên tắc lưỡng diện, thể hiện tính hai mặt của

nghiệp vụ kinh tế phát sinh Việc ghi sổ kép nối liền các tài khoản kế toán với

nhau tạo thành hệ thống khép kín Các tài liệu trong hệ thống khép kín đó cung

cấp đầy đủ thông tin và tạo khả năng kiểm soát chặt chẽ về quá trình hoạt động

trong mỗi đơn vị kinh tế

Nguyên tắùc ghi sổ kép là:

+ Khi ghi vào bên Nợ một tài khoản đồng thời phải ghi vào bên Có tài

khoản liên quan hoặc ngược lại, khi đó quan hệ giữa các tài khoản kế toán được

gọi là quan hệ đối ứng kế toán

+ Trường hợp nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan từ 3 đối tượng kế toán

trở lên, nên ghi các bút toán 1 Nợ đối ứng với nhiều Có hoặc 1 Có đối ứng với

nhiều Nợ Hạn chế ghi các bút toán nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có vì làm hạn

chế khả năng kiểm sóat của kế tóan

+ Số tiền ghi bên Nợ tài khoản này đối ứng với số tiền ghi bên Có tài

khoản liên quan trong một nghiệp vụ kinh tế phát sinh luôn luôn bằng nhau Điều

này là hệ quả sự biến đổi tương ứng về giá trị giữa các đối tượng kế toán trong

cùng một nghiệp vụ

Từ cách ghi sổ như trên dẫn đến kết quả sau một kỳ kinh doanh nhất định

bao giờ cũng có:

Tổng số phát sinh trong kỳ = Tổng số phát sinh trong kỳ

bên Nợ các tài khoản bên Có các tài khoản

Đây là căn cứ để kiểm tra việc ghi chép của kế toán

1.3.1.4 Mối quan hệ giữa tài khoản và báo cáo kế tóan :

a) Mối quan hệ giữa tài khoản và báo cáo tài chính:

Theo qui định hiện nay , các DN phải lập và nộp các báo cáo tài chính như

: Bảng cân đối kế tóan , Báo cáo kết quả kinh doanh , Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

và Thuyết minh báo cáo tài chính Để có nguồn thông tin phục vụ lập các báo cáo

Trang 16

trên , các DN phải căn cứ vào số liệu thu thập và xử lý của hệ thống tài khỏan kế

tóan Điều đó cho thấy giữa tài khỏan và hệ thống báo cáo tài chính có mối quan

hệ mật thiết với nhau , thể hiện trên các mặt sau :

_ Về mặt phản ánh , giám đốc : tài khoản và báo cáo tài chính có cùng

đối tượng phản ánh và giám đốc đó là tài sản của DN , nhưng phạm vi và mức độ

phản ánh và giám đốc khác nhau, giữa chúng có quan hệ mật thiết với nhau, bổ

sung cho nhau, cùng thực hiện các chức năng của kế toán, thể hiện ở chỗ:

+ Tài khoản : phản ánh, kiểm tra sự vận động của từng đối tượng kế toán

trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, là nguồn cung cấp

thông tin để lập các các báo cáo như: báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, báo cáo

thuế …

+Báo cáo tài chính: phản ánh khái quát các đối tượng kế toán sau một thời

kỳ hoạt động

_ Về mặt ghi chép :

+ Mối quan hệ giữa tài khoản và Bảng cân đối kế toán là mối quan hệ qua

lại 2 chiều , được thể hiện như sau:

 Đầu kỳ: phải căn cứ vào Bảng Cân Đối Kế Toán được lập vào cuối kỳ

trước cũng như danh mục sổ kế tóan để mở các tài khoản tương ứng nhằm theo dõi

từng lọai tài sản , nguồn vốn cũng như các đối tượng kế tóan cụ thể khác Số liệu

phản ánh trên Bảng Cân Đối Kế toán cuối kỳ trước chính là số dư đầu kỳ này của

các tài khoản phản ánh tài sản , nguồn vốn

 Trong kỳ: kế toán sử dụng các tài khoản đã mở để ghi chép phản ánh

đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

 Cuối kỳ: số dư cuối kỳ của các tài khoản phản ánh tài sản , nguồn vốn

chính là cơ sở để lập Bảng cân đối kế toán mới cho cuối kỳ đó

+ Mối quan hệ giữa tài khoản và Báo cáo kết quả kinh doanh chủ yếu là

mối quan hệ một chiều được thể hiện như sau : cuối kỳ kế toán sử dụng số liệu

trên các tài khoản ( chủ yếu là các tài khoản phản ánh doanh thu , thu nhập, chi

phí và xác định kết quả ) để lập Báo cáo kết quả kinh doanh

+ Mối quan hệ giữa tài khoản và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng là mối

quan hệ một chiều : trong đó thông tin lưu trữ trên các tài khoản kế toán tổng hợp

và chi tiết ( chủ yếu là những tài khỏan liên quan đến tiền và tương đương tiền )

để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

+ Mối quan hệ giữa tài khoản và Thuyết minh báo cáo tài chính cũng là

mối quan hệ một chiều được thể hiện như sau : cuối kỳ kế toán sử dụng số liệu

Trang 17

trên các tài khoản tổng hợp và chi tiết của một số tài khỏan chủ yếu để bổ sung

giải thích một số thông tin mà các báo cáo tài chính trên chưa phản ánh như : tài

khỏan chi phí sản xuất kinh doanh , tài khỏan hàng tồn kho, tài khỏan tài sản cố

định …

b) Mối quan hệ giữa tài khoản và báo cáo quản trị:

Do kế tóan quản trị không có tính pháp lệnh , nên các báo cáo quản trị hiện

nay được thiết kế riêng cho từng nhà quản trị nhằm giúp DN đạt mục tiêu họat

động riêng của mình Có thể gồm :

_ Các báo cáo dự tóan như : dự tóan chi phí , dự tóan sản xuất , dự tóan tiêu

thụ …

_ Các báo cáo phục vụ cho việc kiểm sóat , đánh giá và ra quyết định của

nhà quản trị như : báo cáo chi phí và tình hình thực hiện định mức chi phí , báo cáo

giá thành sản phẩm , báo cáo trung tâm trách nhiệm ( trung tâm chi phí , trung

tâm lợi nhuận , trung tâm đầu tư để báo cáo họat động và đánh giá trách nhiệm

của các nhà quản lý )

Để phục vụ cho việc lập các báo cáo quản trị trên phải sử dụng nhiều lọai

thông tin khác nhau của các lọai hạch tóan như : hạch tóan thống kê , hạch tóan

nghiệp vụ và hạch tóan kế tóan , trong đó số liệu từ các tài khỏan nhất là tài

khỏan chi tiết là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho

việc thiết lập báo cáo quản trị DN

1.3.2 Tổng quan về hệ thống tài khoản:

1.3.2.1.Phân loại tài khoản:

Phân loại tài khoản kế toán là việc sắp xếp các tài khoản kế toán vào

từng loại, từng nhóm theo những tiêu thức khác nhau, đây là một trong những cơ

sở để xây dựng hệ thống tài khỏan kế tóan Có các cách phân loại tài khoản

sau:

_ Phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế: theo tiêu thức này các tài

khoản kế toán được chia thành 3 loại:

+ Loại tài khoản tài sản: những tài khoản thuộc loại này dùng phản ánh

giá trị toàn bộ tài sản có trong DN

+ Loại tài khoản nguồn hình thành tài sản (gọi tắt là nguồn vốn): những

tài khoảøn thuộc loại này dùng theo dõi nguồn hình thành tài sản của tài sản

+ Loại tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh: những tài khoảøn thuộc

loại này dùng phản ánh doanh thu, thu nhập, chi phí và xác định kết quả sản xuất

kinh doanh của DN

Trang 18

Việc phân loại theo nội dung kinh tế giúp cho DN lựa chọn số lượng tài

khoản và loại tài khoản sử dụng trong đơn vị

_ Phân loại tài khoản theo mức độ phản ánh các đối tượng kế toán: theo

tiêu thức này các tài khoản kế toán được chia thành 2 loại:

+ Tài khoản tổng hợp: là tài khoản dùng phản ánh các chỉ tiêu kinh tế

tổng hợp, qua đó có thể cung cấp những thông tin kinh tế tổng hợp

+ Tài khoản chi tiết: là tài khoản dùng để chi tiết hoá các chỉ tiêu đã

được phản ánh trên tài khoản tổng hợp tương ứng

Việc phân loại theo mức độ phản ánh các đối tượng kế toán giúp cho việc

đối chiếu số liệu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết

_ Phân loại tài khoản theo công dụng và kết cấu:

Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán, xác định các

chỉ tiêu cần thiết cung cấp cho hoạt động quản lý

Theo cách phân loại này các tài khoản sử dụng trong DN được phân thành

các loại sau :

+ Loại 1: Loại tài khoản cơ bản: gồm những tài khoản phản ánh trực

tiếp tình hình hiện có và biến động của tài sản và nguồn vốn Theo kết cấu các tài

khoản thuộc loại này lại được chia thành 3 nhóm:

• Nhóm tài khoản phản ánh giá trị tài sản:gồm các tài khoản phản ánh

tình hình hiện có và tình hình tăng giảm các loại tài sản Kết cấu: số dư và phát

sinh tăng ghi bên Nợ, số phát sinh giảm ghi bên Có

• Nhóm tài khoản phản ánh nguồn vốn : gồm các tài khoản phản ánh số

hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguồn vốn Kết cấu: số dư và phát sinh

tăng ghi bên Có, số phát sinh giảm ghi bên Nợ

 Nhóm tài khoản hỗn hợp (lưỡng tính): gồm các tài khoản phản ánh tình

hình thanh toán với các đối tượng Kết cấu: Số dư của những tài khoản nhóm này

có thể ghi bên Nợ hoặc bên Có Khi có số dư Nợ nó mang tính chất của một khoản

tài sản ; khi có số dư Có nó mang tính chất của một khoản nguồn vốn Ví dụ:

TK131- Phải thu của khách hàng , TK 331-Phải trả cho người bán …

+ Loại 2: loại tài khoản điều chỉnh:Tài khoản điều chỉnh là tài khoản

được dùng để điều chỉnh số liệu đã được phản ánh trên các tài khoản cơ bản nhằm

cung cấp số liệu xác thực về tình hình tài sản tại thời điểm tính toán

Về kết cấu, tài khoản điều chỉnh bao giờ cũng có kết cấu ngược với kết

cấu của tài khoản mà nó điều chỉnh, được chia thành 3 nhóm:

 Nhóm tài khỏan điều chỉnh giảm giá trị tài sản :

Trang 19

Thuộc nhóm này bao gồm các tài khỏan dự phòng như : TK129 - Dự phòng

giảm giá đầu tư ngắn hạn , TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi …và TK 214 -Hao

mòn TSCĐ Thông tin trên những tài khỏan này nhằm điều chỉnh giá trị tài sản

theo giá trị hiện còn hay theo giá thị trường trong trường hợp giá phí lớn hơn giá

thị trường

 Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng giảm cho nguồn vốn :

Thuộc nhóm này bao gồm các tài khỏan như TK 412 - Chênh lệch đánh giá

lại tài sản, TK 413 -Chênh lệch tỷ giá , TK 421 - Lợi nhuận chưa phân phối : khi

có số dư bên Có chúng có tác dụng điều chỉnh tăng nguồn vốn , nhưng khi có số

dư bên Nợ chúng lại có tác dụng điều chỉnh giảm nguồn vốn

 Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng tài sản và nguồn vốn :

Thuộc nhóm này bao gồm các tài khỏan như TK 1381 - Tài sản thiếu chờ

xử lý : là tài khỏan dùng điều chỉnh tăng tài sản ; TK 3381 -Tài sản thừa chờ xử

lý : là tài khỏan dùng điều chỉnh tăng nguồn vốn

+ Loại 3: loại tài khoản nghiệp vụ

Tài khoản nghiệp vụ là những tài khoản có công dụng tập hợp các số liệu

cần thiết sau đó sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ để xử lý số liệu

Thuộc loại này bao gồm các nhóm tài khoản sau:

 Nhóm tài khoản tập hợp phân phối: gồm các tài khoản dùng để tập

hợp số liệu sau đó phân phối cho các đối tượng có liên quan, thuộc nhóm này có

các tài khoản chi phí như : TK 621-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp… Và các tài

khoản phân phối theo dự toán dùng để phản ánh các khoản chi phí phát sinh theo

dự toán đã lập từ trước, hoặc chi phí phát sinh một lần rất lớn nhưng lại liên quan

đến nhiều kỳ nên cần được phân bổ dần cho các đối tượng sử dụng , gồm các tài

khoản: TK 335 - Chi phí phải trả ; TK 142-Chi phí trả trước ; TK 242-Chi phí trả

trước dài hạn

 Nhóm tài khoản tính giá thành:là những tài khoản dùng để tập hợp chi

phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ

• Nhóm tài khoản so sánh:dùng để xác định các chỉ tiêu cần thiết của

quá trình kinh doanh bằng cách so sánh giữa bên nợ và bên có của từng loại tài

khoản

_ Phân loại theo mối quan hệ giữa tài khoản kế toán với các báo cáo tài

chính:

Theo cách phân loại này tài khoản kế toán được chia thành ba loại:

+ Loại 1:loại tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán:

Trang 20

Các tài khoản thuộc loại này bao gồm các tài khoản có số dư cuối kỳ được

dùng để lập bảng cân đối kế toán Thuộc loại này bao gồm:

- Nhóm 1: Nhóm tài khoản phản ánh tài sản

- Nhóm 2: Nhóm tài khoản phản ánh nguồn vốn

+ Loại 2:Loại tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán

Các tài khoản thuộc loại này bao gồm các tài khoản phản ánh một số tài

sản không thuộc quyền sở hữu của đơn vị nhưng đơn vị đang tạm thời quản lý và

sử dụng như: tài sản cố định thuê ngoài ; vật tư, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia

công và một số đối tượng cần theo dõi chi tiết phục vụ cho yêu cầu quản lý

riêng như: ngoại tệ, các loại hạn mức kinh phí … Các tài khoản thuộc loại này có

số dư ghi bên nợ và được ghi đơn

+ Loại 3: Loại tài khoản thuộc báo cáo kết quả kinh doanh

Các tài khoản thuộc loại này bao gồm các tài khoản phản ánh doanh thu,

thu nhập ;các tài khoản phản ánh chi phí và tài khoản xác định kết quả kinh

doanh; số liệu các tài khoản này được phản ánh vào các chỉ tiêu trên Báo cáo kết

quả kinh doanh

1.3.2.2 Khái quát về hệ thống tài khoản:

_ Khái niệm: Hệ thống tài khoản là tập hợp tất cả các tài khoản kế toán sử

dụng tại DN , được sắp xếp thành từng lọai , từng nhóm …dựa trên những nguyên

tắc nhất định

_ Nội dung của hệ thống tài khoản kế toán gồm:

+ Số lượng các tài khoản cấp 1 , 2, 3

+ Tên gọi, ký hiệu các tài khoản

+ Nội dung, công dụng, kết cấu và cách ghi chép trên từng tài khoản

+ Những qui định và hướng dẫn ghi chép nghiệp vụ

_ Đặc điểm hệ thống tài khoản Việt Nam :

Hệ thống kế toán Việt Nam : thiết lập và ban hành hệ thống tài khoản kế

toán riêng, qui định áp dụng thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh

tế Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp đầu tiên ban hành theo quyết định số

425 TC / CĐKT ngày 14-12-1970 và hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện

hành được ban hành theo quyết định số 1141 TC / CĐKT ngày 1-11-1995 của Bộ Tài

Chính và một số văn bản sửa đổi, bổ sung

Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất quy định các nội dung cơ bản sau :

_ Số lượng , tên gọi và số hiệu của các tài khoản được sử dụng trong nền

kinh tế để phản ánh các đối tượng kế toán cụ thể

Trang 21

_ Nội dung kinh tế , công dụng kinh tế của từng tài khoản cấp 1 , 2, 3

_ Kết cấu của từng tài khoản

_ Một số quan hệ đối ứng chủ yếu của các tài khoản

Ngoài ra còn hướng dẫn một số phương pháp tính toán và xác định một số

chỉ tiêu được sử dụng để kết chuyển giữa các tài khoản khác nhau có liên quan

Hệ thống tài khoản thống nhất được quy định chung cho nền kinh tế , trong

khi đó mỗi ngành hoạt động hoặc thành phần kinh tế lại có những đặc thù về đối

tượng phản ánh và yêu cầu quản lý nên trên cơ sở của hệ thống tài khoản thống

nhất , mỗi ngành hoặc thành phần kinh tế sẽ nghiên cứu và xây dựng hệ thống tài

khoản cho ngành hoặc thành phần kinh tế một cách phù hợp

Hệ thống tài khoản thống nhất được quy định áp dụng cho nước ta bao gồm

10 loại , trong từng loại bao gồm nhiều tài khoản cấp 1 , tùy theo yêu cầu quản lý

một tài khoản cấp 1 có thể có nhiều tài khoản cấp 2 , một số tài khoản cấp 2 có

thêm tài khỏan cấp 3 Các ngành hoặc doanh nghiệp dựa vào đặc điểm và yêu

cầu quản lý của đơn vị mình có thể mở thêm các tài khoản chi tiết cấp 4, 5 ….cho

phù hợp Số hiệu tài khoản quy định trong hệ thống tài khoản kế toán thống nhất

là hệ thống 3 số đối với tài khoản cấp 1 , 4 số đối với tài khoản cấp 2 , 5 số đối

với tài khoản cấp 3 Nguyên tắc đánh số cho tài khoản như sau :

_ Số đầu tiên thể hiện loại tài khoản

_ Số thứ 2 thể hiện nhóm tài khoản

_ Số thứ 3 dùng để chỉ thứ tự của từng tài khoản kế toán cấp 1

_ Số thứ 4 dùng để chỉ các tài khoản kế toán cấp 2 dùng để chi tiết hóa

cho tài khoản cấp 1

_ Số thứ 5 dùng để chỉ các tài khoản kế toán cấp 3 dùng để chi tiết hóa

cho tài khoản cấp 2

Ngoài 9 loại tài khoản được dùng để phản ánh tài sản , nguồn vốn , tình

hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp , được ghi chép theo phương pháp ghi

kép Trong hệ thống tài khoản kế toán thống nhất còn có tài khoản loại 0 dùng để

phản ánh một số đối tượng đặc biệt liên quan đến việc quản lý , sử dụng trong

doanh nghiệp và cần được theo dõi riêng Đặc điểm ghi chép vào các tài khoản

này là ghi đơn (không đối ứng với tài khoản khác ), khi tăng lên ghi bên nợ , khi

giảm xuống ghi bên có và có số dư nợ

Trang 22

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN ÁP DỤNG CHO

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.Khuôn khổ pháp lý cho hệ thống kế toán và hệ thống tài khoản kế toán

Việt Nam:

2.1.1 Khuôn khổ pháp lý trước khi có Luật kế toán và Chuẩn mực kế

toán Việt Nam :

Như đã trình bày ở chương 1 , khuôn khổ pháp lý là một trong các yếu tố

thuộc môi trường quốc gia có tác động và ảnh hưởng đến hệ thống kế toán nói

chung và hệ thống tài khoản kế toán nói riêng Văn bản pháp lý cao nhất trước

khi có Luật kế toán và Chuẩn mực kế toán Việt Nam , đó chính là Pháp lệnh kế

toán thống kê

Pháp lệnh kế toán thống kê ban hành ngày 10-5-1988, trong thời kỳ nền

kinh tế Việt nam đang trong bước quá độ chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung

sang cơ chế thị trường ,

Pháp lệnh kế toán thống kê làm nền tảng và cơ sở pháp lý để đổi mới và tổ

chức lại hệ thống kế toán và thống kê Việt nam vào khuôn khổ, bảo đảm tính

thống nhất của hoạt động kế toán từ hệ thống chứng từ , ghi chép ban đầu , hệ

thống tài khoản , sổ sách , hệ thống biểu mẫu báo cáo , phương pháp tính các chỉ

tiêu kinh tế tài chính, phân ngành kinh tế , thống nhất hệ thống đo lường và niên

độ kế toán… Gồm 5 chương và 20 điều:

Trang 23

_ Chương 1 : Những qui định chung

_ Chương 2 : Những qui định cụ thể về chế độ kế toán, thống kê

_ Chương3 : Trách nhiệm , quyền hạn của các cấp ,các ngành , các đơn vị

trong việc tổ chức thực hiện chế độ kế toán và thống kê

_ Chương 4 : Xử lý các vi phạm

_ Chương 5 : Điều khoản cuối cùng

Trong đó , theo điều số 10 – chương 2 có nêu qui định về tài khoản và sổ

kế toán như sau : “ Mỗi đơn vị chỉ có một hệ thống sổ kế toán chính thức Sổ

kế toán phải mở theo hệ thống tài khoản do Bộ Tài chính qui định hoặc hệ

thống tài khoản kế toán do Bộ , Tổng cục qui định phù hợp với các hoạt động

đặc thù của ngành sau khi được Bộ Tài chính thoả thuận bằng văn bản …”

Để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán theo tinh thần của Pháp lệnh,

Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ) đã ban hành Điều lệ Tổù chức Kế tóan

Nhà nước (Nghị định 25/HĐBT ngày 18/3/1989), Điều lệ Kế toán trưởng Xí

nghiệp Quốc doanh (Nghị định 26/HĐBT ngày 18/3/1989); Chế độ xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán , thống kê ( Nghị định 52/HĐBT ngày

19/2/1992)

Tuy nhiên , trong xu hướng toàn cầu hoá Pháp lệnh này đã bộc lộ những

tồn tại như:

_ Hoà lẫn 2 loại hạch toán kế toán và thống kê vào một Pháp lệnh là bất

hợp lý và làm kém hiệu lực quản lý của mỗi loại công cụ quản lý Phạm vi và đối

tượng điều chỉnh của Pháp lệnh chưa được bao quát đầy đủ và toàn diện toàn bộ

hoạt động của nền kinh tế quốc dân , đặc biệt là trong các lĩnh vực : Kế toán hoạt

động chứng khoán , Kế toán hoạt động ở các tổ chức kinh doanh và các văn phòng

đại diện của Việt nam ở nước ngoài…

_ Nội dung qui định của Pháp lệnh chưa đầy đủ :

+ Một số hoạt động mới phát sinh trong kinh tế thị trường chưa được đề

cập trong Pháp lệnh như: hoạt động kiểm toán , các tổ chức nghề nghiệp kế toán ,

kiểm toán

+ Nhiều nguyên tắc , thông lệ kế toán , kiểm toán quốc tế phổ biến của

nền kinh tế thị trường đã được qui định thực hiện tại Việt nam nhưng chưa đề cập

trong Pháp lệnh như : Chuẩn mực kế toán , Chuẩn mực kiểm toán , Các nguyên

tắc kế toán , Kế toán tài chính , Kế toán quản trị

+ Nhiều qui định về kế toán và kiểm tra kế toán không phù hợp với nền

kinh tế thị trường nhiều thành phần như : Qui định kiểm tra kế toán và kiểm tra

Trang 24

chất lượng thông tin tài chính ; Chức năng kế toán trưởng Doanh nghiệp ; Qui định

việc kiêm nhiệm hoặc bố trí người làm công tác kế toán ; Qui định chức danh Kế

toán trưởng ; Qui định về tổ chức nghề nghiệp Kế toán , Kiểm toán …

Từ những tồn tại nêu trên của Pháp lệnh kế toán và thống kê , cần tiếp tục

hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hệ thống kế toán Việt nam

2.1.2 Luật kế toán Việt nam :

Từ những năm 1990 Việt Nam đã triển khai các công việc chuẩn bị cho

việc ban hành Luật kế toán gồm : tổ chức đánh giá quá trình thực hiện Pháp lệnh

kế toán và thống kê ( Phần Kế toán ) ; nghiên cứu Luật Kế toán của các nước trên

thế giới; trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã xúc tiến việc nghiên cứu , dự thảo

Luật kế toán và với sự trợ giúp của chuyên gia của Ngân hàng thế giới

Luật kế toán Việt nam đã được Quốc hội khoá XI chính thức thông qua

ngày 17/06/2003 , Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt nam công bố

theo Lệnh số 12/ L-CTN ngày 26 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ

ngày 01/01/2004 Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất cho hoạt động kế

toán của nước ta trong bối cảnh nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và hội

nhập quốc tế

Luật kế toán gồm 7 chương và 64 điều , chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kế

toán , trong khi Pháp lệnh kế toán và thống kê chỉ có 5 chương và 20 điều bao

gồm cả hai lĩnh vực kế toán và thống kê Những điểm mới nổi bật của Luật kế

toán là :

_ Về tài khoản kế toán : Luật kế toán qui định tài khoản kế toán dùng

để phân loại và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế , tài chính theo nội dung

kinh tế Mỗi đơn vị kế toán phải sử dụng một hệ thống tài khoản là bảng kê

các tài khoản dùng cho đơn vị kế toán được mở theo từng đối tượng kế toán

Các đơn vị kế toán được phép căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ

Tài chính qui định để lựa chọn , áp dụng một hệ thống tài khoản kế toán phù

hợp và được mở chi tiết các tài khoản phục vụ yêu cầu quản lý của đơn vị

Trường hợp lựa chọn hệ thống tài khoản kế toán khác với nội dung hệ thống

tài khoản kế toán qui định thì phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn

bản …

_ Thừa nhận Kế toán quản trị , điều này cho phép các doanh nghiệp chủ

động , sáng tạo tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ nhu cầu quản

lý của từng đơn vị mà không bị cho là trái luật

Trang 25

_ Luật qui định về kế toán trong các trường hợp đơn vị kế toán bị chia ,

tách , hợp nhất , sáp nhậïp , chuyển đổi hình thức sở hữu , giải thể , chấm dứt hoạt

động , phá sản …, đây là những việc thường xảy ra trong nền kinh tế thị trường mà

Pháp lệnh kế toán và thống kê chưa đề cập …

_ Luật qui định Doanh nghiệp FDI cũng là đối tượng thực hiện đầy đủ Luật

(trong khi Pháp lệnh cho phép Doanh nghiệp FDI thực hiện kế toán theo nguyên

tắc và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến được Bộ Tài chính thừa nhận) , đây là sự tiến

bộ của hệ thống luật pháp Việt nam nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi loại

hình doanh nghiệp trong nền kinh tế

_ Đưa ra các nguyên tắc kế toán như : giá gốc , nhất quán , khách quan ,

đầy đủ , công khai , thận trọng …

_ Bổ sung một số điều nghiêm cấm mà Pháp lệnh chưa đề cập như : ban

hành công bố chuẩn mực kế toán , chế độ kế toán không đúng thẩm quyền ; lợi

dụng chức vụ , quyền hạn , đe doạ , trù dập người làm kế toán trong việc thực

hiện công việc kế toán …

_ Thừa nhận chính thức hoạt động nghề nghiệp kế toán

2.1.3 Chuẩn mực kế toán Việt nam ( CMKT):

Chuẩn mực kế toán Việt nam là những qui định và hướng dẫn các nguyên

tắc , nội dung , phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản , làm cơ sở ghi chép kế

toán và lập Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý ,

khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của DN

Những vấn đề trên đã được đề cập trong hệ thống chế độ kế toán doanh

nghiệp Việt nam, tuy nhiên những qui định mang tính nguyên tắc về hình thức văn

bản không được qui định riêng rẽ nên hiệu lực pháp lý chưa cao Cụ thể như sau :

_Về tính chất pháp lý chưa được qui định một cách độc lập , đồng bộ, thống

nhất , ổn định , phụ thuộc quá nhiều vào các qui định trong chính sách thuế , cơ

chế tài chính doanh nghiệp , do đó thường xuyên bị thay đổi

_Về nội dung các qui định về kế toán đều chưa đầy đủ và chưa phù hợp với

thông lệ kế toán quốc tế phổ biến, do đó chưa được các tổ chức nghề nghiệp quốc

tế và các quốc gia công nhận

Nhận thức được những hạn chế nêu trên Việt nam đang tích cực triển khai

soạn thảo và công bố các chuẩn mực kế toán Việt nam nhằm đạt được sự hoà hợp

, thống nhất trong việc thiết lập , trình bày và công bố các thông tin tài chính cho

phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế

Qui trình nghiên cứu soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm :

Trang 26

+ Nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế

+ Mời chuyên gia Cộng đồng kinh tế Âu châu (EEC) giảng lại chuẩn mực

kế toán quốc tế , giải đáp thắc mắc

+ Thành lập nhóm soạn thảo ( 7 _ 10 người)

+ Mời đại diện các Tổng Công ty , Công ty kiểm toán , Giảng viên các

trường Đại học và Trung học Tài chính kế toán phía Bắc và phía Nam thảo luận

rộng rãi

+ Xin ý kiến của Tổ chức nghề nghiệp

+ Thu thập các ý kiến đóng góp và chỉnh sửa

+ Trình Bộ Tài chính

Quy trình này cho thấy việc nghiên cứu , soạn thảo để ban hành các chuẩn

mực kế toán được tổ chức rất kỹ lưỡng và thận trọng Theo Ông Bùi Văn Mai –

Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán – Bộ Tài chính có 3 xu hứơng soạn thảo chuẩn mực

+ Không dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế mà tự soạn thảo chuẩn mực

kế toán quốc gia riêng ( như : Trung quốc …)

Việt Nam theo xu hướng thứ hai Có tất cả 34 chuẩn mực kế toán cần

soạn thảo từ nay đến năm 2005, trong đó đã ban hành 16/ 34 chuẩn mực gồm :

_ Bốn chuẩn mực kế toán ban hành đợt 1 theo Quyết định 149/ 2001/

QĐ - BTC , ngày 31-12-2001 ( gồm : CM số 02 -Hàng tồn kho, CM số 03 Tài sản

cố định hữu hình , CM số 04 - Tài sản cố định vô hình , CM số 14 - Doanh thu và

thu nhập khác ) là những chuẩn mực phổ thông , căn bản , liên quan trực tiếp đến

công việc hàng ngày của các kế toán viên , của những người làm công tác nghiên

cứu , giảng dạy

_ Sáu chuẩn mực kế toán ban hành đợt 2 theo Quyết định 165/ 2002 /

QĐ - BTC , ngày 31-12-2002 ( gồm : CM số 01- Chuẩn mực chung , CM số 06-

Thuê tài sản , CM số 10 -Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái , CM số 15-

Hợp đồng xây dựng , CM số 16- Chi phí đi vay , CM số 24- Báo cáo lưu chuyển

tiền tệ) : là những vấn đề rất gần gũi với các Doanh nghiệp

Trang 27

Trong đó : “Chuẩn mực chung” đề cập đến các nguyên tắc kế toán

chung , là những qui định có tính nguyên tắc được thừa nhận chung , thường

mang tính chuyên môn về kế toán

Tuỳ theo mỗi quốc gia mà các nguyên tắc này được qui định ở mức độ và

văn bản khác nhau như :

+Tại Việt nam , các nguyên tắc kế toán cơ bản được qui định trong Chuẩn

mực chung như : cơ sở dồn tích , hoạt động liên tục , giá gốc, phù hợp , nhất quán ,

thận trọng, trọng yếu Các nguyên tắc này ảnh hưởng đến vấn đề ghi chép trên

các tài khỏan kế tóan

+ Tại Mỹ qui định thành văn bản riêng gọi là “ Những nguyên tắc kế toán

được thừa nhận chung” ( GAPP -Generally Accepted Accounting Principles)

_ Sáu chuẩn mực kế toán ban hành đợt 3 theo Quyết định 234/ 2003 / QĐ

- BTC , ngày 30-12-2003 ( gồm :CM số 01 - Trình bày báo cáo tài chính , CM số

24 - Thông tin về các bên có liên quan , CM số 27- Báo cáo tài chính hợp nhất ,

CM số 28 - Kế tóan các khỏan đầu tư vào công ty liên kết , CM số 31- Góp vốn

liên doanh , CM số 40-Bất động sản đầu tư )

Sáu chuẩn mực kế toán ban hành đợt 3 có đặc điểm khác biệt so với các

chuẩn mực trước : chủ yếu liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính trong nền

kinh tế đang phát sinh , phát triển , đa dạng, phong phú , với những mức độ khác

nhau , có thể diễn ra hàng ngày, hàng giờ, và cũng có thể sẽ diễn ra trong tương

lai

Nước ta trong giai đoạn hiện nay có các loại đơn vị kinh doanh như :

Doanh nghiệp nhà nước ( xu hướng sắp tới sẽ chuyển thành Công ty Trách nhiệm

hữu hạn 1 thành viên ) , Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , Doanh nghiệp

tư nhân , Công ty cổ phần , Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việc các Doanh

nghiệp này sản xuất kinh doanh hay đầu tư vào một lĩnh vực nào đó sắp tới sẽ

phong phú hơn như : đầu tư mua toàn bộ DN hay đầu tư mua cổ phiếu của DN

khác , mua bất động sản đầu tư , kêu gọi đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu …

và vấn đề DN phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào các DN khác là xu hướng

phát triển trong nền kinh tế thị trường ,vì vậy các DN sẽ luôn phải đối đầu với

cạnh tranh , phá sản , chuyển đổi , sáp nhập hay hợp nhất kinh doanh …

_ Đã tổ chức Hội thảo sáu chuẩn mực kế toán đợt 4 vào ngày 26,27/4/2004 tại

Hà Nội và ngày 06,07/5/2004 tại TP Hồ Chí Minh ( gồm : CM số 17- Thuế thu

nhập doanh nghiệp ; CM số 22- Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của ngân

hàng; CM số 23- Các sự kiện sau ngày kết thúc năm ; CM số 27- Báo cáo tài

Trang 28

chính giữ niên độ ; CM số 28- Báo cáo tài chính bộ phận ; CM số 29- Chính sách

kế toán , thay đổi trong các uớc tính kế toán và các saisót )

Sự ra đời của các chuẩn mực kế toán Việt nam đã ảnh hưởng đến hệ thống

kế toán Việt nam nói chung và hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam nói riêng ,

Bộ Tài Chính đã bổ sung , sửa đổi một số tài khoản kế toán và đã hướng dẫn kế

toán một số trường hợp hạch toán mới cho phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế

hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam

2.1.4 Chế độ kế toán Việt Nam :

Chế độ kế toán qui định và hướng dẫn nội dung , phương pháp kế toán cụ

thể mang tính đặc thù trong một số lĩnh vực, một số ngành Nội dung cơ bản của

hệ thống chế độ kế toán Việt nam gồm :

_ Hệ thống tài khoản kế toán và giải thích nội dung , kết cấu và phương

pháp ghi chép các tài khoản kế toán

_ Hệ thống báo cáo tài chính và các qui định về nội dung , phương pháp

lập báo cáo tài chính

_ Chế độ chứng từ kế toán

_ Chế độ sổ kế toán

Cùng với việc xây dựng và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán Việt

nam, Việt nam đã định hướng hoàn thiện chế độ kế toán Việt nam từ năm

2001-2010 gồm : chế độ kế toán doanh nghiệp , chế độ kế toán đặc thù (thuộc các lĩnh

vực kinh doanh tiền tệ , thị trường chứng khoán ) , chế độ kế toán Nhà nước

Từ năm 1994 đến nay , Việt nam đã ban hành một số chế độ kế toán

nhằm thực hiện cải cách căn bản hệ thống kế toán Việt nam Riêng đối với kế

toán lĩnh vực kinh doanh , các chế độ kế toán ban hành trong giai đoạn này có đặc

điểm là từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ

chế thị trường , theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta trên cơ sở có chọn

lọc nguyên tắc , chuẩn mực kế toán quốc tế , được thể hiện qua việc ban hành :

+ Chế độ kế toán Doanh nghiệp ( QĐ 1141- TC/ CĐKTngày 1/11/1995)

+ Chế độ kế toán Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( QĐ 144/2001/QĐ-BTC

ngày 21/12/2001

+ Chế độ kế toán hộ kinh doanh (QĐ167/2000-BTC ngày 25/10/2000 )

Tuy nhiên , trong điều kiện chưa xây dựng , hoàn thiện và ban hành kịp

thời chế độ kế toán mới , Bộ Tài Chính đã ban hành một số các thông tư , văn

bản … nhằm bổ sung hướng dẫn kế toán một số trường hợp mới tương thích với sự

phát triển kinh teÁ trong từng thời kỳ và để giải thích , hướng dẫn thi hành các

Trang 29

chuẩn mực kế toán Việt Nam vừa mới ban hành , chỉ rõ phương thức hạch toán chi

tiết từng giao dịch , tạo điều kiện cho việc áp dụng các chuẩn mực được nhanh

chóng và thuận lợi

Tính từ năm 1995 đến năm 2003 :Bộ Tài Chính đã ban hành một số các

thông tư nhằm bổ sung hướng dẫn kế toán cho các doanh nghiệp ( Xem Phụ lục

1.0)

2.2 Lịch sử hình thành hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh

nghiệp Việt nam thuộc lĩnh vực kinh doanh :

Trong quá trình hình thành và phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam, hệ

thống tài khoản kế toán Việt nam cũng đã được bổ sung , sửa đổi và ban hành qua

nhiều giai đoạn phát triển kinh tế của Việt nam

2.2.1 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1990 :

_ Trong những ngày đầu kháng chiến , các cơ sở kinh tế của của Nhà nước

chỉ là những công xưởng , kho thóc và tổ chức kinh tế nhỏ bé , kế toán còn là ghi

chép thu chi ngân sách sơ khai Đến năm 1948 lần đầu tiên Bộ Tài Chính ban

hành “Thể lệ thu chi và kế toán đại cương của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng

Hoà“

_ Năm 1954 : cùng với việc tiếp quản cơ sở kinh tế do chế độ cũ để lại ,

các xí nghiệp và tổ chức kinh tế Nhà nước lần lượt ra đời , hình thành hệ thống

kinh tế quốc doanh đã đòi hỏi cấp thiết phải có hệ thống chế độ kế toán đầy đủ

Ngày 11/10/1956 Phó Thủ tướng Phan Kế Toại ký Nghị định số 1076-TTg Thành

lập “Vụ chế độ kế toán “với chức năng , nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và trình

Bộ Trưởng Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán , xét duyệt chế độ kế toán , xử

lý nghiệp vụ kế toán phát sinh và kiểm tra chấp hành chế độ kế toán

_ Năm 1957 : hệ thống kế toán kép bắt đầu áp dụng , để tạo điều kiện

thực hiện chế độ hạch toán kinh tế Vụ Chế độ kế toán trình Bộ Tài chính ban

hành “ Chế độ kế toán công nghiệp” và “ Chế độ kế toán kiến thiết cơ bản “

.Trên cơ sở đó, Vụ Chế độ kế toán trình Bộ Tài chính tiếp tục ban hành các chế

độ kế toán cụ thể cho lĩnh vực thương nghiệp , cung tiêu …

_ Năm 1967 : trong bối cảnh miền Bắc đang xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội,

thì xảy ra chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ , nền kinh tế

chuyển sang kinh tế thời chiến , Vụ Chế độ kế toán phải sơ tán lên Lập Thạch –

Vĩnh Yên ( 1966-1968), cán bộ của Vụ một mặt phải chia nhỏ đi địa phương

hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán , kiểm tra , xử lý vi phạm về kế toán , mặt

Trang 30

khác ban hành tiếp các tài liệu hướng dẫn về kế toán , các nghiệp vụ kinh tế phát

sinh trong thời chiến

Cũng trong giai đoạn này , với sự trợ giúp của chuyên gia Liên Xô , Liên

Bộ Tài chính và Thống kê đã ban hành Chế độ ghi chép ban đầu áp dụng cho các

Doanh nghiệp quốc doanh , Chế độ về tài khoản kế toán , sổ sách kế toán và báo

cáo thống kê kế toán cũng được sửa đổi và bổ sung

_ Năm 1970 : do yêu cầu cải tiến quản lý xí nghiệp , Chế độ kế toán

thống nhất lần đầu tiên ra đời theo Quyết định số 425 TC / CĐ KT bao gồm :

chế độ ghi chép ban đầu , hệ thống tài khoản kế toán thống nhất , sổ sách kế toán

và báo cáo kế toán thống kê, trong đó mục tiêu của hệ thống tài khoản kế toán

thống nhất là cung cấp thông tin một cách có hệ thống và toàn diện tình hình thực

hiện kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính

Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất trong giai đoạn này bao gồm

11 loại tài khoản với 69 tài khoản trong Bảng tổng kết tài sản và 9 tài khoản

ngoài Bảng tổng kết tài sản được ký hiệu bằng 2 chữ số (từ số 01 đến số 99)

Ngoài ra , mỗi tài khoản tuỳ theo yêu cầu chi tiết hoá trong quản lý , được mở

thêm các tiểu khoản được ký hiệu bằng 3 chữ số

( Xem Phụ lục 1.1 – Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất ban hành

theo Quyết định số 425 TC / CĐ KT ngày 01/12/1970)

_ Năm 1989: theo Quyết định số 212TC / CĐ KT ngày 01/12/1970 Bộ Tài

Chính ban hành Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất bao gồm 9 loại với 41

tài khoản trong Bảng tổng kết tài sản và 8 tài khoản ngoài Bảng tổng kết tài

sản được ký hiệu bằng 2 chữ số (từ số 10 đến số 92) , các tiểu khoản được ký hiệu

bằng 3 chữ số

Hệ thống tài khoản kế toán này được xây dựng khoa học hơn hệ thống tài

khoản kế toán cũ , giảm bớt số lượng tài khỏan cấp 1 ( giảm 28 tài khỏan ) dưạ

trên cơ sở của sự tuần hoàn và luân chuyển vốn và tính chất cân đối giữa vốn và

nguồn vốn , giữa chi phí và thu nhập

( Xem Phụ lục 1.2 – Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất ban hành

theo Quyết định số 212TC / CĐ KT ngày 15/12/1989)

2.2.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1995 :

Đây là giai đoạn đổi mới công tác kế toán , xoá bỏ cơ chế quản lý tập

trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế theo kinh tế thị

trường trên cơ sở vận dụng có chọn lọc nguyên tắc , chuẩn mực và thông lệ phổ

biến của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển , Bộ Tài Chính ban hành

Trang 31

Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất theo Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT

ngày 01/11/1995 áp dụng cho các Doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực hoạt động ,

mọi thành phần kinh tế trong cả nước kể từ ngày 01/01/1996

Hệ thống này bao gồm 10 loại , trong đó từ loại 1 đến loại 9 chủ yếu

phản ánh tài sản , nguồn vốn và doanh thu , chi phí , xác định kết quả kinh doanh

của đơn vị , có đặc điểm là ghi kép và loại 10 phản ánh những tài sản không

thuộc quyền sởø hữu của đơn vị , nhưng đơn vị có quyền quản lý và sử dụng , có

đặc điểm là ghi đơn Hệ thống tài khoản này gồm : 71 tài khoản cấp 1 được ký

hiệu bằng 3 chữ số và 97 tài khoản cấp 2 được ký hiệu bằng 4 chữ số

Đặc điểm nổi bật của Hệ thống tài khoản này là :

+ Các tài khoản được sắp xếp theo mức độ luân chuyển thành tiền nhanh

nhất của tài sản

+ Các tài khoản được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất

+ Đảm bảo tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn , giữa thu nhập và chi

phí trong hoạt động kinh doanh

( Xem Phụ lục 1.3 – Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất ban hành

theo Quyết định số 1141TC / CĐ KT ngày 1/11/1995)

2.2.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến 31/12/2000 ( thời kỳ trước khi nhóm

Chuẩn mực kế toán Việt nam đợt 1 , 2 ban hành ):

Đây là giai đoạn Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham

gia xây dựng và phát triển kinh tế theo mục tiêu “ Dân giàu , nước mạnh

…”và đã ban hành :

+ Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và

nhỏ ban hành theo Quyết định số 1177 TC /QĐ/ CĐKT ngày 23/12/1996, được

áp dụng từ ngày 01/01/1997 cho tất cả các doanh nghiệp tư nhân , công ty trách

nhiệm hữu hạn ,công ty cổ phần , các hợp tác xã , các tổ chức kinh tế tập thể có

sản xuất , kinh doanh của các cơ quan đoàn thể và các đơn vị hành chính sự

nghiệp Hệ thống tài khoản này được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với

yêu cầu và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kinh tế thị trường theo

định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt nam

Hệ thống này cũng bao gồm 10 loại , trong đó từ loại 1 đến loại 9 chủ

yếu phản ánh tài sản , nguồn vốn và doanh thu , chi phí , xác định kết quả kinh

doanh của đơn vị , có đặc điểm là ghi kép và loại 10 phản ánh những tài sản

không thuộc quyền sởø hữu của đơn vị , nhưng đơn vị có quyền quản lý và sử dụng

Trang 32

, có đặc điểm là ghi đơn Hệ thống tài khoản này gồm : 32 tài khoản cấp 1 được

ký hiệu bằng 3 chữ số và 38 tài khoản cấp 2 được ký hiệu bằng 4 chữ số

( Xem Phụ lục 1.4 – Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các

doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định số 1177 TC /QĐ/ CĐKT

ngày 23/12/1996)

+ Năm 1997 - 1998 : nhằm đảm bảo phù hợp giữa chế độ kế toán

doanh nghiệp và cơ chế tài chính Nhà nước ban hành theo Nghị định số 59 / CP ,

đồng thời để thực hiện 2 Luật thuế mới : thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập

doanh nghiệp , Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 10 TC/ CĐKT ngày

20/3/1997 “Hướng dẫn bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp” và thông tư số

100 -1998 /TT-BTC “Hướng dẫn kế toán thuế giá trị gia tăng và thuế thu

nhập doanh nghiệp” Theo đó Bộ Tài Chính đã sửa đổi nội dung một số TK ,

đổi tên TK , bỏ bớt hay bổ sung thêm một số tài khoản cấp 1 và cấp 2 , cấp 3 đã

ban hành theo Quyết định 1141TC / CĐ KT ngày 1/11/1995 nhằm phục vụ cho yêu

cầu quản lý mới và thực hiện 2 luật thuế mới Cụ thể như sau :

Trang 33

ĐỔI TÊN TK BỔ SUNG THÊM TK BỎ BỚT TK

1/ Đổi tên TK 2132- Chi

phí thành lập , chuẩn bị

sản xuất “ thành “ Chi phí

thành lập Doanh nghiệp

2/Đổi tên TK 3331- Thuế

doanh thu thành “ Thuế

giá trị gia tăng phải nộp”

Tài khoản 3331 có 2 tài

khoản cấp 3 :

 TK 33311 -Thuế giá trị

gia tăng đầu ra

 TK 33312 -Thuế giá trị

gia tănghàng nhập khẩu

3/Đổi tên TK 3334 - Thuế

lợi tức thành “ Thuế thu

nhập doanh nghiệp

1/ Bỏ TK 211-Đất 1/ Thêm TK 133 - Thuế

giá trị gia tăng được khấu trừ

Tài khoản 133 có 2 tài khoản cấp 2 :

 TK 1331 - Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ của hàng hoá - dịch vụ  TK 1332 -Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ của tài sản cố định

2/ TK 161- Chi sự nghiệp được phản ánh thêm nội dung chi phí quản lý dự án và chi thực hiện chương trình dự án

4/ Đổi tên TK 414-Quỹ

phát triển kinh doanh

thành “Quỹ đầu tư phát

triển “

3/ Thêm TK 3387 - Doanh thu nhận trước 4/ Thêm TK 416 - Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm

5/ Thêm TK 4313 - Quỹ phúc lợi hình thành tài sản cố định

Tài khoản 414 có 2 tài

khoản cấp 2 :

 TK 4141-Quỹ đầu tư

phát triển 6/ TK 461 - Nguồn kinh

phí sự nghiệp được phản ánh thêm nội dung nguồn kinh phí dự án

 TK 4142-Quỹ nghiên

cứu khoa học và đào tạo

5/ Đổi tên TK 415 - Quỹ

dự trữ thành “ Quỹ dự

phòng tài chính “

6/ Đổi tên TK 421 - Lãi

chưa phân phối thành “

Lợi nhuận chưa phân

phối”

7/ Thêm TK 466 -Nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định

8/ Thêm TK 5114 - Doanh thu trợ cấp , trợ giá

9/ Thêm TK 6415 - Chi phí bảo hành

Giá trị đất , mặt nước , mặt biển hình thành do việc phải bỏ chi phí để mua , đền bù , san lấp cải tạo nhằm mục đích có được mặt bằng kinh doanh , được hạch toán vào TK 213( 2131) - Quyền sử dụng đất

2/ Bỏ TK 521 - Chiết khấu bán hàng

Trang 34

( Xem Phụ lục 1.5 – Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất ban hành theo

Quyết định số 1141TC / CĐ KT ngày 1/11/1995 có bổ sung , sửa đổi theo

Thông tư số 10 và số 100)

+ Cuối năm 1998 , Bộ Tài Chính lại ban hành Hệ thống tài khoản kế

toán áp dụng cho các Doanh nghiệp Xây lắp theo Quyết định số 1864/1998/QĐ-

BTC ngày 16/12/1998

Về cơ bản : tên gọi , ký hiệu , nội dung các tài khoản trong hệ thống này

hoàn toàn nhất quán với hệ thống tài khoảøn kế toán ban hành theo quyết định

1141 năm 1995 , chỉ có một số khác biệt như :

 Doanh nghiệp Xây lắp chỉ áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên

trong hạch toán hàng tồn kho , do đó không có 2 tài khoản 611 - Mua hàng và tài

khoản 631 - Giá thành sản xuất

 Bổ sung thêm một số tài khoản cấp 2 cho các tài khoản như : 136 ,

141,152,154,211,315,331,334,335,336…

 Bổ sung thêm tài khoản 623- Chi phí sử dụng máy thi công và tài khoản

ngoài Bảng cân đối kế toán như : TK 005 - Nguồn vốn vay bằng ngoại tệ

( Xem Phụ lục 1.6 – Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các

Doanh nghiệp Xây lắp )

+ Năm 2000 : Bộ Tài Chính lại ban hành Hệ thống tài khoản kế toán áp

dụng cho các doanh nghiệp theo Quyết định số 167/ 2000 TC/QĐ/CĐKT ngày

25/10/2000 Hệ thống tài khoản kế toán này cập nhật thông tư số 10 và số 100.(

Xem Phụ lục 1.7 )

Về cơ bản : tên gọi , ký hiệu , nội dung các tài khoản trong hệ thống này

hoàn toàn nhất quán với hệ thống tài khoảøn kế toán ban hành theo quyết định

1141TC / CĐ KT ngày 1/11/1995 có bổ sung , sửa đổi theo Thông tư số 10 và số

100 , chỉ có thêm một số khác biệt như : thay đổi tên gọi TK 144 - Thế chấp , ký

cược , ký quỹ ngắn hạn thành “ Cầm cố, ký cược , ký quỹ ngắn hạn”

2.2.4 Giai đoạn từ 31/12/2000 đến nay:

Đây là giai đoạn Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý cho hệ thống

kế toán Việt nam gồm soạn thảo và ban hành Luật Kế toán và một số Chuẩn

mực kế toán Việt nam

_ Năm 2001 : Do DN vừa và nhỏ trong khu vực tư nhân chiếm vị trí quan

trọng trong nền kinh tế đất nước , từ hơn 30.000 doanh nghiệp tư nhân năm 1996

Trang 35

đến măm 2001 đã có 63.700 doanh nghiệp và từ chỗ chỉ có trên 1 tỷ đồng vốn

nay đã tăng lên 10 tỷ , lao động từ 100 người nay đã tăng lên 300 người bình quân

… Do đó , nhằm thích ứng với những đổi mới trên , đòi hỏi phải sửa đổi và hoàn

thiện cơ chế quản lý Doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có chế độ kế toán , Bộ

Tài Chính đã ban hành Hệ thống tài khoản kế toán cho Doanh nghiệp vừa và

nhỏ theo Quyết định số 144 /2001/ QĐ - BTC ngày 21/12/2001) nhằm bổ sung ,

sửa đổi cho Hệ thống tài khoản kế toán cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã ban

hành theo Quyết định số 1177 TC/ QĐ/ CĐKT ngày 23/12/1996

So sánh với Hệ thống tài khoản kế toán cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã

ban hành theo Quyết định số 1177 TC/ QĐ/ CĐKT ngày 23/12/1996, hệ thống mới

này gồm : 44 tài khỏan cấp 1 (đã bổ sung thêm 12 tài khoản cấp 1) ; 40 tài khoản

cấp hai; 2 tài khỏan cấp 3 và 1 tài khoản ngoài Bảng, thay đổi tên gọi một số tài

khoản và bỏ bớt một số tài khoản

Cụ thể như sau :

Bổ sung thêm TK Thay đổi tên gọi TK Bỏ bớt TK

gia tăng được khấu trừ

của hàng hoá , dịch vụ

 TK 1332 - Thuế giá trị

gia tăng được khấu trừ

của tài sản cố định

3/ TK 153 - Công cụ dụng

cụ

4/ TK 156 - Hàng hoá

_ Loại 1 :

1/ TK 152- Vật liệu , công cụ dụng cụ thành

“ Nguyên liệu , vật liệu “

2/ TK 155 - Thành phẩm , hàng hoá thành

 TK 1592 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho thành “Dự phòng phải thu khó đòi”

 TK 1593 - Dự phòng

Trang 36

_ Loại 2 :

5/ TK 242 - Chi phí trả

trước dài hạn

_ Loại 3 :

6/ TK 315- Nợ dài hạn

đến hạn trả

8/ TK 341 - Vay dài hạn

9/ TK 342 - Nợ dài hạn

giảm giá đầu tư tài chính thành “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho”

_ Loại 2 :

4/ Bổ sung thêm từ “ Hao mòn “ vào tên gọi tài khoản cấp 2 của tài khoản 214 - Hao mòn tài sản cố định

5/ TK 2211- Chứng khoán thành “Đầu tư chứng khoán dài hạn “

6/ TK 2218 -Đầu tư khác thành “Đầu tư dài hạn khác “

_ Lọai 3 :

7/ TK 311 - Phải trả tiền vay thành “ Vay ngắn hạn “

8/ TK 331- Phải trả cho khách hàng thành “ Phải trả cho người bán “ 9/ TK 3331 - Thuế doanh thu thành “ Thuế giá trị gia tăng “

10/ TK 3334 - Thuế lợi tức thành “ Thuế thu nhập doanh nghiệp

11/TK 338 - Phải trả khác thành “Phải trả , phải nộp khác “

12/ TK 3387 - Doanh thu nhận trước thành “ Doanh

_ Lọai 3 :

1/ Bỏ 2 tài khoản cấp 2 :

TK 3111-Vay ngắn hạn

TKø 3112- Vay dài hạn 2/ Bỏ TK 3335 - Thu trên vốn

Trang 37

14/TK 415 - Các quỹ thành “Các quỹ của doanh nghiệp “

15/ TK 421 - Lãi chưa phân phối thành “ Lợi nhuận chưa phân phối “

_ Lọai 5 :

16/ TK 511 - Doanh thu hoạt động kinh doanh thành “ Doanh thu”

17/ TK 5211 - Chiết khấu bán hàng thành “ Chiết khấu thương mại “

_ Lọai 7 :

18/ TK 711 - Thu nhập hoạt động khác thành

“Thu nhập khác “

_ Lọai 8 :

19/ TK 811 -Chi phí hoạt động khác thành “ Chi phí khác “

_ Lọai 4 : 3/ Bỏ 2 tài khoản cấp 2

của TK 413 là

TK 4131 - Chênh lệch tỷ giá

TKø 4132 -Chênh lệch đánh giá lại tài sản

( Xem Phụ lục 1.8 - Hệ thống tài khoản kế toán cho Doanh nghiệp vừa và

nhỏ theo Quyết định số 144 /2001/ QĐ - BTC ngày 21/12/2001)

_ Sau nhóm chuẩn mực kế toán đợt 1, 2 ban hành , Bộ Tài chính đã ban

hành Thông tư 55 ( 26/06/2002) - Hướng dẫn chế độ kế toán cho các doanh

nghiệp, tổ chức có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ; Thông tư số 82 ngày

14/8/2002 - Hướng dẫn kế toán quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm , Thông tư số

89 theo Quyết định số 149( 09/10/2002) và Thông tư số 105 theo quyết định số

Trang 38

165 ( 04/11/2003) nhằm hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực kế toán mới

ban hành

Theo thông tư 82 ngày 14/8/2002 , hệ thống tài khoản kế toán thống

nhất ban hành theo Quyết định 1141TC / CĐ KT ( 01/11/1995 ) có một số thay

đổi sau : thay tài khoản 416 “ Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm “ bằng tài

khoản 335( 3353 )

Theo thông tư 89 ngày 09/10/2002 , hệ thống tài khoản kế toán thống

nhất ban hành theo Quyết định 1141TC / CĐ KT ( 01/11/1995 ) có một số thay

đổi sau :

* TK 213 - Tài sản cố định vô hìønh : có sự thay đổi về tên gọi và nội

dung và phương pháp kế toán của một số tài khoản cấp 2:

+ TK 2132 - Chi phí thành lập ,chuẩn bị sản xuất thành “ Quyền phát hành”

+ TK 2133 - Bằng phát minh , sáng chế thành “ Bản quyền , bằng sáng chế “

+ TK 2134 -Chi phí nghiên cứu , phát triển thành“ Nhãn hiệu hàng hoá “

+ TK 2135 - Chi phí về lợi thế thương mại thành “ Phần mềm máy tính “

+ Thêm TK 2136 -Giấy phép và giấy phép nhượng quyền

* Thêm TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn

* Đổi tên TK 338 ( 3387) - Doanh thu nhận trước thành “ Doanh thu chưa

thực hiện “

* Đổi tên TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

*Bổ sung và thay đổi tên gọi TK 521 - Chiết khấu bán hàng thành “ Chiết

khấu thương mại “

* Bổ sung nội dung phản ánh và hướng dẫn kế toán một số nghiệp vụ liên

quan đến TK 632 - Giá vốn hàng bán

* Đổi số hiệu TK “ Thu nhập tài chính “ từ 711 thành 515

* Đổi số hiệu TK “ Chi phí tài chính “ từ 811 thành 635

* Đổi tên và số hiệu TK 721- Thu nhập bất thuờng và TK 821- Chi phí

bất thường thành TK 711 -Thu nhập khác và TK 811- Chi phí khác

Ngoài ra, thông tư 89 đã hướng dẫn kế toán một số vấn đề như :

+ Kế toán chi phí sản xuất chung cố định

+ Kế toán các khoản hao hụt , mất mát hàng tồn kho

+ Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho , dự phòng phải thu khó

đòi

Trang 39

+ Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến

tài sản cố định hữu hình , tài sản cố định vô hình , hao mòn tài sản cố định hữu

hình , tài sản cố định vô hình

+ Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến

một số tài khoản kế toán mới ban hành hoạc mới sữa đổi , bổ sung như :TK 242

-Chi phí trả trước dài hạn , TK 515- Thu nhập tài chính …

+ Hướng dẫn sửa đổi , bổ sung chế độ báo cáo tài chính như : Bảng

cân đối kế toán , Báo cáo kết quả kinh doanh

Theo thông tư số 105 ngày 04/11/2003 , hệ thống tài khoản kế toán

thống nhất ban hành theo Quyết định 1141 ( 01/11/1995 ) có một số thay đổi

sau :

* Bổ sung thêm 3 tài khoản cấp 2 cho TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái

gồm :

+ TK 4131 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm tài chính

+ TK 4132 -Chênh lệch tỷ giá hối đoái trong giai đoạn đầu tư Xây dựng cơ

bản

+ TK 4133 -Chênh lệch tỷ giá hối đoái từ chuyển đổi báo cáo tài chính

* Bổ sung thêm TK 337 - Thanh toán theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây

dựng

* Bổ sung thêm TK 343-Trái phiếu phát hành

Ngoài ra, thông tư 105 đã hướng dẫn kế toán một số vấn đề như :

+ Hướng dẫn kế toán chuẩn mực thuê tài sản gồm : thuê tài chính , tái

thuê , thuê hoạt động …

+ Hướng dẫn kế toán chuẩn mực “ Aûnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá

hối đoái “: gồm ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ , kế toán

chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm , kế toán chênh lệch tỷ giá hối

đoái khi chuyển đổi báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài

+ Hướng dẫn kế toán chuẩn mực ‘ Hợp đồng xây dựng “gồm : kế toán

doanh thu và chi phí Hợp đồng xây dựng

+ Hướng dẫn kế toán chi phí đi vay

+ Hướng dẫn kế toán chuẩn mực : “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”

( Xem Phụ lục 1.9 – Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất ban hành

theo QĐ 1141 năm 1995 có bổ sung sửa đổi theo Thông tư 10 , 100 và thêm

Thông tư 82, 89 và 105)

2.3 Đánh giá hệ thống tài khoản kế toán hiện hành :

Trang 40

2.3.1 Đánh giá thực trạng ban hành hệ thống tài khoản kế toán Việt nam

hiện hành :

2.3.1.1 Về ưu điểm của hệ thống tài khoản kế toán Việt nam hiện

hành

Như đã trình bày ở phần cơ sở lý luận , hệ thống kế toán Việt nam nói

chung và hệ thống tài khoản kế toán Việt nam nói riêng chịu sự tác động của môi

trường kế toán , cụ thể là ảnh hưởng môi trường quốc tế và môi trường quốc gia

Hệ thống tài khoản kế toán Việt nam hiện hành đã thể hiện những ưu điểm cơ bản

sau :

_ Thứ nhất : Cùng với tiến độ tham gia toàn cầu hoá , tiến độ củng cố

khung pháp lý cho hệ thống kế toán Việt nam , nhất là tiến độ soạn thảo các

chuẩn mực kế toán Việt nam , hệ thống tài khoản kế toán Việt nam hiện hành

đang được bổ sung , sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ kế

toán quốc tế , đảm bảo thực hiện nhu cầu hội nhập hệ thống thông tin trong khu

vực và trên thế giới và được qui định vận dụng thống nhất cho các loại hình doanh

nghiệp kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

_ Thứ hai : Đã kịp thời ban hành hệ thống tài khỏan với số lượng tài

khỏan tương thích với qui mô họat động của DN lớn cũng như DN vừa và nhỏ

Nhận thức được những đóng góp đáng kể của những doanh nghiệp vừa và

nhỏ trong sự phát triển kinh tế Việt nam và để đơn giản hoá hệ thống kế toán nói

chung cho mô hình doanh nghiệp này cũng như cập nhật những thay đổi về cơ chế

, chính sách tài chính , về luật doanh nghiệp , về chuẩn mực kế toán …, Bộ Tài

Chính đã ban hành quyết định số 144 ngày 21/12/2001 - Qui định sửa đổi , bổ

sung Chế độ kế tóan DN vừa và nhỏ thay thế cho quyết định số 1177 ngày

23/12/1996 Hiện tại có 2 hệ thống tài khoản chủ yếu áp dụng cho 2 mô hình

DN thuộc lĩnh vực kinh doanh :

+ Doanh nghiệp lớn :áp dụng hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo

quyết định 1141TC/CĐKT(1/11/1995) đã bổ sung , sửa đổi theo các thông tư

số10,100, 89 và thông tư 105

+ Doanh nghiệp vừa và nhỏ : áp dụng hệ thống tài khoản kế toán ban

hành theo quyết định 144/2001/QĐ/BTC

Cả 2 hệ thống tài khoản hiện hành này đã được xây dựng một cách khoa

học hơn hệ thống tài khoản cũ , dựa trên cơ sở quá trình tuần hoàn và luân chuyển

của vốn , tính chất cân đối giữa vốn - nguồn vốn , giữa chi phí và thu nhập và

luôn được bổ sung , sửa đổi dần dần phục vụ cho việc thu thập , xử lý và cung cấp

Ngày đăng: 07/01/2018, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w