1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính các tổng công ty 90 do ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quản lý

72 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể thấy những đặc trưng cơ bản của TĐKT là: Về quy mô, TĐKT phải là một tập hợp những công ty mạnh có vốn lớn, nhiều công nhân, trình độ năng lực sản xuất kinh doanh cao; về

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN THỊ KIM ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TỔNG CÔNG TYTrang 3

1.1 Lý luận chung về Tập đoàn kinh tế Trang 3

1.1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế Trang 3 1.1.2 Nguyên nhân hình thành các Tập đoàn kinh tế Trang 3 1.1.2.1 Liên kết để tồn tại và tăng trưởng Trang 3 1.1.2.2 Liên kết để gia tăng lợi ích về tài chính Trang 4 1.1.2.3 Liên kết do xu thế toàn cầu hóa Trang 5 1.1.3 Các hình thái tiêu biểu của Tập đoàn kinh tế Trang 6 1.1.3.1 Phân loại dựa vào phương thức hình thành Trang 6 1.1.3.2 Phân loại dựa vào phương thức liên kết Trang 8 1.1.4 Một số mô hình Tập đoàn kinh tế lớn trên Thế giới Trang 9

1.1.4.1 Mô hình TĐKT ở các nước phát triển Trang 10 1.1.4.2 Các mô hình TĐKT ở các nước đang phát triển Trang 11

1.2 Khái quát về mô hình Tổng công ty nhà nước Trang 15

1.2.1 Khái niệm về Tổng công ty Trang 15 1.2.2 Hoàn cảnh ra đời và mục đích thành lập Trang 16 1.2.3 Phân loại các Tổng công ty ở Việt nam Trang 17

1.2.4 Sự khác biệt giữa mô hình Tổng công ty ở Việt nam so với Tập đoàn kinh

tế ở các nước Trang 18

1.2.5 Các mô hình Tổng công ty trong bước quá độ từ Tổng công ty thành các

Tập đoàn kinh tế mạnh Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH HIỆN

HÀNH CỦA CÁC TCT 90 DO UBND TP HCM QUẢN LÝ Trang 23 2.1 Thực trạng hoạt động của các TCT 90 do UBND TP HCM quản lý Trang 23 2.1.1 Điều kiện ra đời Trang 23 2.1.2 Ngành nghề kinh doanh Trang 23 2.1.3 Doanh thu Trang 25 2.1.4 Lợi nhuận trước thuế Trang 27 2.1.5 Nộp NSNN Trang 27

Trang 3

2.1.6 Vai trò của các TCT về tạo việc làm Trang 28

2.1.7 Cán bộ quản lý Trang 29

2.2 Cơ chế tài chính hiện hành của các TCT 90 do UBND TP Hồ Chí Minh

quản lý Trang 29

2.2.1 Cơ chế tài chính hiện hành của mô hình TCT 90 Trang 29

2.2.1.1 Cơ chế tổ chức quản lý Trang 29

a Hội đồng quản trị Trang 29

b Tổng Giám đốc điều hành Trang 30

c Ban kiểm soát Trang 30

d Mối quan hệ giữa TCT và các đơn vị thành viên Trang 30 2.2.1.2 Cơ chế quản lý, sử dụng vốn Trang 31

a Về nhận và giao vốn Trang 31

b Về điều hòa vốn trong TCT Trang 31

c Về khai thác và sử dụng vốn, tài sản trong TCT Trang 32 2.2.1.3 Cơ chế tổ chức và huy động vốn Trang 33

2.2.1.4 Cơ chế về lợi nhuận và trích lập các quỹ Trang 33

a Quỹ dự phòng tài chính Trang 34

b Quỹ đầu tư phát triển Trang 34

c Quỹ nghiên cứu khoa học Trang 34

d Quỹ phúc lợi Trang 34

e Quỹ khen thưởng Trang 34

f Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm Trang 34 2.2.1.5 Cơ chế tài chính Doanh nghiệp thành viên TCT Trang 35

a DNTV hạch toán độc lập Trang 35

b DNTV hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp Trang 36

2.2.2 Tình hình áp dụng cơ chế tài chính hiện hành ở các TCT 90 do UBND TP

HCM quản lý Trang 36

2.3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động và cơ chế tài chính của các TCT 90 do

UBND TP Hồ Chí Minh quản lý Trang 40

2.3.1 Các kết quả đạt được Trang 40

2.3.2 Một số yếu kém của các TCT Trang 42

Trang 4

2.3.2.1 Hiệu quả hoạt động của một số TCT còn yếu kém Trang 43 2.3.2.2 Mối quan hệ liên kết trong nội bộ TCT chưa chặt chẽ Trang 43

2.3.2.3 Quy mô vốn SXKD còn thấp, mức độ tích tụ và tập trung sản xuất,

kinh doanh chưa cao Trang 43 2.3.2.4 Sức cạnh tranh chưa cao, tốc độ tăng trưởng còn thấp Trang 44

2.3.2.5 Cơ chế tài chính hiện hành đối với TCT cũng còn một số nhược

điểm Trang 45 2.3.3 Nguyên nhân yếu kém của các TCT Trang 46 2.3.3.1 Nguyên nhân về cơ chế tổ chức quản lý Trang 46 2.3.3.2 Nguyên nhân về cơ chế tài chính Trang 47

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CÁC TCT

90 DO UBND TP HCM QUẢN LÝ Trang 50 3.1 Các giải pháp về cơ chế tài chính Trang 50 3.1.1 Khẩn trương thành lập các Công ty tài chính thuộc các TCT Trang 50

3.1.2 Hoàn thiện cơ chế vay và cho vay giữa Tổng công ty và các đơn vị thành

viên Trang 54

3.1.3 Tiếp tục sắp xếp lại các DNNN nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc

hoạt động có hiệu quả của các TCT Trang 54

3.1.3.1 Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa DNNN ) đặc biệt là các DNNN là

thành viên của các TCT Trang 55 3.1.3.2 Cần thí điểm hình thức bán và cho thuê DNNN Trang 56 3.1.3.3 Xem xét triển khai việc hợp nhất, sáp nhập các DN Trang 56

3.1.4 Mở rộng cơ chế tự chủ trong hoạt động tài chính của các TCT Trang 58

3.1.5 Phát triển mô hình Tổng công ty để tiến tới hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con Trang 58 3.1.51 Mô hình TĐKT theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con Trang 58

3.1.5.2 Cơ chế tài chính Tổng Công ty hoạt động theo mô hình Công ty

mẹ – Công ty con Trang 61 3.1.6 Ban hành luật chống độc quyền Trang 66 3.2 Một số giải pháp khác Trang 66

3.2.1 Phân định rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành trong Tổng Công

ty Trang 66

3.2.2 Không ngừng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, điều hành Tổng công

ty, Tập đoàn kinh tế Trang 67

Trang 5

3.2.3 Đa dạng hóa các loại hình Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty để tăng cường

khả năng cạnh tranh Trang 68 KẾT LUẬN Trang 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong xu hướng toàn cầu hóa, nền kinh tế nước ta càng ngày càng gắn bó, hoà nhập vào nền kinh tế thế giới Quá trình hoà nhập này diễn ra ở mọi lĩnh vực: Đầu tư, thương mại, khoa học kỹ thuật … và cả về lĩnh vực tài chính Các mô hình kinh tế mới như: Công ty liên doanh, công ty cổ phần, Tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế…xuất hiện

Ngày 07/03/1994, Chính phủ đã thành lập các TCT Nhà nước có quy mô kinh tế lớn (Quyết định số 90/TTg và 91/TTg của Thủ Tướng Chính phủ), nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế đồng thời thúc đẩy được quá trình tích tụ tư bản phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa tại Việt nam Thực tế sau một thời gian hoạt động, các TCT này đã có bước phát triển khá mạnh mẽ, tăng trưởng liên tục, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, ổn định việc làm và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế

Tuy nhiên bên cạnh các kết quả và thành tích nói trên, mô hình TCT hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc; Trong đó vướng mắc về mặt cơ chế tài chính là một trong những cản trở có ảnh hưởng quan trọng đến việc hoàn thiện mô hình TCT ở nước ta, trong định hướng tiến tới việc hình thành các Tập đoàn kinh doanh mạnh có khả năng vươn ra nước ngoài

Từ thực tế và định hướng phát triển của DNNN nói chung và các TCT nói riêng, việc hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các TCT ở nước ta hiện nay đang là

một đòi hỏi cấp thiết Đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính các Tổng công ty 90 do Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh quản lý” đã

được hình thành từ những bức xúc, bất cập nêu trên

• Mục đích – ý nghĩa của luận văn:

Qua thực trạng hoạt động, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân yếu kém của các TCT Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính trong mô hình TCT của nước ta, từng bước xây dựng các TCT thực sự lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới

• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính thực tế tại các TCT 90 do UBND TP HCM quản lý

Trang 7

- Nghiên cứu các chế độ, thể lệ, quy định của nhà nước ban hành về quản lý tài chính

• Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, so sánh và khảo sát thực tiễn

- Phương pháp thống kê và phân tích để giải quyết vấn đề

- Phương pháp diễn dịch và quy nạp

• Nội dung của luận văn:

Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :

- Chương I: Tổng quan về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty

- Chương II: Thực trạng hoạt động và cơ chế tài chính hiện hành của các

Tổng công ty 90 do UBND TP HCM quản lý

- Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các Tổng

công ty 90 do UBND TP HCM quản lý

Trang 8

CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức, trong đó những thành viên là những pháp nhân độc lập, ngang bằng về mặt pháp lý, có những mối gắn kết lợi ích; lợi ích

ở đây có thể là tài chính, thị trường, dịch vụ, chi phí… Về cơ cấu tổ chức, nó theo mô hình đa công ty không trực thuộc và mô hình mạng lưới Công ty mẹ chỉ là chủ sở hữu phần vốn đầu tư và không chịu trách nhiệm về những hoạt động của các công ty con

Như vậy có thể thấy những đặc trưng cơ bản của TĐKT là: Về quy mô, TĐKT phải là một tập hợp những công ty mạnh có vốn lớn, nhiều công nhân, trình độ năng lực sản xuất kinh doanh cao; về phạm vi hoạt động, nó có thể là ở một nước (Phạm vi quốc gia) hay vượt khỏi phạm vi một nước (Xuyên quốc gia – phạm vi quốc tế); về chức năng ngành nghề, nó có thể kinh doanh chuyên sâu một ngành hoặc đa ngành; về cơ cấu tổ chức, TĐKT phải là một tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, cháu, chi nhánh tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Tập đoàn kinh tế thường do công ty mẹ lãnh đạo và các công ty con chịu sự thanh kiểm soát của công ty mẹ thông qua quyền biểu quyết do sở hữu một tỷ lệ khống chế cổ phần trong tổng số cổ phần đang lưu hành của công ty con

Các tập đoàn kinh tế trong công nghiệp nắm giữ phần lớn nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia, là tâm điểm chú trọng của hệ thống kinh tế Sự phát triển hay lụi tàn của tập đoàn kinh tế và cách ứng xử của nó có ảnh hưởng to lớn đến hệ thống kinh tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế

1.1.2 Nguyên nhân hình thành các Tập đoàn kinh tế

Các tập đoàn kinh tế thế giới ngày một phát triển và lớn mạnh, vươn tầm hoạt động toàn cầu thành những tập đoàn các công ty đa quốc gia Nguyên nhân các tập đoàn không ngừng tập trung hóa bằng cách liên kết các doanh nghiệp thông qua các hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại … là do:

1.1.2.1 Liên kết để tồn tại và tăng trưởng:

Chính sự thay đổi thường xuyên các phương pháp sản xuất, nhu cầu hoàn thiện sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt là nguyên nhân cơ bản tạo nên sự kết hợp các doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế thu được từ các hoạt động mua lại hay sáp nhập để phát triển sản xuất chủ yếu xuất phát từ lợi thế của sản xuất quy mô lớn Khi quy

Trang 9

mô sản xuất phát triển, sự hoạt động sản xuất phối hợp đem lại hiệu ứng cộng hưởng khiến hiệu quả sản xuất toàn bộ lớn hơn hiệu quả riêng rẽ từng công ty đem lại Điều này đúng với liên kết theo hàng ngang, hàng dọc và cả liên kết ngành:

• Trong những ngành kinh doanh mà thị trường sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra đã gần như được thỏa mãn thì việc mua lại hay sáp nhập theo hàng ngang sẽ làm cho thế và lực của công ty sau khi hợp nhất mạnh hơn trong cạnh tranh Sức mạnh được tạo ra bởi sự khống chế giá cả thị trường và sự hợp lý hóa sản lượng cung ứng Sự kết hợp này tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật và phương thức phục vụ khách hàng, đồng thời mang lại cho các công ty nhiều lợi ích nhờ tiết kiệm chi phí nghiên cứu, phát triển và chi phí khác

• Sự kết hợp theo hàng dọc trước hết tạo điều kiện để hợp lý hóa quy trình quản lý công nghệ, giảm chi phí sản xuất đặc biệt là chi phí quản lý công ty Ngoài ra, nhu cầu về hợp lý hóa cung ứng hàng hóa, nguyên vật liệu cũng được đảm bảo, làm giảm chi phí do giảm nguyên liệu và thành phẩm tồn kho

• Đối với các công ty hoạt động đa ngành, mục tiêu của việc liên kết là điều chỉnh sự cân đối trên danh mục vốn đầu tư của họ Bằng cách tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh mới, các công ty mong muốn có thêm những hoạt động tiềm năng, hoạt động sinh lợi cao, cắt giảm bớt những ngành nghề hiệu quả kém Những trường hợp mua lại doanh nghiệp đang hoạt động ổn định hoặc đang dẫn đầu ngành là cách tốt nhất để tranh thủ thời gian chiếm lĩnh thị trường và tạo ra lợi nhuận

Trong nhiều trường hợp khác, các doanh nghiệp áp dụng phương thức bỏ ra một lượng vốn tương đối nhỏ để tiếp nhận những doanh nghiệp đang ở trong tình trạng kinh doanh thua lỗ Sau đó, tái sử dụng nhân tài, tận dụng thị trường, tin tức … cộng ưu thế quản lý của mình, công ty mua tiến hành cải tạo triệt để công ty vừa tiếp quản để kích nó hoạt động tốt lên, tiến tới giảm lỗ, tăng lợi nhuận và mở rộng kinh doanh Ví dụ về mua lại thành công công ty khác theo hình thức này là tập đoàn Daewoo của Hàn Quốc và tập đoàn Hanson Trust PLC của Anh

1.1.2.2 Liên kết để gia tăng lợi ích về tài chính:

Khi sáp nhập hoặc mua lại một công ty, về cơ bản doanh nghiệp mua có thể tạo ra những lợi ích tài chính như sau:

Giảm thuế: là trường hợp doanh nghiệp mua lại một công ty đang thua lỗ

Do nguyên nhân thua lỗ nên các công ty bán không thể khấu trừ lỗ vào thuế nhưng khoản lỗ của công ty bán được cho phép khấu trừ vào lợi nhuận của nó trong năm tiếp theo và hiển nhiên phần lợi nhuận do giảm thuế kết chuyển vào năm tiếp theo đó rơi vào tay chủ mới là công ty mua

Trang 10

Giảm chi phí phát hành chứng khoán mới do quy mô phát hành của công ty sau khi được sáp nhập tăng lên

Tăng khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn vay Sau khi sáp nhập hay mua lại công ty khác, uy tín tín dụng của công ty được nâng lên, công ty có khả năng đề xuất vay, được giải ngân nhiều hơn và do đó mà khoản tiết kiệm thuế thu nhập do tăng chi phí trả lãi vay chính là lợi nhuận thấy trước của công ty

1.1.2.3 Liên kết do xu thế toàn cầu hóa:

Có thể nói với sự sụp đổ của chính sách thuộc địa, nền kinh tế các nước công nghiệp buộc phải phát triển và tăng trưởng chiều sâu dẫn đến những thành tựu rực rỡ được phát minh và áp dụng triệt để Khi đạt được tối ưu hóa quản lý và tầm ảnh hưởng thông qua uy tín thương hiệu các công ty thấy rằng thị trường tiêu thụ sản phẩm và nguồn lực sản xuất phạm vi một quốc gia đã trở thành nhỏ bé, nhất là đối với công ty khổng lồ với chiến lược dài hơi đầy tham vọng Chính điều đó khiến phát sinh xu thế toàn cầu hóa kinh doanh trong bối cảnh hàng loạt rào cản thuế quan phải dỡ bỏ do các nước nhỏ bé chịu lép vế trước kinh tế và chính trị nước lớn

Các công ty đa quốc gia hình thành và mở rộng quy mô bằng cách xây dựng các chi nhánh, liên kết với các công ty khác ở nước ngoài tạo thành các công ty liên doanh liên kết Sự liên kết bằng cách kết hợp giữa khoa học, công nghệ hiện đại với những nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn vốn lao động dồi dào và rẻ mạt ở các nước khác nhau, nhất là ở các nước thế giới thứ ba, hình thành nên mối liên kết hàng dọc Còn giữa các công ty hoạt động cùng một lĩnh vực ở nhiều nước khác nhau thì sự kết hợp này là do kết hợp thương quyền khai thác trên lãnh thổ của mỗi nước và do chia xẻ thị trường để cùng tồn tại và tăng trưởng

Quá trình sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các công ty của các nước khác nhau cũng theo xu thế toàn cầu hóa mà hình thành Ví dụ Thomspon (Pháp) mua lại

cơ sở sản xuất TV của General Electrics (Mỹ), công ty Sanyo (Nhật) mua lại công ty Warwick Electronics (Mỹ), hãng xe Renault (Pháp) mua lại Samsung Motors (Hàn Quốc), hãng xe Ford (Mỹ) mua lại Nissan Motors (Nhật) …

1.1.3 Các hình thái tiêu biểu của Tập đoàn kinh tế

Tăng trưởng là sứ mạng, là mục tiêu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp Tăng trưởng thể hiện qua việc phát triển quy mô sản xuất hoặc điều chỉnh kết cấu, chuyển dịch ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp Tăng trưởng bằng cách tự tạo

Trang 11

doanh nghiệp mới đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian và công sức để mua sắm thêm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, đào tạo công nhân kỹ thuật, tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm… là cả một tiến trình dài và bấp bênh, lợi nhuận thấp trong giai đoạn đầu và xác suất thành công không cao Theo nghiên cứu của Edwin Mansfield (Đai học Pensylvania): chỉ có từ 12% đến 20% công ty tự tạo doanh nghiệp mới dựa vào nghiên cứu và phát triển là thực sự thành công về lợi nhuận

Do đó, trong nền kinh tế công nghiệp, khuynh hướng của một công ty đang tồn tại muốn khuếch trương quy mô rộng lớn thành tập đoàn kinh tế sẽ không đầu tư tạo ra những công ty mới mà bằng cách sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại các công ty nhỏ đang gặp khó khăn hoặc hoạt động trong cùng lĩnh vực ngành nghề Đây là phương án hiệu quả và tối ưu nhất, ít tốn thời gian nhất, cũng là thông lệ trưởng thành tư bản quốc tế ngày nay

1.1.3.1 Phân loại dựa vào phương thức hình thành:

♦ Sáp nhập:

Là một hoặc nhiều công ty từ bỏ pháp nhân của mình (gọi là công ty bán) để gia nhập vào công ty khác có điều kiện hơn và sử dụng pháp nhân của công ty này để hoạt động (gọi là công ty mua) Công ty mua sẽ thu nhận tất cả và công nợ của các công ty bán với một giá nhất định nào đó Công ty sẽ trả cho các cổ đông của công ty bán bằng tiền mặt hoặc bằng chứng khoán của chính công ty mua

0Ví dụ: Một sự sáp nhập giữa 2 công ty X và Y, nếu X được giữ lại như một công ty hợp pháp như trước kia thì Y chấm dứt sự tồn tại

Công ty X

Công ty Y

Hình 1-1: Mô hình sáp nhập

Hình thức này thường xảy ra giữa bên bán là doanh nghiệp nhỏ hơn, yếu thế hơn trong cạnh tranh thị trường và việc sáp nhập vào doanh nghiệp mua sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả đôi bên

♦ Hợp nhất:

Là các công ty có sức mạnh tương đương nhau hoặc do thỏa thuận được với nhau kết hợp lại dưới một pháp nhân hoàn toàn mới Các công ty đồng ý hợp

Trang 12

nhất sẽ từ bỏ pháp nhân của mình Nói cho dễ hiểu, đó là sự ra đời của một công ty mới từ sự kết hợp của một số công ty cũ Sự hợp nhất phần nào cũng giống như sự sáp nhập Trong sáp nhập nếu công ty X mua công ty Y, công ty tồn tại là công ty X… còn khi hợp nhất giữa X và Y thì một công ty mới sẽ ra đời là công ty Z Nghĩa là những công ty thu nhận sẽ không còn tồn tại, việc xem xét và nhận dạng công ty mua và công ty bán là không cần thiết Trong trường hợp này, công ty Z sẽ tồn tại và tiếp tục thực hiện những hoạt động của công ty X và Y

Công ty X

Công ty Y

Hình 1-2: Mô hình hợp nhất

Như vậy, sự sáp nhập hay hợp nhất sẽ đạt được các mục tiêu như tăng vốn hoạt động, giảm số lượng công ty để tập trung hỗ trợ khi cần thiết, tăng cường khả năng cạnh tranh với các công ty khác và tạo sự tín nhiệm cao hơn đối với khách hàng

♦ Mua lại:

Việc mua lại xảy ra cũng dựa trên căn bản hai hình thức sáp nhập và hợp nhất nhưng không mang tính quyết liệt như hai hình thức nêu trên Việc mua lại sẽ không tạo ra một công ty mới, được diễn ra dưới hai dạng sau:

nghiệp bán trực tiếp từ doanh nghiệp bán Việc mua bán này không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của lãnh đạo doanh nghiệp bán và thường khó có thể mua lại toàn bộ số cổ phần của doanh nghiệp bán Thường khó dẫn đến sự sáp nhập hoặc hợp nhất hoàn toàn; doanh nghiệp bán vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân công ty riêng biệt Quyền lợi của doanh nghiệp mua lúc này là quyền lợi của nhà đầu tư

Sự kiểm soát và quyền lợi của doanh nghiệp mua đối với doanh nghiệp bán phụ thuộc vào tỷ lệ giữa số cổ phần mà họ mua được trên số cổ phần của doanh nghiệp bán Trường hợp tỷ lệ này trên mức 50% thì quan hệ giữa hai doanh nghiệp trở thành quan hệ của công ty mẹ – công ty con

- Mua lại tài sản: doanh nghiệp mua mua lại tài sản của doanh nghiệp

bán trực tiếp từ doanh nghiệp bán Với hình thức này, doanh nghiệp mua không cần thiết phải đánh giá các khoản nợ của doanh nghiệp bán, vì họ không có trách nhiệm

gì đối với các khoản nợ ấy Nhiều trường hợp, do không còn tài sản để hoạt dộng,

Trang 13

doanh nghiệp bán phải tự giải tán, sau khi đã phân phối số tiền (hoặc số cổ phiếu) nhận được từ doanh nghiệp mua cho cổ đông của nó

Hình thức phổ biến của các nước trên thế giới là mua lại cổ phần Tuy nhiên, nếu công ty mua mua lớn hơn 50% số cổ phần của công ty bán thì quan hệ giữa hai công ty này được xem là quan hệ công ty mẹ – công ty con Công ty mẹ (người đầu tư) là công ty thu nhận và công ty con là công ty bị thu nhận Còn những công ty liên quan gọi là những công ty chi nhánh: Mỗi công ty chi nhánh đều tồn tại như một đơn vị hợp pháp riêng biệt, lúc này công ty mẹ xem quyền lợi của mình ở công ty con như một khoản đầu tư

Ví dụ: Công ty mẹ sở hữu 65% công ty con, 35% còn lại thuộc về những chủ sở hữu khác (quyền lợi này gọi là quyền lợi thiểu số)

1.1.3.2 Phân loại dựa vào phương thức liên kết

♦ Liên kết theo hàng dọc:

Là trường hợp các doanh nghiệp mua lại các doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động, nhưng sản xuất ra sản phẩm ở các công đoạn khác nhau Quan hệ giữa các thành viên chủ yếu là theo quy trình công nghệ và cung ứng sản phẩm cho nhau Sự liên kết dọc thường dẫn đến phát triển ngành nghề theo chiều sâu Liên kết dọc còn tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vị thế cạnh tranh của hoạt động chính, quản trị chất lượng tốt hơn, bảo vệ được quyền sở hữu công nghiệp hữu hiệu hơn

Ví dụ: sự kết hợp của các công ty khai thác dầu, lọc dầu và phân phối sản phẩm trong ngành công nghiệp dầu mỏ Hay việc hợp nhất hai tập đoàn khổng lồ trong lĩnh vực truyền thông của Mỹ là công ty America Online – công ty dịch vụ mạng và Time Warner – Công ty báo chí truyền thông Trong đó, America Online chi 162 tỷ USD để mua lại Time Warner Việc hợp nhất cho phép mỗi loại hình sẽ tận dụng được mũi nhọn và thị phần của loại hình kia để đưa đến kết quả tăng trưởng lợi nhuận nhờ vào khách hàng rộng khắp, nội dung thông tin phong phú, hấp dẫn cộng với các phương thức truyền tải thông tin cực tốt

♦ Liên kết theo hàng ngang:

Là sự kết hợp của những doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh và thường xảy ra trong những ngành có mức cạnh tranh cao và

xu hướng chung là những doanh nghiệp có ưu thế sẽ nắm vai trò chủ đạo Các nhà sản xuất thỏa hiệp với nhau để ấn định giá cả, chia sẻ thị trường hoặc định mức sản lượng để hạn chế cạnh tranh và tăng lợi nhuận Ở mức độ cao hơn, các doanh nghiệp có ưu thế sẽ bỏ tiền ra mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác đang là đối tượng cạnh tranh của nó

Trang 14

Sự kết hợp này đặc biệt phổ biến trong giai đoạn suy thoái kinh tế sau thế chiến thứ nhất, từ 1920 đến 1930 Ví dụ: ở Đức, sự kết hợp của ba công ty hóa chất lớn nhất thế giới là Bayer, Basf, Hoechst sáp nhập thành công ty mẹ I.G Farben trước đây Hoặc hiện nay ở Anh, việc hợp nhất hai tập đoàn dược phẩm Glaxo Wellcome và SmithKline Beecham hình thành nên tập đoàn dược phẩm lớn nhất thế giới Glaxo SmithKline có giá trị thị trường tới 177 tỷ USD

♦ Liên kết theo phương thức liên ngành

Là một dạng kết hợp giữa các doanh nghiệp không cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, không cạnh tranh nhau mà cũng không có mối liên hệ với nhau về quy trình sản xuất hay cung ứng sản phẩm Đây là một hình thức kết hợp phong phú, phổ biến hiện nay nhằm đa dạng hóa ngành nghề, hạn chế rủi ro Có thể thấy hình thức liên kết này qua: tập đoàn Hyundai (Hàn Quốc) – từ một xí nghiệp xây dựng đã nhanh chóng phát triển thành một tập đoàn lớn hoạt động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau như đóng tàu biển, sản xuất xe hơi, điện, điện tử …

1.1.4 Một số mô hình Tập đoàn kinh tế lớn trên Thế giới

TĐKT đã ra đời và tồn tại từ lâu ở nhiều nước Khởi đầu của việc hình thành TĐKT có thể kể từ khi xuất hiện đầu tàu hỏa chạy bằng hơi nước vào cuối thế kỷ XVIII, do nhu cầu về vốn rất lớn để xây dựng các tuyến đường sắt ở châu Aâu của các nhà tư bản ngành đường sắt mà nếu một nhà tư bản chỉ dựa vào việc tích lũy vốn từ chính hoạt động của mình thì sẽ rất lâu nên họ phải tập trung nhau lại Từ đó đến nay còn có nhiều mô hình TĐKT khác nhau hình thành tùy theo mức độ liên kết giữa các thành viên với nhau Những TĐKT mỗi quốc gia có tên gọi và đặc trưng riêng phù hợp với các điều kiện kinh tế của từng quốc gia đó

1.1.4.1 Mô hình TĐKT ở các nước phát triển

Tuy TĐKT ở mỗi nước phát triển có tên gọi khác nhau như Cartel, Group, Syndicate, Consortium, Trust, Conglomerat…nhưng TĐKT ở các nước phát triển đều có điểm chung là được cấu trúc theo chế độ tham dự

Cấu trúc tập đoàn theo chế độ tham dự là kiểu cấu trúc hỗn hợp, nó kết hợp cả loại cấu trúc theo bộ phận, theo chức năng, theo sản phẩm và theo kiểu ma trận và có khi ngay tại trung tâm điểm của tổ chức lại được cấu trúc theo kiểu đơn giản Nhìn chung một TĐKT bao gồm một trung tâm (Tổng hành dinh – Headquarter) và các bộ phận, các công ty con

Cấu trúc của TĐKT theo chế độ tham dự được thể hiện trong sơ đồ sau:

Trang 15

Công ty C (Công ty mẹ sở hữu 90% vốn)

Công ty D (Công ty mẹ sở hữu 75% vốn)

Công ty E (Công ty mẹ sở hữu 25% vốn)

Hình 1-3: Cấu trúc TĐKT theo cơ chế tham dự

TĐKT ở Pháp có tên gọi là “Groupe” Đặc điểm các TĐKT ở Pháp về cơ bản không khác gì lắm so với mô hình TĐKT đã nêu ở trên Đây là tập hợp những công ty được liên kết với nhau bởi những quan hệ tài chính và được đặt dưới một sự điều hành kinh tế từ một trung tâm Tập đoàn được hình thành bởi: một công ty mẹ hoặc một công ty khống chế về cổ phần; những chi nhánh của công ty mẹ; những công ty cháu, chắt mà công ty mẹ nắm giữ một cách gián tiếp hơn 50% vốn cổ phần Trong tập đoàn này, giữ vai trò nòng cốt là một công ty mẹ Ở Pháp, công ty mẹ có nhiều tên gọi khác nhau như: Sociéte holding (công ty nắm cổ phần khống chế) / Société de contrôle (công ty kiểm soát)/société de participation (công ty dự phần)/société holding avec participations majoritaies (công ty nắm giữ cổ phần tuyệt đối) / société de participation financiére (công ty dự phần tài chính) / société mère (công ty mẹ) / société dominante (công ty khống chế cổ phần) Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng có thể hiểu đó là một công ty mẹ Đây là một công ty tài chính sở hữu một phần quan trọng vốn của các công ty con khác nhau về mặt pháp lý của nó Nó kiểm soát và định hướng hoạt động của những công ty con này Nếu công ty dự phòng nắm giữ hơn một nửa số vốn của một công ty khác thì công ty đó trở thành công ty mẹ của công ty có cổ phần mà nó nắm giữ Còn nếu phần vốn mà nó sở hữu chỉ từ 10% đến 40% thì nó chỉ tham gia với tư cách thuần túy dự phần mà thôi

Ở Mỹ có các “Bank holding companies” – chính là các công ty cổ phần mẹ, được hình thành thông qua việc nắm giữ các cổ phần của các công ty khác mà nó điều khiển – trong đó có ít nhất một ngân hàng Việc ra đời các “Bank holding companies” xuất phát từ động cơ né tránh các khoản thuế và giảm thấp chi phí phát hành các chứng khoán mới Loại công ty này khó tìm thấy bất kỳ ở quốc gia nào khác ngoài nước Mỹ Tuy vậy, vẫn có hình thức tương đương khác với Bank holding companies đó là các “Cartel Bank” (tạm dịch là các Cácten ngân hàng) Đó là sự thỏa thuận giữa các ngân hàng độc lập về một số hạn chế cạnh tranh lẫn nhau trong

Trang 16

tín dụng, phân chia lĩnh vực hoạt động cũng như thực hiện một chính sách cổ tức giống nhau v.v…

Ơû Anh có các Group of companies còn gọi là Holding companies Đây là một TĐKT gồm công ty chính (hoặc công ty mẹ) cùng với các công ty con Một công ty gọi là công ty con của công ty khác nếu công ty mẹ nắm giữ hơn ½ vốn cổ phần của nó hoặc nắm được một số cổ phần của nó và điều khiển Ban Giám đốc

Cùng với Mỹ và Tây Aâu, Nhật cũng có các TĐKT với tên gọi riêng là

“Keiretsu” “Keiretsu” cũng có những đặc điểm chung như mô hình TĐKT đã nêu trên nhưng có đặc điểm khác đó là: hầu hết các “Keiretsu” đều hoạt động trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh chuyên ngành

1.1.4.2 Các mô hình TĐKT ở các nước đang phát triển

Trong những thập kỷ gần đây, TĐKT hình thành và phát triển mạnh tại các nước đang phát triển Tuy mô hình hoạt động và tiềm lực tài chính không thể bằng với các TĐKT lớn của các nước phát triển, nhưng những TĐKT của các nước đang phát triển đã góp phần rất lớn, về nhiều mặt cho nền kinh tế của quốc gia này Đặc thù của các TĐKT ở các nước đang phát triển là sự phát triển, bành chướng dựa vào liên doanh với các công ty nước ngoài Điều này được đánh giá là sự thể hiện sự phản ứng linh hoạt của các công ty kinh doanh ở các công ty đang phát triển nhằm thích ứng với sự vận động của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện đại Phát triển các công ty liên doanh cho phép khai thác được các nguồn vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài để phát triển sản xuất kinh doanh phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Hầu hết các công ty liên doanh của các tập đoàn đều có sản phẩm xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Bằng cách này, những TĐKT ở các nước đang phát triển có nhiều điều kiện hơn để xâm nhập dần vào thị trường thế giới

Những mô hình TĐKT ở các nước đang phát triển, về đại thể cũng giống như các nước phát triển, nghĩa là đa phần có cấu trúc theo chế độ tham dự nhưng ở mức độ thấp hơn do các điều kiện nội tại của nền kinh tế Sau đây xin đưa ra một số

ví dụ:

Mô hình TĐKT ở Trung Quốc

TĐKT ở Trung Quốc có tên gọi là tập đoàn xí nghiệp (TĐXN) Đây là một hình thức của quần thể xí nghiệp ra đời do yêu cầu cạnh tranh của một số xí nghiệp và trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, liên hiệp lại với nhau thành một thực thể kinh tế như công ty liên hợp chẳng hạn TĐXN là một loại hình thức tổ chức của xí nghiệp hiện đại, cũng là một pháp nhân kinh tế có đặc điểm: lấy xí nghiệp lớn và trọng tâm, có thực lực kinh tế hùng hậu, có vị trí tương đối quan trọng trong nền kinh tế

Trang 17

làm cốt lõi TĐXN ở Trung Quốc có nhiều chức năng: sản xuất, nghiên cứu khoa học, sản xuất sản phẩm mới, tiêu thụ và phục vụ, có năng lực cạnh tranh nhất định trên thị trường nước ngoài Các TĐXN không chịu sự hạn chế của vùng, của cơ quan, và do đó thu được hiệu quả kinh tế lớn Các xí nghiệp thành viên trong TĐXN có mối quan hệ trao đổi riêng lẻ, tuy nhiên vẫn thực hiện nguyên tắc lãi cùng hưởng, lỗ cùng chịu trong phạm vi một tập đoàn Như vậy, hoạt động của TĐXN sẽ chặt chẽ và tập trung hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

Sự ra đời của các TĐXN ở Trung Quốc, theo diễn đạt của các học giả trung Quốc, là “sự phát triển quan trọng trong việc liên hợp kinh tế ngang, nó thích ứng với yêu cầu hiệp tác sản xuất lớn, nâng cao hiệu quả kinh tế, tỏ ra sức sống khá mạnh trong nền kinh tế thị trường XHCN”

Từ năm 1998 đến nay, chính phủ Trung quốc đưa ra phương án cải cách

“nắm to bỏ nhỏ” và thực hiện rộng rãi chế độ cổ phần hóa với cam kết trong 3 năm sẽ xoay chuyển được tình trạnh thua lỗ của xí nghiệp quốc doanh (XNQD) Thực tiễn đã cho thấy công cuộc cải cách doanh nghiệp tại Trung quốc từ khi ra đời các TĐXN đã mang lại những hiệu quả đáng kể Trong cuộc họp báo của chính phủ ngày 25/1/2000, Chủ nhiệm Uûy ban Kinh tế Buôn bán nhà nước Trung Quốc Thịnh Hoa Nhân cho biết theo phương châm “nắm to bỏ nhỏ”, năm 1999 Trung quốc đã đẩy nhanh được bước đột phá cải tiến mang tính chiến lược đối với các XNQD Về phương châm “nắm to”, trên cơ sở thành lập hai tập đoàn lớn là tập đoàn dầu khí, tập đoàn hóa dầu và tập đoàn gang thép Bảo Chương năm 1998, trung Quốc lại tiếp tục thành lập 10 tập đoàn lớn về công nghiệp quốc phòng và 3 tập đoàn lớn kim loại màu đang tiến hành xây dựng 4 tập đoàn lớn trong ngành thông tin, trong đó phương án xây dựng tập đoàn thông tin di động Trung Quốc và công ty trách nhiệm hữu hạn thông tin liên ngành Trung Quốc đã được chính phủ phê chuẩn và hiện đang được thực thi

Theo báo”Wall-street ASIAN” (tin từ Bắc Kinh) , chính phủ Trung Quốc mới đây đã có kế hoạch cơ cấu lại ngành hàng không trong một nỗ lực nhằm cải cách khu vực xí nghiệp quốc doanh (XNQD) kém hiệu quả thông qua việc sát nhập

34 công ty hàng không thành một số TĐXN lớn theo phương châm quen thuộc”khi không chắc chắn thì càng lớn càng tốt”, tiếp theo sự sát nhập mang tính chất ép buộc diễn ra trong ngành thép, ngành may mặc cho đến ngành báo chí Về mặt lý thuyết, điều này giúp cho các TĐXN có “cơ may” để cạnh tranh với nước ngoài: đồng thời với chính sách này cũng dựa vào các công ty lớn để cưu mang các công ty nhỏ hơn, do đó tránh được việc sa thải công nhân với số lượng lớn

Trang 18

Mô hình TĐKT ở Hàn Quốc

Các TĐKT ở Hàn Quốc được gọi dưới tên là “Chaebol” có thể hiểu như những tập đoàn nhưng là những tập đoàn lớn Mô hình này nhiều năm qua được xem là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế Hàn Quốc Đặc điểm nổi bật của Chaebol là mức độ đa dạng hóa kinh doanh Đây cũng là điểm khác biệt so với Keiretsu của Nhật Tính chất quốc tế hóa khi liên kết với các công ty thành viên

Các Chaebol hầu như đều có cơ cấu điều hành và quản lý theo kiểu gia đình, do cá nhân sáng lập và gia đình, hậu duệ của họ chi phối Các Chaebol này không chỉ mở rộng hoạt động kinh doanh trong nước mà còn tiếp cận các thị trường khác ở nhiều quốc gia, nhất là thị trường các nước trong khu vực Thành công trong chiến lược kinh doanh của các Chaebol đã đưa hàn Quốc từ một nước có nền kinh tế kém phát triển trước đây gia nhập được vào đội ngũ các nước giàu có nhất thế giới trong vòng 3 thập kỷ Nền kinh tế Hàn Quốc đã thực sự cất cánh và phát triển liên tục ở mức độ cao với động lực chủ yếu là sự lớn mạnh của các Chaebol Tuy vậy, với cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vừa rồi, người ta buộc phải xem xét cả mặt yếu kém của Chaebol trong quá trình làm sâu sắc thêm các yếu tố khủng hoảng

Mô hình TĐKT ở Thái lan

Hoạt động doanh nghiệp ở các nước Thái Lan đã có những bước tiến đáng kể với nền kinh tế thế giới và chính sự phát triển của các TĐKT Thái Lan đã chứng minh cho quá trình hội nhập này Có thể đơn cử sự phát triển của tập đoàn xi măng Siam làm ví dụ

Xi măng Siam là một tập đoàn dạng conglomerate lớn nhất và lâu đời nhất

ở Thái Lan Tiền thân của nó là công ty xi măng Siam Với tổng số thành viên gồm

4 công ty sản xuất kinh doanh, tập đoàn hiện đang sản xuất và kinh doanh trên 20.000 loại sản phẩm khác nhau Tập đoàn có văn phòng đại diện tại Los Angeles, Singapore, Sydney và Tokyo Hiện nay tổng số lao động trong tập đoàn này gồm 20.000 người

Hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn Siam tập trung vào các hướng chính sau:

- Sản xuất xi măng và gạch chịu lửa, gồm ba công ty: Công ty xi măng trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Siam (công ty mẹ của tập đoàn); công ty TNHH sản xuất, kinh doanh các vật liệu tổng hợp và đặc biệt; công ty TNHH công nghệ kính Asahi Siam (liên doanh giữa công ty TNHH xi măng Siam và công ty kính Asahi – Nhật Bản)

Trang 19

- Phát triển các vật liệu xây dựng, gồm 13 công ty trong đó có 6 công ty liên doanh với nước ngoài chủ yếu là Nhật và Mỹ Các vật liệu xây dựng được sản xuất từ các công ty này là: sắt thép, bê tông, các loại tấm lợp, vật liệu lát nền, sứ vệ sinh cao cấp, các loại kính chịu lực và không chịu lực, gỗ dán, gỗ ép v.v…

- Sản xuất và kinh doanh các loại máy móc, thiết bị, gồm 14 công ty trong đó 7 công trình liên doanh với nước ngoài Các loại sản phẩm hết sức phong phú như các loại máy xây dựng, thiết bị nặng, ôtô, máy nông nghiệp, xi lanh, nồi hơi, động cơ diesel, ắc quy, máy nghiền, ép, đèn hình, tivi, vidéo… Các sản phẩm của các công ty liên doanh có chất lượng cao còn tham gia xuất khẩu trên thị trường thế giới

- Sản xuất giấy bột và các sản phẩm từ giấy từ các nguyên liệu sẵn có trong nước Nhóm này bao gồm 14 công ty, phần lớn các công ty được thành lập và phát triển mạnh trong những năm gần đây nhằm bảo đảm giấy cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, cho sản xuất của các công ty kinh doanh và các sản phẩm giấy cao cấp cho nghệ thuật, và cho nhu cầu của các công ty xuất khẩu Ngoài những hướng chính trên, tập đoàn còn mở rộng kinh doanh sang các sản phẩm chất dẻo tổng hợp nhân tạo và hiện nay có 4 công ty kinh doanh trong lĩnh vực này

Sự phát triển của tập đoàn được thực hiện chủ yếu bằng hai cách:

Thứ nhất là các bộ phận của các công ty lớn do sự phát triển của sản xuất,

tự lớn lên và khi có đủ khả năng sản xuất đã tách thành những công ty độc lập nhưng vẫn là thành viên của tập đoàn để đáp ứng nhu cầu trong nước tăng nhanh trong những năm gần đây

Thứ hai là hàng loạt các công ty thành viên của tập đoàn được thành lập

theo kiểu công ty liên doanh với nước ngoài

Sự phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh của tập đoàn xi măng Siam chủ yếu tập trung vào 20 năm trở lại đây Hàng loạt các công ty mới được hình thành và các công ty liên doanh ra đời sau những năm 80 Điều đó phản ánh một thực tế khách quan là sự phát triển của tập đoàn gắn chặt với tình hình phát triển và tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, đồng thời nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan phát triển nhanh hơn

Mô hình TĐKT ở Đài Loan

Các TĐKT của Đài Loan có tên gọi là “Jituanque” Đó là các tổ hợp công nghiệp lớn, về đặc điểm không khác gì lắm so với các TĐKT của Nhật và của Hàn Quốc

Trang 20

1.2 KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC.

1.2.1 Khái niệm về Tổng công ty

DNNN có nhiều mô hình khác nhau, tùy theo mô hình kinh doanh, chức năng nhiệm vụ, mức độ liên kết kinh doanh, mức độ độc lập hoạt động… mà có tên gọi phù hợp như DNNN độc lập quy mô lớn, TCT nhà nước, DNNN có quy mô vừa và nhỏ không tổ chức HĐQT TCT là một mô hình mới của Việt nam có nguồn gốc học hỏi từ sự cải tổ của “nền kinh tế mong muốn đại nhảy vọt” của Trung Quốc

Khái niệm “Tổng công ty” là loại hình DNNN đặc biệt hay còn gọi là TCT nhà nước Theo tinh thần điều 43 và điều 44, chương VI, luật doanh nghiệp thì TCT nhà nước có Hội đồng quản trị, được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết nhiều đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, đào tạo, nghiên cứu tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế-kỹ thuật chính, nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ

TCT nhà nước là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của chính phủ, được nhà nước giao quản lý vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng các nguồn lực được giao, thực hiện quyền và nghĩa vụ của DNNN như quy định tại chương II của Luật doanh nghiệp Tùy theo quy mô và vị trí quan trọng mà TCT nhà nước có hoặc không có công ty tài chính và doanh nghiệp thành viên Chế độ tài chính và hạch toán của TCT nhà nước do chính phủ quy định

Cơ cấu TCT nhà nước có thể có các đơn vị thành viên: Đơn vị hạch toán độc lập; hạch toán phụ thuộc; Đơn vị sự nghiệp Đơn vị thành viên của TCT nhà nước có tên và con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán của TCT nhà nước Đối với các đơn vị thành viên hạch toán độc lập thì có cơ chế quản lý như những DNNN độc lập khác, tức là doanh nghiệp đó có điều lệ riêng

do HĐQT phê chuẩn phù hợp với những quy định của pháp luật nhà nước

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời và mục đích thành lập

1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời

Ngày 07 tháng 03 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/TTg và 91/TTg tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành các TCT nhà nước ở nước ta Ngày 20 tháng 4 năm 1995 Quốc hội đã thông qua luật DNNN, trong đó dành một chương đề cập đến mô hình Tổng công ty nhà nước, qua đó mô hình này đã được nâng cao về cơ sở pháp lý Như vậy, xét về mặt thời gian xuất hiện, các TCT nhà nước ở nước ta nói chung và TP HCM nói riêng được hình thành trong quá

Trang 21

trình cải cách các DNNN, việc xuất hiện chúng xuất phát từ những nguyên nhân sau:

- Do nhu cầu tách một số các DNNN trước đây do các sở ngành hoặc quận huyện quản lý để hình thành các TCT nhà nước với mục đích trước hết là tách chức năng quản lý kinh doanh khỏi chức năng quản lý nhà nước của các ngành, các cấp; như TCT Thương mại Sài Gòn, TCT Nông nghiệp Sài Gòn, TCT Địa ốc Sài Gòn, TCT Bến Thành

- Do nhu cầu đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế tổ chức các TCT theo luật DNNN đối với những công ty đã hình thành trước khi có luật DNNN nhằm làm cho các TCT này thực sự hoạt động theo một cơ cấu tổ chức và cơ chế tổ chức của một doanh nghiệp; như TCT Xây dựng Sài Gòn

Mô hình TCT nhà nước là một mô hình tổ chức kinh doanh mới, Tp Hồ Chí Minh lại là địa phương đầu tiên trên cả nước thành lập và trực tiếp quản lý các TCT nhà nước, các TCT vừa ra đời lại chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, nên gặp không ít khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động quản lý và điều hành kinh doanh của mình Từ đó, việc đánh giá một cách đầy đủ về mô hình TCT trở nên phức tạp hơn

1.2.2.2 Mục đích thành lập

Việc thành lập các TCT nhà nước ở nước ta nhằm những mục đích sau:

- Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, hình thành các đơn vị chủ lực của nền kinh tế

- Tạo ra những tổ chức kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành có tầm vóc quốc gia tiến tới có tầm vóc quốc tế

- Nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước của các doanh nghiệp đầu đàn

- Thực hiện chủ trương xóa bỏ dần bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản đối với DNNN và sự phân biệt doanh nghiệp TW, doanh nghiệp địa phương

- Tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế

- Tạo ra những phương tiện kinh tế tập trung để nhà nước chủ động hơn trong việc thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế của mình

Mục đích cao nhất, tổng quát nhất của việc thành lập các TCT nhà nước là trên cơ sở liên kết tập trung các DNNN đang tồn tại và nâng cao năng lực cạnh

tranh và hiệu quả kinh doanh của toàn TCT và từng thành viên

Trang 22

1.2.3 Phân loại các Tổng công ty ở Việt nam

Theo mô hình hoạt động, TCT có hai dạng:

- TCT 91: là loại hình TCT được thành lập theo quyết định số 91/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 7/3/1994 về việc thí đểm thành lập TĐKD Đây là loại hình TCT được xác định gần gũi với (hay nói đúng hơn là phấn đấu để trở thành) TĐKT theo đúng nghĩa của nó Các TCT được hình thành trên cơ sở tăng cường tích tụ và tập trung, thúc đẩy cạnh tranh Các TĐKT này phải dựa vào một số TCT, công

ty lớn có mối quan hệ theo ngành và vùng lãnh thổ không phân biệt doanh nghiệp

do trung ương hay địa phương quản lý, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bảo đảm những yêu cầu cần thiết cho thị trường trong nước và có triển vọng mở mối quan hệ kinh doanh ra nước ngoài

- TCT 90: là loại hình TCT được thành lập theo quyết định số 90/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 7/3/1994 về việc tiếp tục sắp xếp DNNN

Cả hai loại TCT đều được hình thành theo hai hướng:

• Các TCT trong ngành đặc thù (TCT Bưu Chính – Viễn Thông, TCT Cao

Su, TCT Hàng Không, TCT Xăng Dầu, TCT Thuốc Lá…)

• Các TCT theo dạng mô hình các TĐKT hoạt động tại địa phương nhất định như (TCT Thương Mại Sài Gòn, TCT Thương Mại Bến Thành, TCT Địa ốc Sài Gòn…)

Sự khác biệt giữa mô hình Tổng công ty ở Việt nam so với Tập đoàn kinh tế ở các nước

Nhìn chung, mô hình TCT ở Việt Nam ít nhiều đã mang dáng dấp của TĐKT So với TĐKT của các nước mô hình TCT ở Việt Nam có những khác biệt rất

cơ bản như sau:

- Các TCT Việt nam thuộc sở hữu Nhà nước , phần lớn hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh doanh (ví dụ: TCT dệt may, TCT than, TCT Ximăng…), trong khi các nước các TĐKT phổ biến là dạng sở hữu hỗn hợp (đa sở hữu) và về bản chất dựa trên sở hữu tư nhân, hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành hoặc lĩnh vực khác nhau Phần lớn các TĐKT trên Thế giới đều được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH

- Việc hình thành các TCT ở Việt nam trước hết và chủ yếu xuất phát từ yêu cầu tổ chức, sắp xếp lại các DNNN trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường, do Nhà nước đứng ra tổ chức thành lập,liên kết bằng quyết định hành chính, có tính chất gom đầu mối chứ chưa phải là nhu cầu tự thân, xuất phát từ sự phát triển bên trong của các doanh nghiệpđòi hỏi phải có hình thức tổ chức sản xuất, liên kết sản xuất phù hợp Vì vậy, sau khi thành lập, nhiều TCT gặp phải không ít khó khăn trong điều hành và quản lý, chưa

Trang 23

đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả SXKD và năng lực cạnh tranh trên thị trường

- Về cấu trúc các TCT của Việt nam thường có cầu trúc 2 cấp (TCT và doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc), trong khi các TĐKT của các nước có thể có nhiều cấp khác nhau (Công ty mẹ, các công ty con, công ty cháu…), giữa những công ty mẹ và công ty thành viên có mối quan hệ sở hữu lẫn nhau rất đa dạng và phức tạp tùy thuộc vào mối quan hệ đầu tư tài chính

- Các TĐKT thường có quy mô khổng lồ, phạm vi hoạt động trên nhiều nước, còn đối với các TCT ở Việt nam quy mô cũng còn rất hạn chế,hoạt động chủ yếu trong phạm vi quốc gia

- Mối quan hệ giữa TCT và các đơn vị thành viên còn mang nặng tính chất hành chính và tổ chức, thiếu sự gắn kết bằng lợi ích thông qua các quan hệ tài chính Tronh mô hình TCT, sự chi phối của TCT đối với các doanh nghiệp thành viên mang nặng tính chất mệnh lệnh hành chính, cấp trên cấp dưới TCT trở thành một cấp quản lý trung gian đối với các doanh nghiệp thành viên Ngược lại, trong mô hình TĐKT, sự chi phối này chủ yếu dựa trên các quan hệ đầu tư tài chính và lợi ích kinh tế Trong các TĐKT hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ nắm cổ phần chi phối đối với các công ty con và tạo thành một cấu trúc “mạng liên kết” trong đó có công ty mẹ là hạt nhân và các công ty con là các công ty vệ tinh xoay quanh hạt nhân Khi thị trường tài chính được phát triển đến trình độ cao thì quan hệ sở hữu về vốn giữa công ty mẹ với các công ty con cũng như giữa các công ty con với nhau sẽ trở nên rất đa dạng, tạo ra sự gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ bởi các quan hệ đầu tư tài chính, lợi ích kinh tế và chiến lược kinh doanh của cả tập đoàn Các công ty trụ cột (công ty mẹ) thường nắm giữ một số lượng lớn vốn (hoặc cổ phiếu) đủ để kiểm soát và chi phối các công ty con, đồng thời ngay giữa các công ty con cũng có sự nắm giữ vốn (hoặc cổ phiếu) và chi phối lẫn nhau

- TCT là mô hình tổ chức DNNN, TCT là một pháp nhân nên hoạt động của nó chịu sự chi phối của Luật DNNN, trong khi TĐKT của các nước không phải là một hình thức tổ chức doanh nghiệp mà chỉ là khái niệm chỉ mối liên kết của các pháp nhân độc lập có mối quan hệ sở hữu, chi phối lẫn nhau Do vậy, TĐKT không phải là một doanh nghiệp Mức độ liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo trong TĐKT không chỉ tùy thuộc lợi ích kinh tế của từng thành viên, mà còn phụ thuộc vào năng lực tài chính, ý chí và chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh Vì vậy hình thức tổ chức của các TĐKT ở các nước rất phong phú, đa dạng

Những nhận xét trên cho thấy rằng, thực chất mô hình TCT ở Việt Nam là những TĐKT ở dạng sơ khai, quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, mô hình và cơ

Trang 24

chế quản lý chưa hoàn chỉnh và còn xa mới bắt kịp các TĐKT của các nước trên thế giới.

1.2.4 Các mô hình Tổng công ty trong bước quá độ từ Tổng công ty thành

các Tập đoàn kinh tế mạnh

Gồm các mô hình như sau:

- TCT là một DNNN hoạch toán tập trung

- TCT là một hệ thống công ty mẹ – công ty con Trường hợp này có thể phân biệt ra hai dạng TCT cụ thể:

• TCT là một hệ thống công ty mẹ đơn sở hữu (sở hữu nhà nước) và các công ty con đa sở hữu

• TCT là một công ty cổ phần đa sở hữu, trong đó không loại trừ cả việc liên doanh với nước ngoài Việc liên doanh với các nhà sản xuất ở nước ngoài một mặt tranh thủ được nguồn tài chính (thường là ngoại tệ mạnh – thứ mà hiện nay chúng ta rất cần) và mặt khác là công nghệ sản xuất tiên tiến của phía đối tác

Tùy theo tính chất và quy mô, có thể lựa chọn loại mô hình phù hợp cho các TCT Điều đáng lưu ý là không có mô hình nào có thể áp dụng chung cho tất cả các trường hợp, chẳng hạn:

1.2.4.1 Mô hình TCT là một DNNN hạch toán tập trung: có thể áp dụng

cho các TCT hiện đang còn hoạt động mà sự gắn kết giữa các DNTV không mang tính hữu cơ, hoặc là gắn kết có tính chất bạn hàng; mô hình này cũng có thể áp dụng để sát nhập, hợp nhất các DNNN không phải là DNTV của TCT nhằm giảm số lượng DNNN đang hoạt động nhằm một lý do về mặt hiệu quả nào đó Các TCT áp dụng mô hình DNNN hạch toán tập trung trong tương lai sẽ dần chuyển thành một DNNN bình thường hoặc một công ty cổ phần,… chứ không còn là một TCT nhà nước nữa, có những trường hợp nếu được cấu trúc lại và hoạt động có hiệu quả, một số TCT hoạt động theo mô hình này có thể phát triển thành các TĐKT mạnh

1.2.4.2 Mô hình TCT là một hệ thống công ty mẹ – công ty con:

a Khái quát về mô hình công ty mẹ – công ty con

- Mô hình công ty mẹ – công ty con là mô hình tổ chức kinh doanh được thực hiện bởi sự quan hệ về vốn của nhiều pháp nhân kinh tế hoàn toàn độc lập, hoạt động trên nhiều lĩnh vực và địa bàn khác nhau

Trang 25

Công ty mẹ và công ty con nói chung đều có địa vị pháp lý rõ ràng, hoạt động tự chủ theo sự điều chỉnh của pháp luật tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp, do đó giữa công ty mẹ và công ty con không có quan hệ trên dưới theo kiểu trật tự hành chính

- Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con nói chung là quan hệ sở hữu vốn điều lệ, Công ty mẹ sở hữu một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ của công

ty con Tùy theo tỷ lệ vốn sở hữu ở các Công ty con mà Công ty mẹ thực hiện quyền chi phối hoạt động đối với từng Công ty con cụ thể

Thông qua tiềm lực của Công ty mẹ về vốn, công nghệ, uy tín, thị phần, quản trị … Công ty mẹ đóng vai trò hạt nhân trong hoạt động của những Công

ty con mà Công ty mẹ có phần vốn đầu tư chi phối

Công ty mẹ sẽ ưu tiên đầu tư (tăng vốn điều lệ, bảo lãnh vốn vay, tìm thị trường, hỗ trợ về quản trị…) cho các Công ty con hoạt động có hiệu quả, từ đó gắn được quyền lợi và trách nhiệm của Công ty mẹ với hiệu quả kinh doanh của Công ty con

- Công ty mẹ tác động vào các hoạt động của Công ty con thông qua người trực tiếp quản lý phần vốn của Công ty mẹ được cử tham gia trong Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của Công ty con

Quyền quyết định của Công ty mẹ, mức độ ảnh hưởng của người trực tiếp quản lý phần vốn của Công ty mẹ tại công ty con phụ thuộc vào tỷ lệ vốn đầu

tư của Công ty mẹ tại Công ty con

- Hiệu quả hoạt động của Công ty mẹ từ nguồn lợi nhuận do Công ty mẹ trực tiếp tổ chức kinh doanh và tiền lãi do Công ty mẹ đầu tư vào các Công ty con

Qua các khái niệm trên, cho thấy mô hình Công ty mẹ – Công ty con có tính linh hoạt trong tổ chức vận hành, tính đa dạng trong quan hệ sở hữu và tính rành mạch trong quan hệ kinh doanh

b Những đặc trưng của quan hệ giữa công ty mẹ – công ty con

- Thứ nhất, công ty mẹ – công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ)

- Thứ hai, công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con

Trang 26

- Thứ ba, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT, Ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành

- Thứ tư, vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và chỉ mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công

ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau)

- Thứ năm, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con nói chung là trách nhiệm hữu hạn

- Thứ sáu, về mặt lý thuyết, mô hình quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế; tức công ty mẹ, công

ty con, công ty cháu…

Một vấn đề cần lưu ý là, mặc dù công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, và nếu công ty con là công ty có trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần của mình mà thôi, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con Ví dụ, Luật công ty của Cộng hòa Liên bang Nga qui định nếu công ty mẹ đưa ra chỉ thị buộc công ty con phải thực hiện theo một cam kết nào đó giữa công ty mẹ và công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới

Ngoài ra, theo luật pháp của nhiều nước và theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì công

ty mẹ phải có trách nhiệm trình báo cáo tài chính tập trung hay hợp nhất (Consolidated financial statement) tại đại hội cổ đông của công ty mẹ, trong trường hợp công ty mẹ là công ty con của một công ty khác hoặc hoạt động của công ty con quá khác biệt với công ty mẹ; bởi lẽ, dù là hai thực thể pháp lý độc lập nhưng trên thực tế chúng là những công ty liên kết, một thực thể kinh tế hợp nhất (xem hình) HĐQT

Công ty mẹ Kiểm soát

Hoạt Sở hữu động Ảnh hưởng quyền kiểm soát như

Công ty mẹ

và công ty con (một thực thể kinh tế hợp nhất

Công ty con

(một thực thể pháp

HĐQT

Công ty con Kiểm soát

Hình 1-4: Mối liên hệ giữa Công ty mẹ – Công ty con

Trang 27

CHƯƠNG HAI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH HIỆN HÀNH CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY 90 DO ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUẢN

LÝ 2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TCT 90 DO UBND TP HCM QUẢN LÝ 2.1.1 Điều kiện ra đời

Các TCT nhà nước ở nước ta nói chung và TP HCM nói riêng được hình thành trong quá trình cải cách các DNNN Tính đến thời điểm 1999, UBND TP Hồ Chí Minh là cấp chính quyền địa phương duy nhất trong cả nước có thành lập và quản lý trực tiếp các TCT nhà nước Trong khi đó, các TCT 90 khác đều do các bộ ngành thành lập và quản lý trực tiếp

Hiện nay, UBND TP Hồ Chí Minh đã thành lập 07 TCT 90 sau :

Bảng 2-1: CÁC TCT 90 DO UBND TP HCM THÀNH LẬP

STT Tên Tổng công ty Thành lập

1 TCT Thương mại Sài Gòn (SATRA) 02/11/1995

2 TCT Nông nghiệp Sài Gòn (SAI) 30/12/1996

3 TCT Xây dựng Sài Gòn (SAGECO) 31/12/1996

4 TCT Vật liệu xây dựng TP HCM (CMC) 20/02/1997

5 TCT Địa ốc sài Gòn (RESCO) 23/12/1997

7 TCT Du lịch Sài Gòn (SAIGONTOURIST) 30/03/1999

Tổng cộng

Nguồn: Báo cáo của các Tổng công ty

2.1.2 Ngành nghề kinh doanh

Tất cả các TCT đều hoạt động kinh doanh đa ngành Nếu xét theo ngành cấp I, các TCT kinh doanh trên 11 ngành (tính thêm ngành đào tạo của TCT DLSG), trong đó TCT kinh doanh nhiều ngành nhất là TCT Bến Thành 7 ngành, TCT kinh doanh ít ngành nhất là TCT ĐOSG 3 ngành, trung bình một TCT có chức năng hoạt động kinh doanh trên 5 ngành Ngành công nghiệp chế biến là ngành có ở tất cả các TCT, tiếp đến các ngành thương mại, xây dựng đều có 5/6 TCT tham gia Một ngành khác cũng có nhiều TCT kinh doanh là các hoạt động kinh doanh tài sản và

tư vấn có 4/6 TCT Tính chất đa ngành này còn thể hiện ngay cả ở các doanh nghiệp thành viên Đặc biệt một số ngành cấp II, cấp III như chế biến nông sản, chế biến

Trang 28

thủy sản, thi công xây dựng,… thường được nhiều doanh nghiệp thành viên ở nhiều

TCT khác nhau kinh doanh Tính chất kinh doanh đa ngành của TCT và thành viên

thể hiện khá rõ, nhưng tính chất chuyên môn hóa và phối hợp ở các TCT chưa được

tổ chức thống nhất mang tính chiến lược Vì vậy, ưu thế phối hợp của một đơn vị

kinh doanh lớn chưa được khai thác và phát huy

Bảng 2-2: NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CỦA CÁC TCT

4 Công nghiệp chế biến x x x x x x

6 Thương nghiệp và sửa chữa x x x x x

8 Vận tải, kho bãi, thông tin liên

lạc

9 Kinh doanh tài sản và tư vấn x x x x

Nguồn: Điều tra doanh nghiệp 1998 của Viện Kinh tế TP

Việc kinh doanh đa ngành của các TCT là cần thiết nhằm phân tán rủi ro và

đạt được lợi nhuận cao nhất có thể được Tuy nhiên, kinh doanh quá nhiều ngành,

trong điều kiện tiềm lực tài chính và năng lực kinh doanh còn hạn chế thì trở thành

kinh doanh phân tán, trái với mục đích tích tụ và tập trung khi thành lập TCT, đồng

thời làm cho việc phối hợp kinh doanh giữa các thành viên của TCT trở nên khó

khăn hơn

Từ thực tiễn đó, trên giác độ Thành phố cần sắp xếp lại các thành viên giữa

các TCT Trong phạm vi từng TCT cần xác định ngành hàng, mặt hàng chủ lực của

từng TCT, cần tiến hành phân nhóm doanh nghiệp theo ngành kinh doanh, thực hiện

chuyên môn hóa cho các thành viên nhằm tránh cạnh tranh lẫn nhau trên thương

trường, tạo cho các doanh nghiệp thành viên tập trung nguồn lực kinh doanh chuyên

sâu vào một số mặt hàng có lợi thế cạnh tranh

2.1.3 Doanh thu

Doanh thu của 6 TCT (chưa tính TCT Du Lịch) chiếm khoảng 47,5% so với

toàn bộ DNNN do UBND TP HCM quản lý; trên cả nước tỷ lệ này là 49,8% Trong

3 năm qua tỷ trọng này hầu như ít thay đổi

Trang 29

Năm 2000 doanh thu tăng 16.6%, năm 2001 tăng 2.5% và năm 2002 tăng 8.1% Các TCT tăng mạnh về doanh thu là TCT TMSG, TCT ĐOSG TCT ĐOSG có các doanh nghiệp thành viên với doanh thu hàng năm chiếm tỷ trọng lớn là Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Sài Gòn, Công ty Phát triển và Kinh doanh nhà, Công

ty Cổ phần Đầu tư và Kinh doanh nhà và Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Chợ Lớn thông qua các hoạt động kinh doanh nhà, kinh doanh xây lắp – nhận thầu, kinh doanh vật liệu xây dựngï trong những năm qua làm cho doanh thu của các công ty này gia tăng

Bảng 2-3: BÁO CÁO DOANH THU CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY

Tổng số 11,649,747 13,588,518 13,930,220 15,063,940 16.6 2.5 8.1

Nguồn: - Chi cục Tài chính doanh nghiệp TP.HCM

- Báo cáo của các TCT

Nhìn chung, việc tăng doanh thu của các TCT trong thời gian qua do các nguyên nhân sau:

Lĩnh vực xuất nhập khẩu:

- Do tập trung vào hoạt động xuất khẩu, lấy hoạt động xuất khẩu làm trung tâm khai thác, tạo nguồn hàng ổn định để có khả năng nâng kim ngạch xuất

- Do các doanh nghiệp thành viên mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ tiên tiết để sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao dựa vào tài nguyên trong nước (hạn chế xuất thô): lương thực, nông lâm thủy hải sản, …

Trang 30

Lĩnh vực thương mại, dịch vụ trong nước:

- Thực hiện triển khai các dịch vụ mới theo phương châm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm giá thành sản phẩm

- Hoạt động kinh doanh và cho thuê những năm gần đây có chiều hướng tích cực, lượng khách hàng có nhu cầu thuê văn phòng và căn hộ ngày càng cao

- Tăng cường công tác điều tra nghiên cứu thị trường, công tác tiếp thị để nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng

Lĩnh vực kinh doanh địa ốc:

- Phát huy thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh địa ốc và đã mang lại những hiệu quả đáng kể góp phần vào việc quy hoạch và xây dựng nhà ở của Thành phố, góp phần giải quyết nhà ở phục vụ người dân sống trên địa bàn thành phố Cụ thể là TCT ĐOSG trong 2 năm qua đạt được sự tăng trưởng khá cao về doanh thu: năm

2001 tăng 30.6%, năm 2002 tăng 37.2%; Các chương trình xây dựng nhà ở để giải tỏa các kênh rạch, giải tỏa các khu dân cư trong tổng thể chỉnh trang đô thị,… đã góp phần cho TCT ĐOSG đạt được tốc độ tăng trưởng cao

TCT TMSG và TCT ĐOSG là 2 TCT có doanh thu liên tục tăng lên trong những năm gần đây kể cả trước và sau khi thành lập TCT TCT XDSG, TCT NNSG và TCT Bến Thành đang có xu hướng đạt bằng và vượt mức trước khi thành lập TCT TCT XDSG và TCT ĐOSG tăng doanh thu là do nhu cầu xây dựng của TP tăng lên trong những năm gần đây Ngoài ra, những nỗ lực của lãnh đạo các TCT trong việc xác định chủ trương và điều hành kinh doanh cũng đã dần dần phát huy tác dụng TCT NNSG và TCT TMSG là hai TCT được thành lập sớm của TP, nên trong thời gian đầu các TCT này thường tập trung vào việc ổn định tổ chức, mà chưa chú trọng thích đáng đến công tác điều hành kinh doanh Hiện nay, TCT TMSG đã tập trung vào nhiệm vụ chính của mình và đã bước đầu phát huy tác dụng thể hiện qua sự tăng dần của chỉ tiêu kinh doanh

2.1.4 Lợi nhuận trước thuế

Tổng mức lợi nhuận trước thuế của các TCT so với các DNNN do TP HCM quản lý dao động trong khoảng 30% - 34% Trong ba năm qua tỷ lệ này không có những thay đổi đáng kể Hầu hết các TCT đều bị giảm mạnh về lợi nhuận trong năm 2001, đến năm 2002 bắt đầu có tăng lên Năm 2002, các TCT đều gia tăng lợi nhuận Riêng TCT TMSG và TCT ĐOSG đạt mức lợi nhuận cao

Nếu so với thời điểm khi thành lập TCT, mức lợi nhuận trước thuế của các TCT TMSG, TCT ĐOSG và TCT Bến Thành đều có tăng lên Riêng TCT VLXD giảm dần qua các năm, đến đầu năm 2002 TCT VLXD được sát nhập với TCT XDSG thành TCT XDSG, thời gian này TCT XDSG đang tập trung vào việc ổn định

cơ cấu tổ chức

Trang 31

Bảng 2-4: LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY

Tổng số 218,160 253,871 274,270 384,763 16.4 8.0 40.3

Nguồn: - Chi cục Tài chính Doanh nghiệp TP HCM

- Báo cáo hàng năm của các TCT

2.1.5 Nộp NSNN

Tổng mức nộp ngân sách của các TCT chiếm khoảng 35% – 41% so với các doanh nghiệp nhà nước địa phương quản lý Trong những năm qua tỷ lệ này có xu hướng tăng dần

Bảng 2-5: BÁO CÁO NỘP NGÂN SÁCH CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY

Đơn vị tính: triệu đồng

- Tổng công ty ĐOSG 85,639 127,662 86,822 105,498

- Tổng công ty Bến Thành 153,100 150,100 143,023 149,042

Nguồn: Chi cục Tài chính Doanh nghiệp TP.HCM

TCT Thương mại Sài Gòn, TCT Bến Thành và TCT Địa ốc Sài Gòn có mức nộp ngân sách khá cao, đặc biệt là TCT Thương mại Sài Gòn Qua đó cho thấy đóng góp vào ngân sách của các TCT Bến Thành, TCT Thương mại Sài Gòn và TCT Địa ốc Sài Gòn chủ yếu là các khoản thuế với các ngành kinh doanh chịu thuế suất cao như hoạt động du lịch, nhà hàng khách sạn, kinh doanh vàng bạc, xuất nhập khẩu, địa ốc…

2.1.6 Vai trò của các TCT về tạo việc làm

Các TCT đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho người lao động Lao động làm việc trong các TCT chiếm từ 38% - 41% so với các DNNN do địa phương quản lý Mặc dù hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng các TCT vẫn cố gắng tạo việc làm cho người lao động Thể hiện qua việc chỉ tiêu này

Trang 32

trong những năm qua hầu như có xu hướng liên tục tăng dần, đặc biệt là những TCT có liên quan nhiều đến ngành xây dựng

Bảng 2-6: BÁO CÁO LAO ĐỘNG CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY

- Tổng công ty Bến Thành 4,702 4,608 4,645 4,366

Nguồn: - Chi cục Tài chính Doanh nghiệp TP HCM

- Báo cáo hàng năm của các TCT

2.1.7 Cán bộ quản lý

Theo kết quả điều tra của Viện kinh tế TP số cán bộ quản lý các TCT chiếm khoảng 0,8 – 1% so với lao động của các TCT Xét về chuyên môn 15.7% có trình độ trên đại học, 66% đại học và 9,3% trung học chuyên nghiệp Xét về độ tuổi 7,3% dưới 30 tuổi; 69,2% từ 30 – 50 tuổi; 18,7% từ 50 – 60 tuổi và 4,8% trên 60 tuổi (Theo tài liệu điều tra doanh nghiệp năm 1998 của Viện kinh tế TP)

Nhìn chung, lực lượng cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, ở độ tuổi đang phát huy tốt, có kinh nghiệm quản lý và tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực cụ thể nhất định Tuy nhiên, do mô hình TCT là một mô hình tổ chức doanh nghiệp mới, nền kinh tế nước ta mới mở cửa chưa được bao lâu, nhiều cán bộ quản lý được đào tạo trong thời bao cấp và chưa có điều kiện để bổ sung đầy đủ những kiến thức về kinh tế thị trường, cho nên các cán bộ quản lý TCT nhìn chung còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý TCT trên các lĩnh vực như: kiến thức về mô hình tổ chức các TCT, xây dựng chiến lược TCT, nghiên cứu thị trường ở trong và ngoài nước, dự báo tình hình, xây dựng các dự án đầu tư có hiệu quả và đặc biệt là những kiến thức và kinh nghiệm hoạt động trên thị trường tài chính,… Do đó chất lượng

hoạt động quản lý có những hạn chế nhất định

2.2 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH HIỆN HÀNH CỦA CÁC TCT 90 DO UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUẢN LÝ

2.2.1 Cơ chế tài chính hiện hành của mô hình TCT 90

2.2.1.1 Cơ chế tổ chức quản lý

a Hội đồng quản trị

Trang 33

Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của TCT theo nhiệm vụ Nhà nước giao

Hội đồng quản trị có từ 5 - 7 thành viên do Chủ tịch Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định của Chính phủ Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị được quy định tại điều 32 Luật Doanh nghiệp nhà nước Hội đồng quản trị gồm một số thành viên chuyên trách, trong đó có Chủ tịch Hội đồng quản trị, một thành viên kiêm Tổng giám đốc, một thành viên kiêm trưởng Ban kiểm soát và một số thành viên khác là các chuyên gia về ngành kinh tế

- kỹ thuật, kinh tế, tài chánh, quản trị kinh doanh, pháp luật có thể là thành viên chuyên trách hoặc kiêm nhiệm

b Tổng Giám đốc điều hành

Tổng giám đốc do Chủ tịch Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị theo quy định của Chính phủ Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công

ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Chủ tịch Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng công ty

c Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có 3- 5 thành viên, trong đó một thành viên Hội đồng quản trị làm trưởng ban theo sự phân công của Hội đồng quản trị và các thành viên khác do Hội đồng quản trị quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật; gồm một thành viên là chuyên viên kế toán, một thành viên do Đại hội đại biểu công nhân viên chức Tổng công ty giới thiệu, một thành viên do Sở chuyên ngành Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu và một thành viên do Cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp giới thiệu

Hội đồng quản trị thành lập Ban kiểm soát để giúp Hội đồng quản trị thực hiện việc kiểm tra, giám sát Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và các thành viên Tổng công ty trong hoạt động điều hành, hoạt động tài chính, chấp hành Điều lệ Tổng công ty, nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị, chấp hành pháp luật của Nhà nước

d Mối quan hệ giữa TCT và các đơn vị thành viên

Một số đơn vị thành viên là công ty hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc và một số đơn vị sự nghiệp Theo đề nghị của Tổng giám đốc, HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng đối với các Giám đốc thành viên Tùy vào vị trí pháp lý các đơn vị khi thành lập mà TCT xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm trong tác nghiệp, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 34

Vai trò nổi bật của TCT đối với các thành viên hạch toán độc lập là định hướng đầu tư phát triển, bảo lãnh và hỗ trợ vốn, thiết bị kỹ thuật, đào tạo bồi dưỡng cán bộ công nhân, đấu thầu cạnh tranh xây dựng và tiếp thị TCT đã xây dựng và hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động, theo quy chế tài chính của TCT, quy chế hoạt động của HĐQT và Ban kiểm soát

Công ty hạch toán độc lập tiếp nhận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện

quyết định của TCT về điều chỉnh vốn và các nguồn lực phù hợp với các nhiệm vụ của doanh nghiệp thành viên; được TCT ủy quyền ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế; được giao tổ chức thực hiện các dự án đầu tư phát triển trên cơ sở sử dụng các nguồn lực TCT giao

Công ty hạch toán phụ thuộc được ký kết hợp đồng kinh tế theo phân cấp

của TCT, được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, tổ chức nhân sự theo sự phân cấp hoặc ủy quyền của TCT

Các đơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu làm chức năng đào tạo hoặc

nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu của TCT, thực hiện lấy thu bù chi, được tạo nguồn thu từ việc thực hiện các dịch vụ, các hợp đồng nghiên cứu khoa học và đào tạo với các đơn vị trong và ngoài TCT

2.2.1.2 Cơ chế quản lý, sử dụng vốn

a Về nhận và giao vốn

Nhà nước thực hiện giao vốn thuộc sở hữu Nhà nước cho HĐQT Tổng công

ty, việc giao vốn được thực hiện theo các quy định trong Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước

Bộ trưởng Bộ tài chính hoặc người được ủy quyền ký giao vốn cho TCT Người ký nhận vốn là Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc TCT Đại diện Uûy Ban Nhân Dân TP HCM chứng kiến việc giao vốn

Từ đó Tổng giám đốc TCT giao vốn cho các đơn vị thành viên theo phương án đã được HĐQT phê duyệt, giám đốc doanh nghiệp thành viên TCT ký nhận vốn

Chậm nhất là 30 ngày sau khi nhận vốn của Nhà nước, TCT phải tiến hành giao vốn cho các doanh nghiệp thành viên Trong thời gian 15 ngày sau khi giao vốn xong cho các doanh nghiệp thành viên, TCT phải tổng hợp báo cáo cho cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, và Uûy Ban Nhân Dân Thành phố biết

b Về điều hòa vốn trong TCT

TCT được quyền thay đổi cơ cấu vốn, tài sản phục vụ cho việc kinh doanh; điều hòa vốn Nhà nước giữa doanh nghiệp thành viên thừa sang doanh nghiệp thành viên thiếu tương ứng với nhiệm vụ kinh doanh đã được TCT phê duyệt Tổng giám đốc xây dựng phương án điều động, báo cáo bằng văn bản HĐQT phê duyệt và ra quyết định điều động theo nguyên tắc ghi tăng giảm vốn Trong thời gian 10 ngày

Trang 35

sau khi điều động, TCT báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, và cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp biết

TCT được quyền sử dụng vốn và các quỹ của mình để phục vụ kịp thời nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn, trường hợp sử dụng vốn và các quỹ khác với mục đích quy định thì phải theo nguyên tắc hoàn trả Việc sử dụng vốn, quỹ để đầu tư xây dựng phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng

c Về khai thác và sử dụng vốn, tài sản trong TCT

TCT được quyền sử dụng vốn, tài sản, quyền sử dụng đất thuộc quyền quản lý của TCT để đầu tư ra ngoài TCT Riêng việc sử dụng quyền sử dụng đất để đầu

tư ra ngoài TCT phải thực hiện theo quy định của Luật đất đai Việc đầu tư ra ngoài TCT phải đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn tăng thu nhập và không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ kinh doanh của TCT

Các hình thức đầu tư ra ngoài TCT bao gồm: mua trái phiếu, cổ phiếu; Liên doanh, góp vốn cổ phần với doanh nghiệp khác và các hình thức đầu tư khác theo pháp luật quy định

Trường hợp đầu tư vào các doanh nghiệp khác trong nước, HĐQT phê duyệt phương án đầu tư do Tổng giám đốc đề nghị Trong thời gian 15 ngày sau khi quyết định phải báo cáo bằng văn bản cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp biết

Trường hợp liên doanh với nước ngoài, HĐQT báo cáo bằng văn bản cơ quan quyết định thành lập dự án liên doanh Trường hợp được cơ quan này ủy quyền thì HĐQT quyết định Trong thời gian 15 ngày sau khi quyết định, TCT báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và Uûy Ban Nhân Dân Thành phố biết

Tùy từng trường hợp cụ thể TCT có thể ủy quyền cho doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập nhân danh TCT thực hiện một số hình thức và mức độ đầu tư

ra ngoài TCT HĐQT, Tổng giám đốc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác, chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn đầu tư ra ngoài TCT, thu lợi nhuận từ việc đầu tư này, cử người trực tiếp quản lý phần vốn góp tại doanh nghiệp khác

Tổng công ty có quyền cho thuê, thế chấp, nhượng bán tài sản thuộc quyền quản lý của TCT để tái đầu tư, đổi mới công nghệ theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo các thủ tục theo pháp luật Khi cho thuê, cầm cố thế chấp phải được Uûy Ban Nhân Dân Thành phố HCM xem xét, quyết định sau khi có sự thẩm tra của cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp Khi nhượng bán cho tổ chức, cá nhân người nước ngoài phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép

Trang 36

TCT phân cấp, ủy quyền cho các doanh nghiệp thành viên thực hiện việc nhượng bán, cho thuê, cầm cố, thế chấp tài sản theo quy chế Nhà nước thể hiện cụ thể trong điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thành viên

2.2.1.3 Cơ chế tổ chức và huy động vốn

Tổng công ty được huy động vốn dưới mọi hình thức theo pháp luật quy định như vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; phát hành trái phiếu, vay khác để phục vụ nhu cầu hoạt động kinh doanh Việc huy động vốn phải tuân theo pháp luật hiện hành và không được làm thay đổi hình thức sở hữu Nhà nước của TCT Hạn mức một lần vay do HĐQT quyết định nhưng tổng dư nợ của TCT và các doanh nghiệp thành viên không được vượt mức vốn điều lệ của TCT tại cùng thời điểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác TCT phải chịu trách nhiệm về mục đích và hiệu quả sử dụng vốn huy động, hoàn trả vốn và lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng huy động vốn

TCT được vay vốn và quỹ nhàn rỗi của các doanh nghiệp thành viên cũng như cho các doanh nghiệp thành viên vay lại với lãi suất nội bộ Việc vay, trả theo các quy định của pháp luật và điều lệ tổ chức hoạt động của TCT HĐQT quyết định mức lãi suất nội bộ

Các doanh nghiệp thành viên được huy động vốn theo sự phân cấp, ủy quyền của TCT Hạn mức một lần vay do giám đốc quyết định và tổng dư nợ không vượt quá mức vốn điều lệ của doanh nghiệp thành viên đó TCT được bảo lãnh cho các doanh nghiệp thành viên vay vốn trong nước theo quy định của pháp luật hiện

hành

2.2.1.4 Cơ chế về lợi nhuận và trích lập các quỹ

a Quỹ dự phòng tài chính

Tổng công ty được điều động quỹ dự phòng tài chính được trích hàng năm của các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập để thành lập quỹ dự phòng tài chính tập trung của TCT, tỷ lệ lệ trích nộp do HĐQT TCT quyết định Quỹ này được sử dụng để bù đắp, hỗ trợ trong các trường hợp bị thiệt hại về vốn do thiên tại, địch họa, rủi ro trong kinh doanh của TCT và các doanh nghiệp thành viên nếu các khoản dự phòng được trích trong giá thành, tiền đền bù của các tổ chức, cá nhân gây

ra tổn thất và các tổ chức bảo hiểm không đủ

b Quỹ đầu tư phát triển

Được hình thành từ các nguồn sau: Huy động không hoàn lại từ quỹ đầu tư phát triển được trích trong năm của doanh nghiệp hạch toán độc lập, mức tối đa là 60% số trích được trong năm của đơn vị thành viên; Lợi nhuận còn lại sau thuế của doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc và phần lợi nhuận được chia từ liên doanh do TCT trực tiếp quản lý; TCT huy động dưới hình thức vay với lãi suất nội

Ngày đăng: 07/01/2018, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS. TS Nguyễn Thị Diễm Châu, TS. Nguyễn Ngọc Thanh (2001), Cơ chế tài chính trong mô hình Tổng Công ty, Tập đoàn kinh tế – NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tài chính trong mô hình Tổng Công ty, Tập đoàn kinh tế
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Thị Diễm Châu, TS. Nguyễn Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2001
2. PGS. TS Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doang nghiệp hiện đại – NXB Thống keâ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doang nghiệp hiện đại
Tác giả: PGS. TS Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: NXB Thống keâ
Năm: 2003
3. Nguyễn Tấn Bình, Phân tích hoạt động doanh nghiệp – NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
4. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp – NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Josette Peyrard, Phân tích tài chính doanh nghiệp – NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Garry D. Smith; Panny R. Arnold; Bobby G. Bizzell, Chiến lược và sách lược kinh doanh – NXB Thoáng keâ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và sách lược kinh doanh
Nhà XB: NXB Thoáng keâ
7. Raymond Alain; Thiétart, Chiến lược doanh nghiệp – NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thanh niên
8. PTS. Lê Thanh Hà (chủ biên), Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong quản trị doanh nghieọp – NXB Treỷ TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong quản trị doanh nghieọp
Nhà XB: NXB Treỷ TP. HCM
9. Michael Hammer & James Champy, Tái lập công ty – NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái lập công ty
Nhà XB: NXB TP.HCM
10. Harold Koontz; Cyril Odonnell; Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt yếu trong quản lý – NXB Khoa học & kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu trong quản ly
Nhà XB: NXB Khoa học & kỹ thuật
23. Trần Quốc Thành (2001), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD đối với TCT 90 do UBND TP. HCM quản lý, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD đối với TCT 90 do UBND TP. HCM quản lý
Tác giả: Trần Quốc Thành
Năm: 2001
24. PGS.TS. Trần Ngọc Thơ & TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Đổi mới tư duy và xác lập yếu tố thị trường trong việc chuyển đổi theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy và xác lập yếu tố thị trường trong việc chuyển đổi theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con
25. Phạm Chí Quang & Võ Chí Thanh, Tổng Công ty nhà nước – đánh giá từ quan điểm kinh tế phát triển, Nghiên cứu kinh tế số 296 tháng 1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng Công ty nhà nước – đánh giá từ quan điểm kinh tế phát triển
26. TS. Nguyễn Đăng Nam – Viện khoa học tài chính, Sự khác nhau giữa TCT ở Việt nam và TĐKT của Thế giới, Tài chính doanh nghiệp số 08/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác nhau giữa TCT ở Việt nam và TĐKT của Thế giới
27. TS. Nguyễn Đăng Nam – Viện khoa học tài chính, Nội dung cơ chế tài chính TCT hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, Tài chính doanh nghiệp soá 09/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung cơ chế tài chính TCT hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con
28. TS. Nguyễn Đăng Nam – Viện khoa học tài chính, Vai trò của các công ty tài chính trong việc phát triển thị trường ở Việt nam, Thị trường tài chính tháng 06/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các công ty tài chính trong việc phát triển thị trường ở Việt nam
29. TS. Võ Tấn Phong, Mô hình Công ty mẹ – Công ty con điều kiện cần để đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý DNNN, Phát triển kinh tế tháng 08/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Công ty mẹ – Công ty con điều kiện cần để đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý DNNN
30. Lê Quốc Ân, Cơ chế tài chính trong mô hình tổng công ty nhà nước, Đề cương tham luận hội thảo Cơ chế tài chính trong mô hình tổng công ty nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quốc Ân, "Cơ chế tài chính trong mô hình tổng công ty nhà nước", Đề cương tham luận hội thảo
31. Ban đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương, Báo cáo củng cố, hoàn thiện và phát triển TCT nhà nước. Ngày 10 tháng 04 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương, "Báo cáo củng cố, hoàn thiện và phát triển TCT nhà nước
33. Website: http//www.saigon-tourist.com 34. Website: http://www.satra.com/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w