MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: CHIẾN LƯỢC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM 1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC TRONG KINH DOANH 1.1.1
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
MAI KHÁNH THÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2004
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CHIẾN LƯỢC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY
DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM
1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC TRONG KINH DOANH
1.1.1 Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh trang 1
1.1.4 Vai trò của chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh …5
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM
1.2.4 Tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược phát triển ngành dệt
nhuộm Việt Nam
11
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH DỆT
NHUỘM VIỆT NAM
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM
2.1.1 Giai đoạn trước 1975: Vừa xây dựng vừa chiến đấu 12
2.1.2 Từ 1976 – 1990: Xây dựng hoà bình và hợp tác toàn diện với các
2.1.4 Chiến lược tăng tốc Ngành Dệt – May Việt Nam đến năm 2010 15
2.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
2.2.1 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 15
Trang 32.3 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ NGÀNH
CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT
NAM ĐẾN NĂM 2010
3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM ĐẾN NĂM
2010
3.1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam 39
3.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM ĐẾN
NĂM 2010
3.2.1 Ma trận đánh gía các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ
ngành dệt nhuộm Việt Nam
40
3.2.2 Đề xuất một số chiến lược và giải pháp thực hiện 43
3.2.3 Các giải pháp chung cần lưu ý để thực hiện chiến lược phát triển 47
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng lần VI, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta chuyển từ nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kể từ đó nền kinh tế Việt Nam liên tục có tốc độ tăng trưởng khá, về cơ bản thoát khỏi tình trạng nghèo đói và tạo ra những tiền đề cần thiết cho những thời kỳ phát triển tiếp theo
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, ngành dệt may Việt Nam luôn đóng góp một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh cả về số lượng cơ sở vật chất và giá trị sản lượng, đặc biệt là giá trị xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn
ngành luôn đạt trên 10% năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 40% năm,
mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ hoạt động xuất khẩu và đóng góp một nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên trong cơ cấu ngành dệt may Việt Nam hiện nay đã và đang tồn tại sự mất cân đối giữa ngành dệt nhuộm và ngành may, tỉ lệ vải thành phẩm đạt chất lượng trong ngành dệt nhuộm chỉ đạt 70 – 80%, rất thấp so với tiêu chuẩn chung của thế giới: 95 – 98%, tỉ lệ vải thành phẩm sản xuất trong nước đáp ứng tiêu chuẩn cho nhu cầu may xuất khẩu còn quá thấp: 20-30%
Để giảm bớt khoảng cách so với trình độ thế giới và góp phần vào việc đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành dệt may trong chiến lược phát triển ngành dệt may Việt nam đến năm 2010, và trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, ngành dệt nhuộm cần được quan tâm và đầu tư phát triển mạnh hơn nữa trong hiện tại và tương lai Trước tình hình trên, việc nghiên cứu, phân tích và đưa ra các chiến lược và giả pháp phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam là hết sức cần thiết
Đó là lý do đề tài:”Chiến lược phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam đền năm 2010” được lựa chọn cho luận văn này
Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời kết hợp các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đánh giá để nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
Những lý luận cơ bản về chiến lược và quản trị chiến lược, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển của một tổ chức kinh tế
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh ngành dệt – nhuộm – hoàn tất Việt Nam trong thời gian gần đây
Trang 5Phạm vi nghiên cứu:
Với những biến động thường xuyên và liên tục của thị trường, luận văn chỉ chú trọng phân tích môi trường hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 1999 – 2004
Mục đích nghiên cứu:
Phân tích môi trường hoạt động, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành dệt nhuộm Việt Nam
Đề xuất một số chiến lược và giải pháp thực hiện, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Giới hạn đề tài:
Luận văn không tìm hiểu tất cả mọi hoạt động thuộc về nội bộ của các doanh nghiệp trong ngành, mà chỉ nghiên cứu những thông tin có tính chất tác động chung nhất đến ngành dệt may Việt Nam
Luận văn chỉ nêu các chiến lược và giải pháp thực hiện chứ không đi sâu vào phân tích việc tổ chức thực hiện và kiểm soát hiệu quả kinh doanh
Kết cấu luận văn:
Lời mở đầu
Chương 1: Chiến lược và tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược phát
triển ngành dệt nhuộm Việt Nam Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động của ngành dệt nhuộm Việt Nam Chương 3: Chiến lược phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam đến năm 2010 Kết luận
Trang 6CHƯƠNG 1
CHIẾN LƯỢC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM
1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CỦA CHIẾN LƯỢC TRONG KINH DOANH
1.1.1 Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh
Khái niệm “chiến lược” đã xuất hiện từ khá lâu và có khá nhiều định nghĩa
về chiến lược Theo Fred R.David, chiến lược là những phương tiện đạt đến mục
tiêu dài hạn; theo Alfred Chadler, Đại học Harvard thì chiến lược là sự xác định các mục tiêu cơ bản và lâu dài của một doanh nghiệp và là sự vạch ra một quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó
Những định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt do được rút ra từ thực tiễn kinh tế xã hội khác nhau, nhưng vẫn bao hàm việc:
− Xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức
− Đưa ra và chọn lựa các phương án thực hiện
− Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó
1.1.2 Phân loại chiến lược kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi chiến lược, có thể chia chiến lược thành hai loại:
Chiến lược tổng quát: là chiến lược thường đề cập đến những vấn đề
quan trọng nhất và có ý nghĩa lâu dài, quyết định đến những vấn đề sống còn của doanh nghiệp
Chiến lược bộ phận: là các chiến lược cụ thể về sản phẩm, giá cả, phân
phối và chiêu thị cho từng phân kỳ trung hạn, ngắn hạn của chiến lược tổng quát, nhằm tạo cơ sở, vạch ra con đường vận động thích ứng với từng thời kỳ và môi trường hoạt động để liên tục hóa sự phát triển của chiến lược chung
Căn cứ vào sự kết hợp giữa sản phẩm và thị trường, dựa vào lưới ô vuông để thay đổi chiến lược, có thể chia thành các loại chiến lược đặc thù sau:
Bảng 1: Lưới ô vuông để thay đổi chiến lược
Trang 7Sản phẩm Thị trường Ngành S.X Trình độ S.X Qui trình C.N Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới
1.1.2.1 Nhóm chiến lược tăng trưởng tập trung
Thâm nhập thị trường: nhằm tăng thị phần cho các sản phẩm, dịch vụ
hiện có trong các thị trường hiện có bằng các nổ lực tiếp thị nhiều hơn Chỉ áp dụng khi thị trường hiện tại chưa bão hòa, có khả năng tăng trưởng hoặc khi thị phần của đối thủ giảm xuống
Phát triển thị trường: đưa sản phẩm hiện có vào những thị trường mới
Phát triển sản phẩm: cải tiến những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại 1.1.2.2 Nhóm chiến lược tăng trưởng bằng con đường hội nhập
Hội nhập về phía trước: nhằm tăng quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát
đối với các đơn vị phân phối hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của tổ chức
Hộp nhập về phía sau: nhằm tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm
soát đối với các đơn vị cung cấp các yếu tố đầu vào cho tổ chức
Hội nhập hàng ngang: sở hữu hay hợp nhất các đơn vị kinh doanh cùng
ngành bằng cách hợp nhất, mua lại hay chiếm lĩnh quyền kiểm soát giữa các đối thủ cạnh tranh
1.1.2.3 Nhóm chiến lược tăng trưởng bằng con đường đa dạng hóa
Đa dạng hóa đồng tâm: hướng vào thị trường mới với sản phẩm mới, trong
ngành sản xuất hiện tại hoặc mới, với qui trình công nghệ hiện tại hoặc mới
Đa dạng hóa hàng ngang: hướng vào sản phẩm mới với qui trình công
nghệ mới, trong ngành sản xuất hiện tại hoặc mới, nhưng vẫn ở thị trường hiện tại
Đa dạng hóa hỗn hợp: hướng vào sản phẩm mới ở thị trường mới và cũng
hoàn toàn mới trong một ngành kinh doanh mới
1.1.2.4 Nhóm các chiến lược suy giảm
Liên doanh
Thu hẹp bớt hoạt động
Cắt bỏ bớt hoạt động
Thanh lý
Trang 81.1.3 Quy trình hoạch định chiến lược
Với mục tiêu hoạch định hướng chiến lược chung cho ngành, luận văn chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hình thành chiến lược, bao gồm ba bước cơ bản sau:
1.1.3.1 Nghiên cứu môi trường hoạt động của ngành
i) Phân tích môi trường bên ngoài
Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Các yếu tố của môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa – xã hội, tự nhiên, công nghệ … Phân tích các yếu tố kể trên sẽ tạo nên một tầm nhìn tổng quát về môi trường vĩ mô làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược Vì mục đích của việc nghiên cứu môi trường vĩ mô là nhằm nhận định những cơ hội và nguy cơ có ảnh hưởng đến hoạt động của ngành nên chỉ phân tích các yếu tố có ảnh hưởng thực sự đến ngành
Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Các yếu tố thuộc môi trường vi mô bao gồm các yếu tố ngoại cảnh nhưng có liên quan trực tiếp đến ngành Bao gồm các yếu tố sau:
- Khách hàng: Phân nhóm khách hàng, đặc điểm nhu cầu của từng nhóm
khách hàng hiện nay và dự báo xu thế thay đổi nhu cầu trong thời gian sắp tới, nếu có, để từ đó xác định ngành phải làm gì để tạo ra nhu cầu mới, đáp ứng nhu cầu và dùng phương tiện, công nghệ nào để đáp ứng nhu cầu tốt nhất
- Đối thủ cạnh tranh: Phân tích tình hình cạnh tranh ảnh hưởng đến sự phát
triển của ngành
- Nguồn cung cấp
- Các sản phẩm thay thế
- Các đơn vị sắp gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành
ii) Phân tích môi trường nội bộ ngành
Việc phân tích môi trường nội bộ của các doanh nghiệp trong ngành là khâu trọng tâm để xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân các doanh nghiệp
1.1.3.2 Xác định mục tiêu phát triển của ngành
Xác định mục tiêu phát triển của ngành là cở sở cho việc hình thành chiến lược Mục tiêu dùng để chỉ kết quả cụ thể mà ngành mong muốn trong một giai đoạn nhất định Mục tiêu đặt ra không quá thấp mà cũng không quá cao xa rời thực tế Các mục tiêu chỉ rõ điểm kết thúc của các nhiệm vụ chiến lược, là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên trong phân bổ các nguồn lực
Trang 91.1.3.3 Xây dựng chiến lược
Xây dựng chiến lược được thực hiện trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh, nhận biết những cơ hội và nguy cơ tác động đến sự tồn tại của doanh nghiệp Từ đó xác định các phương án chiến lược để đạt được mục tiêu đề
ra Việc hình thành chiến lược phải tạo sự hài hòa và kết hợp cho được các yếu tố tác động đến chiến lược
Để thực hiện được điều này, có thể áp dụng rất nhiều phương pháp và công cụ hoạch định chiến lược Luận văn này chỉ chọn lọc sử dụng các công cụ được giới thiệu dưới đây
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài – EFE (External Factor Evaluation)
Công cụ ma trận EFE cho phép ta tóm tắt và đánh giá mức độ tác động của những cơ hội và nguy cơ cơ bản ảnh hưởng đến ngành Ma trận EFE được phát triển theo 6 bước sau :
a) Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu
b) Ấn định mức độ quan trọng : Cho điểm từ 0,0 (quan trọng ít nhất) đến 1,0 (quan trọng nhiều nhất) Tổng các mức độ quan trọng phải luôn bằng 1,0 c) Phân loại yếu tố : Cho điểm từ 1 (tác động tiêu cực), 2 (tác động bình
thường), 3 (Tác động tích cực), 4 (Tác động rất tích cực)
d) Nhân mỗi mức độ quan trọng của yếu tố với phân loại của nó để xác định điểm số quan trọng cho mỗi yếu tố
e) Nếu ảnh hưởng đó là tích cực (cơ hội) thì đánh dấu (+), nếu là tiêu cực (nguy cơ) thì đánh dấu (-) vào cột “Tính chất tác động” để biết đó là cơ hội hay nguy cơ
f) Cộng tất cả điểm số quan trọng để biết tổng số điểm quan trọng của các yếu tố này đối với ngành Số điểm trung bình là 2,5 Nếu tổng số điểm quan trọng < 2,5 cho thấy ngành có phản ứng yếu với môi trường bên ngoài, còn nếu > 2,5 thì có phản ứng cao
Bảng 2: Mẫu ma trận EFE
Các yếu tố Tầm quan
trọng
Phân loại Số điểm
quan trọng
Tính chất tác động
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong – IFE (Internal Factor Evaluation)
Trang 10Là công cụ cho phép tóm tắt và đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu quan trọng của ngành Cách phát triển ma trận này tương tự như ma trận EFE
Ma trận đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ – SWOT
SWOT là viết tắt của 4 chữ : Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ) Ma trận này giúp kết hợp các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ đã được đánh giá từ các ma trận EFE và IFE để từ đó thiết lập nên các chiến lược kết hợp Ma trận SWOT được phát triển theo các bước sau:
a) Từ ma trận IFE, liệt kê các điểm mạnh, điểm yếu chủ yếu vào ô S và W b) Từ ma trận EFE, liệt kê các cơ hội và nguy cơ cơ bản vào ô O và T
c) Lập các chiến lược kết hợp S/O, S/T, W/O, W/T
Ma trận SWOT là công cụ hoạch định chiến lược rất hữu hiệu, từ ma trận này, có thể lựa chọn các chiến lược thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của ngành
Bảng 3: Mẫu ma trận SWOT
Các chiến lược S/O
Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
Các chiến lược S/T
Phát huy điểm mạnh để vượt qua/né tránh nguy
cơ
W- Những điểm yếu
1
2
Các chiến lược W/O
Hạn chế điểm yếu để tận dụng cơ hội
Các chiến lược W/T
Hạn chế điểm yếu để né tránh nguy cơ
1.1.4 Vai trò của chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Chiến lược kinh doanh có vai trò quan trọng đặc biệt trong sản xuất kinh doanh đối với tất cả doanh nghiệp, mọi ngành nghề Thực tế cho thấy sự thành công của các doanh nghiệp, các ngành thường gắn liền với một chiến lược sản xuất kinh doanh đúng đắn Vai trò của chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh cấp ngành được thể hiện qua các điểm sau:
Trang 11 Vai trò quản lý vĩ mô: Chiến lược kinh doanh của ngành giúp tất cả các
doanh nghiệp trong ngành xác định rõ hướng đi của ngành trong tương lai, từ đó đưa ra những quyết định thống nhất, tránh sự trùng lặp hoặc không tập trung nguồn lực do có nhiều hướng phát triển khác nhau Vai trò điều hành vĩ mô này ở cấp ngành đóng vai trò quan trọng hơn ở cấp doanh nghiệp do các liên kết ngành có phạm vi lớn và mức độ phức tạp cao hơn
Vai trò quản lý nguồn lực: Chiến lược giúp ngành đề ra các hoạch định về
nguồn lực, vật lực, tài nguyên một cách chủ động và hợp lý để đạt đến mục tiêu Vai trò này cũng thấy ở cấp cơ sở với mức độ chi tiết hơn
Vai trò quản lý rủi ro: Chiến lược giúp các nhà quản trị thấy được những
cơ hội, những rủi ro sẽ xảy ra trong hiện tại hay trong tương lai, từ đó dựa trên tiềm lực của mình để dự trù một số biện pháp đối phó
Vai trò quản lý mục tiêu: Chiến lược giúp ngành xây dựng được mục tiêu
của từng giai đọan, liên tục đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời có những điều chỉnh hoặc hành động thích hợp Quản lý theo mục tiêu sẽ đóng vai trò khuyến khích các doanh nghiệp, các thành viên chủ động xác định được mục tiêu của mình cùng hướng về mục tiêu chung của toàn ngành
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM
1.2.1 Mối quan hệ giữa ngành dệt nhuộm và ngành may
Xét về bản chất tổ chức, ngành dệt may Việt Nam được khép kín với việc kết hợp ngành bông – ngành may – và ngành dệt nhuộm hoàn tất thành một khối Sự kết hợp đó tạo thành một tổng công ty lớn, có khả năng tập trung vốn lớn, tạo lợi thế cạnh tranh cao Trong sự kết hợp đó ta thấy các sản phẩm của ngành dệt nhuộm được tiêu thụ chủ yếu thông qua ngành may, đặc biệt ngành may xuất khẩu dưới dạng vỏ chăn, áo gối, khăn tắm, mùng, quần áo bảo hộ lao động…Đứng ở góc độ thương mại, ngành may bao gồm:
May từ vải của khách hàng, hay gọi là may gia công (CMT: cutting – making – treaming)
May từ vải của chính mình (M2M: from material to market)
Dễ dàng nhận thấy, thế mạnh của ngành dệt may Việt Nam hiện nay là may gia công, trong khi ngành may có tốc độ phát triển quá nhanh chóng, thì ngành dệt nhuộm phát triển quá chậm chạm, dẫn đến sự mất cân đối giữa ngành may và
Trang 12ngành dệt nhuộm là quá lớn Nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, chỉ chú trọng đầu tư vào ngành may là vì ngành dệt nhuộm thì đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm và hiệu quả kinh tế không bằng ngành may Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may năm 2003 là 3,7 tỉ USD thì giá trị xuất khẩu các mặt hàng may mặc chiếm đến 90% với tỉ lệ nguyên liệu nhập khẩu lên đến 65% TỈ lệ giá trị xuất khẩu các sản phẩm dệt nhuộm chỉ chiếm khoảng 10% là quá thấp so với chỉ số trung binh thế giới là 44% Giá trị nội địa của các sản phẩm dệt nhuộm trong nước chỉ có khoảng 20-25% trong các sản phẩm may xuất khẩu, điều đó càng chứng tỏ sự hoạt động yếu kém của ngành dệt nhuộm
Tham khảo thêm biểu đồ dưới đây để thấy sự mất cân đối quá lớn giữa các sản phẩm ngành dệt đối với các sản phẩm may mặc
Biểu đồ 1: Tỉ lệ sản phẩm xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam năm 2002
78%
15%
Quần áo Vải thành phẩm Sợi
Sản phẩm khác
(Nguồn: Vitas Directory 2003)
1.2.2 Giới thiệu về ngành dệt nhuộm
1.2.2.1 Công đoạn dệt vải
Dệt vải được biết đến như một ngành nghề cổ xưa nhất của loài người từ khi biết ăn mặc Tại Việt Nam ngành nghề thủ công dệt lụa cũng đã ra đời từ rất lâu, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã dùng vải lụa làm vật triều cống cho triều đình Trung Quốc Cho đến ngày nay ở Việt Nam nhiều làng nghề truyền thống như: Vân Phúc (Hà Tây), Triệu Khúc (Hà Nội) vẫn tồn tại và phát triển
Nguyên liệu ngành dệt được hình thành thông qua việc kéo sợi từ nguyên liệu ban đầu là xơ sợi tự nhiên hoặc nhân tạo Đối với các loại sợi tư nhiên như cotton
Trang 13100%, sợi được đi qua qui trình hồ vải nhằm mục đích tăng cường độ dai của sợi, đảm bảo sợi chắc chắn, không bị đứt trong qua trình dệt, hoặc đối với các loại sợi nhân tạo, như PES 100%, trong quá trình kéo sợi, tơ sợi được đi qua một lớp dầu bôi trơn, nhằm giảm bớt lực ma sát phát sinh gây đứt sợi trong quá trình dệt vải sau này Thông qua giai công đoạn dệt, vải hoặc sợi vải được hình thành và gọi chung là hàng mộc Có hai công nghệ dệt được sử dụng để tạo thành vải đó là dệt thoi và dệt kim
1.2.2.2 Công đoạn nhuộm hoàn tất
Sau khi vải, sợi được hình thành, lúc này chưa thể sử dụng ngay được bởi chúng còn chứa rất nhiều tạp chất, dầu mỡ, màu tự nhiên…, vì vậy vải mộc có màu xám, thô ráp, không bền đối với các điều kiện thông thường của môi trường và sử dụng: ánh sáng, nhiệt độ, giặt ủi, mồ hôi…Do đó nhuộm và hoàn tất vải là một quy trình chuyên môn hóa riêng biệt gồm nhiều công đoạn nhằm làm cho vải cải thiện các tính chất trên để sằng sàng được sử dụng
Qui trình nhuộm hoàn tất vải về cơ bản có thể được phân chia thành các công đoạn như sau:
Công đoạn tiền xử lý: Sử dụng các loại hóa chất và nhiều phương pháp khác nhau để xử lý vải mộc Các công việc tiến hành được phân chia ra thành các khâu cụ thể: xén lông, rủ hồ, nấu, tẩy, kiềm bóng, tăng trắng quang học Thông thường vải mộc phải trải qua ít nhất 3 trong số các khâu kể trên, mục đích là làm sạch các tạp chất của vải, sợi và làm thay đổi cấu trúc của vật liệu dệt, sau khi vải mộc đã hoàn toàn được xử lý ở công đoạn tiền xử lý, vải đã hoàn toàn sẳn sàng cho việc in hoa hoặc nhuộm màu
Công đoạn in hoa, nhuộm màu: Nhuộm màu và in hoa được biết đến trong khoảng 50 thế kỷ trước, có thể có xuất xứ từ Aán độ và Trung Quốc Thuốc nhuộm được sử dụng ban đầu có nguốn gốc từ tự nhiên, ngày nay thuốc nhuộm vải rất đa dạng và phong phú, chủ yếu được tổng hợp từ các hợp chất hữu cơ và được phân chia thành 2 nhóm chính: thuốc nhuộm và pigment với cơ chế nhuộm và in hoàn toàn khác nhau Nhuộm và in hoa có công nghệ khá đa dạng, sử dụng nhiều lớp thuốc nhuộm với nhiều màu sắc khác nhau, mỗi loại vải có quy trình nhuộm, in riêng biệt để đạt yêu cầu về màu sắc và độ đều màu, bền màu cao
Mục đích của công đoạn này là làm cho vải có màu sắc và hoa văn tùy theo yêu cầu sử dụng Nhuộm màu và in hoa là cơ sở thiết yếu cho ngành may mặc và thời trang
Trang 14 Công đoạn hoàn tất vải: Xử lý hoàn tất vải được kết hợp với các biện pháp cơ học và hóa học để nâng cao chất lượng hàng dệt Mục đích chung của công đoạn này làm gia tăng thêm giá trị sản phẩm cho vải sau khi đã nhuộm màu Tùy theo yêu cầu sử dụng, vải được xử lý tương ứng:
• Tăng cường độ ổn định kích thước của vải bằng cách định hình nhiệt, căng khổ vải…
• Thay đổi cảm giác tay của vải: mềm, cứng, mượt…, cải thiện ngoại quan của vải
• Thay đổi mục đích sử dụng của vải: chống thấm nước, thấm nước, chống bám bụi bẩn, vải thơm, chống bắt lửa…
• Tăng cường độ ổn định của vải bằng hóa chất nhằm chống mốc, chống mục vải
1.2.2.3 Nguyên liệu và qui trình sản xuất
Nguyên liệu dệt
Để dệt thành sản phẩm vải hoặc sản xuất chỉ may, trước hết cần có sợi dệt, nguyên liệu cơ sở để sản xuất sợi dệt gọi là xơ dệt hay xơ bông Các loại xơ dùng trong ngành công nghiệp dệt nói chung và công nghiệp dệt kim nói riêng được chia làm hai loại: xơ thiên nhiên và xơ nhân tạo
- Xơ thiên nhiên: Là những loại vật liệu dệt có sẵn ở dạng xơ hoặc sợi, được
hình thành trong quá trình sinh trưởng và phát triển Theo nguồn gốc, xơ thiên nhiên lại được phân chia ra làm hai loại: xơ có nguồn gốc từ thực vật xenlulo: xơ bông, xơ lanh…; xơ có nguồn gốc từ động vật, cấu tạo từ protein: lông cừu, tơ tằm…
- Xơ nhân tạo: Là những loại xơ do con người chế tạo bằng các phương pháp
hóa học để chuyển các vật liệu cao phân tử từ các dạng khác nhau về dạng xơ sợi dùng trong công nghiệp dệt Xơ nhân tạo cũng chia thành hai loại: xơ nhân tạo: xenlulo gỗ, xơ vixco, xơ acetat…; xơ tổng hợp: xơ polyester, xơ polyacrylic…
Từ những nguyên liệu này, công nghiệp dệt trên thế giới và cả ở nước ta sản xuất ra nhiều mặt hàng dệt khác nhau phục vụ đời sống con người: áo, quần, vớ, khăn, màn…
Hóa chất và thuốc nhuộm
Hóa chất và thuốc nhuộm vải được sử dụng chủ yếu trong công đoạn hoàn tất Thuốc nhuộm vải là những hợp chất hữu cơ có màu, được tổng hợp từ nhựa than đá, các sản phẩm từ dầu lửa, có khả năng ăn màu và giử chặt trên các vật liệu dệt Thuốc nhuộm được phân loại tùy thuộc vào tính tương hợp với các loại sợi vải khác
Trang 15nhau và phương pháp nhuộm khác nhau Các loại thuốc nhuộm phổ biến hiện nay là: thuốc nhuộm phân tán (dùng để nhuộm vải PES) thuốc nhuộm hoạt tính (dùng để nhuộm cotton), thuốc nhuộm acid (dùng để nhuộm nylon)…
Để qui trình nhuộm vải được diễn ra hoàn toàn, phải có sử sử dụng bắt buộc hóa chất Hóa chất được phân chia ra thành nhiều loại tùy theo mục đích và công đoạn sử dụng, thông thường nó được phân chia thành các loại như sau: hóa chất cơ bản: muối, soda, H2O2 , NaOH…chất tiền xử lý: nấu, tẩy, giặt, ổn định H2O2… chất trợ trong bể nhuộm: phân tán màu, đều màu, cầm màu, càng hóa…chất hoàn tất: chất nhăn, chống co, chống tỉnh điện…
Máy móc thiết bị và quy trình công nghệ
Đối với công đoạn dệt: Cho đến ngày nay, máy dệt và nguyên lý dệt rất
phong phú và đa dạng Tùy theo tính chất nguyên liệu sợi, dọc, ngang; kết cấu vải; tính chất vải; khổ vải… mà có các loại máy dệt chuyên dùng Các máy dệt thoi (shutle loom) đang dần dần mất vị trí bởi cho năng suất thấp và bị giới hạn do khối lượng lớn của thoi, thay vào đó là các thế hệ máy dệt mới: máy dệt thoi kẹp (project loom), máy dệt kiếm (rapier loom), máy dệt khí (air-jet loom), máy dệt nước (water-jet loom)
Đối với công đoạn nhuộm, hoàn tất: có rất nhiều các thiết bị xử lý và các
quy trình khác nhau: máy rủ hồ, máy giảm trọng, máy nhuộm jet, jigger… áp dụng qui trình nhuộm tận trích, máy nhuộm liên tục, áp dụng qui trình ngấm ép, máy định hình có mục đích ổn định khổ hàng, căng mặt vải
1.2.3 Vai trò của ngành dệt nhuộm
Qua phân tích trên đây, có thể nhận thấy rằng dệt nhuộm là một ngành công nghiệp chuyên sâu, tách biệt hoàn toàn với ngành may bởi vì nó có đối tượng lao động và qui trình sản xuất riêng biệt Nhưng là một công đoạn tất yếu của ngành dệt may, đóng vai trò quan trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may bởi sản phẩm của nó là nguyên liệu đầu vào và nằm trong một quy trình khép kín cho đến thành phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội Ngành dệt may Việt Nam chiếm bình quân trên 9% toàn ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu chiếm 14,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và đã tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động công nghiệp Vai trò ngành dệt nhuộm được khái quát những điểm sau:
Dệt nhuộm – hoàn tất vải là ngành công nghiệp cơ sở của dệt may, có vai trò chủ đạo trong giai đoạn đầu của hoat động công nghiệp Ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, nó có vai trò quan trọng thứ hai sau ngành công nghiệp thực phẩm, đóng góp nhiều cho tổng sản phẩm xã hội
Trang 16 Là ngành cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, và từ đó sự phát triển của nó có liên quan đến việc nâng cao ích lợi vật chất cho mọi người Các sản phẩm dệt nhuộm nói riêng và dệt may nói chung chiếm khoảng không nhỏ ngân sách chi tiêu cho hàng tiêu dùng không phải thực phẩm ở nước ta
Ngành dệt nhuộm rất cần được chuyên môn hóa cao nhằm phù hợp với Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu Giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động đáng kể, đồng thời mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu và đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
1.2.4 Tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam
Trong bối cảnh nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, cùng với xu thế hội nhập thế giới và khu vực của Việt Nam, xây dựng chiến lược phát triển ngành dệt nhuộm Việt Nam nhằm khác phục tình trạng mất cân đối về phát triển giữa ngành dệt và ngành may, đồng thời nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao vai trò của ngành dệt nhuộm trong chiến lược chung ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010
Tóm tắt chương 1
Để đạt được những thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một tổ chức kinh tế cần có một chiến lược phù hợp giữa nội lực tổ chức và môi trường hoạt động Đối với bất kỳ tổ chức kinh tế nào, chiến lược kinh doanh luôn đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của chính tổ chức đó
Quản trị chiến lược là một quá trình thường xuyên, liên tục, đòi hỏi sự tham gia hợp tác của mọi thành viên trong tổ chức Dựa trên cơ sở phân tích môi trường hoạt động của tổ chức kinh tế, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy
cơ được xác định Qua đó chiến lược phát triển hình thành nhằm phát huy những
ưu điểm, hạn chế những nhược điểm, khai thác cơ hội và né tránh nguy cơ nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất
Ngành dệt nhuộm tuy đã hình thành từ lâu, nhưng dệt nhuộm là một ngành công nghiệp vẫn còn khá mới mẽ ở Việt Nam, bởi nó còn nằm trong một quy trình khép kín là ngành dệt may, và hiện vẫn tồn tại sự mất cân đối quá lớn giữa ngành dệt nhuộm và ngành may Do đó, để có thể xây dựng một chiến lược phát triển hiệu quả, bên cạnh những lý luận cơ bản về quản trị chiến lược, cần thiết phải nghiên cứu và nắm rõ bản chất hoạt động của ngành dệt nhuộm, để từ đó có
Trang 17thể vận dụng một cách hợp lý lý luận quản trị chiến lược vào thực tiễn hoạt động của ngành
2.1.1 Giai đoạn trước 1975: Vừa xây dựng vừa chiến đấu
Ở miền Nam công nghiệp dệt nhuộm được xây dựng và phát triển dựa trên các máy móc thiết bị nhập khẩu từ các nước Tây Ââu, sản phẩm phục vụ chủ yếu cho thị trường nôi địa Trong khi đó, công nghiệp dệt nhuộm miền Bắc, các máy móc thiết bị và quy trình công nghệ chủ yếu của Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu sản xuất trong thập niên 1950 – 1960, giai đoạn này gọi là vừa xây dựng, chiến đấu và chi viện cho tiền tuyến Lực lượng sản xuất tăng nhanh với nhiều nhà máy mới được xây dựng Đội ngũ công nhân đông đảo hàng vạn người đã hăng say lao động với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” theo lời kêu gọi của Bác Hồ để tăng nhanh sản lượng hàng hoá nhằm đảm bảo nhu cầu cơ bản về sợi, vải chăn, màn, bông băng y tế cho nhân dân và lực lượng vũ trang Từ phong trào thi đua sản và anh dũng chống chiến tranh phá hoại, nhiều cán bộ, công nhân ngành dệt may đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa
Các doanh nghiệp dệt may Trung ương gồm toàn bộ các doanh nghiệp dệt, may lớn (sau này thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam) đã sản xuất gần 100% sản lượng vải, quần áo, chăn màn, bông băng y tế để cung cấp cho nhân dân theo định lượng và bảo đảm đủ, kịp thời nhu cầu cho các lực lượng vũ trang với hàng tỷ mét vải, hàng trăm triệu bộ quần áo
2.1.2 Từ 1976 – 1990: Xây dựng hoà bình và hợp tác toàn diện với các nước XHCN
Ngành dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt may ở phía Nam và tiếp tục xây dựng nhiều nhà máy lớn trên cả nước như Nhà máy sợi Hà Nội, sợi Vinh, Sợi Huế, sợi Nha Trang, dệt Kim Hoàng Thị Loan…Trong thời gian này, ngoài việc đảm bảo nhu
Trang 18cầu tiêu dùng trong nước, các sản phẩm dệt may được xuất khẩu chủ yếu cho Liên Xô và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa Đông Aâu Máy móc thiết bị và công nghệ dệt nhuộm được đầu tư, trang bị cho phù hợp với nhu cầu mới, tuy nhiên chỉ một phần nhỏ mới đáp ứng được yêu cầu cho đến khi khối thị trường này sụp đổ do sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuối thập niên 1980
Trong các kế hoạch 5 năm (1976 – 1980, 1981 – 1985 và 1986 – 1990), bằng nhiều phong trào thi đua lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ngành dệt may Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc, trước thời hạn, các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao, bảo đảm các nguyên liệu cho sản xuất, vải quần áo, chăn màn… cho tiêu dùng và là đầu mối xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hoá theo nghị định thư hàng năm với các nước xã hội chủ nghĩa, tạo việc làm và đổi về từ 55 –
60 ngàn tấn bông xơ mỗi năm từ Liên Xô
Cho đến năm 1990, ngành đã có quy mô: về dệt có 129 doanh nghiệp Nhà nước, 1979 hợp tác xã và hộ cá thể; về may có 166 doanh nghiệp Nhà nước, 620 hợp tác xã và hộ cá thể Năng lực thiết bị có 860.000 cọc sợi và 2000 rôto, 43.000 máy dệt (kể cả khung dệt thủ công), 60.000 thiết bị và máy may Đã xây dựng 1 Viện công nghệ sợi dệt và 1 Trung tâm nghiên cứu may mặc Toàn ngành có trên 2.000 tiến sĩ, phó tiến sĩ và kỹ sư, công nghệ dệt may
Sản lượng thực hiện cuối năm 1990 đạt 50.000 tấn sợi và hơn 450 triệu mét vải (khổ 0,80m), sản xuất 50 triệu sản phẩm may
So với toàn ngành, Liên hiệp dệt, Tổng công ty dệt và Liên hiệp các xí nghiệp may Việt Nam với 64 doanh nghiệp thành viên hoạt động trên phạm vi cả nước giữ vai trò chủ đạo, thể hiện trên các mặt sau:
- Về các thiết bị kéo sợi chiếm 100%; hơn 11.000 máy dệt các loại, sản xuất trên 80% vải lụa thành phẩm; hơn 60% thiết bị may, sản xuất trên 50 triệu sản phẩm
- Kim ngạch xuất khẩu chiếm 100% (độc quyền Nhà nước)
- Bảo đảm 100% bông xơ và sợi cho toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt, may trong cả nước
2.1.3 Từ 1991 – 1999: Sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN
Thực hiện chương trình đổi mới theo chủ trương mở cửa hòa nhập với kinh tế thế giới của Đảng và Nhà nước, ngành dệt may bắt đầu đổi mới Vì vậy, mặc dù quy mô công suất thiết bị đã tăng lên nhanh chóng trong thời kỳ kế hoạch hoá, nhưng do mới chỉ làm được ra những sản phẩm chất lượng trung bình và thấp nên
Trang 19khi chuyển sang cơ chế thị trường, ngành dệt may Việt Nam đứng trước những khó khăn hết sức gay gắt: Thiết bị công nghệ sợi, nhuộm, hoàn tất (khoảng 50%) cũ kỹ, lạc hậu đã sử dụng 30 – 40 năm (có nhà máy đã sử dụng 50 – 60 năm); Máy dệt
đa phần khổ hẹp, tiêu hao năng lượng và lao động cao; Thiếu vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ và thiếu kỹ năng quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nhưng nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được sự phối hợp của cán bộ, ngành trong việc mở thị trường mới, cùng với tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công nhân, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp thiết bị cũ và đầu tư công nghệ mới để sản xuất ra những sản phẩm theo yêu cầu thị trường Bên cạnh đó, với luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, các xí nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực dệt may Trong vòng 10 năm, có gần 170 dự án với số vốn đăng ký hơn 1600 triệu USD, đã góp phần làm cho ngành dệt may Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng Vì vậy, đến cuối năm 1999, hơn 30% thiết bị dệt và 95% thiết bị may đã được đầu tư bằng thiết bị, công nghệ tiên tiến Công suất kéo sợi đạt 177 ngàn tấn, đã sản xuất gần
100 ngàn tấn, trong đó có các loại sợi chi số cao cho hàng dệt kim và dệt vải cao cấp Tổng sản lượng vải đạt khoảng 500 triệu mét (khổ 0,8m) sản phẩm dệt kim đạt
34 ngàn tấn, khăn bông 10 ngàn tấn, mền chăn 1 triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu
m2, sản phẩm may khoảng 250 triệu sản phẩm may Tổng số lao động sử dụng gần
1 triệu người, trong đó số có trình độ kỹ sư trở lên hơn 3000 người Có 2 viện và 1 trung tâm nghiên cứu, 4 trường đào tạo trung học và công nhân lành nghề Các trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh đều có khoa đào tạo kỹ sư công nghệ sợi, dệt nhuộm
Từ năm 1991 – 1999, ngành dệt may Việt Nam đã có những thay đổi về chất rất quan trọng, từ thiết bị công nghệ đến sản phẩm (nhất là công nghệ may và sản phẩm may) Từ chỗ chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước và thực hiện một phần theo Nghị Định thư với Liên Xô và các nước XHCN Đông Aâu, đầu vào đầu ra do Nhà nước quyết định, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối, từ chọn mua nguyên phụ liệu, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tự định giá mua, giá bán…Đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã thoả mãn một phần nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và có kim ngạch xuất khẩu lớn sang các thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ, Canada…
Thời kỳ 1991 – 1999, toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm Kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ hạng cao trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, chỉ sau dầu thô nhưng dẫn đầu các ngành chế biến xuất khẩu đạt gần 1,7 tỷ USD
Trang 20(năm 1999), gần 2 tỷ USD (năm 2000), trong đó hơn 60% sản phẩm xuất khẩu sang thị trường phi hạn ngạch, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước Tạo việc làm cho gần 1 triệu lao động công nghiệp, chưa kể số lao động sản xuất nguyên liệu, trồng bông, trồng đay, trồng dâu nuôi tằm
2.1.4 Chiến lược tăng tốc ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010
Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt là chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa hướng về xuất khẩu của đất nước, đồng thời phân tích những tiềm năng và cơ hội của ngành dệt may Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt Đề án tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam 2000 – 2010 với các mục tiêu chủ yếu :
Bảng 4: Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị Mục tiêu
năm 2005
Tăng trưởng bình quân
Mục tiêu năm 2010
Tăng trưởng bình quân
Sản phẩm chủ yếu
(Nguồn: Vinatex 2002) Để đạt được những mục tiêu trên, ngành dệt may Việt Nam cần tập trung đầu
tư hiện đại hóa cả chiều sâu lẫn chiều rộng dể vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm, vừa mở rộng sản xuất Mũi nhọn đầu tư là sản phẩm may chất lượng xuất khẩu và nguyên vật liệu cung ứng cho ngành may Song song đó, cần củng cố, đổi mới công tác quản lý sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường
Trang 212.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG NGÀNH DỆT NHUỘM VIỆT NAM 2.2.1 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô có sự ảnh hưởng gián tiếp đến qui mô hoạt động của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành Đối với ngành dệt nhuộm, những yếu tố chủ yếu của môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến ngành được phân tích sau đây dưới hai khía cạnh cơ hội và nguy cơ:
2.2.1.1 Các yếu tố kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 1/2004)
¾ Qua các số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP trong các năm, từ năm 1999 đến năm 2003, cho thấy GDP đã đạt được mức tăng trưởng cao nhất sau
4 năm Mức tăng trưởng kinh tế 7.3% của nước ta vào năm 2003 đã vượt
xa mức độ tăng trưởng chung của thế giới, đồng thời mức tăng trưởng kinh tế Việt nam luôn ở mức độ cao và đều đặn qua những năm gần đây hoàn toàn phù hợp với mục tiêu tăng trưởng năm 2004 là 7,5 – 8%
Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may qua các năm
Trang 22(Nguồn: Bản tin dệt may Việt Nam số 6 –tháng 1/2004 - VITAS)
Kim ngạch xuất khẩu dệt may của cả nước trong năm 2003 đạt trên 3.66
tỉ USD, tăng 33.1% so với năm 2002 đạt xấp xỉ với kim ngạch xuất khẩu dầu thô đã thể hiện nổ lực vượt bậc của ngành dệt may trong năm 2003 Đặc biệt, sau khi Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (USBTA) được ký kết, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,4 tỉ USD Tăng 102,5% so với năm
2002
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự tăng trưởng của ngành dệt may
ở mức hai chỉ số liên tục trong những năm gần đây là một cơ hội to lớn thúc đẩy ngành dệt nhuộm hoàn tất vải phát triển
¾ Trong những năm gần đây, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp tiền tệ-tín dụng thích hợp: thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ; tăng khối lượng tiền cung ứng; tăng tổng phương tiện thanh toán; đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại; chấn chỉnh lại hệ thống quỹ tín dụng nhân dân… đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ và cải thiện tình hình lạm phát Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp vay vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
¾ Thu nhập bình quân đầu người tăng đều trong các năm gần đây dẫn đến nhu cầu của người dân về việc ăn mặc sẽ tăng đáng kể Vì vậy, thị trường các sản phẩm dệt may trong nước được dự đoán sẽ tăng mạnh về số lượng cũng như chủng loại, điều này cho thấy một cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành nâng cao năng lực sản xuất và cung ứng các loại sản phẩm của mình
Nguy cơ:
¾ Xu hướng gia tăng tỉ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và Đô la Mỹ trong những năm vừa qua đã có ảnh hưởng ít nhiều đến tình hình lạm phát trong nước do nhập khẩu tăng, đối với ngành dệt nhuộm nó là một bất lợi trong khi hầu hết các đầu vào của ngành: tơ sợi, thiết bị, công nghệ, hóa
chất… phải nhập khẩu
¾ Đối với thị trường thế giới, Hiệp định Dệt may (ATC) có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam, kể từ 1.1.2005, cạnh tranh thương mại dệt may thế giới sẽ rất khốc liệt và toàn diện, bởi các nước thành viên của WTO đều được bình đẳng từ việc xóa bỏ chế độ hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may Bên cạnh đó việc đưa tới 96% các dòng thuế vào cắt giảm theo lộ trình CEPT/AFTA/GATT từ 1/1/2003 và
Trang 23đàm phán gia nhập WTO đã tạo ra nhiều thách thức đối với hàng dệt may Việt Nam tại các thị trường có hạn ngạch như: Mỹ, EU, Canada…., trong đó có những cường quốc về dệt may: Trung Quốc, Aán Độ, Pakistan, Mehico…
¾ Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mang lại cho ngành dệt may Việt Nam một lượng vốn đầu tư to lớn, chiếm 42% trong tổng số vốn đầu tư của toàn ngành dệt may trong thời gian qua Trong lĩnh vực cung cấp vải, các nhà đầu tư nhận định thị trường vải cho ngành may Việt Nam là hết sức hấp dẫn, tuy vậy vẫn còn nhiều trở ngại từ môi trường đầu tư: yêu cầu quá cao về tiêu chuẩn xử lý nước, giá nước sạch, chi phí điện năng, chi phí hạ tầng cơ sở vẫn còn cao hơn so với các nước trong khu vực… đã làm cho sức hút đầu tư vào ngành dệt nhuộm không cao
2.2.1.2 Các yếu tố chính trị và pháp luật:
Cơ hội:
¾ Một quốc gia thường xuyên có xung đột chính trị giữa các đảng phái hay nội chiến gây ra rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp Những yếu tố này chứa đựng những mầm mống cho sự thay đổi của môi trường kinh doanh Kể từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tình hình chính trị của nước ta vô cùng ổn định Đây là một điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề, ổn định hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình
¾ Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, với chính sách đối ngoại mở cửa và linh hoạt nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia, gia nhập và có vai trò tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới Việc Việt Nam gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nổ lực gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO là bằng chứng về thiện chí của Việt Nam trong xu thế hội nhập khu vực và hội nhập thế giới Ngoài ra, chính sách đối ngoại mở cửa của nước ta đã tạo ra khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính cho phát triển kể cả các khoản vay cũng như viện trợ không hoàn lại Các nguồn vốn này đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội và cải thiện đời sống nhân dân Đây cũng là một cơ hội cho các
doanh nghiệp sử dụng trực tiếp hay gián tiếp các nguồn vốn này
Nguy cơ:
¾ Hệ thống luật pháp chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ, bộ máy quản lý cồng kềnh với các thủ tục hành chính phức tạp, quan liêu
Trang 24gây không ít khó khăn cho các hoạt động kinh tế
2.2.1.3 Các yếu tố văn hoá xã hội:
¾ Dân số nước ta đã vượt con số 80 triệu người, tốc độ gia tăng dân số khoảng 1,4% năm, do đó có thể thấy một thị trường nội địa tiêu thụ sản phẩm dệt may không phải là nhỏ Với tỷ lệ thất nghiệp là trên 6% của lực lượng lao động ở độ tuổi lao động, cộng với giá cả lao động tại nước ta vẫn còn thấp đáng kể so với khu vực và trên thế giới cho thấy nguồn nhân lực cho phát triển ngành dệt may nói chung và ngành dệt nhuộm nói riêng luôn có sẵn, có thể nói đây là một trong những lợi thế đáng kể của ngành
Nguy cơ:
¾ Xu hướng tiêu dùng thị trường trong nước luôn luôn có tình trạng ưa chuộng hàng ngoại nhập, trong khi một số sản phẩm trong nước có chất lượng tương đương hoặc vượt trội phải rất vất vả để tìm chổ đứng trên thị trường
¾ Aùp lực xã hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Dệt nhuộm và hoàn tất vải là một ngành có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao nên đây cũng là một yếu tố có nhiều ảnh hưởng trong việc phát triển ngành
2.2.1.4 Các yếu tố tự nhiên:
Cơ hội:
Việt Nam có các điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu phù hợp để trồng bông như vùng đất Tây nguyên: Gia Lai, Đắc lắc; vùng đất Đông nam bộ: Đồng nai, Bình phước… Nếu khai thác tốt sẽ cho năng suất cao, chất lượng bông tốt đáp ứng nguyên liệu của ngành công nghiệp kéo sợi, dệt vải, thay thế dần bông xơ nhập khẩu
Nguy cơ:
Địa hình đất nước dàn trãi, các địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, điều kiện
Trang 25hạ tầng còn thấp: đường giao thông không thuận tiện,… nên việc vận chuyển, cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm còn khó khăn
2.2.1.5 Các yếu tố công nghệ:
Cơ hội:
Từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực, Việt Nam đã chú trọng và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các công nghệ tiên tiến thay cho công nghệ cũ, lạc hậu, nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao Ngoài ra chú trọng phát triển công ghệ thông tin trong ngành dệt nhuộm được sự quan tâm đáng kể của các doanh nghiệp Việc thiết kế mẫu vải, kiểm soát quá trình sản xuất, dần dần đã được vi tính hóa, tự động hóa Ứng dụng công nghệ thông tin giúp các doanh nghiệp trong ngành giảm chi phí, rút ngắn thời gian thiết kế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cập nhật thông tin mới nhất trong ngành
Nguy cơ:
Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển công nghệ chủ yếu được tài trợ bởi Nhà nước Tuy nhiên, ngân sách Nhà nước vốn rất hạn hẹp, lại bị phân tán dẫn đến chỉ có những khoản ngân sách nhỏ cho những công trình nghiên cứu đơn lẻ, do vậy phần nhiều công nghệ được ứng dụng trong ngành có được nhờ chuyển giao, đầu tư, hợp tác với nước ngoài Với nguồn ngân sách hạn chế như vậy dẫn đến nhiều công nghệ sản xuất vẫn còn lạc hậu so với các nước trong khu vực
2.2.2 Phân tích môi trường vi mô
Các mặt hàng được sản xuất và gia công của ngành dệt nhuộm tương đối đa dạng: vải để may áo sơ mi, quần tây từ sợi: cotton 100%, PES 100% (spun), viscose…, vải dệt thoi phục vụ sinh hoạt: vỏ chăn, áo gối, màn, rèm , khăn trải
Trang 26bàn…, sợi nhuộm màu dùng làm chỉ may, chỉ thêu, vải phục vụ các ngành công nghiệp khác Tuy nhiên sản phẩm chủ lực vẫn là các loại vải may áo sơ mi, quần tây, nên có quá nhiều sự trùng lặp chủng loại sản phẩm giữa các nhà máy, nhưng mức độ hợp tác giữa các nhà máy còn thấp (trao đổi kỹ thuật công nghệ, liên kết đơn hàng, quan hệ với khách hàng…) dẫn đến tình trạng các nhà máy cạnh tranh lẫn nhau ngay trong nội bộ Tổng công ty Vinatex làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, điều này hoàn toàn khác biệt với công nghệ dệt nhuộm trên thế giới, chỉ chuyên môn hóa vào một vài mặt hàng nhất định
Mặt khác có nhiều chủng loại máy móc thiết bị để thực hiện các kỹ thuật công nghệ tương ứng, làm cho công tác quản lý càng phức tạp, và không thể kiểm soát hết trong nội bộ Vinatex, đồng thời không đạt được mức độ chuyên sâu về công nghệ, không hoàn chỉnh về dây chuyền sản xuất Điều này đã làm giảm sức cạnh tranh giữa Vinatex (đối trọng lớn nhất trong ngành dệt may Việt nam) với các thành phần kinh tế khác: các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Đối với thị trường xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới, theo các chuyên gia nhận định khi hạn ngạch dệt may được xóa bỏ hoàn toàn, khu vực Trung và Nam Mỹ mặc dù có lợi thế gần Mỹ hơn nhưng cũng sẽ bị mất lợi thế cạnh tranh vì giá nhân công và các điều kiện sản xuất kém hơn Tây Aâu và Đông Aâu sẽ tiếp tục phát triển nhưng sẽ bị hạn chế vì thị trường EU sẽ mở cho hàng may mặc từ các nước Châu Á Trung Quốc sẽ sẽ vươn lên mạnh mẽ, dự kến 5 năm nữa họ có thể chiếm tới 40% thị phần xuất khẩu hàng dệt may thế giới (hiện tại là 18%) Mặc dù vậy, một số sản phẩm may của Việt Nam được các nhà nhập khẩu trên thế giới nhận định không thua kém một nước nào, mà chất lượng nổi trội hơn Trung Quốc, chẳng hạn như mặt hàng dệt kim (cat 338/339), Việt Nam đang xuất khẩu vào Mỹ mạnh nhất, năng lực cạnh tranh của sản phẩm này có thể nói là đứng đầu thế giới Cản trở lớn nhất đối với vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế vẫn là sự phụ thuộc vào nguyên liệu sản xuất phải nhập khẩu
Trong thời gian sắp tới, để củng cố và nâng cao lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành cần chú trọng hơn nữa nâng cao dây chuyền công nghệ, để tăng năng suất, áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý, áp dụng chuẩn ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 và đầu tư nguồn nhân lực Bên cạnh đó Việt Nam cần tiếp tục hợp tác với các nước ASEAN như: thống nhất quy chế xuất xứ hàng hóa ASEAN để được hưởng quyền lợi như nhau khi xuất khẩu, từ đó nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực
2.2.2.2 Thị trường tiêu thụ:
i) Thị trường trong nước:
Trang 27Các sản phẩm dệt nhuộm chủ yếu được tiêu thụ trong nước Đối tượng tiêu thụ vải thành phẩm trong nước là các công ty may mặc và nhà buôn sỉ và nhà bán lẻ Với một đất nước hơn 80 triệu dân, và GDP đạt mức 600 USD như hiện nay, thị trường cho các sản phẩm dệt nhuộm vẫn còn nhiều tiềm năng Tuy vậy vải, sợi nội địa vẫn chưa thể đáp ứng được thị trường này, nguyên nhân chính là chất lượng sản phẩm không đảm bảo Một khía cạnh khác là, mặc dù Nhà nước có chính sách bảo hộ cho sợi và vải, nhưng rất nhiều doanh nghiệp sản xuất vải phải đối mặt với vấn đề cạnh tranh với hàng nhập khẩu, mà chủ yếu là các sản phẩm vải nhập lậu rất gay gắt Đối với mặt hàng sợi dệt, thuế xuất nhập khẩu là 20%, nhưng các sản phẩm sợi từ Pakistan, Aán độ, Đài Loan vẫn rẽ hơn từ 10 – 15% so với các sản phẩm được sản xuất trong nước, và các quốc gia này đều có văn phòng đại diện thương mại ở Việt Nam Đối với vải thành phẩm, các sản phẩm vải cotton nặng (vải quần kaki, denim) của Hàn Quốc chiếm ưu thế, trong khi đó các loại vải nhẹ PES (vải áo
sơ – mi) thuộc về các sản phẩm của Trung Quốc Kể từ năm 2006, CEPT và AFTA được hoàn tất, và sắp tới là WTO hàng dệt may Việt Nam lại thêm nhiều thử thách trong cạnh tranh với các nguồn hàng khắp nơi trên thế giới Bên cạnh những sản phẩm nhập khẩu chính ngạch, các sản phẩm ngoại nhập lậu, nạn hàng giả, hàng nhái đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường nội địa Tuy vậy, khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước của các doanh nghiệp ngành dệt nhuộm vẫn còn nhiều, bởi vì một số doanh nghiệp đã được công nhận tiêu quản trị chất lượng và môi trường ISO 9002, ISO 1004, và vẫn còn nhiều mảng thị trường khác còn tiềm năng: vải mùng, vải len, thảm, màn che, drap bệnh viện…Điều này đòi hỏi ngành dệt nhuộm phải có các bước thích hợp trong những năm tới để chiếm giữ thị trường nội địa Ngành cần phải tái tổ chức lại hoạt động sản xuất, ứng dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng, thiết lập mạng lưới bán hàng trên cả nước
ii) Thị trường xuất khẩu:
Cho đến trước năm 1986, một số doanh nghiệp trong ngành đã chuẩn bị đầu
tư đổi mới máy móc thiết bị để xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm cho Liên Xô và các nước Đông Aâu, thì đến năm 1990, đã phải đa dạng hóa thị trường đến Nhật Bản và một số nước Châu Aâu do sự sụp đổ hệ thống thị trường của các nước xã hội chủ nghĩa Cho đến trước khi hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ được ký kết, các sản phẩm dệt may Việt nam rất phụ thuộc vào thị trường châu Aâu, năm 1995 số liệu thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 850 triệu USD Hiện nay, các sản phẩm thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam hiện diện trên bốn thị trường chủ lực, trong đó Mỹ, EU, Nhật Bản là những thị trường đòi hỏi khắt khe về mặt chất lượng, theo số liệu thống kê mới nhất của VINATEX, năm 2003, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 3.66 tỉ USD, trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ kim
Trang 28ngạch đạt được là 2,4 tỉ USD, chiếm tỉ lệ 54%, đồng thời, các sản phẩm dệt may Việt nam vẫn duy trì tốt các thị trường cũ là EU và Nhật Bản Đối với ngành dệt nhuộm, vải thành phẩm xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, các nhà sản xuất Việt nam vẫn chưa tạo được các loại hàng hóa có chất lượng cao: cotton 100%, Lycra, spandex, Polyamide, Lông cừu…, ngành hàng chỉ mới ở mức trung bình và thấp
Biểu đồ 4: Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2003
(Nguồn: VITAS DIRECTORY 2003) Phân tích các thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam, nhận thấy thị trường Mỹ là thị trường lớn nhất toàn cầu, rất phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại và chất lượng, số liệu thống kê năm 2000 cho thấy Hoa Kỳ đã chi 72,84
tỉ USD cho nhập khẩu hàng dệt may lớn hơn nhiều so với EU (62,08 tỉ USD), Nhật bản (25.84 tỉ USD) Đối với sợi, đây là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng nhập khẩu sợi chiếm 9%, vải chiếm số lượng là 21% Việt nam chỉ chiếm 0,07% tổng nhập khẩu vào Mỹ, về trị giá, Việt Nam đứng thứ 8 trong số các nước ASEAN (Thái Lan đứng đầu) và thứ 57 trong tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ
EU và Nhật bản có thể gọi là thị trường xuất khẩu chủ lực của hàng dệt may Việt nam khi chuyển từ thị trường các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa Nhật Bản, có nhu cầu tiêu thụ cao và không yêu cầu Quota đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Hiệp định dệt may Việt Nam – EU năm 1998 đã trao cho Việt Nam các
ưu thế lớn hơn và dễ dàng tiếp cận hơn với thị trường này Việc kết nạp thêm 10 thành viên mới của EU vào năm 2004, đồng nghĩa với một thị trường EU được mở
Trang 29rộng, dân số EU sẽ tăng 100 triệu người, nhưng đây không còn là cơ hội tốt cho Việt Nam bởi vì 8 tháng sau khi EU mở rộng, toàn bộ hạn ngạch sẽ được loại bỏ cho các nước thành viên WTO
Tóm lại, lượng và tỉ trọng hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới còn quá nhỏ bé Việt Nam cần phải nổ lực nhiều hơn nữa để có thể khai thác hết thị trường này
2.2.2.3 Các nhà cung cấp nguyên liệu, hóa chất, thiết bị:
Để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp dệt nhuộm phải sử dụng phần lớn nguồn nguyên liệu, hóa chất, máy móc thiết bị nhập khẩu bởi nguồn cung ứng trong nước chưa thể đáp ứng được nhu cầu này
i) Nguyên liệu:
Bông sơ và tơ sợi là các nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ra vải thành phẩm Các nhà máy kéo sợi hiện nay có năng lực sản xuất khoảng 30.000 tấn mỗi năm nhưng vẫn chưa thể đáp ứng nổi nhu cầu này cho ngành dệt nhuộm, nên hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một số lượng lớn sơ sợi, trị giá trị giá hàng trăm triệu USD Ước tính năm 2003, Việt nam đã phải nhập khẩu trên 214.070 tấn sơ sợi các loại với trị giá 293,1 triệu USD, tư các nguồn nhập khẩu chính là các nước: Pakistan, Đài Loan, Aán độ, Thái lan, Indonexia… Tương lai, Nhà nuớc đã có chính sách phát triển diện tích trồng bông, nâng cao năng lực sản xuất bông sợi cotton lên 80.000 tấn/năm vào năm 2010 Bên cạnh đó 2 nhà máy kéo sợi polyester, với công suất 30.000 tấn/năm mỗi nhà máy với chi phí đầu tư khoảng 50 triệu USD sẽ được tiến hành xây dựng trong khoảng 2010
ii) Hóa chất:
Ngành dệt nhuộm sử dụng hóa chất chủ yếu ở công đoạn nhuộm sợi và nhuộm vải Hóa chất nhuộm thực hiện các chức năng công nghệ khác nhau như: xử lý bề mặt vải sợi làm tăng khả năng hấp thu màu, trợ giúp quá trình nhuộm màu… hầu hết các hóa chất trợ nhuộm và toàn bộ các loại thuốc nhuộm vải đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Các nhà cung cấp hóa chất và thuốc nhuộm hàng đầu trên thế giới: Ciba, Dystar, Clariant, BASF… và các công ty, văn phòng đại diện thương mại của các quốc gia khác đều đã có mặt ở Việt nam, làm cho tình hình kinh doanh hóa chất và thuốc nhuộm rất sôi động Nắm bắt nhu cầu phát triển của ngành dệt nhuộm Việt Nam, một số các tập đoàn và các công ty hóa chất lớn đã tiến hành xây dựng nhà máy sản xuất chất trợ ở Việt Nam: Vimin/Đài Loan (Long An), Nicca/Nhật (KCN Nhơn Trạch), Avco/Israel (KCN Nhơn trạch), Deahan/Hàn Quốc (KCN Nhơn Trạch) Tình hình này đưa đến khả năng cung ứng kịp thời nhu cầu sử
Trang 30dụng hóa chất trợ nhuộm ở Việt Nam với chi phí hạ
iii) Máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ:
Ngành dệt nhuộm sử dụng các loại máy móc thiết bị chuyên dùng, phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của mình Các máy móc thiết bị ở các doanh nghiệp miền Bắc, chủ yếu được sản xuất từ thập niên 50 -60, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Aâu, trong khi các máy móc thiết bị ở miền Nam được đầu tư từ các nước Tây Aâu Cho đến nay, nắm bắt nhu cầu đầu tư phát triển của ngành dệt may Việt nam, hầu hết các nhà chế tạo thiết bị nổi tiếng trên thế giới với công nghệ dệt nhuộm tiên tiến đều đã có mặt ở Việt nam: máy đánh ống: Schlahorst, Murata; hệ thống chuẩn bị dệt như hồ sợi, mắc sợi của Beningger; máy dệt kiếm, máy dệt khí của Picanol, Somet; máy dệt kim của Liba, Kark Mayer; hệ thống in nhuộm hoàn tất liên tục của Buser, Monforts, Goeller, Bennigger… và rất nhiều hãng của Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Aán độ, Trung Quốc với giá thiết bị rẽ
2.2.2.4 Vấn đề môi trường:
Mối liên hệ giữa phát triển và ô nhiễm môi trường là vấn đề hiện đang được quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới Cùng với việc phát triển ngành thì việc bảo vệ môi trường cần được quan tâm nhiều hơn vì ngành dệt nhuộm được coi là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường cao, ô nhiễm nguồn không khí và nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân trực tiếp sản xuất, người dân sống trong vùng lân cận
Một thực tế không thể phủ nhận là do đặc thù qui trình công nghệ dệt nhuộm phải sử dụng hóa chất và tiêu hao hóa chất cho một đơn vị sản phẩm cao, tương ứng là một lượng chất thải từ các nguồn tiêu hao đó thải ra môi trường càng lớn, đặc biệt là nguồn nước thải từ các xí nghiệp dệt nhuộm Vì vậy, những vấn đề phát sinh về môi trường trong ngành chủ yếu là vấn đề kiểm soát và xử lý các hóa chất độc hại có trong nước thải, chất thải rắn và khí thải tại các nhà máy dệt nhuộm Hiện nay, kể cả các nhà máy lớn do Nhà nước quản lý, việc xử lý nước thải dệt nhuộm chưa được quan tâm đúng mức Rất nhiều nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không vận hành được Các làng nghề dệt nhuộm đều xả nước thải trực tiếp ra môi trường mà không hề qua bất cứ một công đoạn nào
Để hạn chế và dần dần khắc phục vấn đề trên, Chính phủ đã tăng cường các công cụ pháp lý về môi trường nhằm ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp và cải thiện chất lượng môi trường Cụ thể là trong chiến lược Bảo vệ Môi trường đến năm 2010, có tính đến năm 2020, đã có tính đến việc cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc ISO14001, khu công nghiệp, khu chế xuất phải có hệ thống xử lý nước
Trang 31thải tập trung đạt tiêu chuẩn
2.2.2.5 Các khu quy hoạch, khu công nghiệp dệt nhuộm:
Trong chiến lược phát triển ngành dệt may đến 2010, Chính phủ đã có chủ trương quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp dệt nhuộm, tránh xa các khu dân cư, đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, đồng tiến hành di dời các doanh nghiệp dệt nhuộm trên địa bàn dân cư ra các khu quy hoạch Trong chiến lược phát triển ngành dệt may Việt nam đến năm 2010, Tổng công ty Dệt may Việt Nam đã có kế hoạch đầu tư vào mười khu công nghiệp trọng tâm cho ngành, bao gồm 4 khu công nghiệp ở miền Nam, hai khu công nghiệp
ở miền Trung, và bốn khu công nghiệp ở miền Bắc Mỗi khu công nghiệp sẽ bao gồm nhà máy kéo sợi, nhà máy dệt thoi vải nhẹ, nhà máy dệt thoi vải nặng, nhà máy nhuộm và hoàn tất vải cotton, nhà máy hoàn tất vải tổng hợp, nhà máy dệt kim, nhuộm và hoàn tất vải dệt kim và nhà máy xử lý nước thải theo tiêu chuẩn an toàn môi trường quốc tế Trong đó có một số khu công nghiệp đã được khởi động xây dựng: Khu công nghiệp dệt may Nhơn Trạch với vốn đầu tư lên đến 236 tỉ đồng, do Công ty cổ phần đầu tư Vinatex Tân Tạo là chủ đầu tư; Cụm nhà máy Công ty Dệt - Nhuộm Sơn Trà với tổng kinh phí đầu tư 641 tỉ đồng tại khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng) cũng đang đựoc tiến hành xây dựng
2.2.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Như phân tích ở trên, các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến ngành dệt nhuộm được 04 nhà cán bộ chuyên môn làm việc trong ngành dệt nhuộm đánh giá về tầm quan trọng của chúng đối với ngành Phương pháp thiết lập ma trận này dựa trên phần lý thuyết đã trình bày ở chương I, các phiếu đánh giá được trình bày ở phần phụ lục Đây là công cụ hữu ích phục vụ cho bước định hướng phát triển và xây dựng chiến lược ở phần sau
Bảng5: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài ngành dệt nhuộm
TẦM QUAN TRỌNG
PHÂN LOẠI
ĐIỂM QUAN TRỌNG
TÍNH CHẤT TÁC ĐỘNG
1 Tốc độ tăng trưởng của GDP ổn định ở mức cao trong những năm gần đây 0.10 3.75 0.375 +
3 Xu hướng hội nhập với kinh tế thế giới và kinh tế khu vực 0.10 3.25 0.325 +
4 Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 được phê duyệt 0.10 3.25 0.325 +