1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận hình sự lần 2 Cụm 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI

21 6,2K 89
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không phải mọi hành vi giao cấu thuận tình với người dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội giao cấu hoặcthực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Điều 145

Trang 1

THẢO LUẬN LUẬT HÌNH SỰ - PHẦN CÁC TỘI PHẠM LẦN 2

CỤM 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 140 BLHS về Tội hành hạ người khác

“1 Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Theo quy định trên cho thấy, không phải mọi trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình đều cấu thành Tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 140 BLHS Trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 BLHS thì sẽ cấu thành Tội hành hạ người khác theo Điều 140 BLHS Do đó để xét cấu thành tội phạm này phải là các trường hợp không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 BLHS

21 Mọi hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ đều cấu thành Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS).

Nhận định sai

Không phải mọi hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ đều cấu thành Tội

hiếp dâm (Điều 141 BLHS) Trong trường hợp, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình

trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của

họ mà chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên thì mới cấu thành Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS) Còn trong

trường hợp tội phạm thực hiện hành vi trên với nạn nhân là người dưới 16 tuổi họ sẽ phạm Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142, BLHS)

22 Mọi hành vi dùng thủ đoạn khiến người dưới 16 tuổi lệ thuộc mình phải miễn cưỡng giao cấu đều cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều

144 BLHS.

Trang 2

Nhận định này là sai.

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 144, BLHS Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi:

“1 Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng

lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm”.

Đối tượng tác động của tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi là đối tượng đặc biệt - dưới

16 tuổi nhưng phải đủ 13 tuổi Nên trong trường hợp dùng thủ đoạn khiến người dưới 16 tuổi lệ thuộcmình phải miễn cưỡng giao cấu với mình nhưng người đó lại dưới 13 tuổi thì lúc này hành vi trên sẽkhông cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 mà cấu thành tội hiếp dâm người dướimười sáu tuổi theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS 2015

23 Mọi hành vi giao cấu thuận tình với người dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi giao cấu thuận tình với người dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội giao cấu hoặcthực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS).Hành vi giao cấu thuận tình với người dưới 16 tuổi cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan

hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS) khi chủ thể thực hiện hành

vi giao câu thuận tình với người dưới 16 tuổi là người thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) và đối tượng tácđộng là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Còn trường hợp dưới 13 tuổi (cũng dưới 16 tuổi) mà Người phạm tội có hành vi như trên thì sẽ bị kếttội tại điểm b khoản 1 Điều 142 Tội hiếp dân người dưới 16 tuổi, dù có thuận tình hay không thuậntình

24 Mọi trường hợp giao cấu trái pháp luật là giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.

Nhận định này là sai

Không phải mọi trường hợp giao cấu trái pháp luật chỉ là giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.Trong trường hợp giao cấu thuận tình với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (theo Khoản 1, Điều 145,BLHS) hoặc giao cấu với người dưới 13 tuổi (dù thuận tình hay trái ý muốn) (theo Điểm b, Khoản 1,Điều 142, BLHS) thì vẫn là giai cấu trái pháp luật

25 Mọi trường hợp biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác đều cấu thành Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 BLHS).

Trang 3

Nhận định này là sai.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 quy định về Tội lây truyền HIV cho người khác:

“1 Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ

26 Mọi hành vi mua bán người đều cấu thành Tội mua bán người (Điều 150 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi mua bán người đều cấu thành Tội mua bán người (Điều 150 BLHS) Theo quy định tại Khoản 3, Chương 4, NQ 04/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986, Pháp luật hình sự đã loại trừ đi một số trường hợp mà cha mẹ vì đông con hoặc vì khó khăn đặc biệt mà phải bán con mình (dưới hình thức cho làm con nuôi và nhận một số tiền giúp đỡ) cũng như trường hợp vì hiếm muộn mà mua chính người có con đem bán để về làm con nuôi thì không phạm tội

27 Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS.

Nhận định này là sai

Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản không cấu thành Tội chiếmđoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS Theo quy định tại Điều 153 BLHS, Tội chiếmđoạt người dưới 16 tuổi cấu thành khi có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khácchiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi mà trong hành vi khách quan không

có mục đích nhằm chiếm đọat tài sản Còn hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếmđoạt tài sản sẽ cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169, BLHS)

28 Mọi trường hợp bán con đẻ dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 151 BLHS.

Nhận định này là sai Giải thích như câu 26

Trang 4

29 Mọi hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt đều cấu thành Tội vu khống (Điều 156 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt đều cấu thành Tội vu khống (Điều 156 BLHS) Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 156, BLHS thì hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là dấu hiệu khách quan của Tội Tội vu khống (Điều 156

BLHS) Do vậy, nếu trong trường hợp bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhưng không xúcphạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khácthì sẽ không là dấu hiệu khách quan của Tội Tội vu khống (Điều 156 BLHS)

30 Chỉ có nam giới mới là chủ thể của Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS)

Nhận định này là sai

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 141, BLHS về Tội hiếp dâm:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Theo quy định của BLHS 2015, chủ thể của tội hiếp dâm có thể là nam giới và nữ giới bởi xử lý cả các hành vi quan hệ tình dục khác, đây là các hành vi không bị trói buộc bởi quan điểm về hành vi giao cấu thông thường giữa nam giới và nữ giới Như vậy người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì đều

có thể trở thành chủ thể của tội phạm đối với tội hiếp dâm

31 Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS).

Nhận định này là đúng

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 124, BLHS, người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạchậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đếnhậu quả đứa trẻ chết thì cấu thành Tội vứt bỏ con mới đẻ Do vậy, hậu quả nạn nhân bị tử vong đây làdấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, nếu hậu quả chết người này chưa xảy ra thì chưa cấu thành tộiphạm này

Trang 5

32 Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.

Nhận định này là sai

Căn cứ vào quy định tại Điều 154, BLHS về Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

“1 Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến

07 năm”.

Như vậy, hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác không chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123,BLHS Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác còn cấu thành một tội phạm riêng biệt đó là Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154, BLHS)

33 Hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà làm nạn nhân chết thì không cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS).

- Nếu chủ thể thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật nhưng vô ý với làm nạn nhân chết thì vẫn cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) với tình tiết định khung tăngnặng là làm người bị bắt, giữ, giam chết theo điểm a khoản 3 Điều 157 BLHS

34 Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chỉ là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người.

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chỉ là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người khi nó là dấu hiệu chủ thể của Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) Còn trong trường hợp phạm vào Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377, BLHS) thì hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi của chủ thể đặc biệt - người có chức vụ, quyền hạn mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người

Trang 6

35 Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật không chỉ là dấu hiệu định tội của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS).

Nhận định này là đúng

Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là dấu hiệu định tội của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) khi đối tượng tác động là người từ 16 tuổi trở lên và chủ thể phải là chủ thể thường Trong trường hợp cũng thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều

153, BLHS) hoặc chủ thể là chủ thể đặc biệt - người có chức vụ, quyền hạn mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người thì cấu thành Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377, BLHS)

36 Hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng thì cấu thành Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng thì cấu thành Tộibuộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) Theo quy định tại Khoản 1, Điều 162, BLHS hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các

cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng phải vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì mới cấu thành tội này Do vậy, trong trường hợp có hành vi nêu trên nhưng không vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì không cấu thành tội này

37 Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước.

Nhận định này là sai

Căn cứ vào quy định của Khoản 1, Điều 162, BLHS về Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc

sa thải người lao động trái pháp luật:

Trang 7

“1 Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức;

b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;

c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc”.

Theo quy định của Điều 162, đối tượng của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật không chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước Theo quy định trên, đối tượng của tội phạm này còn là người lao động, tức người lao động làm việc hay không làm việc trong cơ quan nhà nước đều là đối tượng tác động của tội phạm này

38 Chủ thể của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS) phải là người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Nhận định này là sai

Chủ thể của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS) không chỉ là người có thẩmquyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Theo quy định tại Khoản 1, Điều 166, BLHS, có 2 loạichủ thể có thể là chủ thể của tội phạm này:

- Đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩmquyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo thì chủ thể sẽ làngười có chức vụ, quyền hạn

- Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giảiquyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì chủ thể trong trường hợp này cóthể là chủ thể thường

39 Hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo là hành vi khách quan của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS).

Nhận định này là sai

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 166, BLHS về Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo:

“1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo;

Trang 8

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo”.

Theo điểm a khoản 1 Điều 166 nếu là chủ thể thường thì hành vi khách quan của tội phạm này phảinhằm mục đích cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lýngười bị khiếu nại, tố cáo, tức là hành vi này nếu nhằm vào người khiếu nại, tố cáo thì hành vi đó phảixảy ra trong lúc hành động khiếu nại tố cáo đang diễn ra còn hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo làhành vi diễn ra sau khi khiếu nại, tố cáo đã kết thúc nên đây không phải là hành vi khách quan của tộiphạm này

40 Mọi hành vi cưỡng ép kết hôn đều cấu thành Tội cưỡng ép kết hôn được quy định tại Điều

- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợchồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó

42 Chỉ giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mới cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.

Nhận định này là sai

Trang 9

Không phải chỉ hành vi giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mới cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS Theo quy định tại Điều 184, BLHS ngoài hành vi giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ thì còn cấu thành tội này khi giao cấu với người là anh chị em cùngcha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Bên cạnh đó, hành vi giao cấu trên chỉ cấu thành tội này khi người thực hiện hành vi giao cấu biết rõ người đó là người có cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Do vậy, trường hợp giao cấu nhưng không biết rõ người đó cùng dòng máu trực hệ thì không cấu thành Tội này.

43 Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.

Nhận định này là sai

Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ không chỉ là hành vi quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS, mà còn được quy định trong tội phạm khác Đối với người thực hiện hành vi giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ nhưng người đó dưới 13 tuổi thì cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142, BLHS) hoặc người đó

từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì có thể cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dụckhác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145, BLHS)

44 Mọi hành vi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình đều cấu thành Tội hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình đều cấu thành Tội hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS) Theo quy định tại Điều 185, BLHS, hvi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình cấu thành tội phạm này khi thuộc một trong các trường hợp:

- Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

- Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo

II BÀI TẬP:

Trang 10

Bài tập 5: A là đối tượng không có việc làm ổn định, thường uống rượu, gây gổ, đánh nhau và bị cha

mẹ rầy la.

Khoảng 17 giờ 30 phút, sau một chầu nhậu về, A bắt đầu chửi ông Th (bố đẻ của A) với những lời lẽ hết sức hỗn láo: “Ngày trước tao còn nhỏ mày đánh tao, bây giờ tao đã lớn, thằng nào há miệng tao bóp cổ chết tươi” Đúng lúc đó, B (anh ruột của A) đi làm về nghe A chửi cha nên rất bực tức, đã chỉ mặt A răn đe: “Nếu còn hỗn láo với cha mẹ, có ngày tao đánh chết”.

Dù vậy, A vẫn tiếp tục chửi ông Th Thấy A hỗn láo quá mức, không coi lời nói của mình ra gì nên B chạy ngay vào bếp rút con dao lưỡi bầu mũi nhọn (kích thước 25 cm x 7 cm) đâm liên tiếp 4 nhát vào bụng A khiến A gục chết tại chỗ.

Khi định tội cho vụ án có 2 quan điểm:

a B phạm tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 125 BLHS);

b B phạm tội “giết người” (Điều 123 BLHS).

Theo anh (chị), B đã phạm tội gì? Tại sao?

B đã phạm tội Giết người theo Điều 123 BLHS chứ không phải tội giết người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh theo Điều 125 vì ở đây không tồn tại hành vi trái pháp luật nghiệm trọng của A(nạn nhân) ở đây việc A chửi cha mẹ là hành vi vì phạm đạo đức chứ không vi phạm pháp luật nên dù

B có bị lâm vào trang thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi của B cũng không thể cấu thành tội

ở Điều 125

Thêm vào đó Hành vi của B có đầy đủ các dấu hiệu Pháp lý đặc trưng của Tội giết người theo Điều 123,BLHS:

Dấu hiệu

Khách thể - Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của A.

- Đối tượng tác động: A – con người đang sống

Mặt khách

quan

- Hành vi: đã có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, hành vi đó là hành động B cầm dao đâm liên tiếp 4 nhát vào bụng A Thêm vào đó công cụ mà A sử dụng để thực hiện hành vi đâm B là một con dao lưỡi bầu mũi nhọn (25cm x 7cm) - một công cụ có tính sát thương cao Hành động đâm liên tiếp 4 nhát của B cho thấy

độ quyết liệt của mình trong hành động, từ đó ta có thể nhận thấy ý chí của B lúc này

là muốn đâm chết B

- Hậu quả: A tử vong

- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành động B cầm dao đâm liên tiếp

4 nhát vào bụng A là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả A tử vong

Chủ thể B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực

trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định)

Ngày đăng: 07/01/2018, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w