MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thế giới đương đại đang được tái cấu trúc từ chỗ phát triển chủ yếu dựa vào nguồn lực hữu hình phi nhân tạo sang nguồn lực vô hình nhân tạo. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế mới này là kinh tế tri thức. Tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng tăng trưởng và phát triển . Trong nguồn lực con người, nguồn lực của ngành quản lý văn hóa được xem là một thành phần cấu thành của nguồn nhân lực, có tiềm năng chuyển hóa thành vốn con người trong nguồn nhân lực nói chung. Ở Việt Nam mặc dù những năm gần đây, nguồn nhân lực này đã có những khởi sắc mới, những nhân tố mới khẳng định được vị trí của mình trước thương trường xong mới chỉ dừng lại bằng sự "chấp nhận" của xã hội chứ chưa đáp ứng được với nhu cầu xã hội và sự cạnh tranh bình đẳng trong hoạt động đào tạo. Do đó kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn. Sự phát triển ấy không có tính bền vững, không phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Một bộ phận không nhỏ thiếu tính kế thừa liên thế hệ, thiếu vốn sống, chưa được qui nạp kiến thức văn hóa, lịch sử, tri thức khoa học và thiếu năng lực thực tiễn, các phẩm chất cần có của người làm công tác quản lý văn hóa. Trước sự phát triển đó, ngành quản lý văn hóa trở nên cấp bách vì sự phát triển nguồn nhân lực theo chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài". Ngành quản lý văn hóa cần được nhận diện và xử lý một cách thấu đáo, đó chính là giải quyết các mối quan hệ giữa nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Lĩnh vực có tính đặc thù, ngành quản lý văn hóa hướng tới phát triển con người một cách toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ. Với những đặc trưng của ngành dựa trên những chuẩn mực nhất định là công việc khó khăn, cần có thời gian nghiên cứu về nguồn lực, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành của các nhà khoa học, các chuyên gia giàu kinh nghiệm khi tiếp cận với các ngành khoa học như: khoa học quản lý (Management Study), văn hóa học (Culturology), nghệ thuật học biểu diễn (School Performing Arts), tri thức học (Knowlege Study), kinh tế học giáo dục (Ecocnomics of Education)... còn rất mới đối với Việt Nam. Đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa đã có trên 40 năm. Nguồn nhân lực này, được sử dụng chủ yếu trong ngành văn hóa từ trung ương đến cơ sở, một số ít là cán bộ hoạt động phong trào của các đoàn thể chính trị xã hội, một số khác được các doanh nghiệp có hoạt động, sản xuất kinh doanh dịch vụ văn hóa. Đội ngũ này đã được bổ sung vào các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp góp phần nâng cao số lượng, chất lượng nguồn nhân lực tham gia vào công tác quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong cả nước. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, trước đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế với những biến động phức tạp của thế giới thì cơ hội và thức thách đan xen, đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để chủ động và thích nghi với bối cảnh phải đổi mới căn bản việc quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở trường đại học từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và cơ chế quản lý đào tạo. Mục tiêu, nội dung, chương trình, cách thức tổ chức đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở Việt Nam nói chung và ở trường đại học nói riêng vừa chậm được hiện đại, lại thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực. Các chính sách đào tạo chưa thể chế hóa bằng hoạch định chính sách, thể hiện giữa các lĩnh vực đào tạo, từ nội dung chương trình đến phương pháp; giữa hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo. Các cơ sở đào tạo cử nhân ngành QLVH chưa có chính sách đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo đối với người dạy và người học dẫn tới chương trình đào tạo còn mang tính hàn lâm chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu xã hội, từ người học và năng lực cần có của người học. Nhà trường chưa có những chính sách quản lý tốt đầu vào, quá trình đào tạo và đánh giá sản phẩm đầu ra theo hướng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và sự hài lòng của khách hàng. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài "Quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay" là vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa trong trường đại học. 2. Mục đích nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Các luận điểm bảo vệ 6
9 Đóng góp của luận án 6
10 Cấu trúc của luận án 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 20
1.2.1 Đào tạo 20
1.2.2 Quản lý đào tạo 20
1.2.3 Ngành quản lý văn hóa 21
1.2.4 Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội 25
1.3 Đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội 28
Trang 31.3.1 Đặc trưng của đào tạo cử nhân ngành QLVH 28
1.3.2 Các thành tố của quá trình đào tạo ngành Quản lý văn hóa 31
1.3.3 Mối quan hệ giữa đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa và nhu cầu xã hội 33
1.4 Những vấn đề về quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 34
1.4.1 Mô hình CIPO và khả năng ứng dụng trong quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 35
1.4.2 Nội dung quản lý đào tạo ngành QLVH theo mô hình CIPO 40
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đào tạo cử nhân Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội 50
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 50
1.5.2 Các yếu tố khách quan 54
Kết luận chương 1 58
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 59
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 59
2.1.1 Mục đích khảo sát 59
2.1.2 Đối tượng, qui mô khảo sát 60
2.1.3 Phương pháp khảo sát 60
2.1.4 Nội dung, tiến trình khảo sát 61
2.1.5 Cách thức xử lý dữ liệu khảo sát 62
2.2 Khái quát về đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học 62
2.2.1 Khái quát về qui mô phát triển ngành QLVH ở một số trường đại học 62
2.2.2 Qui mô đào tạo 64
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của ngành QLVH 64
2.3 Thực trạng đào tạo ngành QLVH ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội 66
2.3.1 Nhận thức về đào tạo cử nhân ngành QLVH 66
2.3.2 Thực trạng công tác tuyển sinh 66
2.3.3 Thực trạng chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH 67
Trang 42.3.4 Thực trạng về tổ chức đào tạo 70
2.3.5 Thực trạng đánh giá kết quả đào tạo 72
2.3.6 Các điều kiện đảm bảo đào tạo cử nhân ngành QLVH 73
2.3.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo ngành QLVH 79
2.4 Thực trạng quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 83
2.4.1 Thực trạng quản lý đầu vào 83
2.4.2 Thực trạng quản lý quá trình đào tạo 86
2.4.3 Thực trạng quản lý kết quả đầu ra 94
2.4.4 Quản lý môi trường đào tạo 98
2.4.5 Những khó khăn trong quản lý đào tạo 99
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học 102
2.5.1 Những ưu điểm 102
2.5.2 Những hạn chế 103
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 104
Kết luận chương 2 105
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 107
3.1 Định hướng để xây dựng các giải pháp 107
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học hiện nay 107
3.1.2 Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam đến năm 2020 107
3.1.3 Quan điểm đào tạo ngành Quản lý văn hóa của Việt Nam 108
3.2 Nguyên tắc để đề xuất các giải pháp 108
3.2.1 Đảm bảo tính mục tiêu 109
3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn đồng bộ, hệ thống 109
3.2.3 Đảm bảo tính gắn kết giữa đào tạo và sử dụng kết quả đào tạo 110
3.2.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 110
Trang 53.3 Giải pháp quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở trường đại
học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay 110
3.3.1 Tổ chức đánh giá nhu cầu xã hội và xác định chuẩn đầu ra ngành Quản lý văn hóa ở trường đại học 110
3.3.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng thích ứng với yêu cầu xã hội cho ĐNGV ngành quản lý văn hóa 114
3.3.3 Phát triển chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 121
3.3.4 Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo phù hợp với thực tiễn nhà trường và bối cảnh xã hôi 127
3.3.5 Xây dựng cơ chế liên kết đào tạo giữa ngành QLVH và đơn vị sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo 129
3.3.6 Thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo 133
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 136
3.4.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp 136
3.4.2 Đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 137
3.5 Thử nghiệm giải pháp 141
3.5.1 Khái quát về thử nghiệm 141
3.5.2 Kết quả thử nghiệm 144
Kết luận chương 3 153
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 154
1 Kết luận 154
2 Khuyến nghị 155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê đối tượng khảo sát thực trạng 61
Bảng 2.2 Qui mô đào tạo cử nhân đại học hệ chính qui ngành QLVH 64
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của các hoạt động đào tạo 66
Bảng 2.4 Quản lý phương thức tuyển sinh ngành QLVH 67
Bảng 2.5 Nội dung chuyên ngành Quản lý hoạt động văn hóa xã hội 67
Bảng 2.7 Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐNGV 70
Bảng 2.8 Tổ chức dạy học trong đào tạo cử nhân QLVH 71
Bảng 2.9 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học 71
Bảng 2.10 Đánh giá kết quả học tập sinh viên ngành QLVH 72
Bảng 2.11 Đánh giá hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng ĐNGV 75
Bảng 2.12 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo ngành QLVH 77
Bảng 2.13 Đánh giá về hoạt động quản lý học tập và quản lý sinh viên 78
Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng của đến đào tạo ngành QLVH 80
Bảng 2.15 Đánh giá về năng lực tự học của người học 81
Bảng 2.16 Chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH 81
Bảng 2.17 Thiết lập và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở tuyển dụng nhân lực ngành QLVH 82
Bảng 2.18 Phân chia lớp/nhóm sau tuyển sinh 83
Bảng 2.19 Trình độ ĐNGV cơ hữu thuộc cơ sở GDĐH đào tạo ngành QLVH 85
Bảng 2.20 Nội dung chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng 86
Bảng 2.21 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu đào tạo cử nhân ngành QLVH 87
Bảng 2.22 Đánh giá về quản lý phát triển nội dung chương trình đào tạo 89
Bảng 2.23 Tiến hành điều chỉnh chương trình đào tạo 90
Bảng 2.24 Phát triển chương trình đào tạo 90
Bảng 2.25 Đánh giá việc thực hiện qui chế đào tạo của ĐNGV 91
Bảng 2.26 Đánh giá phương pháp dạy học của ĐNGV 92
Bảng 2.27 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo 93
Bảng 2.28 Ý kiến đánh giá về kết quả học tập sinh viên 94
Bảng 2.29 Công tác quản lý tư vấn, giới thiệu việc làm cho sinh viên ngành QLVH 95
Bảng 2.30 Đánh giá mức độ phối hợp giữa nhà trường và cơ sở tuyển dụng trong quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH 96
Trang 8Bảng 2.31 Đổi mới phương pháp ở cơ sở GDĐH đào tạo cử nhân QLVH 97
Bảng 2.32 Đánh giá các phương pháp dạy học của GV đào tạo ngành QLVH 98
Bảng 2.33 Đánh giá lượng kiến thức trong chương trình đào tạo 99
Bảng 2.34 Đánh giá những khó khăn trong việc quản lý đào tạo ngành QLVH 99
Bảng 2.35 Đánh giá mức độ hạn chế của đội ngũ CBQL ngành QLVH 100
Bảng 2.36 Nguyên nhân dẫn đến năng lực tự học của sinh viên QLVH chưa tốt 101
Bảng 3.1 Khung năng lực GV ngành QLVH 115
Bảng 3.2 Đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp 138
Bảng 3.3 Đánh giá mức độ khả thi của các giải pháp 139
Bảng 3.4 Nâng cao kỹ năng thực hiện NVSP của ĐNGV 145
Bảng 3.5 Tổng hợp ý kiến đánh giá thử nghiệm sự phù hợp của việc Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho ĐNGV 146
Bảng 3.6 Hiệu quả nâng cao kỹ năng thực hiện nghiệp vụ sư phạm ĐNGV 146
Bảng 3.7 Hiệu quả bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học 147
Bảng 3.8 Hiệu quả tổ chức thâm nhập thực tế ở cơ sở 147
Bảng 3.9 Hiệu quả Bồi dưỡng, nâng cao trình độ tin học 148
Bảng 3.10 Tổng hợp ý kiến đánh giá thử nghiệm Thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo 149
Bảng 3.11 Thiết lập quản lý thông tin sinh viên sau khi tốt nghiệp và vấn đề việc làm ngành QLVH 150
Bảng 3.12 Đánh giá chất lượng hoạt động sinh viên đã tốt nghiệp ngành QLVH 151
Bảng 3.13 Đánh giá hiệu quả hoạt động sinh viên đã tốt nghiệp ngành QLVH 151
Bảng 3.14 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm thực nghiệm và Việc làm 151
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Hoạt động đào tạo theo mô hình CIPO 36
Sơ đồ 3.1 Quy trình phát triển CTĐT khép kín 122
Sơ đồ 3.2 Qui trình thiết kế nội dung chương trình ĐT theo module nghề nghiệp 124
Sơ dồ 3.3 Phát triển chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội 126
Sơ đồ 3.4 Quản lý trang thiết bị dạy học phục vụ đào tạo cử nhân QLVH 127
Sơ đồ 3.5 Mối liên hệ giữa các giải pháp 137
Trang 10Ở Việt Nam mặc dù những năm gần đây, nguồn nhân lực này đã có những khởi sắc mới, những nhân tố mới khẳng định được vị trí của mình trước thương trường xong mới chỉ dừng lại bằng sự "chấp nhận" của xã hội chứ chưa đáp ứng được với nhu cầu xã hội và sự cạnh tranh bình đẳng trong hoạt động đào tạo Do đó
kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn Sự phát triển ấy không có tính bền vững, không phù hợp với nền kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế Một bộ phận không nhỏ thiếu tính kế thừa liên thế
hệ, thiếu vốn sống, chưa được qui nạp kiến thức văn hóa, lịch sử, tri thức khoa học
và thiếu năng lực thực tiễn, các phẩm chất cần có của người làm công tác quản lý
văn hóa Trước sự phát triển đó, ngành quản lý văn hóa trở nên cấp bách vì sự phát triển nguồn nhân lực theo chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là "nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" Ngành quản lý văn hóa cần được nhận diện
và xử lý một cách thấu đáo, đó chính là giải quyết các mối quan hệ giữa nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Lĩnh vực có tính đặc thù, ngành quản lý văn hóa hướng tới phát triển con người một cách toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ Với những đặc trưng của ngành dựa trên những chuẩn mực nhất định là công việc khó khăn, cần có thời gian nghiên cứu về nguồn lực, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành của các nhà khoa học, các chuyên gia giàu kinh nghiệm khi tiếp cận với
các ngành khoa học như: khoa học quản lý (Management Study), văn hóa học (Culturology), nghệ thuật học biểu diễn (School Performing Arts), tri thức học (Knowlege Study), kinh tế học giáo dục (Ecocnomics of Education) còn rất mới
đối với Việt Nam
Đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa đã có trên 40 năm Nguồn nhân lực này, được sử dụng chủ yếu trong ngành văn hóa từ trung ương đến cơ sở, một số ít
là cán bộ hoạt động phong trào của các đoàn thể chính trị xã hội, một số khác được
Trang 11các doanh nghiệp có hoạt động, sản xuất kinh doanh dịch vụ văn hóa Đội ngũ này
đã được bổ sung vào các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp góp phần nâng cao số lượng, chất lượng nguồn nhân lực tham gia vào công tác quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong cả nước Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, trước đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế với những biến động phức tạp của thế giới thì cơ hội và thức thách đan xen, đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để chủ động và thích nghi với bối cảnh phải đổi mới căn bản việc quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở trường đại học từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và cơ chế quản lý đào tạo
Mục tiêu, nội dung, chương trình, cách thức tổ chức đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở Việt Nam nói chung và ở trường đại học nói riêng vừa chậm được hiện đại, lại thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực Các chính sách đào tạo chưa thể chế hóa bằng hoạch định chính sách, thể hiện giữa các lĩnh vực đào tạo, từ nội dung chương trình đến phương pháp; giữa hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo Các cơ sở đào tạo cử nhân ngành QLVH chưa có chính sách đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo đối với người dạy và người học dẫn tới chương trình đào tạo còn mang tính hàn lâm chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu xã hội, từ người học và năng lực cần có của người học Nhà trường chưa có những chính sách quản lý tốt đầu vào, quá trình đào tạo và đánh giá sản phẩm đầu ra theo hướng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và sự hài lòng của khách hàng
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài "Quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý
văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay" là vấn
đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa trong trường đại học
2 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngành QLVH ở các trường đại học, xác định các giải pháp quản lý đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo ngành QLVH ở trường đại học, góp phần đảm bảo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa đáp ứng được nhu cầu của các cơ sở sử dụng nguồn nhân lực
Trang 123 Khách thể và đối tƣợng
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở các trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội
4 Giả thuyết khoa học
Đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa của nước ta trong những năm qua đã
đáp ứng được phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của của đất nước Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới trong tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa còn bộc lộ không ít những bất cập Nếu xác định được các giải pháp quản lý đào tạo ngành QLVH ở các trường đại học dựa theo mô hình CIPO và thực hiện chúng một cách khoa học phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa, góp phần vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho cả nước
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
5.2 Khảo sát thực tiễn công tác quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở các trường đại học
5.3 Phân tích, đánh giá công tác quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở các trường đại học
5.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở trường đại học
6 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa dựa
vào mô hình CIPO
Giới hạn về khách thể khảo sát: Quá trình nghiên cứu thực tiễn được tiến
hành ở cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên các trường Đại học Văn hóa thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Thanh Hóa Số liệu khảo sát từ năm 2011 đến 2016
Trang 137 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận năng lực: Việc tiếp cận theo năng lực cho phép đánh giá đào tạo ngành quản lý văn hóa so với những năng lực cần có của ngành quản lý văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ đó có giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành quản lý văn hóa trong thời kỳ hội nhập
- Tiếp cận thực tiễn: Để nghiên cứu đánh giá thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH, tìm hiểu các qui định, quá trình quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
- Tiếp cận CIPO: mô hình có những lợi thế, dễ vận dụng để đo đầu vào, đầu
ra, kiểm soát quá trình và phân tích bối cảnh trong đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học
- Tiếp cận qui luật cung cầu: Vận dụng quy luật cung - cầu nhằm xác định năng lực đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học đào tạo cử nhân ngành QLVH với nhu cầu xã hội Từ đó chuyển dịch đào tạo theo cách tiếp cận nguồn cung sang tiếp cận nguồn cung cầu, lấy mục tiêu đầu ra làm đích hướng tới, xác định ngành nghề
và các kỹ năng cần thiết cho người học để sau khi tốt nghiệp có thể thực hiện được yêu cầu về vị trí công việc và có khả năng tìm việc làm Hướng tiếp cận này, để thực hiện việc điều chỉnh, xem xét các mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng một cách lành mạnh và hợp lý
- Tiếp cận nguồn nhân lực: Chính là cơ sở để thiết kế, thực hiện các hoạt động và chiến lược quản lý nguồn nhân lực trong đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa Mục tiêu là phân tích, tổng hợp các cách tiếp cận về nguồn nhân lực của
Trang 14của một tổ chức, đó là các quan điểm nguồn nhân lực hành vi, nguồn nhân lực tiềm năng (vốn con người), nguồn nhân lực tri thức và nguồn nhân lực mối quan hệ Cách phân loại này dựa trên đặc điểm, bản chất của nguồn nhân lực
7.2 Phương pháp nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu, văn bản, sách, báo… các quan điểm lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; phân tích các tài liệu lý luận về giáo dục học, tâm lý học và định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước để xây dựng cơ sở lý luận quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi phương pháp này được thực hiện thông qua hệ
thống phiếu hỏi và phỏng vấn, quan sát để thu thập thông tin, phân tích các dữ liệu thực tiễn về quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu
xã hội
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nghệ sỹ - nhà sư phạm
ở các nhà trường về những vấn đề mà đề tài quan tâm nhằm tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý giáo viên nhà trường, đồng thời có những đánh giá về các giải pháp, khuyến nghị giải pháp quản lý, thu thập và xử lý những đánh giá dự báo bằng cách tập hợp và tham khảo ý kiến các chuyên gia thuộc một số lĩnh vực quản lý văn hóa nghệ thuật, khoa học, kinh tế, xã hội, giáo dục
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: phương pháp này nhằm tổng kết kinh nghiệm về
quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu
xã hội, nhằm thu thập tư liệu thực tiễn về biện pháp quản lý đào tạo ở một số trường đại học trong nước và quốc tế
- Phương pháp thực nghiệm: để đánh giá hiệu quả, sự phù hợp, tính khả thi và tính
thực tiễn, chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đề ra cho đào tạo cử nhân ngành QLVH ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay
7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê
Phương pháp này dùng để xử lý các tài liệu đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu như quan sát, điều tra hay thử nghiệm làm cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy
Trang 158 Các luận điểm bảo vệ
Chất lượng nguồn nhân lực ngành QLVH, không chỉ phụ thuộc vào các thành tố của quá trình đào tạo cũng như hoạt động quản lý đào tạo của trường đại học, mà còn phụ thuộc vào sự gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực được đào tạo
Mô hình CIPO là mô hình vừa nâng cao được chất lượng đào tạo đồng thời đảm bảo cho quá trình đào tạo sát hợp với bối cảnh của thực tiễn, giúp nhà quản lý thực hiện việc quản
lý xuyên suốt quá trình, đầu vào, bối cảnh và đầu ra Vận dụng mô hình CIPO trong quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH ở các trường đại học là phù hợp với thực tiễn ngành đào tạo
Quản lý đào tạo cử nhân QLVH dựa vào mô hình CIPO sẽ mang lại hiệu quả nếu xây dựng và triển khai các giải pháp tập trung vào xác định nhu cầu đào tạo, phát triển chương trình đào tạo và thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực được đào tạo từ các trường
đại học
9 Đóng góp của luận án
- Về lý luận:
+ Xác định được các yếu tố cơ bản đặc trưng cho quản lý hoạt động đào tạo
cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
+ Luận cứ cho việc áp dụng mô hình CIPO trong quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo cử nhân văn hóa ở các trường đại học, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở thực tiễn cho hoạt động quản lý đào tạo nói chung, ngành quản lý văn hóa nói riêng
+ Đề xuất được giải pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa theo hướng ứng dụng, phù hợp với sự đổi mới quản lý giáo dục đại học trong điều kiện hiện nay
+ Kết quả nghiên cứu lý luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu về quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa và là tài liệu cho cán bộ quản lý các cấp, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên nghiên cứu về quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa theo hướng ứng dụng
+ Kết quả nghiên cứu thực tiễn là những bài học kinh nghiệm quí giá trong việc tổ chức hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học, đáp ứng nhu cầu xã hội; Các giải pháp của luận án là những chỉ dẫn cụ thể để cán bộ
Trang 16quản lý giáo dục các cấp, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên vận dụng trong các trường đại học có đào tạo ngành quản lý văn hóa
+ Đối với các nhà quản lý ở địa phương, luận án cung cấp căn cứ luận để hoạch định chính sách góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận
án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa
ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội trong các trường đại học
Chương 3: Giải pháp quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý đào tạo ở các trường đại học được một số nhà nghiên cứu nước ngoài tiếp cận và kinh nghiệm của một số nước gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của
các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhu cầu người học theo những cách tiếp
cận, đánh giá ở nhiều mức độ, công trình nghiên cứu khoa học rất khác nhau, có thể tổng hợp thành các nhóm vấn đề chính liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề
tài này:
- Các nghiên cứu về quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là hoạt động thiết yếu có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng Quản lý đào tạo cũng giống như quản lý các hoạt động khác đều phải tuân thủ những nguyên lý chung, các chức năng chung của quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành phối hợp và kiểm tra kiểm soát Việc nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ngoài nước do các nhà lý luận quốc tế nghiên cứu, có thể kể đến: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Robert J Marzano, Koontz và O Donnell (Mỹ); Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Feter F Drucker (Áo); Max Weber (1864-1920), Đức; công trình tiêu biểu như:
Tác giả Robert J Marzano (2007), viết cuốn sách “The Art and Science of Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” (Nghệ thuật và Khoa học giảng dạy: Một khuôn khổ toàn diện cho hướng dẫn hiệu quả), nghiên cứu chiến lược lớp học dựa trên khoa học và nghiên cứu Nhưng vấn đề là sử dụng tri thức khoa học và kết quả nghiên cứu đó như thế nào Robert J Marzano trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy cân bằng dựa vào nghiên cứu trên dữ liệu với việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học Các nhà giáo dục phải kiểm tra tất cả các thành phần của quá trình giảng dạy để giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể đạt được phản ứng tổng hợp năng động, là kết quả của nghệ thuật và khoa học trong giảng dạy để mang lại thành tích học tập tốt hơn cho người học Trong tác phẩm “The Art and Science of
Trang 18Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” này, Robert J Marzano còn trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy dựa trên việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học Những kinh nghiệm và sự hiểu biết chuyên môn chắc chắn sẽ giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và
kỹ năng của họ, để họ có thể tổng hợp được năng lực, sáng tạo để tạo ra thành tích đặc biệt trong giảng dạy và đào tạo được các học viên xuất sắc [90]
"Những thách thức của quản lý trong thế kỷ thứ XXI", tác giả Feter F Drucker (2003), là một trong những cuốn sách đột phá về các giả định trong quản
lý Cuốn sách đề cập một cách thẳng thắn, logic và sâu sắc tới các vấn đề quản lý vượt qua tầm nhìn của hiện tại, đưa ra những đề tài nóng bỏng của ngày mai Cuốn sách không hẳn đưa ra các giải pháp cho tương lai mà tập trung đưa ra các vấn đề thực tế và đặt ra những câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề đó Sáu chương sách, tác giả
đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ vào xã hội tương lai, đồng thời đưa ra được một loạt các khái niệm mới với tầm quan trọng không thể chối cãi
Cuốn sách có những ý tưởng mới, mang tính cách mạng và có tầm nhìn về các vấn đề quản lý trong tương lai, đưa ra một khái niệm rất mới: “nửa cuộc đời còn lại” Theo phân tích của ông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người các cá nhân có thể sống lâu hơn các tổ chức nơi họ làm việc Điều này sẽ dẫn đến một thách thức hoàn toàn mới mẻ: Bạn sẽ làm gì trong nửa cuộc đời còn lại của mình? Những mô hình đổi mới, tầm quan trọng của xây dựng chiến lược, người dẫn đầu sự thay đổi, những thách thức của thông tin, năng suất lao động của tri thức và tự quản lý bản thân Đây
là những vấn đề nóng bỏng, thách thức của công tác quản lý trong tương lai [86]
Mark Mason (2005), on the In Ternational Forum on Việt Nam Education
“Higher Education Reform and International Integration” - Mark Mason trong Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam với chủ đề: “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” [87], đưa ra “Chiến lược và giải pháp dành cho giáo dục đại học chất lượng và tính cạnh tranh toàn cầu”, tham luận gồm hai phần:
Một là viện dẫn nghiên cứu về những nhân tố được chứng minh làm tăng hiệu quả học tập nhất là để bảo vệ cho luận điểm của tôi là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Hai là nghiên cứu về thuyết phức hợp và đổi mới giáo dục để bảo vệ luận điểm của tôi rằng các nguồn lực nên tập trung vào số lượng hạn chế của cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao làm động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn
Trang 19Từ đó đưa ra kết luận về những vấn đề như: 1) Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm đổi mới giáo dục đại học từ các nước khác; 2) Việt Nam nên rút ra điều gì từ quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học; 3) Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam nên tập trung ưu tiên gì; 4) Chính phủ nên đóng vai trò như thế nào trong quá trình đổi mới
Thực chất vấn đề được giải quyết chính là: đòn bẩy thay đổi quan trọng là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy trong giáo dục đại học và các nguồn lực nên tập trung vào tuyển chọn và duy trì đội ngũ tốt nhất và đào tạo đội ngũ vì mục tiêu này và nguồn lực chỉ nên tập trung vào số lượng hạn chế các cơ sở giáo dục chất lượng cao để động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn [87, tr.209]
UNESCO và ILO hai tổ chức quốc tế khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các module trong đào tạo Tại hội nghị quốc tế về module tại Bangkok (1977) và Paris (1985), các khuyến cáo của UNESCO về sự cẩn thiết triển khai áp dụng module trong đào tạo đã được đặc biệt chú ý Tại Paris, các chuyên gia cho rằng, sử dụng module "là thích hợp và cần thiết trong mọi đối tượng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kỹ thuật mới", đồng thời khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm tới việc đào tạo theo module Cùng với mục tiêu nhằm khuyến khích việc áp dụng module trong giáo dục và đào tạo, cụ thể hơn, trong việc đào tạo giáo viên, các hội nghị khu vực họp tại Malina (5/1975) và tại Bangkok (12/1977) đã đề cập đến "việc phát triển các module phục vụ cho các chương trình
cơ bản của đào tạo giáo viên"
ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh, các quan điểm về đào tạo theo nhóm module về cơ bản không khác với những quan điểm trên tuy nhiên, do chức năng quốc tế, ILO đặt nhiệm vụ "quốc tế hóa" về các module đào tạo và hình thành một ngân hàng gồm 764 đơn nguyên học tập, nhưng cũng chỉ được có 5 lĩnh vực nghề [84] ILO cho rằng một nghề nào đó đều được thể hiện qua các chuẩn kỹ năng nghề, dù nghề đó được xem xét ở bất kỳ quốc gia nào
Sự khác biệt của các chuẩn này không lớn và chúng được đặc trưng bởi hệ thống mục tiêu đào tạo (Aims and Objectives) và các kỹ năng thực hiện (Performance Skills) Chính các chuẩn này là cơ sở để xây dựng các module, đơn vị trung tâm trong các cấu trúc hệ thống đào tạo theo module của ILO
Như vậy có thể khái quát chung quan điểm quản lý của các học giả quốc tế chính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến với đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra Hay nói
Trang 20một cách khác, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
- Các nghiên cứu về văn hóa
Công trình đáng lưu ý trong lĩnh vực văn hóa, phải nói tới tác giả Chris Barker [79], Study Theoretical and Practical Culture (Nghiên cứu Văn hóa lý thuyết
và thực hành), một công trình nghiên cứu công phu, chia làm 3 phần:
Phần 1: Văn hóa và nghiên cứu văn hóa là những hệ thống khái niệm, những dải trí tuệ, vấn đề trung tâm trong nghiên cứu văn hóa và phương pháp luận, được đúc kết từ thực tiễn và kinh nghiệm của các học giả được tác giả trình bày thấu đáo Trong đó đáng lưu ý nhất là văn hóa và hệ tư tưởng; văn hóa ý nghĩa tri thức: bước ngoặt ngôn ngữ; sinh học và văn hóa những vấn đề được thuyết giản hóa luận và tính phức tạp được cắt nghĩa bởi tính khoa học và khả năng tiến hóa Khẳng định vai trò của con người, chủ thể văn hóa
Phần 2: Bối cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa chủ yếu khám phá về thế giới mới trong lính vực kinh tế, công nghệ, giai cấp xã hội, toàn cầu hóa; những chủ thể của thời kỳ hiện đại, tri thức hiện đại và hậu hiện đại, nền văn hóa hậu hiện đại
Phần 3: Bàn luận, viện dẫn và lý giải các vấn đề về tính chủ thể và bản sắc; sắc tộc chủng tộc và dân tộc; tình dục, tính cụ thể và sự thể hiện Trong đó tình dục, giới tính và bản sắc; những cơ thể được đinh giới, đàn ông và nam tính; sự thể hiện
và văn hóa truyền thống được luận giải kỹ lưỡng Ngoài ra truyền hình và phương tiện truyền thông kỹ thuật số cũng được dành một thời lượng đáng kể; những vấn đề
về không gian văn hóa, chính trị văn hóa và chính sách văn hóa là những nghiên cứu sâu về sự phát triển của văn hóa trong sự pha trộn của những mối quan tâm lý thuyết, thực hành nghiên cứu tập trung vào văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc
Công trình được đánh giá là một công trình tốt nhất trong lĩnh vực văn hóa trong giai đoạn hiện nay Cuốn sánh viết công phu, rành mạch, đầy đủ với nhiều thông tin thuyết phục cung cấp cho người đọc những quan điểm hữu ích về lĩnh vực văn hóa
- Nghiên cứu ứng dụng mô hình CIPO
Zhang Jinbao (2009), nghiên cứu mô hình CIPO (Context, Input, Process,
Output/outcome) Mô hình được ứng dụng và sử dụng trong nhiều ngành nghề khác
nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là ứng dụng trong giáo dục nghề nghiệp Tính khả dụng được học giả Zhang Jinbao dùng trong “Khung đánh giá đối với việc sử dụng ICT (I: information; C: communications; T: technology) công nghệ thông tin và
Trang 21truyền thông trong giáo dục: theo mô hình CIPO [95] Tác giả báo cáo chuẩn bị công ước AECT 2009 - Louisville, Kentucky về thông tin và truyền thông được áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc Nghiên cứu đặt lên CIPO mô hình sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục với các tài liệu tham khảo cho hai ý tưởng cốt lõi của CIPP
mô hình, một trong số đó là giới thiệu các mục tiêu vào lĩnh vực thẩm định và đánh giá các mục tiêu hiện tại của mình trước khi quá trình của ngữ cảnh đánh giá, trong khi đó được nhấn mạnh trong việc đánh giá toàn bộ quá trình Dựa vào đó, các nghiên cứu tiếp tục phát triển nó thành một khung phân tích và đánh giá các công nghệ thông tin trong giáo dục Để phát triển công nghệ thông tin trong giáo dục phân tích khuôn khổ dựa trên CIPO mô hình từ các mô hình sáu yếu tố của công nghệ thông tin trong giáo dục Tuy nhiên, tác giả tin tưởng vững chắc rằng khuôn khổ phân tích với bối cảnh chung của phát triển informationization như là điểm khởi đầu quan trọng, "phần cứng", "phần mềm" và "ware tiềm năng" như các yếu tố đầu vào, bốn khía cạnh của việc thúc đẩy "quá trình ứng dụng" như quá trình và thực hiện "cải cách trên ba cấp độ" là đầu ra phản ánh bởi các khung phân tích và đánh giá được trình bày trong đề tài này, sẽ mang lại nguồn cảm hứng mới cho các nhà giáo dục của ICT trong giáo dục như các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, hỗ trợ viên, học viên, IT các nhà sản xuất, sẽ cung cấp hướng dẫn quan trọng cho việc thúc đẩy hiện đại hóa giáo dục của Trung Quốc [95]
- Các nghiên cứu về quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Cộng hòa liên bang Đức: thì đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội có thể hiểu theo hai cách: một là các trường cao đẳng, đại học phải đào tạo đúng ngành nghề mà xã hội có nhu cầu và không đào tạo thừa, vì như thế là gây lãng phí, nhưng đâu là ngành nghề mà xã hội đang cần và cần bao nhiêu? hai là có thể hiểu đáp ứng nhu cầu xã hội là trình độ người học khi tốt nghiệp phải đáp ứng với mong đợi của người sử dụng [35, tr.24]
Điểm khó ở đây là yêu cầu về kỹ năng, tay nghề của các tổ chức, doanh nghiệp khác nhau Nếu đào tạo cho các tổ chức thì về kỹ năng nghề nghiệp cần có cho hoạt động quản lý nhà nước hay sự nghiệp Đào tạo cho doanh nghiệp thì phải
cụ thể là doanh nghiệp cần gì và ở trình độ nào vì trong hoạt động doanh nghiệp có nhiều loại nghề nghiệp và trình độ tay nghề cũng rất khác nhau
Do đó, nhà trường phải xác định đào tạo được những yêu cầu chung nào, chừng mực nào, phần còn lại do nhà sử dụng yêu cầu Mặt khác, sinh viên là yếu tố thứ ba mang tính quyết định Nếu sinh viên xác định được từ nhu cầu xã hội, nhu
Trang 22cầu nơi họ sẽ làm việc sau này thì bản thân họ sẽ tích cực rèn luyện thông qua quá trình đào tạo và tự đào tạo để nhằm thỏa mãn yêu cầu người sử dụng lao động Do
đó ngay từ ban đầu họ định hướng phân loại đối tượng đào tạo, công tác tư vấn nghề nghiệp tại Đức được xem là khâu quan trọng nhất trong quá trình học tập của đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo, nhất là đào tạo nghề Vậy để thực hiện theo tiêu chí "đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội" các hiệp hội dạy nghề tại Đức đưa ra nhiều biện pháp, cần nhiều nguồn lực, hoạch định những chính sách, chủ trương chỉ đạo mang tầm vĩ mô cần có sự hợp tác của các tổ chức, doanh nghiệp và sinh viên với nhà trường Qua nghiên cứu áp dụng mô hình đào tạo "kép" với hình thức liên kết với các doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho họ bằng chính cơ sở vật chất
kỹ thuật, thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp trên nền tảng kiến thức được nhà trường trang bị và tay nghề được nhà máy huấn luyện
Tại Thụy Điển, chương trình đào tạo công nhân được cấu trúc theo trình tự
và nội dung cơ bản của qui trình công nghệ ở xí nghiệp Mỗi nội dung cơ bản được
thể hiện qua các module đào tạo, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và
thực hành nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Điều đặc biệt đáng lưu ý
là việc kết thúc một hay nhiều module phụ thuộc vào nguyện vọng của người học
với sự thỏa thuận của doanh nghiệp và có sự ảnh hưởng đến quyền lợi: mức lương
và thu nhập của một công nhân vì nó là "một chỉ số nói lên trình độ và mức độ toàn
tâm và sẵn sàng vì công việc" của người công nhân [35, tr.25]
Kinh nghiệm của Mỹ: "nguồn nhân lực là trọng tâm của mọi sự phát triển" cho nên để giữ vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học - công nghệ, chiến lược nguồn nhân lực tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài Trong đào tạo nguồn nhân lực, đã xây dựng một hệ thống giáo dục với hai đặc trưng là tính đại chúng và tính khai phóng, hệ thống giáo dục Mỹ đặc biệt coi trọng giáo dục đại học,
ở Mỹ có 4200 trường đại học, cao đẳng đảm bảo cho mọi người dân có nhu cầu đều tham gia vào các chương trình đào tạo cao đẳng, đại học Hệ thống các trường cao đẳng, đại học cộng đồng phát triển mạnh đảm bảo tính đại chúng trong giáo dục đại học hướng vào đào tạo kỹ năng làm việc cho người lao động Tính cạnh tranh giữa các trường đại học là rất khốc liệt, để khẳng định thương hiệu của mình chính là bằng chất lượng giảng dạy Nếu sinh viên vào được các trường đại học danh tiếng
và học giỏi, thì cơ hội tìm kiếm việc làm rất thuận lợi Cùng với việc đầu tư nhiều tiền của ngân sách nhà nước còn huy động được nhiều nguồn lực khác trong xã hội vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Các công ty ở Mỹ rất chú ý phát triển nguồn
Trang 23nhân lực, đào tạo nhân công Năm 1992, chi phí đào tạo là 210 tỷ USD; năm 1995 chi phí đó lên tới 600 tỷ USD, Năm 2000 là trên 800 tỷ USD và đến nay lên tới 1.000 tỷ USD [60, tr.50]
Nhật Bản hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học cũng như trường đào tạo chuyên ngành có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Các cơ sở giáo dục phải tuân thủ theo qui định của Bộ giáo dục Nhằm huy động các nguồn lực đầu
tư cho giáo dục, Chính phủ Nhật khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành hệ thống giáo dục đào tạo trong các công ty, doanh nghiệp Mặt khác Nhật cũng coi trọng việc học tập, tiếp thu các kinh nghiệm, thành tựu về đào tạo nguồn nhân lực của các quốc gia phát triển khác, việc cử người đi học tập nước ngoài được nhà nước chú trọng, khuyến khích, với nhiều nguồn kinh phí khác nhau,
sử dụng kinh phí của nhà nước, người đi học của chủ sử dụng lao động, đối tác nước ngoài khác [60, tr.51]
Ở nhiều nước khác trong khu vực Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin cũng đã áp dụng modunle trong đào tạo để đáp ứng nhu cầu cho người học và nhu cầu cho tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động; qua một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài chứng tỏ những kinh nghiệm và bài học thực tế là rất cần
phải đào tạo theo hướng "cung và cầu" đáp ứng nhu cầu xã hội
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhóm 1: Các nghiên cứu về quản lý đào tạo
"Lý luận đại cương về quản lý", của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), công trình nghiên cứu những vấn đề cơ bản của quản lý nói chung, trong đó đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu chức năng quản lý [14, tr.8]
"Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường" của Đặng quốc Bảo (2007), bàn về vai trò của nhà trường trong việc thực hiện sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế xã hội; nội dung quản lý nhà trường theo luật Giáo dục;
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà trường Việt Nam; kế hoạch phát triển của nhà trường; quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất trong nhà trường; công tác thanh tra, kiểm tra trong nhà trường; thông tin trong quản lý nhà trường; hiệu quả đào tạo trong nhà trường; vai trò của hiệu trưởng trong quản lý nhà trường [4]
"Quản lý chất lượng giáo dục đại học" của Phạm Thành Nghị (2000), đã cung cấp những thông tin thiết thực về các vấn đề liên quan đến kinh nghiệm quản
lý chất lượng trong giáo dục đại học thế giới và đưa ra các khuyến nghị áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng vào giáo dục đại học ở Việt Nam [47]
Trang 24"Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học" của Nguyễn Đức Chính (2002) Đây là công trình nghiên cứu cấp nhà nước, đã tập trung phân tích cơ sở lý luận khoa học về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học Công trình đưa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng trong các trường đại học; cách thức tiến hành và qui trình kiểm định chất lượng của các nước
có nên giáo dục đại học tiên tiến [15]
"Giáo dục Việt Nam - đổi mới và phát triển hiện đại hóa" của các nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2007) thu thập và phân tích những tài liệu về giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn 1986 -2004, những điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục Việt Nam [34]
Trịnh Ngọc Thạch (2008): "Hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học ở Việt Nam" đã trình bày rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục đại học ở một số quốc gia; phân tích một số mô hình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học ở Việt Nam [59]
Nhóm 2: Nghiên cứu về quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Nghiên cứu về đào tạo gắn với nhu cầu xã hội có một số công trình như: Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp, báo cáo tổng kết đề tài Bộ Giáo dục, mã số B91-38-07 của Trần Khánh Đức, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; mở rộng hình thức dạy nghề trong doanh nghiệp của Nguyễn Thị Minh Hiền; đào tạo nghề gắn giữa nhà trường
và doanh nghiệp của Nguyễn Thị Minh Nguyệt; một số giải pháp về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp của Mạc Văn Tiến Những công trình này mới chỉ đề cập đến sự cần thiết phải đào tạo theo hướng cầu để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đồng thời cũng đã nêu ra một số ý tưởng, một số giải pháp
để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà chưa đề ra vấn đề cốt lõi là đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo cũng như tổ chức quá trình đào tạo để thích ứng với đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội
Luận án tiến sỹ của Phan Chính Thức "Những giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH" [62], đề cập đến những biện pháp vĩ mô trong đào tạo nghề như xây dựng chiến lược và chính sách đào tạo nghề trong thời kỳ CNH, HĐH; Luận án "Phương pháp đào tạo nghề gắn với thị trường lao động ở Việt Nam" của Đặng Văn Thành [61], lại chỉ đề cập đến phương
Trang 25pháp đào tạo nghề gắn với thị trường lao động nói chung, chưa bàn về các nhóm nghề nghiệp có tính chất đặc thù, nhóm nghề có tính chất chuyên biệt
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, được Bộ Giáo dục và Đào tạo khởi xướng
học giả Bành Tiến Long, đánh giá: “Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam - thực
trạng và giải pháp” [45], nhằm tìm sự động bộ giữa nhà trường với thị trường lao
động và đưa ra một số một số định hướng và các giải pháp về đào tạo theo nhu cầu
xã hội như:
- Thành lập cơ quan dự báo nhu cầu xã hội
- Xây dựng cơ chế chính sách năng động để thực hiện đào tạo theo nhu cầu
xã hội
- Tăng cường cơ chế hợp tác giữa nhà trường và nhà tuyển dụng
- Phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
- Xây dựng danh mục nghề và các tiêu chuẩn nghề nghiệp
- Kiểm định và đánh giá năng lực nghề nghiệp
Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo quốc gia ở hai khu vực
Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh "Sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu
doanh nghiệp" [8], đã đi đến kết luận: “đào tạo theo nhu cầu xã hội cần một tam giác” gồm sinh viên, nhà trường, doanh nghiệp cấu thành, mới có thể đáp ứng được đào tạo theo nhu cầu xã hội Từ đó tới nay, nhiều cơ sở GDĐH đã tổ chức các hội thảo về đào tạo theo nhu cầu nhu cầu xã hội như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh các cuộc hội thảo đó đã chỉ ra sự yếu kém của sinh viên hiện nay về kỹ năng, về thực hành và đào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội phải bắt đầu từ nhận thức
Như vậy, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đang là vấn đề bức thiết ở nước ta hiện nay, đang cần có giải pháp cụ thể cho từng ngành từng lĩnh vực, đòi hỏi các nghiên cứu ứng dụng có tính khả thi để giải quyết vấn đề nêu trên
Nhóm 3: Nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa
Khi nghiên cứu về vấn đề này, có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc cạnh khác nhau, từ bậc đào tạo trung cấp đến cao đẳng và đại học Tiêu biểu
luận án tiến sỹ của Vũ Dương Dũng, nghiên cứu về "Phát triển đội ngũ giảng viên
Múa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế " [21], cắt nghĩa một cách rõ ràng
về luận cứ khoa học giáo dục trong hoạt động đào tạo nghệ thuật múa ở nước ta hiện nay, đánh giá thực trạng và bảy giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo nghệ thuật múa của Việt Nam Những giải pháp này là thành phần của một
Trang 26hệ thống nhất, quan hệ hữu cơ với nhau, tương tác lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong công tác phát triển ĐNGV Trong những giải pháp đó, việc xây dựng khung năng lực nghề nghiệp GV múa là giải pháp giữ vai trò tiền đề, làm cơ sở, căn cứ cho các giải pháp khác Bởi vì, khung năng lực nghề nghiệp là căn cứ để quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đãi ngộ ĐNGV Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ GV là giải pháp then chốt, quyết định chất lượng ĐNGV, bởi vì thông qua đào tạo, bồi dưỡng tri thức của GV mới được gia tăng một cách toàn diện, hệ thống, có chủ đích và đạt được khung năng lực nghề nghiệp GV Các giải pháp còn lại sẽ là cơ sở để thực hiện công tác phát triển ĐNGV múa hiệu quả
và khả thi; Nguyễn Thị Bích Lợi nghiên cứu "Luận cứ khoa học của phát triển đào
tạo sư phạm nghệ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta" [44], đã góp
phần hoàn thiện cơ sở lý luận về giáo dục toàn diện học sinh phổ thông và phát triển giáo viên sư phạm nghệ thuật; phân tích đánh giá thực trạng đào tạo giáo viên nghệ thuật trong các trường đại học, cao đẳng sư phạm trên toàn quốc; đưa ra phương hướng và tám giải pháp về đổi mới tư duy, phát triển chiến lược, tăng cường mạng lưới và các điều kiện khác nhằm phát triển đào tạo giáo viên nghệ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo giáo viên sư phạm nghệ thuật trên phạm vi toàn quốc
Về các diễn đàn khoa học mang tính chất định hướng Từ năm 1998 đến nay
đã có nhiều cuộc hội thảo qui mô toàn quốc do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức nhằm định hướng phát triển công tác đào tạo và bàn về những vấn đề liên quan đến hoạt động đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội (tháng 8/1998) Hội thảo lần thứ hai được tổ chức tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2000) Hội thảo lần thứ ba được tổ chức tại trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế (tháng 3/2002) Hội thảo lần thứ tư được tổ chức tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2005) Hội thảo lần thứ năm tại Đà Lạt (tháng 6/2010) Hội thảo lần thứ 6 tại Thừa Thiên - Huế (tháng 4/2012) và hội thảo lần thứ 7 tại thành phố Hồ Chí Minh (tháng 7/2016) với chủ đề: “Nâng cao chất lượng đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch theo hướng chuẩn quốc gia và khu vực”
Tại các cuộc hội thảo lần thứ 7 này, đã có nhiều học giả đề cập đến việc tổ chức, đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật Các học giả đã đi vào từng lĩnh vực riêng lẻ của hoạt động quản lý công tác
Trang 27đào tạo, học giả Ngô Văn Thành (Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) [12, tr.20], đánh giá: đến nay cả nước chỉ còn vài nhạc viện lớn vẫn kiên trì duy trì việc đào tạo tài năng ở một số môn nghệ thuật nhất định Hầu hết quy mô đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp bị thu hẹp dần, chỉ còn được duy trì một cách “đối phó”, khiến cho chất lượng nguồn nhân lực cũng suy giảm dần Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cũng rất lúng túng khi bị chi phối bởi cơ chế thị trường, hoặc “bất đắc dĩ” chạy theo
cơ chế thị trường, không có cơ chế tự chủ rõ ràng để có thể mạnh dạn xây dựng những khung chương trình theo chuẩn quốc tế Hầu hết các đơn vị không thể kiểm định được chất lượng đào tạo và gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định những tiêu chí chuẩn về nội dung, quy trình, phương pháp và mục đích của quá trình đào tạo; Trần Thanh Hiệp (trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội) [12, tr.24], cho rằng: "đào tạo nhân lực điện ảnh truyền hình có khả năng hội nhập quốc tế, hướng tới chuẩn quốc tế thực tế là nhu cầu sống còn của sự phát triển điện ảnh dân tộc hiện nay Tuy nhiên, nhìn vào một số chương trình đào tạo nhân lực điện ảnh hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, nhiều chương trình khi giới thiệu với bạn bè quốc tế họ không hiểu Bởi trong chương trình đào tạo có môn học cũng được và không học cũng không sao Có môn học mang tính bổ túc, đáng lý ra kiến thức đó phải có trước khi vào đại học hoặc là môn ngoại khóa Có môn học ví như khi chiếc ghế gỗ
kê cho sinh viên cao lên, nhưng khi sinh viên ra trường, ghế một đằng, người một nẻo, chiều cao cử nhân nghệ thuật vẫn thế Các môn học giáo dục chuyên nghiệp thời lượng ít… Do đó, cần phải có đổi mới chương trình đào tạo cho ngành này"; Nguyễn Xuân Tiên (trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) [12, tr.68] đưa ra quan điểm về đào tạo: Muốn đào tạo nhân lực cho ngành văn hóa thể thao và
du lịch, mỗi trường cần khai thác thế mạnh của mình để tập trung đào tạo theo hướng tốt nhất, mỗi trường có thể hình thành xưởng sản xuất, cơ sở thực hành cụ thể cho sinh viên, tăng kĩ năng và hoạt động thực tế cho sinh viên trước khi ra trường Đội ngũ giảng viên cũng cần phải có tiêu chuẩn nhưng nếu cứ quy định chỉ
có giáo sư, tiến sỹ mới được giảng dạy thì rất khó có đủ nguồn giảng viên Thực tế,
có những người có tay nghề giỏi nếu được giảng dạy cũng sẽ cho ra những sinh viên tốt Ngoài ra, các trường đào tạo cần xây dựng chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra chặt chẽ thì mới có thể kết nối với doanh nghiệp, sinh viên mới không lo thất nghiệp; Nguyễn Văn Cương (trường Đại học Văn hóa Hà Nội) với tham luận
"Những vấn đề đặt ra từ thực tế công tác tuyển sinh và tốt nghiệp của trường Đại học Văn hóa Hà Nội" [12, tr.101], đánh giá thực trạng công tác tuyển sinh năng
Trang 28khiếu văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2006 - 2016 trong bảng so sánh chất lượng tuyển sinh năm 2006 thì tỷ lệ 8 người chọn 1 người, đến 2011 chỉ có 2 người chọn 1 người và năm 2014 thì chỉ có 1,2 người chọn 1 người, đến nay không còn sự canh tranh trong tuyển sinh nữa Như vậy đào tạo theo đặc thù năng khiếu văn hóa nghệ thuật ngay từ chất lượng đầu vào đã không có sự cạnh tranh như mong muốn thì chất lượng đào tạo chắc sẽ không cao Từ thực trang đó, tác giả đã đưa ra năm giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo gồm có: đề xuất phương án tự chủ trong công tác tuyển sinh của khối văn hóa nghệ thuật; xây dựng qui chế về chế độ hỗ trợ sinh viên ngành học văn hóa nghệ thuật; xây dựng đề án tổ chức đào tạo theo địa chỉ; đào tạo liên thông trong khối văn hóa nghệ thuật và đề nghị được nhà nước hỗ trợ kinh phí cho đào tạo ngành văn hóa nghệ thuật, tác giả cho là ngành đặc thù; Lâm Nhân (trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh) với tham luận “Đào tạo sau đại học ngành QLVH theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp - thời cơ và thách thức” [12, tr.30] đánh giá chương trình đào tạo: Ngay sau khi có thông tư 15 của Bộ GD&ĐT, khoa sau đại học đã tiến hành biên soạn lại chương trình đào tạo thạc sỹ ngành QLVH theo định hướng nghiên cứu 2 năm, thời lượng 60 tín chỉ; 3 học kỳ đầu là các môn cơ sở ngành, học kỳ 3 tổ chức bảo vệ đề cương nghiên cứu, phân công GV hướng dẫn Học viên có thời gian 12 tháng để hoàn thành luận văn Trong quá trình đào tạo, có đan xen thực tế đánh giá các hoạt động văn hóa tại cơ
sở Phần giảng dạy, kết hợp mời chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước giảng dạy về lý thuyết, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu cho các học viên Tạo điều kiện cho học viên tham gia nghiên cứu khoa học, đề án, dự án về lĩnh vực VHNT của các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội và doanh nghiệp
Đánh giá chung: Phần tổng quan đã nghiên cứu những nhóm vấn đề về quán
lý nói chung và quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa nói riêng, mô hình đào tạo
và đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Những vấn đề nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và trong nước, là những kinh nghiệm quí báu, dẫn đường cho việc nghiên cứu vấn đề về quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học Bên cạnh đó, một số diễn đàn khoa học cấp Bộ được tổ chức, nhiều học giả đề cập đến việc nâng cao chất lượng đào tạo, bằng một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành văn hóa Nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nhận định, đánh giá vấn đề còn bất cập, một số biện pháp được đề xuất chỉ mang tính chất tình thế,
mà chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường Đại học
Trang 291.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Đào tạo
- Theo UNESCO, đào tạo là những hoạt động tập trung vào kiến thức, kỹ năng và thái độ của một ngành nghề đòi hỏi đòi hỏi hoặc là để cải tiến công việc hoặc nhiệm vụ đang thực hiện gần đây [92]
- Theo Trần Kim Dung, "Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn" [20]
- Theo Nguyễn Minh Đường, "Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả" [29]
Từ điển Việt Nam trên trang Web Wikipedia định nghĩa: Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [96]
Như vậy, khái niệm tác giả sử dụng trong luận án: đào tạo là hoạt động
truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống, được tổ chức và quản lý với nhiều cấp độ khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu đào tạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tổ chức cũng như của xã hội
1.2.2 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo trong nhà trường có nội dung hẹp hơn so với quản lý giáo dục, nhưng tương đồng với quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp Tức là quản lý giáo dục có trường lớp, có chương trình, có người dạy và người học xác định diễn ra trong nhà trường cụ thể
Quản lý đào tạo rộng hơn so với quản lý dạy - học Quản lý dạy - học là nội dung trọng tâm của quản lý đào tạo, song quản lý đào tạo trong nhà trường còn bao gồm nhiều các yếu tố khác như: quản lý yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra; quản lý đào
Trang 30tạo trong nhà trường có quan hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của quản lý nhà nước
về đào tạo
Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý đào tạo, theo tác giả: Quản lý đào
tạo là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
có đào tạo, qua các phương thức, phương tiện, các khâu ở các cấp độ khác nhau cũng như qui trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Mục tiêu của quản lý
đào tạo trước hết và trên hết là chất lượng đào tạo toàn diện với các tiêu chuẩn về nhận thức, năng lực và phẩm chất theo yêu cầu của chuẩn đầu ra hay mục tiêu đào tạo đã được xác định cho từng ngành, từng hệ đào tạo
1.2.3 Ngành quản lý văn hóa
Bắt đầu từ những năm 1970, các tổ chức liên chính phủ gồm có: Liên hợp quốc, UNESCO và Liên minh Châu Âu, có những hoạt động quốc tế nhằm đề cao vai trò của văn hóa trong phát triển Hội nghi liên Chính phủ về "Chính sách văn hóa vì sự phát triển" tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) vào tháng 3/1978 là cột mốc quan trọng đánh dấu về sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu chính sách văn hóa quốc gia Hội nghị nhất trí đưa ra 5 mục tiêu trong chính sách văn hóa vì sự phát
triển gồm: thứ nhất, đưa chính sách văn hóa trở thành một trong những thành tố cấu
thành trong chính sách phát triển chung của quốc gia Trong mục tiêu này, người ta nhấn mạnh đến việc sử dụng văn hóa để để giải quyết các thách thức trong quá trình
đô thị hóa, toàn cầu hóa và những thay đổi công nghệ; thứ hai, chính sách văn hóa
phải thúc đẩy sức sáng tạo, bảo đảm tính đa dạng và sự tham gia bình đẳng của tất
cả mọi người trong quá trình sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa; thứ ba, xây
dựng hệ thống chính sách nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa; thứ
tư, xây dựng hệ thống chính sách văn hóa nhằm thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và
ngôn ngữ trong một xã hội thông tin toàn cầu; đảm bảo sự phát triển văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số và đảm bảo vai trò của truyền thông trong việc góp
phần xây dựng, phổ biến và phát triển văn hóa; thứ năm, các Chính phủ cam kết
tăng cường các nguồn lực về con người và tài chính cho văn hóa [31, tr.11]
Có thể nói, những mục tiêu cơ bản trên đây là những quan điểm chung được các nước đồng tình chấp thuận trong quá trình nghiên cứu, vận dụng để xây dựng và hoàn thiện chính sách QLVH của mỗi quốc gia
Trang 311.2.3.1 Khái niệm văn hóa
Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Hệ thống lý thuyết về văn hóa cũng vô cùng đa dạng với nhiều trường phái và học thuyết khác nhau
- Nhà nhân học Anh, E.B Tylor (Anh), định nghĩa về văn hóa như một đối tượng nghiên cứu khoa học trong công trình "văn hóa nguyên thủy" xuất bản tại London, năm 1871, cho rằng: văn hóa gồm tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen
mà con người đạt được trong xã hội [31, tr.17]
- Văn hóa học Mác-xít, đặc biệt là văn hóa học Xô viết đã kế thừa những quan điểm tiến bộ trong văn hóa học phương Tây vào các thập kỷ 60 - 80 của thế kỷ
XX, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nhà khoa học thuộc trường phái này đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về văn hóa với ba hướng tiếp cận chủ yếu: một là hướng tiếp cận giá trị xem xét văn hóa như tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được con người sáng tạo ra khác với tự nhiên; hai là hướng tiếp cận nhân cách xem văn hóa như một phạm trù, một thuộc tính của nhân cách Văn hóa hướng vào việc phát triển những năng lực người, bộc lộ trình độ phát triển của con người; ba là hướng tiếp cận hoạt động lại khẳng định hoạt động chứ không phải là những giá trị được coi là yếu tố cơ bản của văn hóa [31, tr.20]
Ngoài những trường phái lý thuyết để khuôn định nội hàm khái niệm văn hóa, chúng ta còn thấy nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này Một trong những khái niệm thường được đề cập nhiều nhất ở nước ta là khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loại người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" [42, t.3, tr.458]
UNESCO đã đưa ra định nghĩa: "Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động đó hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu, những yếu tố xác định đặc tính riêng của dân tộc" [31, tr.21]
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, để tránh sa đà vào tranh luận, khái niệm văn hóa được hiểu theo hai cách như sau:
Trang 32Theo nghĩa rộng văn hóa bao gồm 8 lĩnh vực (NQTW 5 năm 1998 của Đảng
đã nêu) gồm có: các lĩnh vực giáo dục, khoa học, tín ngưỡng tôn giáo, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật
Theo nghĩa hẹp, văn hóa bao gồm các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch gồm quản lý nhà nước về văn hóa, quản
lý sự nghiệp văn hóa
Theo tác giả, Văn hóa chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do
loài người sáng tạo ra, trong quá khứ và hiện tại để phục vụ sự tồn tại, phát triển
xã hội và là tấm căn cước để nhận diện dân tộc này với dân tộc khác Bản chất của văn hóa là sự sáng tạo nên hệ thống giá trị, tinh hoa của con người, phục vụ cho con người Về mặt thực tiễn, văn hóa thể hiện trong toàn bộ hoạt động sống của con người, từ hoạt động sản xuất vật chất đến hoạt động tinh thần, phản ánh kiểu lựa chọn sáng tạo của cá nhân và cộng đồng
1.2.3.2 Quản lý văn hóa
Theo cách hiểu thông thường, QLVH là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triển
kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các
cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân ) [31, tr.21]
QLVH bao gồm:
- Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức ), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức QLVH (thể hiện trong Hiến pháp, các văn kiện chính thức của Đảng, chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ)
- Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng QLVH từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực
- Cơ chế phối hợp liên ngành (Ban, Bộ, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự )
- Hệ thống pháp luật (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Văn bản hướng dẫn, Qui chế, Qui tắc, Qui định )
Trang 33- Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc ) và theo địa bàn lãnh thổ (trung ương - địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước ) Cần lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực (đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa
- Công tác giám sát kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm
Đối với quản lý văn hóa Việt Nam, có tính chất đặc thù theo cơ chế: đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ (đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối; nhà nước quản lý bằng chính sách, pháp luật; nhân dân làm chủ thông qua dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng vì vậy theo tác giả: Quản lý
văn hóa Việt Nam chính là việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đến với toàn thể đời sống văn hóa và hoạt động văn hóa nhằm đạt được mục tiêu xây dưng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội
1.2.3.3 Ngành khoa học Quản lý văn hóa
Là một ngành đào tạo chuyên môn về lĩnh vực QLVH (trước đây gọi là ngành văn hóa quần chúng), mã số 52220342 theo thông tư số 14/2010 TT-BGDĐT ngày 27/04/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [10], Ngành QLVH đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong hoạt động văn hóa trên phạm vi cả nước Bao gồm: Quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, quảng bá, xuất bản, dịch vụ văn hóa công cộng, thiết chế văn hóa (do chính phủ qui đinh) và tổ chức các hoạt động của
sự nghiệp văn hóa như: đào tạo bồi dưỡng, sáng tác, biểu diễn, quản lý tốt tài sản, cơ sở vật chất và các phương tiện chuyên dùng, kinh doanh các dịch vụ văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân
Chương trình đào tạo đảm bảo tính khoa học dựa vào ba tiêu chí cơ bản sau:
- Ngành QLVH là ngành khoa học thực hành;
- Chương trình đào tạo phải chuẩn hóa;
- Gắn liền với công nghệ thông tin và trang thiết bị hiện đại
Ngành khoa học thực hành trong chương trình đào tạo phải đảm bảo: kiến thức đại cương (phần lý luận chính trị; khoa học xã hội - nhân văn - nghệ thuật) và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (cơ sở ngành; kiến thức ngành và chuyên ngành)
Trang 34Chương trình đào tạo phải chuẩn hóa Trước hết phải chuẩn hóa các thuật ngữ trong các môn học của ngành đào tạo QLVH, sử dụng những thuật ngữ QLVH tiếng Việt chuẩn hóa sang tiếng Anh tương đương để đảm bảo tính khoa học Trong quá trình thiết kế các môn học cần cân đối lại các môn học cho phù hợp, đảm bảo cho người học tích lũy được kiến thức thức cơ bản của ngành học với phương châm
"đa năng nhất chuyên" (biết nhiều nghề giỏi một nghề), thuộc phần kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành, kiến thức chuyên ngành phải hợp lý, có tính liên thông với nhau, bổ trợ cho nhau, tránh trùng lặp Đồng thời nên tạo cho người học có thể học được ngành có tính chuyên sâu, phù hợp với sở trường, năng lực và năng khiếu của từng sinh viên
Chương trình đào tạo gắn liền với công nghệ thông tin và vận hành sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, QLVH là một ngành khoa học gắn liền với công nghệ thông tin và phương tiện tiện ích của thiết bị công nghệ hiện đại như: sử dụng
có hiệu quả mạng Internet; tính năng máy vi tính; website; thiết bị điện tử (âm nhạc, ánh sáng, âm thanh, hình ảnh, thiết bị sân khấu, truyền thông đa phương tiện…bằng công nghệ mới)
Theo tác giả: Ngành khoa học Quản lý văn hóa là ngành vận dụng được
chương trình đào tạo đảm bảo kiến thức đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, bởi tính khoa học thực hành, yêu cầu chuẩn đầu ra và gắn liền với công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại theo xu thế phát triển của xã hội
1.2.4 Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
1.2.4.1 Lý thuyết cung cầu
Qui luật cung cầu: thường gặp trong kinh tế học, là mối quan hệ trao đổi Cầu của hàng hóa hay dịch vụ mô tả số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêu dùng sẽ mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Ngược lại cung của một hàng hóa hoặc dịch vụ là lượng hàng hóa hay dịch vụ người sản xuất sẽ cung ứng ở các mức giá khác nhau tại một thời điểm cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi [96]
Khi giá một mặt hàng tăng lên thì lượng cung mặt hàng đó cũng tăng lên (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) và ngược lại Nguyên lý cung - cầu, hay quy luật cung cầu, cho rằng thông qua sự điều chỉnh của thị trường, một mức giá cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượng giao dịch hàng cân bằng sẽ được xác định Mức giá và lượng hàng đó tương ứng với giao điểm của đường cung
và đường cầu Trạng thái cân bằng của một mặt hàng như thế gọi là cân bằng bộ
Trang 35phận Khi đạt trạng thái cân bằng của cùng lúc tất cả các mặt hàng, kinh tế học gọi
đó là cân bằng tổng thể hay cân bằng chung Ở trạng thái cân bằng, sẽ không có dư cung (lượng cung lớn hơn lượng cầu) hay dư cầu (lượng cầu lớn hơn lượng cung)
Áp dụng qui luật cung cầu trong quản lý đào tạo ngành QLVH thì nguồn cung ở đây chính là cơ sở GDĐH, cung cấp sản phẩm sau đào tạo, sản phẩm này được cạnh tranh tranh bình đẳng sẽ tạo ra thị trường Nguồn cầu, chính là cơ quan
sử dụng nguồn nhân lực ngành QLVH bao gồm cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cá nhân có sử dụng lao động ngành QLVH Giữa cung và cầu có mối quan hệ mất thiết với nhau, tác động lẫn nhau cùng phát triển
1.2.4.2 Nhu cầu xã hội về đào tạo
Hiện nay, khái niệm nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và chưa đi đến thống nhất Có quan điểm cho rằng đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: đào tạo theo yêu cầu của nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu cầu của người học và cả nhu cầu của phụ huynh học sinh Song cũng có quan điểm cho rằng, đào tạo theo nhu cầu là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn, đào tạo đáp ứng ngay nhu cầu trước mắt Cũng có quan điểm khác cho rằng nhu cầu cầu xã hội là nhu cầu của người học Khách hàng quan trọng nhất của nhà trường là người học, có người học nhà trường mới tồn tại Hiện nay, có rất nhiều người muốn đi học, nhất là học đại học nên phải mở rộng hình thức, loại hình đào tạo, xây dựng thêm hệ thống các trường đại học, để đáp ứng nhu cầu xã hội
Theo tác giả: Nhu cầu xã hội là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân,
gia đình và xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài về lĩnh vực
mà họ quan tâm, mong muốn
1.2.4.3 Yêu cầu xã hội
Khái niệm yêu cầu xã hội, xét một mặt nào đó nó cũng đồng nghĩa với nhu cầu xã hội Nhưng yêu cầu xã hội nghĩa hẹp hơn chính là vấn đề cụ thể mà cuộc sống - xã hội đặt ra trong một thời điểm nào đó, đòi hỏi cần được đáp ứng ngay giải quyết tức thì đến tận gốc yêu cầu đó, chính là đáp ứng yêu cầu xã hội
- Người học là khách hàng trực tiếp hưởng thụ dịch vụ giáo dục do cơ sở đào tạo mang lại
Nhu cầu của người học là có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để phát triền năng lực, nhân cách cá nhân, có cơ hội tìm kiếm việc làm Do vậy, nhu cầu này phụ thuộc phần lớn vào chất lượng và số lượng chỗ trống việc làm của từng cơ quan, doanh nghiệp
Trang 36Theo tác giả: Yêu cầu xã hội đồng nghĩa với nhu cầu xã hội là sự thỏa mãn
nhu cầu của cá nhân, gia đình và xã hội (địa phương, cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội…) nhằm thỏa mãn nhu cầu cụ thể nào đó về lĩnh vực đào tạo
mà họ, mong muốn
1.2.4.4 Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hôi
Để đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, các cơ sở đào tạo phải trả lời các câu hỏi đào tạo ai, đào tạo cái gì, đào tạo theo nội dung nào? theo phương thức nào? đào tạo
để làm gì? phục vụ ai? quản lý đào tạo như thế nào để đáp ứng nhu cầu xã hội?
Đào tạo cái gì, xưa nay theo cách tiếp cận của nhà trường truyền thống thì
nhà trường thường đào tạo "cái mà mình có", cho nên sản phẩm đào tạo không thể đáp ứng được với nhu cầu xã hội, mà cần xác định lại phương châm, nội dung đào tạo phải làm như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của từng loại khách hàng
Khách hàng có nhiều loại như đã nêu trên, có những khách hàng như nhà nước hoặc những doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, kinh doanh thì đòi hỏi sản phẩm đào tạo cũng rất khác nhau, yêu cầu về chất lượng cũng rất khác nhau đòi hỏi đào tạo dài hạn chuyên sâu một ngành, nghề diện rộng hoặc một ngành đào tạo chuyên sâu Tuy nhiên cũng có những khách hàng như các doanh nghiệp địa phương, khách hàng chỉ yêu cầu đào tạo ngắn hạn theo một nghề diện hẹp hay một nghề xã hội Do vậy, nội dung chương trình đào tạo phải rất đa dạng, linh hoạt không thể rập khuôn, cứng nhắc, theo một chương trình đã định Để làm được điều này, chương trình đào tạo phải được thiết kế theo module, học phần tích hợp và liên thông giữa các trình
độ và điều quan trọng là phải xây dựng được chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp của sản xuất thì mới có thể đào tạo đáp ứng yêu cầu của
xã hội
Đào tạo như thế nào, đề cập đến việc tổ chức quá trình đào tạo, tạo mọi cơ
hội cho người học có thể tiếp cận được với môi trường sản xuất thực tế của nhà nước và các doanh nghiệp, dạy học gắn lý thuyết với thực hành và cải tiến phương pháp dạy học, ứng dụng các công nghệ dạy học hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin trong dạy học để phát huy tính tích cực và chủ động của người học
Đào tạo bao nhiêu, bên cạnh việc dự báo nhu cầu nguồn lực kinh tế, cần có
biện pháp thu thập và cập nhật thông tin về nhu cầu đào tạo của xã hội về số lượng,
cơ cấu ngành nghề cũng như trình độ đào tạo
Như vậy, muốn tìm được câu trả lời chuẩn xác phải xác định được nhu cầu
về đào tạo nhân lực của xã hội, hay nói chính xác nhu cầu xã hội sẽ là cái mốc để
Trang 37giáo dục đào tạo nói chung và nhà trường nói riêng điều chỉnh kế hoạch đào tạo và tuyển sinh hàng năm cho phù hợp với nhu cầu của xã hội
Theo tác giả: Đào tạo theo nhu cầu xã hội là hoạt động đào tạo được xác
định về số lượng, mục tiêu, nội dung chương trình dựa vào nhu cầu và yêu cầu của
xã hội đồng thời được tổ chức đào tạo sao cho sản phẩm đầu ra tạo được sự hài lòng đối với người học, xã hội và cơ quan sử dụng lao động
1.3 Đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội
1.3.1 Đặc trưng của đào tạo cử nhân ngành QLVH
Ngành Quản lý văn hóa, là ngành đào tạo thuộc nhóm khoa học xã hội với sự liên kết liên ngành, ngoài phần kiến thức đại cương theo qui định chung, thì cơ sở ngành, kiến thức ngành và chuyên ngành được thiết kế một cách họp lý (trong đó có một số chuyên ngành thuộc nhóm nghệ thuật có tính đặc thù như: âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, múa, điện ảnh, tổ chức sự kiện rất cần được quan tâm)
i) Mục tiêu đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa
Sau khi tốt nghiệp cử nhân quản lý văn hóa, người học phải đạt được các mục tiêu sau đây:
Nắm vững và vận dụng được những kiến thức cơ bản về văn hóa - nghệ thuật; có trình độ lý luận và năng lực quản lý, tổ chức, điều hành được các hoạt động văn hóa - nghệ thuật trong cơ quan, tổ chức thuộc khu vực nhà nước và ngoài nhà nước, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế [68, tr.8]
ii) Nội dung chương trình đào tạo cử nhân quản lý văn hóa
Nội dung chương trình đào tạo gồm các khối kiến thức: Đặc trưng cơ sở ngành, kiến thức chuyên ngành, nội dung gồm phần tự chọn và phần bắt buộc
(1) Đặc trưng cơ sở ngành [68, tr.10]
- Là những học phần trang bị cho người học những kiến thức lý luận cơ bản về
vị trí, vai trò, bản chất, đặc điểm, hệ thống khái niệm và phân loại các loại hình nghệ thuật (7 loại hình nghệ thuật), lược trình phát triển, những trường phái nghệ thuật của thế giới và Việt Nam, phân loại các thành tố văn hóa và vùng văn hóa Việt Nam; kiến thức nội hàm về khoa học quản lý, các chức năng cơ bản của tổ chức ảnh hưởng đến việc thực hiện các chức năng quản lý; kiến thức chung về quản lý văn hóa như chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu của hoạt động quản lý văn hóa
- Kiến thức cơ bản về tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam; sự hình thành hệ
thống pháp luật văn hóa ở Việt Nam, một số văn bản pháp luật của Việt Nam và
Trang 38quốc tế liên quan đến quản lý hoạt động văn hóa, công tác thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm hành chính trong văn hóa
- Vấn đề gia đình trong hoạt động văn hóa, những nguyên lý, lịch sử phát triển và xu hướng biến đổi của gia đình, những giá trị chuẩn mực trong văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống, những vấn đề đặt ra trong cho gia đình hiện nay
(2) Đặc trưng kiến thức ngành [68, tr.12]
- Là phần kiến thức quan trọng, tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ đối với mỗi cử nhân văn hóa, bao gồm: chính sách văn hóa, kinh tế học văn hóa, công nghiệp văn hóa, marketing văn hóa nghệ thuật, văn hóa cộng đồng, quản lý thiết chế văn hóa, di sản văn hóa, tổ chức quản lý các sự kiện văn hóa Trang bị những kiến thức cơ bản về chính sách văn hóa, nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, vai trò, đặc điểm, cấu trúc, mối quan hệ, cơ bản của chính sách văn hóa đối với nguồn nhân lực
và các mô hình chính sách của văn hóa thế giới Các mô hình phổ biến, đặc điểm, hạn chế và quá trình phát triển của chính sách văn hóa, nguồn nhân lực qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
- Nhóm kiến thức về kinh tế học và kinh tế học văn hóa, mối quan hệ tương tác của kinh tế với văn hóa, hoạt động văn hóa nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam; quy trình sáng tạo và phân phối các sản phẩm văn hóa; đặc điểm và vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa; bối cảnh
và xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa; chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam và thế giới Đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, nhân sự của thiết chế văn hóa (nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, khu vui chơi giải trí ) các hình thức, phương pháp, kỹ năng xây dựng, phát triển tổ chức hoạt động, quản lý văn hóa cộng đồng; tổ chức, quản lý các các sự kiện văn hóa, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện
(3) Đặc trưng chuyên ngành [68, tr.15]
* Chuyên ngành Quản lý hoạt động văn hóa xã hội
Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản có liên quan đến quản lý văn hóa như: nghiên cứu khoa học và thực hiện kỹ năng nghiên cứu khoa học về văn hóa; quản trị hành chính văn phòng và các kỹ năng nghiệp vụ về quản lý hành chính văn phòng, xây dựng ban hành văn bản, quản lý văn bản và kỹ năng thực hiện công tác lễ tân hội nghị, công tác lưu trữ hồ sơ tài liệu; xây dựng và quản lý dự án văn hóa nghệ thuật, qui trình thiết kế, triển khai thực hiện và đánh giá các kế hoạch, dự
án văn hóa nghệ thuật Song song với kiến thức quản lý thì chuyên ngành còn trang
bị cho người học những kiến thức về: công tác tuyên truyền bằng ngôn ngữ nói
Trang 39(tuyên truyền miệng), tuyên truyền cổ động trực quan, phương pháp tổ chức, quản
lý, thực hiện các chương trình tuyên truyền miệng và hoạt động sáng tác cổ động trực quan, tuyên truyền bằng các loại hình nghệ thuật và tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông; quy trình tổ chức sự kiện; phương pháp lập kế hoạch, nghiên cứu sự kiện; cấu trúc, nguyên tắc và các thủ pháp xây dựng chương trình, thiết kế không gian sự kiện Xác định giá trị của sự kiện, phân loại tài trợ và tổ chức sản xuất chương trình, sụ kiện
* Chuyên ngành Tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật
Trang bị cho người học một thời lượng kiến thức chuyên môn có tính chuyên
về ngành về âm nhạc, mỹ thuật, múa bao gồm: đặc điểm, hình thức, thể loại và đặc tính của nhạc hát, nhạc đàn; nắm vững nguyên tắc và quy trình sáng tác, biểu diễn, dàn dựng tác phẩm âm nhạc Thực hành một số kỹ thuật cơ bản để rèn luyện kỹ năng, phân tích, đánh giá tác phẩm âm nhạc, mỹ thuật, múa Vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào việc tổ chức, quản lý các chương trình văn hóa nghệ thuật Ngoài
ra còn trang bị cho người học về phương pháp, cách thức diễn xuất của diễn viên, những đặc điểm về phong cách diễn xuất múa, sân khấu, điện ảnh, truyền hình Thực hành kỹ thuật cơ bản về tiếng nói và hình thể của diễn viên trên sân khấu, phân tích, đánh giá kỹ thuật diễn xuất của diễn viên Vận dụng các kiến thức, kỹ năng trên vào việc hướng dẫn, chỉ đạo diễn xuất cho diễn viên, người dẫn chương trình, người tham dự với các vai trò khác nhau trên sân khấu trong các chương trình văn hóa nghệ thuật
Trang bị những kiến thức cơ bản về nghệ thuật biên kịch, phân biệt các thể loại kịch bản và đặc điểm của kịch bản chương trình văn hóa nghệ thuật; nguyên tắc viết kịch bản chương trình văn hóa nghệ thuật; các thành tố cấu thành nên chương trình văn hóa nghệ thuật; phương pháp tư duy khoa học, tư duy hình tượng, chu trình
tư duy và những kỹ thuật xây dựng đề cương chương trình, kịch bản chương trình Vận dụng những kiến thức trên vào việc sáng tác kịch bản chương trình văn hóa nghệ thuật Đồng thời tiếp cận kiến thức về nghệ thuật đạo diễn, phân biệt các hình thức đạo diễn và xác định được mối tương quan giữa đạo diễn sân khấu với đạo diễn sự kiện văn hóa và chương trình nghệ thuật, các thủ pháp đạo diễn với các đơn nguyên của nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, điện ảnh… thực hiện kế hoạch của người đạo diễn với các bộ phận có liên quan, đạo diễn, dàn dựng các chương trình văn hóa nghệ thuật
(4) Đặc trưng phần tự chọn [68, tr.16]
Trang 40Để phát huy sở trường, năng lực, khả năng, năng khiếu của người học Do đó trong quá trình đào tạo, các nhà trường đã tạo cho người học phần tự chọn, dể người học chủ động phát huy được khả năng riêng biệt của bản thân Phần tự chọn được thể hiện từ cơ sở ngành, kiến thức ngành và chuyên ngành: phần cơ sở ngành, người
học được chọn 4/6 tín chỉ của 3 học phần: pháp luật về văn hóa, văn hóa nông thôn, văn
hóa đô thị để phù hợp với điều kiện công tác sau khi tốt nghiệp, phần này cũng là đã đáp ứng được yêu cầu của người học đối với cơ sở ngành; phần kiến thức ngành: cũng có 4/6 tín chỉ của 3 học phần, người học có thể chọn 2 trong 3 học phần gồm có: xã hội học văn hóa, xã hội học gia đình, giáo dục nghệ thuật để học, sao cho phù hợp với điều kiện công tác sau khi tốt nghiệp, phần này cũng là đã đáp ứng được yêu cầu của người học đối với kiến thức ngành; phần chuyên ngành chia làm 2: người học được chọn nhiều hơn có 8/12 tín chỉ của 4 học phần đối với chuyên ngành “Quản lý hoạt động văn hóa xã hội” và 8 học phần đối với chuyên ngành “Tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật”, khi đó người học sẽ được bộc lộ khả năng vốn có của mình, phù hợp với sở trường và năng khiếu
iii) Phương thức đào tạo
Phương thức đào tạo theo niên chế hoặc theo học chế tín chỉ, tuy nhiên hoạt động đào tạo phải được tổ chức theo hướng tăng cường thực hành, trải nghiệm thực
tế của người học
iv) Đánh giá kết quả đào tạo cử nhân Quản lý văn hóa
Đánh giá kết quả đào tạo cử nhân Quản lý văn hóa phải dựa trên năng lực của cán bộ quản lý văn hóa đã hành nghề hay chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Các lực lượng đánh giá bao gồm giảng viên, nhà quản lý và người sử dụng lao động đánh giá Hình thức và phương pháp đánh giá cần phải được đa dạng hóa và phối hợp nhiều hình thức, phương pháp đánh giá, coi trọng đánh giá năng lực thực hành, năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên chuẩn đầu ra xây dựng nội dung và tiêu chí đánh giá và cụ thể hóa theo các thang đo kết quả đạt được ở sinh viên
1.3.2 Các thành tố của quá trình đào tạo ngành Quản lý văn hóa
* Quá trình đào tạo nói chung đều bao quát các thành tố như:
- Mục tiêu đào tạo (đào tạo nhằm mục đích gì);
- Đối tượng đào tạo (đào tạo ai);
- Chủ thể đào tạo (ai đào tạo);
- Nội dung chương trình đào tạo (đào tạo cái gì);
- Phương thức đào tạo (đào tạo bằng cách nào);
- Điều kiện phục vụ đào tạo