Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài Đề tài: “Du lịch Hội An phát triển bền vững trên nền tảng Sinh thái và Văn hóa”, bao gồm các phần chính: Phần mở đầu Phần I: Cơ sở lý thu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
DU LỊCH HỘI AN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN NỀN TẢNG SINH THÁI VÀ VĂN HÓA
GVHD : Ths Nguyễn Thị Phương Loan SVTH : Nguyễn Hữu Đăng Trình
Lớp : Kế Hoa ̣ch - Đầu Tư 2 Khoá : 33
MSSV : 107207842
Tp HCM, tháng 4 năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua hai tháng thực tập và hoàn thiện đề tài này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Kinh tế Phát Triển của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng dạy bảo và truyền đạt kiến thức cần thiết về ngành nghề trong tương lai trong suốt quá trình em học tập tại trường Đặc biệt, xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Phương Loan đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập
Bên cạnh đó, chân thành cảm ơn đến các cô chú, anh chị trong Văn phòng Hội đồng Nhân dân - Ủy ban Nhân dân (HĐND - UBND) thành phố Hội An đã tạo điều kiện cho em có được nơi thực tập tốt và tận tình giúp đỡ em để hoàn thành báo cáo thực tập này
Cuối cùng xin chúc quý thầy cô của trường Đại học Kinh Tế TP.HCM và ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị trong Văn phòng HĐND - UBND dồi dào sức khỏe, luôn hoàn thành tốt công tác của mình và gặp nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
Chương I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1 Khái niệm và vai trò của du lịch 7
1.1 Khái niệm về du lịch 7
1.2 Các loại hình du lịch 8
1.3 Vai trò của ngành du lịch đối với phát triển Kinh tế - Xã hội 9
2 Khái niệm về du lịch sinh thái - Tầm quan trọng của du lịch sinh thái đối với Phát triển bền vững 10
2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 10
2.2 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 11
2.3 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và Phát triển bền vững 14
3 Khái niệm và vai trò của Marketing địa phương 15
3.1 Khái niệm về Marketing địa phương 15
3.2 Vai trò của Marketing địa phương 16
3.3 Phương pháp Marketing địa phương 17
Chương II GIỚI THIỆU VỀ THÀNH PHỐ HỘI AN 18
1 Điều kiện tự nhiên - Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An 18
1.1 Vị trí địa lý của thành phố Hội An 18
1.2 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hội An 18
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An 19
2 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố Hội An 20
2.1 Dịch vụ - Du lịch - Thương mại 21
2.2 Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng 23
2.3 Nông - Lâm - Ngư nghiệp 23
2.4 Các thành phần kinh tế 24
2.5 Hiện trạng môi trường Xã hội - Nhân văn của Hội An 24
2.6 Một số hạn chế trong quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố Hội An 25
3 Các tài nguyên phát triển du lịch 26
3.1 Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An 26
3.2 Đô thị cổ Hội An - Di sản thế giới 28
3.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 30
4 Đánh giá du lịch của Hội An 35
Trang 5Chương III HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HỘI AN 37
1 Các cụm du lịch tại thành phố Hội An 37
1.1 Cụm du lịch tham quan di sản thế giới phố cổ Hội An 37
1.2 Cụm du lịch sinh thái sông nước Thu Bồn và khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm 38
1.3 Cụm du lịch biển Cửa Đại - Cẩm An 38
1.4 Cụm du lịch cộng đồng, làng nghề thủ công mỹ nghệ 39
2 Khách du lịch 39
3 Doanh thu du lịch 43
4 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 44
5 Nguồn nhân lực du lịch 46
6 Công tác tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh du lịch 46
7 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ phát triển du lịch Hội An 47
7.1 Hệ thống giao thông 47
7.2 Hệ thống bưu chính viễn thông và dịch vụ tài chính 48
7.3 Hệ thống cấp điện và cấp nước 48
7.4 Hệ thống thoát nước thải và thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt 48
8 Đánh giá hoạt động du lịch của thành phố Hội An 49
8.1 Điểm mạnh của du lịch Hội An 49
8.2 Điểm yếu của du lịch Hội An 50
8.3 Những thuận lợi để phát triển du lịch ở thành phố Hội An 50
8.4 Những khó khăn khi phát triển du lịch ở thành phố Hội An 51
8.5 Xu hướng phát triển của du lịch thành phố Hội An 51
Chương IV CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HỘI AN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN NỀN TẢNG SINH THÁI VÀ VĂN HÓA 52
1 Tập trung các nguồn lực để đẩy mạnh phát triển ngành du lịch theo hướng “chất lượng và bền vững” 52
2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách phát triển du lịch và huy động vốn đầu tư 53
3 Định hướng thị trường khách du lịch 54
4 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và liên tục tạo các sản phẩm du lịch mới lạ 54 5 Định hướng tổ chức không gian du lịch 56
6 Mở rộng hợp tác, liên kết khu vực và liên kết quốc tế 57
7 Giảm thiểu tác động từ du lịch đến môi trường 58
8 Chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch 59
PHẦN KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
Giới thiệu đề tài
Cách đây bốn thế kỷ, Hội An - Faifo là trung tâm giao lưu Kinh tế - Văn hóa phát đạt vào loại bậc nhất thế giới lúc bấy giờ Trong thời kỳ thịnh vượng của mình, hải cảng Faifo là một mắt xích quan trọng của “Con đường gốm sứ” trên biển và đã đón vô
số thương thuyền các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Hà Lan,…đến đây giao thương mậu dịch Đến cuối thế kỷ XIX, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố bất lợi và sự nổi lên của “cảng thị cơ khí” Đà Nẵng - Tourane, “cảng thị thuyền buồm” Hội An dần suy thoái và đi vào quên lãng Thế nhưng, kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski đã đánh thức Hội An khỏi giấc ngủ kéo dài hơn trăm năm Nhờ con mắt tinh đời, Kazimier Kwiatkowski đã nhìn thấy ở thương cảng Hội An có sự kết hợp của các nền văn hóa đa quốc gia trong một thương cảng quốc tế và là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo Và chính nhờ ông
mà UNESCO đã công nhận Hội An là Di sản Văn hóa Thế giới vào tháng 12/1999 Từ bước ngoặc cuối thế kỷ XX, Hội An đã có sự thay đổi thần kỳ trong thiên niên kỷ mới Thành phố đang dần có lại ánh hào quang của một thương cảng phồn thịnh và nổi tiếng của thế kỷ XVII bằng con đường hiện đại hơn, đó chính là Du lịch Chính du lịch mang Hội An ra lại với thế giới và đưa thế giới trở lại với Hội An
Ngay từ năm 1995, Đảng bộ Hội An đã lấy du lịch làm mũi nhọn kinh tế hàng đầu, tập trung đầu tư, phát triển các loại hình du lịch Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu trong tình hình mới thì những gì du lịch Hội An đạt được vẫn chưa tương xứng với lợi thế của mình Một số cách làm du lịch đã không còn phù hợp trước sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu và khi Cù Lao Chàm trở thành khu Dự trữ sinh quyển thế giới Việc cần có một quy hoạch cụ thể để phát triển Du lịch Hội An theo hướng khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch nhằm đạt các chỉ tiêu phát triển đề ra nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định và bền vững là hết sức cần thiết và cấp bách
Trước tính cấp thiết đó mà đề tài “Du lịch Hội An phát triển bền vững trên nền tảng Sinh thái và Văn hóa” được nghiên cứu nhằm tìm ra hướng phát triển bền
vững cho du lịch Hội An
Trang 7Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục tiêu:
- Đánh giá toàn bộ tiềm năng phát triển du lịch thành phố Hội An
- Đưa ra phương hướng phát triển bền vững cho du lịch thành phố Hội An dựa trên cơ sở Sinh thái và Văn hóa
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Du lịch thành phố Hội An
Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ tiềm năng du lịch của Hội An và các yếu tố tác động đến ngành du lịch Thành phố
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp: Dựa vào các số liệu sẵn có của đơn
vị thực tập trong thời gian qua để đánh giá hiện trạng của ngành du lịch Hội An
Phương pháp duy vật biện chứng: Đánh giá các tiềm năng du lịch và các yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch Hội An Từ đó đưa ra những giải pháp phát triển bền vững ngành du lịch thành phố Hội An
Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài: “Du lịch Hội An phát triển bền vững trên nền tảng Sinh thái và Văn
hóa”, bao gồm các phần chính:
Phần mở đầu
Phần I: Cơ sở lý thuyết
Phần II: Giới thiệu về thành phố Hội An
Phần III: Hiện trạng phát triển của du lịch Hội An
Phần IV: Các giải pháp phát triển du lịch Hội An theo hướng bền vững trên nền tảng Sinh thái - Văn hóa
Phần kết luận
Trang 9Chương I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm và vai trò của du lịch
Trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số người Đến cuối thế
kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khách du lịch vẫn phải tự lo lấy việc đi lại, ăn, nghỉ ở nơi du lịch Lúc đó, du lịch chưa được coi là hoạt động kinh doanh và nó nằm ngoài lề của nền kinh tế Vì vậy vào thời kỳ này, người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn, hiện tượng xã hội nhằm làm phong phú thêm nhận thức của con người Trên quan điểm này thì “Du lịch là một hiện tượng những người đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở
đó, những người này phải tiêu tiền mà họ kiếm được ở nơi khác”
Du lịch ngày càng phát triển, các hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng gắn bó nhau chặt chẽ, tạo thành một hệ thống rộng lớn và thúc đẩy nhau phát triển Với góc độ này, du lịch được coi là “Một ngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch
vụ, hàng hóa để tạo sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu của khách”
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của môn khoa học du lịch, khái niệm du lịch phải phản ánh các mối quan hệ bản chất bên trong Làm cơ sở cho việc nghiên cứu các
xu hướng và các quy luật phát triển của nó Theo định nghĩa của du lịch học thì “Du lịch là tổng thể những hiện tượng và mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”
Như vậy, cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, khái niệm du lịch cũng có
sự phát triển, đi từ hiện tượng đến bản chất Tùy thuộc từng góc độ nghiên cứu mà người ta sử dụng khái niệm du lịch với nội dung khác nhau
Trang 101.2 Các loại hình du lịch
Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn các nhu cầu, động cơ du lịch tương tự nhau, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau Một số loại hình du lịch phổ biến:
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch:
- Du lịch quốc tế (International tourism):
- Du lịch nội địa (Internal tourism)
Phân loại theo môi trường tài nguyên:
- Du lịch sinh thái (Ecotourism)
- Du lịch văn hóa (Cultural tourism)
Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch:
- Du lịch miền biển
- Du lịch núi
- Du lịch đô thị
- Du lịch thôn quê
Phân loại theo độ dài chuyến đi:
- Du lịch ngắn ngày (dưới một tuần)
- Du lịch dài ngày (trên một tuần)
Phân loại theo phương thức hợp đồng:
- Du lịch trọn gói
- Du lịch từng phần
Phân loại theo mùa:
- Du lịch mùa xuân, hè, thu, đông
- Du lịch mùa lễ hội
Trang 111.3 Vai trò của ngành du lịch đối với phát triển Kinh tế - Xã hội
Trên thế giới, du lịch có vai trò rất lớn trong nền kinh tế Những năm gần đây, khi các ngành kinh tế khác tăng trưởng chậm hoặc suy thoái thì du lịch luôn giữ vững nhịp độ tăng trưởng ổn định Theo số liệu của Tổ chức du lịch Thế giới của Liên hiệp quốc (UNWTO), mặc dù nền kinh tế thế giới còn trên đà suy thoái nhưng lượng khách
du lịch quốc tế trong năm 2009 vẫn đạt 880 triệu lượt với doanh thu khoảng 852 tỉ USD
và ước tính tổng kết năm 2010, lượng khách du lịch sẽ tăng khoảng 5% - 6% so với năm 2009
Du lịch làm cho các nền văn hóa, văn minh nhân loại xích lại gần nhau hơn, thúc đẩy quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của con người Có thể khẳng định rằng, du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển Kinh tế - Xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc, địa phương Vai trò đó tập trung ở những khía cạnh cụ thể sau:
- Du lịch là ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ lệ thu ngoại tệ (đối với du lịch quốc tế) cao hơn so với các ngành kinh tế khác từ 2 đến 4 lần, thời gian thu hồi vốn nhanh Nhiều nhà kinh tế đã khẳng định “Du lịch là một ngành xuất khẩu vô hình hoặc
là một ngành xuất khẩu tại chỗ, có hiệu quả kinh tế cao”
- Du lịch là một ngành kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội Sự tăng trưởng của nó sẽ tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách
- Du lịch góp phần khai thác tiềm năng to lớn của đất nước, bảo tồn và giới thiệu văn hóa của Việt Nam với các nước trên thế giới, tăng thêm hình ảnh của dân tộc
ta trên trường quốc tế Mặc khác, du lịch phát triển, chúng ta có điều kiện tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ đó bổ sung làm phong phú hơn kho tàng văn hóa của dân tộc
- Du lịch góp phần quan trọng vào sự phồn vinh của đất nước và chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập quốc nội (GDP)
Trang 122 Khái niệm về du lịch sinh thái - Tầm quan trọng của du lịch sinh thái đối với Phát triển bền vững
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “Du lịch” và “Sinh thái” vốn đã quen thuộc Song đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên, tức mọi hoạt động
du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi,… đều được gọi là du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái còn được hiểu dưới những tên gọi khác như:
- Du lịch thiên nhiên (Natural Tourism)
- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural - Based Tourism)
- Du lịch xanh (Green Tourism)
- Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
- Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Ở Việt Nam, du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ
90 của thế kỷ XX song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về
du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc nhìn nhận khác nhau, khái niệm du lịch sinh thái cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển du lịch sinh thái, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như: Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), Quỹ Quốc tế Bảo
vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN),… và các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức cuộc Hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” Tại cuộc hội thảo này đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam, theo
Trang 13đó, du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Sinh thái tự nhiên được hiểu
là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên và động thực vất, bao gồm: sinh thái tự nhiên (Natural ecology), sinh thái động vật (Animal ecology), sinh thái thực vật (Plant ecology), sinh thái nông nghiệp (Agricutural ecology), sinh thái khí hậu (Ecoclimate) và sinh thái nhân văn (Human ecology) Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural - Based Tourism), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
ở hai điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho du khách, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương Trong nhiều trường hợp cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên Họ chỉ đơn giản tạo cho du khách một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên
và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch
Trang 14Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể có của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm
- Đứng trên góc độ vật lý: Sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du khách mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ Các công thức chung để tính sức chứa của một điểm du lịch như sau:
Công thức tính sức chứa thường xuyên:
CPI = ARa Trong đó:
CPI : Sức chứa thường xuyên ( Instantaneous carrying capacity)
AR : Diện tích của khu vực (Size of area)
a : Tiêu chuẩn không gian (diện tích cần cho một người)
Công thức tính sức chứa hằng ngày:
CPD = CPI x TR = Trong đó:
CPD : Sức chứa hằng ngày (Daily capacity)
TR : Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)
Công thức tính sức chứa hàng năm:
CPY = CPD
PR =
AR x TR
a x PR Trong đó:
CPY: Sức chứa hằng năm (Yearly capacity)
PR: Ngày sử dụng (Tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm)
Trang 15 Trong trường hợp có trước nhu cầu du lịch thì diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó có thể được tính như sau:
AR = TD x a x PR
Trong đó:
TD: Nhu cầu du lịch (Tourism demand)
- Đứng ở góc độ sinh học: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Sức chứa này sẽ đạt đến giới hạn khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp (như làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn,…)
- Đứng ở góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự “đông đúc” và hoạt động của họ sẽ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều du khách đến điểm tham quan làm họ phải chịu nhiều tác động
từ du khách khác gây ra (như khó quan sát được phong cảnh, đi lại khó khăn, sự khó chịu từ rác thải,…) Những tác động này làm giảm đáng kể sự hài lòng của du khách
- Đứng ở góc độ xã hội: Sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống Văn hóa - Xã hội - Kinh tế của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng cư dân địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập
Yêu cầu thứ tư là thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch Việc thỏa mãn mong muốn của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới
về tự nhiên, văn hóa bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với
sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan
Trang 162.3 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và Phát triển bền vững
Hơn lúc nào hết, sự tồn tại và phát triển một cách bền vững tài nguyên môi trường đang thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Nhu cầu về sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số trên phạm vi toàn cầu - đặc biệt là ở các nước đang phát triển - là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự cạn kiệt của tài nguyên và tình trạng suy thoái môi trường Trong bối cảnh đó, với những nỗ lực chung, các quốc gia đang tìm kiếm những giải pháp nhằm hướng tới sự phát triển bền vững tài nguyên và môi trường
Tính bền vững của tài nguyên sẽ tồn tại và phát triển khi mức độ sử dụng tài nguyên không vượt quá mức độ bổ sung của tài nguyên đó Sử dụng bền vững tài nguyên sẽ có được khi nhu cầu sử dụng tài nguyên thấp hơn sự phát triển (bù đắp), tái tạo tài nguyên đó
Sự phát triển của xã hội văn minh đảm bảo cho sự tăng dân số do việc loại bỏ được những nguy cơ bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Tuy nhiên, những tác động tích cực của xã hội văn minh nếu không đi kèm những định hướng cho cuộc sống thì sẽ lại là nguyên nhân của những tác động lớn hơn đến tài nguyên để thoản mãn nhu cầu sống của cộng đồng thiểu số khi gia tăng dân số nhưng không có sự thay đổi về tập tục canh tác, sinh hoạt
Nói một cách khác, mức độ khai thác tài nguyên sẽ tăng lên cùng sự gia tăng dân
số của cộng đồng địa phương Điều này sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong phát triển và
sự bền vững sẽ bị phá vỡ, kéo theo quá trình suy thoái môi trường Như vậy sự phát triển bền vững của tài nguyên và môi trường chỉ có được ở những nơi:
- Nhu cầu tối đa không vượt quá khả năng cung cấp
- Nhu cầu được khống chế, nhờ đó không vượt quá khả năng tự phục hồi của tài nguyên bị khai thác để thỏa mãn nhu cầu
Du lịch là một ngành kinh tế mà hoạt động của nó cũng có những tác động làm suy giảm tài nguyên và môi trường Sự tồn tại và phát triển của du lịch luôn gắn liền với môi trường và trong nhiều trường hợp, hoạt động của du lịch đã mất đi tính hấp dẫn cùng với sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường
Trang 17Từ thực tế trên, khái niệm “Du lịch bền vững” được nghiên cứu phát triển để tìm
ra những nguyên nhân làm suy giảm tính hấp dẫn của du lịch bởi sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường nhằm mang lại những lợi ích kinh tế không chỉ cho ngành du lịch
mà còn cho cả cộng đồng địa phương Trong thực tế, nhiều người cho rằng du lịch bền vững đơn giản chỉ là sự duy trì tăng trưởng về du lịch và mục tiêu này cần được ưu tiên trong chính sách phát triển du lịch Song điều có ý nghĩa đối với du lịch không đơn giản
là việc phải đạt được những chỉ tiêu về số lượng khách du lịch, công suất buồng phòng, doanh thu,… mà còn cần phải đạt được những điều lớn hơn Trong những điều kiện hiện nay ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển, ngành du lịch luôn phải đứng trước nhiều thách thức để có thể theo đuổi mục tiêu phát triển du lịch bền vững với đúng ý nghĩa của nó
Sự phát triển du lịch sinh thái theo đúng nghĩa sẽ giành được sự ủng hộ của cộng đồng địa phương, bởi vì nó trực tiếp đem lại công ăn việc làm và lợi ích kinh tế, văn hóa cho họ Các nhà bảo tồn đã phát triển khái niệm du lịch sinh thái với mục tiêu bảo
vệ môi trường tự nhiên thông qua giúp đỡ cộng đồng địa phương quản lý nguồn tài nguyên mà họ đang sử dụng Hoạt động du lịch ở đây được xem như một phương tiện hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
3 Khái niệm và vai trò của Marketing địa phương
Những thách thức trong cạnh tranh trên lĩnh vực toàn cầu đòi hỏi các quốc gia hay địa phương thay đổi cách nhìn của họ Lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nữa Khi nền kinh tế thế giới ngày càng có xu hướng toàn cầu hóa thì lợi thế trong việc xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ ngày càng mờ nhạt Một cách nhìn về địa phương mà nhiều nhà hoạch định chính sách đều đồng ý đó là việc xem một địa phương như là một thương hiệu gọi là thương hiệu địa phương để marketing nó
Vậy marketing địa phương là một kế hoạch tổng hợp đồng bộ giới thiệu về một địa phương với những đặc điểm bổi bật, các ưu thế hiện có và viễn cảnh phát triển lâu dài của địa phương đó nhằm thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh, những người du lịch, những cư dân đến địa phương đó tìm những cơ hội đầu tư kinh doanh hay thỏa mãn các
Trang 18nhu cầu tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương
Vai trò của marketing đối với việc phát triển kinh tế của các quốc gia đã được các nhà quản trị và tiếp thị đề cập đến từ nhiều thập niên qua Nhiều quốc gia tuy không
có nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào nhưng nhờ có chiến lược và chương trình marketing hiệu quả đã trở nên nổi tiếng và có những bước phát triển mạnh mẽ Các nước NICs ở Châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông,… là những ví dụ điển hình
Một thương hiệu có thể là của một sản phẩm hữu hình, một dịch vụ hay một thành phố, một quốc gia Như vậy, chúng ta có thể xem một địa phương hay một quốc gia là một thương hiệu, gọi là “Thương hiệu địa phương” để phân biệt với thương hiệu sản phẩm, dịch vụ của các đơn vị kinh doanh Với quan điểm này, xét về nguyên lý marketing thì marketing một thương hiệu địa phương và marketing một sản phẩm hữu hình hay dịch vụ không có gì khác nhau Dĩ nhiên, về cụ thể thì chương trình marketing thương hiệu địa phương cũng có những đặc trưng riêng của nó Điều này cũng tương tự như chương trình marketing cho thương hiệu sản phẩm hữu hình hay thương hiệu dịch
vụ cũng đều có những đặc thù riêng Do đó, các chương trình marketing cụ thể của chúng phải phù hợp cho từng mục tiêu cụ thể
Marketing địa phương liên quan đến ba nhóm chính:
- Thứ nhất là khách hàng của một địa phương Cũng như marketing thương hiệu sản phẩm, dịch vụ, marketing địa phương cần phải xác định thị trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình Khách hàng mục tiêu của địa phương gồm bốn đối tượng chính: Nhà đầu tư, khách du lịch, xuất khẩu và lao động
- Thứ hai là các yếu tố của địa phương để tiếp thị cho khách hàng Các yếu tố này có thể là cơ sở hạ tầng, con người, hình tượng, chất lượng cuộc sống và các đặc trưng hấp dẫn của địa phương
- Thứ ba là các nhà hoạch định marketing địa phương Nhóm các nhà hoạch định bao gồm chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh và cộng đồng dân cư tại
Trang 19địa phương đó Những thành phần này tham gia vào việc hoạch định kế hoạch tiếp thị cho một địa phương
Các địa phương có những phương pháp marketing thương hiệu địa phương của mình khác nhau Các chiến lược marketing thương hiệu địa phương hay được sử dụng là: Marketing hình tượng địa phương; Marketing đặc trưng nổi bật của địa phương; Marketing cơ sở hạ tầng địa phương; Marketing con người của địa phương
Marketing hình tượng địa phương được thực hiện thông qua việc tạo nên một hình tượng tốt, hấp dẫn cho các thị trường mục tiêu của địa phương Cách thực hiện thường thông qua việc xây dựng các “luận cứ độc đáo” cho thương hiệu của mình để làm hấp dẫn khách hàng mục tiêu
Marketing đặc trưng của địa phương thường được thực hiện thông qua việc đầu
tư vào các điểm nổi bật của địa phương mình Các điểm nổi bật này có thể do thiên nhiên ưu đãi, do lịch sử để lại, hay do địa phương xây dựng nên
Marketing cơ sở hạ tầng của địa phương nhằm diễn tả đầy đủ giá trị thương hiệu địa phương mà nhà marketing muốn cung cấp cho khách hàng mục tiêu của mình Hệ thống giao thông tiện lợi và hiện đại như đường bộ, đường xe điện ngầm, tàu hỏa, sân bay, cảng sông, cảng biển, mạng lưới thông tin liên lạc và các công viên khoa học như công viên phần mềm, công viên công nghệ cao,… là những cơ sở hạ tầng luôn được các địa phương đầu tư, phát triển để thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư
Một chiến lược marketing mà các nhà marketing địa phương thường sử dụng nữa
đó là marketing con người Những người thường được marketing là những nhân vật nổi tiếng, các ngôi sao thể thao, những người nổi tiếng do có đầu óc kinh doanh và đã thành đạt,… Các địa phương sử dụng việc định cư của các nhân vật nổi tiếng này để chứng minh cho sự ưu việt của địa phương mình trước khách hàng mục tiêu
Trang 20Chương II GIỚI THIỆU VỀ THÀNH PHỐ HỘI AN
1 Điều kiện tự nhiên - Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An
Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Bắc, cách thành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ 55km về phía Nam Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 61,5km2, trong đó phần diện tích đất liền 45,9km2
(chiếm 73,5%) Ranh giới thành phố được xác định:
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Điện Bàn và huyện duy Xuyên
- Phía Nam giáp huyện duy Xuyện
- Phía Bắc giáp huyện Điện Bàn
Thành phố gồm có 9 phường, gồm: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cửa Đại, Cẩm Nam và 4 xã gồm: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm
Hà và xã đảo Tân Hiệp
- Điều kiện tự nhiên: Thành phố Hội An thuộc vùng khí hậu Trung Trung Bộ nóng ẩm và mưa nhiều, nhưng do nằm ven biển nên nhìn chung khí hậu tương đối mát
mẻ Thành phố Hội An nằm ở vùng đồng bằng ven biển có độ dốc nhỏ, là cửa thoát lũ lớn của hệ thống sông Thu Bồn (Cửa Đại), vì thế các khu vực có địa hình trũng thấp như: khu vực ven sông Hội An, khu vực các xã Cẩm An, Cẩm Châu Cẩm Nam, Cẩm Kim,… có nguy cơ ngập lụt cao
- Khí hậu, thủy văn: Chịu khí hậu chung của tỉnh Quảng Nam (chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa) Gió mùa là một trong những đặc trưng cơ bản của thời tiết Hội An nói riêng và của Quảng Nam nói chung Gió mùa Tây Nam xuất hiện vào các tháng 5, 6, 7 mang theo hơi nóng Gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào các tháng 12, 1,
2, 3 mang theo hơi lạnh
Trang 21- Đặc điểm thủy văn: Thành phố Hội An chịu ảnh hưởng chính của chế độ thủy văn sông Thu Bồn Hạ lưu sông Thu Bồn, đoạn chảy qua Hội An gọi là sông Hoài, hay sông Hội An Ngoài ra, khu vực thành phố còn có nhánh sông Đế Võng chảy qua
- Thủy triều: Biển Hội An chịu ảnh hưởng chế độ thủy triều của biển miền Trung Trung Bộ, mỗi ngày thủy triều lên xuống hai lần (bán nhật triều) Biên độ dao động của triều trung bình là 0,6m Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển xâm nhập sâu vào lục địa gây nhiễm mặn, ảnh hưởng lớn cho vấn đề dân sinh, kinh tế
- Tài nguyên nước: Về nước mặt, có các sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, sông Đế Võng Trong đó, sông Thu Bồn là một trong những nguồn cung cấp nước quan trọng với lưu lượng hàng tỷ m3
nước mỗi năm Về nước ngầm, vùng ven sông có nước ngầm mạch nông và thường bị nhiễm mặn Các vùng cách xa biển trên 20km thường có nước ngầm mạch sâu, không bị nhiễm mặn và không ảnh hưởng đến nền móng công trình xây dựng độ sâu ≤ 10m
Hội An có lịch sử hình thành và phát triển đô thị từ trước thế kỷ XVII Diễn trình lịch sử Hội An có thể chia làm ba thời kỳ cơ bản là: Thời kỳ Tiền - Sơ sử (từ thế kỷ thứ
II sau Công Nguyên trở về trước); thời kỳ Champa (từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ XV) và thời kỳ Đại Việt - Việt Nam (từ thế kỷ XV đến nay) Trong tiến trình lịch sử đó, thời kỳ Đại Việt - Việt Nam là thời kỳ quan trọng nhất đối với sự hình thành và phát triển của
đô thị hương cảng quốc tế Hội An - thương cảng phồn thịnh bậc nhất của xứ Đàng Trong - với các tên gọi Faifo, Haiso, Faisfo Phía Đông của Hội An là Cù Lao Chàm, một “trấn sơn”, đảo tiền tiêu của phố cảng Hội An, là điểm dừng chân cho các thương thuyền trên con đường hàng hải Với vị thế địa lý thuận lợi như trên, cùng nhiều cơ may lịch sử, Hội An trở thành một trung tâm thương mại quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX Mặt khác, Hội An cũng đồng thời là một trong những trung tâm giao lưu văn hóa quốc
tế của Việt Nam - là nơi truyền bá Thiên chúa giáo và Phật giáo ở Đàng Trong
Căn cứ những kết quả nghiên cứu liên ngành gần đây, nhiều nhà khoa học Việt Nam và quốc tế thống nhất nhận định “Phố cảng - Đô thị thương cảng quốc tế Hội An -
Trang 22là một kiểu mẫu tiêu biểu đặc biệt về lịch sử hình thành đô thị ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á thời Trung - Cận đại” Sự ra đời của đô thị thương cảng Hội An không xuất phát từ yếu tố chính trị, không để làm kinh đô hay tỉnh lỵ; không phải do sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp; càng không phải do kết quả xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân,… mà do xuất phát từ vai trò trung tâm, vị thế địa lý - lịch sử, là kết quả của sự gắn kết độc đáo, tất yếu giữa những yếu tố lịch sử phát triển trong nước với nhu cầu của thị trường quốc tế trên con đường tơ lụa - hương liệu - gốm sứ trên biển để hình thành nên một đô thị thương mại - dịch vụ mà khi ghi danh Hội An vào danh mục
Di sản văn hóa Thế giới, tổ chức UNESCO đã đánh giá “Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế; là
một điển hình tiêu biểu về một cảng thị Châu Á truyền thống được bảo tồn tốt”
Suốt hơn 35 năm sau ngày quê hương được giải phóng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển Kinh tế - Xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng và đã đạt được những thành tựu to lớn: Ngày 4/12/1999, khu phố cổ Hội An được UNESCO công nhận Di sản thế giới; chính quyền thị xã (nay là Thành phố) được UNESCO trao giải thưởng kiệt xuất
về công tác quản lý di sản năm 2000; ngày 24/8/2000, Hội An được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong trong thời kỳ đổi mới; năm 2006, thị
xã Hội An được Trung ương và Tỉnh công nhận đã hoàn thành các tiêu chí xây dựng Đô thị loại III; năm 2008 được nâng cấp lên Thành phố Hội An trực thuộc tỉnh Quảng Nam; năm 2009, quần đảo Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là khu Dự trữ Sinh quyển thế giới Đây là những tiền đề hết sức quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho Thành phố tiếp tục phát triển nhanh, toàn diện và bền vững theo hướng Thành phố Sinh thái - Văn hóa - Du lịch
2 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố Hội An
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên địa bàn thành phố Hội An giai đoạn
2005 - 2010 là 13,79% Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố có xu hướng tăng dần theo hằng năm và luôn giữ mức cao
Trang 23Biểu đồ 1: Quy mô kinh tế thành phố Hội An giai đoạn 2005 - 2010
Nguồn: Phòng Thống kê thành phố Hội An
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Dịch vụ - Du lịch - Thương mại (DV - DL - TM), Công nghiệp - Xây dựng và Nông - Lâm - Ngư nghiệp (N - L - NN) Trong đó, lĩnh vực DV - DL - TM là mũi kinh tế trọng yếu của thành phố, chiếm tỷ trọng 53,57% tổng giá trị GDP của Hội An Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 24,132 triệu đồng
Bảng 1: Cơ cấu kinh tế thành phố Hội An năm 2010
Trang 24Bảng 2: Một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành Dịch vụ - Du lịch - Thương mại
Nguồn: Phòng Thương mại - Du lịch thành phố Hội An
Năm 2010, tổng lượt khách đến Hội An đạt 1.275.824 lượt người, tăng 22,86%
so với năm 2009, trong đó hơn một nửa là khách lưu trú và số ngày lưu trú bình quân đạt 2,4 ngày/khách Tốc độ tăng trưởng GDP của ngành bình quân giai đoạn 2005 -
2009 là 16,14%; chiếm tỷ trọng 51,2% GDP của toàn Thành phố Giá trị sản xuất năm
2009 (theo giá hiện hành) đạt 2.567 tỷ đồng Toàn Thành phố có 6.090 cơ sở sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực DV - DL - TM; có 83 cơ sở lưu trú đã đưa vào hoạt động, với 3.432 phòng đủ điều kiện đón khách quốc tế và 19 cơ sở đang trong quá trình đầu tư xây dựng Trong đó có 11 cơ sở lưu trú đạt chuẩn 04 đến 05 sao, 10 cơ sở lưu trú đạt chuẩn 03 sao, 15 cơ sở đạt chuẩn 02 sao
Biểu đồ 2: Phân loại khách sạn trên địa bàn Hội An năm 2009
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An năm 2009
Đã có những nỗ lực trong kết nối và phát triển các loại hình du lịch trên cơ sở phát huy tài nguyên văn hóa và giá trị nhân văn, kết hợp khai thác hợp lý tài nguyên
Trang 25sinh thái và tận dụng các lợi thế, cơ hội Không gian phát triển du lịch từ chỗ chỉ trong phạm vi Phố cổ, đến nay đã lan tỏa ra hầu hết các xã phường, đặc biệt là các địa phương ven biển, ven sông, đảo Cù Lao Chàm; đồng thời, đã có tác động tích cực đến sự phát triển du lịch của các huyện lân cận (Điện Bàn, duy Xuyên,…) trong Tỉnh và đến cả thành phố Đà Nẵng Đặc biệt, hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm đang tạo ra hấp lực mới, thu hút được 56.430 lượt khách, tăng 22.861 lượt so với năm 2009 Hội An hiện nay là một trung tâm du lịch của Tỉnh nói riêng và của khu vực miền Trung nói chung
Trong giai đoạn 2005 - 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hóa ước hơn 3.700 tỷ đồng, tăng bình quân 14%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 58,5 triệu USD Các dịch vụ có liên quan phát triển mạnh, nhất là ngân hàng và viễn thông Hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành phố phát triển nhanh, hiện có 14 chi nhánh của các ngân hàng đang hoạt động hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn cung ứng cho phát triển Kinh tế -
Xã hội của Thành phố
Trong xu thế phát triển chung của Tỉnh, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) của Thành phố những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ Thành phố đã vận dụng cơ chế, chính sách chung của nhà nước và hỗ trợ về nhiều mặt
để tạo điều kiện cho ngành CN - TTCN phát triển Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của ngành giai đoạn 2005 - 2009 đạt 14,36%; chiếm tỷ trọng 22,4% GDP toàn Thành phố Giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) năm 2010 đạt 1.689 tỷ đồng Đến nay, toàn Thành phố có 1.107 cơ sở sản xuất CN - TTCN (trong đó có 24 doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh), tập trung chủ yếu tại các phường như Thanh Hà, Sơn Phong, Cẩm Phô và Cẩm An Chất lượng, mẫu mã các sản phẩm CN - TTCN đã tạo được sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và chế biến lâm, thủy sản xuất khẩu Một số sản phẩm bước đầu tạo dựng được thương hiệu uy tín (như Đèn lồng Hội An, mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, rau Trà Quế, nghề may nhanh
Ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng ở các vùng ven nội
ô và nông thôn, hải đảo và có những mặt phát triển theo chiều sâu GDP chung toàn
Trang 26ngành tiếp tục giảm tỷ trọng theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố; tuy nhiên giá trị GDP hằng năm của ngư nghiệp tăng bình quân 5,8%, nông nghiệp tăng bình quân 7% Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành chuyển dịch dần theo hướng sản xuất hàng hóa với việc vươn ra khai thác thủy sản xa bờ, đa dạng hóa cây trồng, con vật nuôi phù hợp Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ trong ngành được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới đem lại năng suất cao, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người nông dân Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2010 đạt 536 tỷ đồng Các ngành nghề chú trọng hơn đến chất lượng và hiệu quả sản xuất bằng biện pháp áp dụng Khoa học - Kỹ thuật và bảo vệ môi trường sinh thái Việc kết hợp nghề truyền thống với các nghề khai thác mới đem lại kết quả tốt
Nhìn chung, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế trên đại bàn Thành phố ngày càng hiệu quả, đã giải quyết lao động không chỉ của Thành phố mà cho nhiều địa phương khác trong và ngoài tỉnh Nhờ đó đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn theo hương tích cực, đúng định hướng
đề ra
Việc thực hiện nghị quyết về xây dựng Hội An - Thành phố văn hóa đã đem lại những kết quả to lớn; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển rộng khắp và ngày càng đi vào chiều sâu, Hội An được trung ương biểu dương là
“Đô thị văn hóa” điển hình của cả nước Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào
Trang 27tình nguyện,… được duy trì và phát triển; số hộ nghèo giảm còn 3,35%; các hoạt động văn hóa truyền thống đang được phục hồi,…
Các quy chế, quy định quản lý xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo di tích; biển hiệu, quảng cáo; trật tự đô thị; kinh doanh dịch vụ,… trong khu phố cổ được điều chỉnh đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa thế giới Dự
án phần mềm quản lý di sản, Văn phòng tư vấn và thông tin di sản, Văn phòng thông tin
di sản UNESCO tại Hội An đã đi vào hoạt động Nhiều công trình điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, bảo quản, lưu giữ các di sản văn hóa vật thể - phi vật thể và lịch sử - truyền thống đã và đang được tiến hành Trong giai đoạn 2005 - 2009, Hội An đã huy động nhiều nguồn vốn với tổng kinh phí gần 67 tỷ đồng để triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo
di tích, trong đó ngân sách Thành phố hơn 20 tỷ đồng, huy động trong dân hơn 5 tỷ đông
Các chính sách an sinh xã hội được đặc biệt quan tâm Hộ nghèo từ 6,46% đầu năm 2006 đến nay giảm còn 3,35% (hiện toàn Thành phố còn 660 hộ nghèo) Trong 5 năm đã huy động nhiều nguồn kinh phí với tổng hơn 27 tỷ đồng để cơ bản hoàn thành xây nhà tình nghĩa và sửa chữa nhà bán kiên cố xuống cấp cho 507 hộ gia đình chính sách, hỗ trợ xóa nhà tạm cho 543 hộ nghèo và cận nghèo Các chương trình đào tạo nghề - dạy nghề thu hút hơn 10 nghìn người tham gia, đã giải quyết việc làm cho 6.662 lao động
Trang 28hợp của toàn ngành Hoạt động thương mại ở các vùng phụ cận chưa phát triển mạnh để kéo dãn mật độ kinh doanh ở trung tâm phố cổ Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng chậm
Giá trị tăng thêm của Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng còn thấp Trình độ công nghệ, trình độ tay nghề của lao động tuy có tăng nhưng vẫn còn chậm Các doanh nghiệp chế biến lâm sản, thủy sản là chủ lực của ngành nhưng thường bấp bênh và đang giảm sút Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chưa đa dạng; chất lượng hàng hóa còn hạn chế, thậm chí có những sản phẩm chất lượng kém làm giảm uy tín thương hiệu Hội An Cụm Công nghiệp - Dịch vụ Thanh Hà triển khai không đồng bộ, thiếu tập trung Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn còn manh mún, rời rạc
Hạ tầng kỹ thuật Kinh tế - Xã hội vẫn còn những mặt yếu kém Nguồn tài chính chưa đảm bảo để có thể triển khai những hạng mục trọng điểm làm thay đổi căn bản bộ mặt đô thị Nhiều công trình xây dựng thi công chậm, không dứt điểm, tác động tiêu cực đến Kinh tế - Xã hội, môi trường và hình ảnh du lịch Hội An Trật tự xây dựng, chất lượng kỹ thuật và thẩm mỹ không ít công trình còn thấp Tỷ lệ cây xanh đường phố chỉ mới ở mức 5m2/người, cây xanh ở khu vực công cộng bố trí chủng loại không hợp
lý và thiếu sự chăm sóc Các công trình kiến trúc - mỹ thuật mang tính biểu tượng, các công trình phúc lợi, phục vụ sinh hoạt cộng đồng còn thiếu nhiều Dịch vụ công ích đô thị, vệ sinh, bảo vệ môi trường tuy đã có cải thiện nhưng vẫn còn bất cập nhiều mặt, hợp tác cộng đồng còn yếu Trình độ quy hoạch xây dựng, kiến trúc nhìn chung chưa đạt yêu cầu phát triển của thành phố có Di sản Văn hóa thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển thế giới
3 Các tài nguyên phát triển du lịch
Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An với tổng diện tích là 40km2 gồm 3 vùng: vùng lõi, vùng đệm, vùng chuyển tiếp Vùng lõi gồm quần đảo Cù Lao Chàm với 8 hòn đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn La, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Tai và Hòn Ông Lớn nhất là đảo Hòn Lao với diện tích 1.317 ha, cách bờ biển Cửa Đại 15km, cách trung tâm khu phố cổ Hội An 19km về hướng Đông - Đông Bắc
Trang 29Bãi biển Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm - nổi tiếng với nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử: Pulociam, Pulaucham, Polochiam Pello, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La… với nhiều hòn đảo lớn nhỏ, quần tụ thành hình cánh cung quay về hướng đất liền Do ở vị trí và điều kiện địa
lý đặc biệt, Cù Lao Chàm chính là nơi trung chuyển, điểm hẹn trên Con đường tơ lụa - gốm sứ Đông Tây và khu vực Các nhà buôn phương Tây coi đây là cơ sở giao lưu và địa bàn lý tưởng cho những dự định kinh tế, quân sự và cả ngoại giao đối với nước Đại Việt - Đại Nam - Việt Nam
Chim Yến làm tổ và đẻ trứng trên đảo Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm có nhiều tiềm năng về mặt sinh quyển và đa dạng sinh học; là một trong số rất ít đảo của cả nước còn giữ được thảm thực vật có độ che phủ tương đối lớn,
Trang 30khoảng 60% - 70% Nhờ có lớp phủ thực vật tương đối tốt nên rừng Cù Lao Chàm là nơi cư trú của nhiều loài động vật Trong số đó, đáng chú ý có khỉ đuôi dài và chim yến
là 2 loài được đưa vào Sách đỏ Động vật Việt Nam
Bên cạnh vùng lõi là quần đảo Cù Lao Chàm, khu Dự trữ Sinh quyển còn có vùng đệm bao gồm hành lang nối tiếp giữa vùng cửa sông (Cửa Đại) và quần đảo phía ngoài Chức năng quan trọng ở vùng đệm là thông qua việc duy trì hệ sinh thái cho cả rừng và biển Vùng Cửa Đại giống như hệ thống máy lọc sinh quyển tự nhiên đối với chất ô nhiễm và bùn lầy phù sa nhằm bảo vệ, duy trì, cân bằng dòng cacbon, hạn chế xói lở, bảo vệ cho cả vùng biển Cù Lao Chàm, tạo môi trường tốt nhất cho san hô sinh tồn và phát triển Khu rừng ngập mặn cửa sông - ven biển dọc dài Cẩm Thanh, Cửa Đại, Cẩm An cùng hệ thống cỏ biển trong và thềm Cửa Đại là chiếc nôi lý tưởng nuôi dưỡng, cung cấp, bổ sung cho biển Cù Lao Chàm nguồn gien vi sinh quý
Vùng chuyển tiếp bao gồm khu Phố cổ - Di sản văn hóa Thế giới Hội An là vùng bảo tồn nguyên trạng theo công ước của Hội đồng Di sản Thế giới và trong tương lai được mở rộng thêm ra các vùng ven Ở nơi này không chỉ phát triển du lịch tham quan
mà còn được tập trung cho việc cung cấp sinh kế cho cộng đồng địa phương
Như vậy, khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An xét về diện tích như hiện nay đã bao gồm một vệt dài từ khu phố cổ Hội An đến quần đảo Đây là mẫu hình đầu tiên của tổ chức Thế giới (MAB) về Sinh quyển Thiên nhiên gắn với Di sản Văn hóa Dưới góc độ khu Dự trữ Sinh quyển thì đây là nơi đang được bảo tồn được nhiều nguồn gen quý Với hai yếu tố trên đã bộc lộ sự thật hiển nhiên là một thực thể gắn bó máu thịt giữa Sinh quyển với Di sản không thể tách rời Vì thế đã có nhiều nhà khoa học chung nhận định rằng Hội An là vùng đất của Thế giới
Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX Giữa những ngôi nhà cổ là xen kẽ những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng với phần lớn là
Trang 31các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa và một số ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp
Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường dọc Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông
Khu phố cổ Hội An -Di sản Thế giới
Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ điển hình cho kiến trúc Hội An Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ Nếu bắt đầu từ Chùa Cầu, sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất
cả đều hướng ra mặt sông: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu Phía Tây đường Nguyễn Thái Học
có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn
Kiểu nhà phổ biến nhất ở Hội An là những ngôi nhà phố có 1 hoặc 2 tầng với đặc trưng là chiều ngang hẹp nhưng lại có chiều sâu theo kiểu nhà hình ống Thông
Trang 32thường nhà có khung gỗ, hai bên có tường gạch.Trung bình mỗi ngôi nhà có chiều ngang từ 4 đến 8m, chiều sâu từ 10 đến 40m Theo chiều sâu các nhà được kết cấu 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng Kiến trúc này mang tính văn hóa khu vực Đây là một đặc trưng rất quan trọng của kiến trúc khu phố cổ Hội An
Chùa Cầu về đêm
Chùa Cầu là kiến trúc đặc trưng và trở thành biểu tượng của Hội An Chùa Cầu còn gọi là Lai Viễn Kiều hay Cầu Nhật Bản, được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XVII Ban đầu Chùa Cầu do người Nhật xây dựng Qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, những phong cách Nhật bị dần mất đi mà thay vào đó là phong cách Việt Nam xưa Chùa Cầu dài 18m, chùa được xây dựng bằng gạch, gỗ trạm trổ công phu, mái được lợp bằng ngói
âm dương
So với các đô thị khác của Việt Nam, Hội An có những đặc điểm lịch sử và địa
lý nhân văn rất riêng biệt Mảnh đất nơi đây có một lịch sử lâu đời và là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở văn hóa Hội An chính là tính đa dạng Những người Việt vào cư trú ở Hội An từ cuối thế kỷ XV và chung sống hòa bình với bộ phận dân cư người Chăm vẫn định cư rất lâu từ trước đó Khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi đây đã tiếp nhận nhiều cư dân mới đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau Điều này giúp cho Hội An có được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, thể hiện ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật