1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế, văn hóa huyện phổ yên (tỉnh thái nguyên) thế kỷ XIX

169 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn “Kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên thế kỷ XIX” làm đề tài luận án tiến sĩ, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu diện mạo của vùng đất Phổ Yên

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đàm Thị Uyên và PGS.TS Nguyễn Cảnh Minh Các nội dung nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả sưu tầm và xử lý từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Trong luận án sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Tác giả luận án

Đỗ Hằng Nga

Trang 2

1 Lí do chọn đề tài 3

1.2.2 Các công trình nghiên cứu của người nước ngoài 24

2.1 Quá trình hình thành và những thay đổi diên cách 28

Trang 3

3.2.4 Tô thuế 88

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân bố khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên thế kỷ XIX 37 Bảng 2.2 So sánh tương quan giữa số nhân đinh và diện tích ruộng đất của

Bảng 2.3 Số dân các tộc người thiểu số của phủ Phú Bình thế kỷ XIX 43 Bảng 3.1 Diện tích các loại ruộng đất phân bố theo xã, thôn ở Phổ Yên

(theo địa bạ Gia Long 4)

địa bạ Gia Long 4)

58

Bảng 3.8 Sở hữu ruộng đất của quan viên làng xã ở huyện Phổ Yên (theo

địa bạ Gia Long 4)

61

Bảng 3.9 Quy mô sở hữu ruộng đất của quan viên làng xã ở huyện Phổ

Yên (theo địa bạ Gia Long 4)

62

Bảng 3.10 Diện tích các loại ruộng đất phân bố theo xã, thôn ở Phổ Yên

(theo địa bạ Minh Mệnh 21)

64

Bảng 3.11 Quy mô sở hữu ruộng đất ở Phổ Yên (theo địa bạ Minh Mệnh 21) 65 Bảng 3.12 Phân bố ruộng đất tư ở huyện Phổ Yên (theo địa bạ Minh Mệnh 21) 67 Bảng 3.13 Quy mô sở hữu ruộng đất tư ở Phổ Yên (theo địa bạ Minh

Trang 5

Bảng 3.15 Quy mô sở hữu ruộng đất tư ở Phổ Yên theo các nhóm họ (theo

Bảng 3.17 Quy mô sở hữu ruộng đất của quan viên làng xã ở huyện Phổ

Yên (theo địa bạ Minh Mệnh 21)

71

Bảng 3.18 So sánh tỉ lệ các loại ruộng đất một số huyện ở Thái Nguyên

(theo địa bạ Minh Mệnh 21)

74

Bảng 3.19 So sánh số thuế nộp hàng năm của Phổ Yên với các huyện khác

trong phủ Phú Bình

77

Bảng 3.20 So sánh số nhân đinh, diện tích ruộng đất, ngạch thuế thóc ở

Thái Nguyên và Sơn Tây năm Gia Long 18 (1820)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong đời sống cộng đồng của con người, kinh tế là toàn bộ hoạt động vật chất, còn văn hóa là toàn bộ hoạt động tinh thần Giữa văn hóa và kinh tế không có ranh giới rõ ràng mà hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau, trong văn hóa luôn có yếu tố kinh tế, cũng như trong kinh tế luôn có yếu tố văn hóa Đây là hai lĩnh vực hoạt động thiết yếu, phổ quát, tạo nên hệ thống những giá trị mang bản sắc của các cộng đồng cư dân lớn nhỏ khác nhau Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá ngày càng gia tăng, kinh tế và văn hoá được xem là hai nguồn lực lớn nhất quy định hành

vi của con người, của cộng đồng Mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: kinh tế phát triển là cơ sở để xây dựng và phát triển nền văn hóa, đồng thời văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Như thế, việc nghiên cứu diện mạo kinh tế, văn hóa của quốc gia hay từng khu vực cụ thể sẽ đem lại những hiểu biết toàn diện, góp phần kế thừa, phát huy những di sản truyền thống trong quá trình

hoạch định, triển khai các chiến lược phát triển phù hợp với quốc gia, vùng miền

Nếu lịch sử dân tộc là lịch sử chung của người Việt thì mỗi địa phương lại có những sắc màu lịch sử - văn hóa riêng mà địa phương khác không có Đó là một thực tế khách quan mang tính chất quy luật, phản ánh môi trường và điều kiện lịch

sử cụ thể, thể hiện mối quan hệ vừa đấu tranh vừa hòa đồng với thiên nhiên, với xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ Trên mảnh đất hình chữ S giàu truyền thống, 54 dân tộc anh em trên 63 tỉnh, thành phố đã chung sống, đoàn kết cùng nhau đấu tranh giữ vững chủ quyền dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Do đó, thật là thiếu sót khi tìm hiểu lịch sử dân tộc mà không thông qua lịch sử cụ thể của từng địa phương

Phổ Yên là địa phương trung du, địa đầu phía nam của tỉnh Thái Nguyên Đây

là địa bàn có “nền cảnh địa văn hóa” từ lâu đời [47, tr.34], là một phần trong không

gian Tày cổ với chế độ thủ lĩnh địa phương, qua chiến lược khoan nhượng của các nhà nước quân chủ Việt Nam ngày càng trở nên gắn bó với triều đình trung ương Đặt trong khu vực trung du miền núi phía Bắc rộng lớn, khác biệt rõ nét so với các

Trang 7

huyện lân cận như Vũ Nhai, Động Hỉ, Định Hóa, chịu sự chi phối phổ biến của địa hình núi cao, Phổ Yên lại thuộc nhóm địa hình đồng bằng trung du và có cộng đồng người Kinh chiếm đa số trong kết cấu cư dân Phổ Yên là vùng chân núi Là vùng nằm giữa đồng bằng và miền núi với vị trí kinh tế, quốc phòng quan trọng, Phổ Yên được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi có những đô thị buôn bán sầm uất, với miền núi non hiểm trở phía bắc, nơi ngã ba của con đường giao lưu với các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội Vị trí địa lý khiến cho Phổ Yên trở thành vùng tiếp xúc về dân cư và kinh tế, tạo nên những biến đổi, giao thoa ngôn ngữ, giao thoa văn hóa Tày - Kinh Tìm hiểu lịch sử của vùng đất này sẽ mang đến một hình ảnh về sự giao lưu miền xuôi, miền ngược trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam thời trung đại, thế kỷ XIX là thế kỷ của những biến động và phân hóa sâu sắc Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng từ thế kỉ XVIII Bước sang thế kỷ XIX, tình hình đất nước đầy rẫy khó khăn Hàng loạt thách thức đặt ra cho triều đình nhà Nguyễn Các triều vua Nguyễn có nhiều cố gắng trong việc ổn định tình hình đất nước sau thời kỳ nội chiến phân liệt,

có những thành tựu mở mang kinh tế và văn hóa nhưng không thể giải quyết được

xu thế khủng hoảng của chế độ phong kiến, nhất là khi làn sóng thực dân phương Tây ngày càng đến gần Có thể nói, toàn cục bức tranh chính trị, kinh tế, xã hội của vương triều phong kiến cuối cùng ở Việt Nam là đa dạng, phức tạp, mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và bảo thủ, giữa cái mạnh và cái yếu, Những vấn đề đa chiều này cần được nhìn nhận toàn diện và cụ thể để có đánh giá khách quan Từ đó, nghiên cứu

về một địa phương trong bối cảnh phức tạp của lịch sử dân tộc thế kỷ XIX là một việc làm cần thiết, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề của lịch sử triều Nguyễn

Chọn “Kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) thế kỷ XIX” làm

đề tài luận án tiến sĩ, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu diện mạo của vùng đất Phổ Yên và những con người sáng tạo ra lịch sử ở đây với những nét riêng, độc đáo, cụ thể hóa, sinh động hóa bức tranh lịch sử chung của toàn dân tộc

Trang 8

2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tình hình kinh tế và văn hóa của huyện Phổ Yên ở thế kỷ XIX Đối tượng được quan tâm trên một số khía cạnh gồm những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX (như điều kiện địa lý tự nhiên; lịch sử hành chính; diện mạo văn hóa - xã hội trước thế kỷ XIX); chế độ sở hữu ruộng đất và tình hình kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp; bức tranh văn hóa thế kỷ XIX Đối tượng nghiên cứu được tập trung trình bày, làm rõ ở chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung:

- Trong tình hình kinh tế, từ hạn chế về tư liệu địa bạ, vấn đề ruộng đất được phục dựng chủ đạo ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mệnh Diện mạo kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp được dựng nên với những đường nét khái quát và một số dấu ấn nổi bật

- Trong tình hình văn hóa, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào các vấn đề nổi bật của diện mạo văn hóa Phổ Yên thế kỷ XIX như đời sống văn hóa vật chất, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, văn học dân gian, chứ không đi vào trình bày dàn trải tất cả các khía cạnh của nội hàm văn hóa nói chung Thêm vào đó, đối với một số lĩnh vực văn hóa, vì tư liệu không cho phép sự thể hiện cụ thể về mặt thời gian, nên luận án dừng lại ở việc nêu những nét nổi bật đã được định hình

mang tính truyền thống tại địa phương

Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu trên địa bàn các tổng, xã, thôn của huyện Phổ Yên Trong đó, tổng là đơn vị trung gian giữa huyện và xã; dưới tổng là đến xã; xã (trang, phường) là đơn vị hành chính cấp nhỏ nhất Địa giới

huyện có sự thay đổi ở nửa đầu và nửa sau thế kỷ XIX Theo sự thay đổi này, luận án tập trung nghiên cứu 6 tổng chính (Hoàng Đàm, Thượng Vụ, Thượng Kết, Thống Thượng, Vạn Phái, Nhã Luật) với 24 xã, 1 phường và 1 trang Ngoài

ra, luận án mở rộng tìm hiểu ở một số tổng mà nửa đầu thế kỷ XIX thuộc về phủ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh, cho đến đời vua Đồng Khánh thì thuộc Phổ Yên Đó là

Trang 9

hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp hay văn hóa), luận án bước đầu tiến hành so sánh với những huyện khác (Tư Nông, Đại Từ, Động Hỉ, …)

cùng thuộc về phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu về huyện Phổ Yên trong thời gian

thế kỷ XIX, là thời kỳ Việt Nam có nhiều biến động về chính trị: có những cố gắng củng cố quyền lực của triều Nguyễn, có quá trình xâm lược và đặt ách bảo

hộ của thực dân Pháp

Tuy nhiên, luận án giải quyết các vấn đề đặt ra về kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên chủ yếu dưới góc độ tác động của nhà nước quân chủ, chứ chưa quan tâm đến tác động từ quá trình xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp Từ năm 1884, trong quá trình xúc tiến xâm lược các tỉnh trung du và thượng du Bắc Kỳ, thực dân Pháp đánh lên Thái Nguyên Tuy nhiên, thực dân Pháp phải mất hơn 10 năm sau đó để tiến hành quá trình bình định phong trào kháng chiến của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên mới có thể xây dựng bộ máy thống trị ở vùng này Như thế, đặt trong tổng thể thời gian nghiên cứu “thế kỷ XIX”, đề tài của luận án chủ yếu chịu tác động từ nhà nước quân chủ phong kiến

Mặt khác, tùy từng khía cạnh của vấn đề nghiên cứu, do nguồn tư liệu nhiều

ít khác nhau, hoặc để đảm bảo tính hệ thống của vấn đề, nên luận án còn sử dụng cả những tư liệu phản ánh nội dung lịch sử trước thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế, văn hóa ở Phổ Yên thế kỷ XIX một cách chân thực, toàn diện và hệ thống, đặt cơ sở cho việc làm sáng tỏ nét đặc thù vùng miền và làm sinh động hóa các sự kiện lịch sử dân tộc có liên quan, nhiệm vụ cụ thể của luận án được đặt ra là:

Khái quát về các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế

kỷ XIX như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành và sự biến đổi địa danh địa giới của huyện qua các thời kỳ lịch sử; đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử

Phản ánh khoa học, chân thực về diễn biến sở hữu ruộng đất của huyện Phổ Yên thế kỷ XIX, phân tích và nhận xét về tình hình ruộng đất và các thành phần kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp) của huyện ở thời điểm này,

Trang 10

so sánh với một số địa phương khác trong và ngoài phủ Phú Bình, trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên cùng giai đoạn lịch sử

Khôi phục lại những nét tiêu biểu trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Phổ Yên thế kỷ XIX trong tổng thể diện mạo văn hóa mang tính truyền thống ở địa phương

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu

Để hoàn thành luận án, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Một số sách sử và địa chí được biên soạn dưới thời phong kiến như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh địa dư chí, …

- Các thần tích, thần sắc lưu giữ ở các công trình tín ngưỡng tôn giáo, hương ước thế kỷ XIX và hương ước cải lương của các làng xã Phổ Yên, các bản gia phả

dòng họ, các hồ sơ di tích lịch sử văn hóa, địa chí Thái Nguyên, …

- Các văn bia và minh văn tồn tại rải rác trong các làng xã Phổ Yên, có niên đại thế kỷ XIX hoặc sớm hơn

- 19 đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và 13 đơn vị địa bạ có niên đại Minh Mệnh 21 (1840) Đây là cơ sở quan trọng để tác giả luận án nghiên cứu

và khôi phục bức tranh ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của các làng xã huyện Phổ Yên nửa đầu thế kỷ XIX

- Tác giả tiến hành các đợt thực địa tại huyện Phổ Yên và các vùng lân cận

để quan sát địa hình, cảnh quan, đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân địa phương, tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa, thu thập các tư liệu truyền miệng từ lớp người cao tuổi, …

Phương pháp nghiên cứu

- Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp

lịch sử và logic Phương pháp lịch sử giúp tác giả tái hiện trung thực bức tranh kinh tế, văn hóa của Phổ Yên theo trình tự thời gian, không gian Phương pháp logic giúp tác giả rút ra những đánh giá về bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của

Trang 11

những chuyển biến kinh tế - văn hóa ở Phổ Yên trong bối cảnh chung của thời phong kiến

- Trong sưu tầm tư liệu và khảo sát thực địa, tác giả sử dụng phương pháp

điều tra xã hội học, dân tộc học thông qua việc phỏng vấn sâu với nhiều đối tượng

và về nhiều vấn đề khác nhau Công tác điền dã để sưu tầm tư liệu văn học dân gian, khảo cứu các di tích, địa danh, được thực hiện trên hầu khắp các địa bàn làng xã thuộc huyện Phổ Yên

Khối lượng tư liệu đã sưu tầm được tác giả phân loại theo vấn đề nghiên cứu (kinh tế, chính trị, văn hóa, ) và theo loại hình tư liệu (thành văn, vật chất, truyền miệng, ngôn ngữ, ) để có những phê phán sử liệu phù hợp Trong quá trình này, nguồn tư liệu thành văn và tư liệu vật chất được sử dụng triệt để sau khi đã thẩm định mức độ tin cậy (về văn bản, về nguồn gốc, xuất xứ) Các nguồn tư liệu khác được sử dụng khi có sự xử lý, đối chiếu một cách kĩ lưỡng

Đối với tư liệu địa bạ phục vụ cho việc phục dựng tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở chương 3, luận án áp dụng phương pháp thống kê trong việc

xử lý 19 địa bạ lập vào năm 1805 và 13 địa bạ lập vào năm 1840 để đi sâu nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp định lượng trong tổng hợp, phân tích và xử lý các thông tin từ địa bạ thành hệ thống bảng biểu, kế thừa và so sánh với kết quả nghiên cứu địa bạ của một số huyện trong phủ Phú Bình và tỉnh Thái Nguyên

5 Đóng góp của luận án

Về mặt tư liệu, nét nổi bật là luận án lần đầu tiên xử lý triệt để 19 địa bạ Gia Long 4 và 13 địa bạ Minh Mệnh 21 của các làng xã Phổ Yên, so sánh với các số liệu thống kê của một số địa phương khác trong và ngoài phủ Phú Bình, trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên cùng vào hai thời điểm 1805 và 1840 Luận án đi sâu phân tích phần ruộng đất tư hữu trên nhiều góc độ: từ ruộng đất tư hữu ở từng thời điểm đến sự thay đổi của ruộng đất tư hữu qua các triều vua, từ cái nhìn tổng quan đến sự

sở hữu phân theo dòng họ, theo địa vị chính trị, theo giới tính, theo nguồn gốc dân

cư, Căn cứ vào những số liệu cụ thể được xử lý, luận án rút ra những kết luận về tình hình sở hữu ruộng đất và sự biến đổi của các loại hình sở hữu ruộng đất ở Phổ Yên thế kỷ XIX, làm rõ một vài vấn đề lịch sử triều Nguyễn có liên quan

Trang 12

Về mặt nội dung, trên cơ sở khai thác tối đa nguồn tư liệu địa phương, luận án khôi phục một cách hệ thống và cụ thể về tình hình kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX Luận án không hướng tới việc bao quát mọi khía cạnh của vấn đề, mà đi sâu tìm hiểu về những nét cơ bản nhất, đặc trưng nhất trong các lĩnh vực nêu trên Dưới góc độ nghiên cứu làng xã, luận án góp thêm một công trình nghiên cứu về làng xã vùng trung du nói riêng và làng xã Việt Nam nói chung Từ kết quả nghiên cứu, nhìn nhận rõ hơn về những nét chung cũng như tính đa dạng, đặc thù của làng xã Việt Nam truyền thống Dưới góc độ nghiên cứu vùng miền, luận án góp phần vào việc làm sáng tỏ những vấn đề lịch

sử - văn hóa của khu vực miền núi phía Bắc trong bối cảnh chung của lịch sử dân tộc thế kỷ XIX

Luận án là tài liệu tham khảo, cung cấp tư liệu có tính hệ thống cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương Kết quả nghiên cứu của luận án góp thêm những luận chứng phục vụ công tác hoạch định và triển khai các chính sách kinh tế - văn hóa của huyện Phổ Yên (từ năm 2015 là thị xã Phổ Yên) trên cơ sở khai thác những lợi thế, tiềm năng về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực và nền tảng kinh tế - văn hóa truyền thống Từ nội dung luận án, cư dân địa phương có thể thấy được những giá trị bản sắc tốt đẹp của quê hương để tự hào, gìn giữ, phát triển; đồng thời khắc phục các hạn chế trong đời sống hiện tại Như thế, luận án đã góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền tại địa phương

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (5 trang), Danh mục Tài liệu tham khảo (gồm 200 đề mục được sắp xếp theo thể loại) và Phụ lục (gồm một số bản đồ, bản sao chụp tư liệu, hình ảnh), nội dung luận án được bố cục thành 4 chương với tên chương lần lượt như sau:

Chương 1: Tổng quan về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu (18 trang)

Chương 2: Khái quát về địa bàn nghiên cứu (23 trang)

Chương 3: Kinh tế huyện Phổ Yên thế kỷ XIX (57 trang)

Chương 4: Văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX (38 trang)

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TƯ LIỆU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nguồn tư liệu

Một là, một số sách sử và địa chí được biên soạn dưới thời phong kiến đã được dịch ra tiếng Việt như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh địa dư chí, …

Đại Nam thực lục là bộ chính sử lớn và quan trọng của nhà Nguyễn, do

Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong 88 năm mới hoàn thành, tính từ khi bắt đầu làm (1821) đến khi hoàn thành và khắc in xong những quyển cuối cùng (1909) Bộ sách được viết theo thể biên niên, chia thành 2 phần Tiền biên và

Chính biên Trong đó, Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép về sự nghiệp của 9

chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến hết

đời Nguyễn Phúc Thuần (1777) Tổng tài của Đại Nam thực lục tiền biên là Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn Đại Nam thực lục chính biên ghi chép về lịch

sử triều Nguyễn từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỷ, mỗi kỷ là một đời vua Như vậy, đây là bộ sử ghi chép về toàn bộ lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn cũng như hơn 200 năm lịch sử Đàng Trong của các chúa Nguyễn Nghiên cứu về tình hình kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên,

qua việc biên niên sự việc xảy ra dưới các triều vua, Đại Nam thực lục cho biết

một số mặt về chính trị, kinh tế, quốc phòng như những chính sách của nhà nước quân chủ với vùng Thái Nguyên nói chung (việc cắt đặt quan lại, tha thuế, điều binh, .); các năm được mùa, mất mùa; đấu tranh của nhân dân địa phương; quá trình bảo vệ biên giới phía Bắc khỏi hoạt động cướp phá của tàn quân khởi nghĩa nông dân ở Trung Quốc dạt sang tìm nơi trú ẩn: các nhóm giặc Cờ, nhóm Tam Đường, Hoạt động của những nhóm này và việc điều binh chống giặc của nhà Nguyễn có nhiều hoạt động diễn ra trên đất Phổ Yên,

Đồng Khánh địa dư chí - bộ địa chí gồm 25 tỉnh từ Cao Bằng đến Bình

Thuận theo quy định của Hiệp ước Patenôtre (1884) - là tác phẩm quan trọng trong

di sản Hán Nôm Việt Nam do Quốc sử quán triều Nguyễn hoàn thành vào các năm

Trang 14

1886-1887 dưới thời vua Đồng Khánh Ngô Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin dịch và chú thích, nhà xuất bản Thế giới ấn hành Đây là công trình

đồ sộ về sử liệu học và địa lý học lịch sử Trong phần tỉnh Thái Nguyên, từ trang

796 đến trang 798, cuốn sách đề cập cụ thể đến huyện Phổ Yên ở các khía cạnh: địa giới hành chính, đơn vị hành chính (các tổng, xã, phường trực thuộc); các điều kiện

tự nhiên của huyện như sản vật, núi sông, danh thắng, đường đi, mỏ sắt, diện tích ruộng đất; số thuế ruộng, thuế đinh hàng năm; số dân sinh sống và các tộc người trong huyện; phong tục của các cộng đồng cư dân tại địa phương Đây là những ghi chép giá trị để tác giả luận án khai thác và đối sánh với các nguồn tư liệu khác

Đại Nam nhất thống chí là sách địa lý chính thức của triều đình nhà Nguyễn

do Quốc sử quán biên soạn từ năm 1865 đến năm 1910 Đây là bộ tổng tập đầy đủ địa chí các tỉnh và các đơn vị hành chính tương đương của nước Đại Nam nửa cuối

thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trong Đại Nam nhất thống chí tập 4 do nhà xuất bản

Thuận Hóa ấn hành năm 1997, phần ghi chép về tỉnh Thái Nguyên ở các trang từ

153 đến 182 của sách Với dung lượng 30 trang viết về tỉnh Thái Nguyên, cuốn sách

đã tổng hợp những ghi chép tường tận về các mặt cương vực, lãnh thổ, hình thế, phong tục, cổ tích, cho đến ruộng đất, hộ khẩu, nhân vật của tỉnh và các phủ,

châu, huyện trong tỉnh Huyện Phổ Yên được đề cập trực tiếp trong phần Dựng đặt

và diên cách (tr.156-157) và tản mạn trong những ghi chép về Hình thế, phong tục, núi sông, cửa quan, đò cầu, chợ và phố, thổ sản, (tr.161-182) Đại Nam nhất thống chí cung cấp những tư liệu giá trị trong việc phục dựng bối cảnh Phổ Yên thế

kỷ XIX không những về địa lý mà phần nào cả về lịch sử kinh tế, chính trị, văn học nghệ thuật

Loại tư liệu này được khai thác và sử dụng một cách triệt để trong quá trình giải quyết và trình bày các nội dung của luận án

Hai là, các văn bia, minh văn, các bản thần tích, thần sắc, hương ước được

khai thác ở địa phương

Văn bia tồn tại rải rác trong các làng xã Phổ Yên, gắn với các công trình tín ngưỡng tôn giáo (đình, đền, chùa, nhà thờ họ) Nhiều bia có phần văn khắc mờ, không đọc được Số có thể khai thác nội dung gồm 18 văn bia có niên đại thế kỷ XIX hoặc sớm hơn Trong đó, có 2 văn bia (ở đình Phù Hương và chùa Hương Ấp)

Trang 15

01 văn bia lập dưới triều Chính Hòa (1698), 01 văn bia lập dưới triều Long Đức (1734), 01 văn bia lập dưới triều Vĩnh Hựu (1736), 01 văn bia lập dưới triều Cảnh Hưng (1784), 04 văn bia lập dưới triều Gia Long, 02 văn bia lập dưới triều Minh Mệnh, 03 văn bia lập dưới triều Tự Đức, 02 văn bia lập dưới triều Thành Thái Về

mặt nội dung, ngoài một bia văn chỉ là Phối hưởng bi được lập năm Thành Thái 3

(1891) ghi công đức của tập thể môn sinh góp công xây dựng nhà trường, thờ phụng các thầy giáo ở địa phương; còn lại phần lớn là các bia hậu, ghi chép về những hoạt động xung quanh tục lập Hậu như các khoản tiền hay ruộng do Hậu bỏ ra, hình thức gửi giỗ, cách thức cúng giỗ, … Nội dung trong văn bia hậu tuy không nhiều, nhưng khi đặt chúng trong từng khu vực hành chính của Phổ Yên và trong từng thời điểm lịch sử cụ thể của thế kỷ XIX thì sẽ cho những thông tin có giá trị Luận án khai thác hệ thống bia hậu để hiểu về tập tục cúng hậu, lập hậu và tác động của nó đối xã hội Phổ Yên thế kỷ XIX; tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa Phổ Yên trong những thời điểm nhất định,

Các bản thần tích lưu giữ tại các điểm di tích ở địa phương Thần tích xã Hoàng Đàm (Thái Nguyên tỉnh, Phổ Yên phủ, Hoàng Đàm tổng các xã thần tích), gồm sự tích Phạm Cự Lượng (Hồng Thánh Khuông Quốc Trung Vũ tá trị đại vương) thời Lý Thái Tông và sự tích Trương Hống, Trương Hát (Đại Đương giang

hộ quốc Khước Địch đại vương) triều Triệu Việt Vương Thần tích xã Xuân Trù tổng Tiên Thù chép sự tích Cao Sơn Hiển ứng đại vương, Quý Minh Hiển ứng đại vương triều Hùng Duệ Vương do Nguyễn Bính soạn năm 1572 Thần tích xã Thượng Giã 41 trang do Nguyễn Bính soạn năm 1572 về sự tích Quý Minh đại vương Thần tích đền Đan Hà năm sao năm Vĩnh Hựu 2 (1736) gồm sự tích Cao Sơn, Quý Minh và Tam Ty Quá Giang Thần tích xã Cải Đan sao lại năm Cảnh Hưng 10 (1749) về sự tích Dương Tự Minh Thần tích xã Phù Lôi tổng Thượng Giã

12 trang chữ Hán, sao năm Tự Đức 3 (1850) gồm sự tích Trương Hống (Như Nguyệt Khước Địch đại vương), Trương Hát (Nam Bình Giang uy địch đại vương) triều Triệu Việt Vương

26 thần sắc lưu giữ tại các công trình tín ngưỡng tôn giáo ở Phổ Yên, trong

đó đời vua Thiệu Trị (7 sắc phong), đời vua Tự Đức (4 sắc phong), đời vua Đồng Khánh (2 sắc phong), đời vua Duy Tân (2 sắc phong), đời vua Khải Định (11 sắc phong) Đây những đạo sắc do các triều vua Nguyễn ban cho các làng xã ở Phổ Yên

Trang 16

trong việc thờ phụng tại địa phương Nội dung phản ánh sự tích các vị thần, được biên soạn bằng chữ Hán với những sự kiện lịch sử đan xen chuyện kể dân gian Các

vị thần được sắc phong phổ biến là Mạnh Điền Quốc Vương (một người nông dân địa phương tham gia lực lượng của Phù Đổng), Phù Đổng Thiên Vương, Dương Tự Minh và hai công chúa Diên Bình, Thiều Dung

Di sản Hán Nôm nói trên là những tư liệu quý, có tác dụng làm cơ sở phục

vụ việc tra cứu, đối sánh, xác minh những ký ức dân gian tản mạn, phục dựng về một số mặt kinh tế, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương

Hương ước thế kỷ XIX và hương ước cải lương của các làng xã Phổ Yên, các bản gia phả dòng họ, các hồ sơ di tích lịch sử văn hóa, địa chí Thái Nguyên, … Các bản hương ước cải lương ở Phổ Yên được lập vào các năm 1932, 1937 và

1942, tuy thuộc nửa đầu thế kỷ XX nhưng vẫn có giá trị trong việc giải quyết các vấn đề của luận án Cơ sở của việc sử dụng nội dung hương ước cải lương vào luận

án này là: thứ nhất, trong nội dung hương ước cải lương phản ánh nhiều nét phong tục, lễ nghi mang tính truyền thống, đã tồn tại qua nhiều đời ở địa phương; thứ hai, trong cấu trúc hai phần (chính trị và tục lệ) được hương ước cải lương trình bày khá

rõ ràng, thì nội dung về tục lệ là lớp sử liệu không chịu ảnh hưởng nhiều từ tác động của mối quan hệ với chính quyền thực dân, có tính tin cậy cao Từ đó, hương ước cải lương được tác giả khai thác, sử dụng để thực hiện hồi cố và phục dựng bức

tranh văn hóa truyền thống của thế kỷ XIX

Ba là, 19 đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và 13 đơn vị địa bạ có

niên đại Minh Mệnh 21 (1840)

Địa bạ là sổ ghi chép, thống kê về ruộng đất của các làng xã trên cơ sở sự khám đạc và xác nhận của chính quyền Tiếp cận tư liệu vùng Phổ Yên, luận án khai thác được 19 đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và 13 đơn vị địa bạ

có niên đại Minh Mệnh 21 (1840) Đặt tương quan với số làng xã của Phổ Yên nửa đầu thế kỷ XIX là 26 (24 xã, 1 phường và 1 trang), số địa bạ thu thập được đảm bảo tỉ lệ mang tính đại diện: năm Gia Long 4 (19/26 = 73%), năm Minh Mệnh 21 (13/26 = 50%) Từ đó, luận án không chọn mẫu mà tiến hành xử lý toàn bộ 32 đơn

vị địa bạ Các địa bạ này đều viết bằng chữ Hán Nội dung địa bạ tập trung vào các

Trang 17

giới); kê khai diện tích ruộng đất của làng xã; kê khai từng thửa ruộng đất; phần xác nhận mang tính thủ tục hành chính

Đối với 32 địa bạ này, luận án sử dụng phương pháp phân tích định lượng để

xử lý và khai thác nội dung Trên cơ sở đó, mọi thông tin về tổng diện tích ruộng đất công tư cũng như diện tích từng loại ruộng đất trong đó, diện tích từng thửa ruộng tính theo chủ sở hữu đều được sử dụng để giải quyết nội dung của luận án Khi tiến hành phân tích tính chất sở hữu của các chủ ruộng tư, luận án còn phân loại các chủ sở hữu theo giới tính (nam, nữ), theo nhóm họ, theo quê quán (chính canh, phụ canh), theo địa vị chính trị (quan viên, bạch đinh) Như thế, nguồn tư liệu địa bạ không chỉ được sử dụng để trực tiếp giải quyết vấn đề ruộng đất (ở chương 3 của luận án) mà còn được xử lý chi tiết để giải quyết một số vấn đề gián tiếp liên quan như bộ máy chính quyền với những danh chức ghi trong địa bạ, tổ chức và đời sống làng xã, tín ngưỡng tôn giáo ở nông thôn Phổ Yên (ruộng đình, đền, chùa), quan hệ cộng đồng huyết thống và láng giềng, ở chương 4 của luận án Có thể nói, số địa bạ trên là tư liệu đặc biệt giá trị trong nghiên cứu phục dựng làng xã truyền thống ở Phổ Yên nói chung Mỗi địa bạ mô tả sinh động, toàn cảnh về bức tranh của một làng cụ thể

Ngoài ra, luận án tiến hành đối sánh với những thông tin về địa bạ của một

số địa phương trong và ngoài phủ Phú Bình, trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên đã được các nhà nghiên cứu xử lý và công bố

Bốn là, các tư liệu khảo sát điền dã

Tác giả tiến hành nhiều đợt thực địa tại huyện Phổ Yên và các vùng lân cận

Tư liệu thu thập được bao gồm đặc điểm địa hình, cảnh quan; những thông tin về biến đổi hành chính qua các thời kỳ của huyện Phổ Yên nói chung và các làng xã ở Phổ Yên nói riêng; đời sống kinh tế, xã hội, đời sống văn hóa (vật chất, tinh thần) của nhân dân địa phương

Những tư liệu này do chính quyền địa phương và lớp người cao tuổi cung cấp Trong đó, có những tư liệu giá trị như các câu chuyện về đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân, gia phả, tục lệ, câu đối ở các tư gia thuộc các dòng họ lớn như họ Trần ở Vân Trai, họ Phạm ở Phù Lôi, họ Nguyễn ở Thanh Thù, Tư liệu truyền khẩu cho thấy nhiều nét văn hóa, phong tục truyền thống in đậm trong ký ức dân gian Ký ức dân gian này được sử dụng sau khi có sự so sánh, đối chiếu với những

Trang 18

dấu tích vật chất, văn tự (văn bia, minh văn, hương ước, ) còn lại ở địa phương, cho phép phục dựng những nét tiêu biểu trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Phổ Yên trong thế kỷ XIX

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Một công trình có đối tượng nghiên cứu là huyện Phổ Yên trong thời gian giới hạn thế kỷ XIX, từ trước đến nay chưa được thực hiện Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nó một cách trực

tiếp hay gián tiếp trong những công trình được xuất bản chính thức

Dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về tình hình kinh tế - văn hóa dưới triều Nguyễn thế kỷ XIX

Những năm qua, đã có nhiều chuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu về tình hình kinh tế - văn hóa dưới triều Nguyễn nói chung và kinh tế - văn hóa của một địa phương cụ thể giai đoạn thế kỷ XIX nói riêng Những kết quả nghiên cứu này ít nhiều có liên quan và trở thành tài liệu tham khảo hữu ích đối với việc thực hiện đề tài luận án

Có thể kể ra đây một vài công trình tiêu biểu về vấn đề ruộng đất Tác giả Vũ

Huy Phúc với cuốn Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX do nhà

xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1979; tác giả Vũ Văn Quân với Luận án

tiến sĩ lịch sử Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX bảo vệ tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1991; năm 1997, nhà xuất bản

Thuận Hóa (Huế) xuất bản cuốn sách của các tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang

(chủ biên) với đề tài Tình hình ruộng đất, nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn,

Trong cuốn Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả

Vũ Huy Phúc đã vạch ra bản chất chính sách ruộng đất của nhà nước thời Nguyễn, thiết chế và kết cấu ruộng đất hình thành từ chính sách đó, tác động và hậu quả của chính sách đối với yêu cầu phát triển của lịch sử, cũng như đối với đời sống vật chất

và ý thức đấu tranh giai cấp của nông dân Việt Nam Trong Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Văn Quân, tác giả đã

Trang 19

đầu thế kỷ XIX Tác giả Nguyễn Thị Thu Lương khai thác địa bạ của 124 làng xã

để trình bày và phân tích những nét cơ bản trong tình hình ruộng đất của Nam Bộ

qua nội dung luận án “Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX”

Viết về vấn đề kinh tế thế kỷ XIX, có nhiều chuyên khảo của các tác giả trên

cả nước như Nguyễn Thế Anh với nghiên cứu về Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn được nhà xuất bản Lửa thiêng (Sài Gòn) xuất bản năm 1971;

Vũ Huy Phúc với Thủ công nghiệp Việt Nam (1858 - 1945) xuất bản năm 1996 (nhà xuất bản Khoa học Xã hội) Hai tác giả Bùi Thị Tân, Vũ Huy Phúc với Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam dưới triều Nguyễn xuất bản năm

1998 (nhà xuất bản Thuận Hóa); Đỗ Bang với Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn - những vấn đề đặt ra hiện nay xuất bản năm 1998 (nhà xuất bản Thuận Hóa); Nguyễn Văn Khánh với Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 - 1945) xuất bản năm 2000 (nhà xuất bản Đại học Quốc gia,

Hà Nội), … Các chuyên khảo kể trên hoặc đề cập đến diện mạo chung của kinh tế -

xã hội, hoặc chỉ đề cập đến một số lĩnh vực trong kinh tế Việt Nam thế kỷ XIX Các nghiên cứu đã cho một hình dung khá rõ ràng về mô hình cơ cấu kinh tế của cả nước thời kỳ phong kiến và sự chuyển đổi từng bước sang mô hình cơ cấu kinh tế thuộc địa ở cuối thế kỷ Từ đó, có những liên hệ tới đời sống vật chất của người dân Việt Nam dưới các triều vua Nguyễn

Nhìn chung, vấn đề ruộng đất và kinh tế thế kỷ XIX trước giờ chủ yếu được tập trung nghiên cứu ở địa bàn các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ Các tỉnh miền núi và trung du (trong đó có tỉnh Thái Nguyên, phủ Phú Bình và huyện Phổ Yên) chưa được nghiên cứu nhiều

Cuốn Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới do nhà xuất bản Đại học Sư

phạm ấn hành năm 2005 tập hợp bài viết của nhiều tác giả về những vấn đề đa dạng

trong lịch sử triều Nguyễn Bố cục nội dung sách gồm 3 phần: Phần I Một số yêu cầu về phương pháp luận trong nghiên cứu và dạy học lịch sử thời Nguyễn, Phần II Một số vấn đề lịch sử thời Nguyễn, Phần III Về phương pháp dạy học lịch sử thời Nguyễn Với hơn 700 trang, cuốn sách cho phép dựng nên bức tranh tổng quát, đa

chiều về diện mạo Việt Nam - Đại Nam thế kỷ XIX: từ những vấn đề của nhà nước phong kiến độc lập nửa đầu thế kỷ (hành chính, khai hoang, thuế, ngoại giao, …)

Trang 20

đến những vấn đề trong quá trình từng bước mất độc lập, chủ quyền (xu hướng canh tân, vai trò của triều đình trong kháng chiến, phong trào Cần Vương, …) Bên cạnh

đó, sách cũng cung cấp tư liệu về một vài địa phương và vùng địa lý cụ thể (Thái Bình, Cao Bằng, Thanh Hóa, Tây Bắc, Tây Nguyên, )

Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình dưới hình thức các sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học, báo cáo hội thảo, trình bày cụ thể về tình hình kinh tế, văn hóa của một địa phương cụ thể ở thế kỷ XIX

Cuốn Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam của Đàm

Thị Uyên do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành năm 2007 Cuốn sách gồm 2

chương Sau chương 1 Khái quát các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, nội dung trọng tâm của sách tập trung ở chương 2 Chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số (từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX) Ở chương này,

tác giả đã trình bày chính sách dân tộc thời trung đại ở Việt Nam theo thế thứ các

triều đại, từ thời Lý - Trần đến thời Nguyễn, chia làm 5 mục Mục V Chính sách dân tộc của nhà Nguyễn, tiểu mục 3 Chính sách đối với các dân tộc thiểu số ở miền Bắc (tr.150-167), cuốn sách đi vào làm rõ những nét riêng trong chính sách với

miền núi phía Bắc, cũng như phác họa nguyên nhân đưa đến sự hình thành chính sách dân tộc của nhà Nguyễn thế kỷ XIX Cuốn sách liên tiếp đề cập đến Thái Nguyên như một bộ phận chịu tác động từ các chính sách chính trị, chính sách kinh

tế - tài chính, chính sách văn hóa - giáo dục của nhà Nguyễn cùng với các xứ khác như Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cuốn sách không đi vào trình bày chính sách cụ thể tác động đến các đơn vị hành chính dưới tỉnh Huyện Phổ Yên được đề cập đến ở trang 154 khi nói về việc chọn người tài năng cần cán bổ làm quan thay

cho chế độ tập quản trước đây Một phần quan trọng của mục V là tiểu mục 4 Nhận xét, tác giả đi vào trình bày và phân tích những kết quả đạt được từ chính sách dân

tộc của triều Nguyễn, không chỉ đối với sự tồn tại của triều đại thống trị mà còn đối với nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Nhóm các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tình hình kinh tế - văn hóa dưới triều Nguyễn thế kỷ XIX nói trên đã cung cấp nhiều tư liệu và luận điểm giá trị, làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu về từng địa phương cụ thể trong bối cảnh lịch sử chung của cả nước

Trang 21

Các công trình nghiên cứu về địa phương: tỉnh Thái Nguyên, phủ Phú Bình

và huyện Phổ Yên

Viết về văn học nghệ thuật dân gian, năm 1963, cuốn Truyện cổ Việt Bắc của

các tác giả Hoàng Quyết, Hoàng Thao, Mai Sơn, Đỗ Thiện Bộ được xuất bản với hơn 500 trang tập hợp các câu truyện cổ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Bắc, là bức tranh sinh động phản ánh đời sống nhiều mặt của cư dân nơi đây Tiếp đó, sách

Truyện cổ Bắc Thái gồm 3 tập (tập 1 gồm 72 trang, tập 2 gồm 74 trang, tập 3 gồm

64 trang) được Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Thái ấn hành vào các năm 1982,

1983, 1984 sưu tập các câu truyện cổ tích, các thể loại truyện kể dân gian được truyền miệng trên địa bàn tỉnh Quần chúng nhân dân đã thông qua những câu chuyện đời thường có phần hư ảo để gửi gắm tâm tư tình cảm, đồng thời phản ánh lối sống, cách suy nghĩ, phong tục tập quán, cách thức quản lý làng bản, đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương Cũng trong mô típ đó, năm 1989, tác giả Hoàng

Quyết tiếp tục cho ra đời cuốn Truyện cổ Việt Bắc (nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ

Chí Minh) bổ sung thêm nhiều sưu tập truyện mới Ngoài ra, còn có thể kể đến cuốn

sách Bước đầu tìm hiểu ca nhạc dân gian Việt Bắc của tác giả Đỗ Minh xuất bản

năm 1975 Nội dung sách giới thiệu về vùng đất và con người Việt Bắc, phong tục

âm nhạc dân gian, những làn điệu dân ca, nhạc cụ, phong cách của một số làn điệu dân ca cổ truyền ở địa phương Đây là tài liệu tham khảo hữu ích để luận án phục dựng diện mạo văn hóa, đặc biệt là văn học và nghệ thuật dân gian ở địa phương

trong nội dung chương 4

Năm 1986, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Thái (tên cũ của hai tỉnh Bắc Kạn

và Thái Nguyên) cho xuất bản cuốn sách Con người và sự tích Bắc Thái Cuốn sách

đã trình bày khá cụ thể về hai nội dung cơ bản là danh nhân lịch sử và di tích lịch

sử Trong phần danh nhân lịch sử, cuốn sách khảo cứu về thân thế, sự nghiệp những danh nhân tiêu biểu ở Bắc Thái từ thời trung đại như Dương Tự Minh, Phạm Cuống, Lưu Trung, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Cấu, Đỗ Cận, Những danh nhân nổi bật của vùng đất Phổ Yên là Nguyễn Cấu và Đỗ Cận được khai thác sâu sắc về phương diện quê hương, con người, sự tích và các di tích văn hóa có liên quan

Kỷ yếu hội thảo khoa học về tiến sĩ Đỗ Cận do Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao tỉnh Thái Nguyên và Viện sử học Việt Nam phối hợp tổ chức được xuất bản

năm 1997 Từ việc tập hợp 14 báo cáo khoa học tại hội thảo của các nhà nghiên cứu

Trang 22

lịch sử ở trung ương và địa phương, kỷ yếu đã đề cập tương đối toàn diện về quê hương, thời đại, con người và sự nghiệp của Đỗ Cận - một danh nhân của vùng đất Phổ Yên Các nghiên cứu được công bố chia thành hai nhóm chính Một là những nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời và sự nghiệp của Đỗ Cận trong bối cảnh thời đại Hai là những nghiên cứu về Đỗ Cận gắn với không gian quê hương ông là vùng đất Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên Có thể kể đến bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng

với đề tài Đôi lời về đất Thái Nguyên và tiến sĩ thời Hồng Đức của xứ Thái: Đỗ Cận

(tr.27-34) Trong bài viết, tác giả trình bày cụ thể về nền tảng địa - văn hóa dân tộc - dân gian, với vị trí là một tiểu vùng văn hóa “mở” có sự tiếp xúc - giao lưu - giao thoa văn hóa và tộc người từ nghìn xưa của xứ Thái (từ kỹ nghệ Ngườm - Thần Sa của thời đồ đá, địa bàn của Tây Âu thời Hùng - Thục đến hết thời kỳ phong kiến dân tộc độc lập) Trên cơ sở đó, tác giả dẫn về các nhân vật nổi tiếng của xứ Thái Nguyên được nhắc đến trong chính sử, tiêu biểu là Đỗ Cận Thay cho lời kết, tác giả

đã bình ba điều về Đỗ Cận, cũng là về xứ Thái Nguyên và huyện Phổ Yên: 1 Quê hương Đỗ Cận có nền cảnh địa - văn hóa tự lâu đời; 2 Quê hương Đỗ Cận là vùng tiếp xúc, biến đổi, giao thoa ngôn ngữ và văn hóa Tày - Việt; 3 Tiến sĩ Đỗ Cận là con đẻ của sự giao thoa, giao hóa văn hóa - tộc người đó

Cuốn Di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh Thái Nguyên của tác

giả Đồng Khắc Thọ, do Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Nguyên xuất bản năm

2003 Cuốn sách khảo sát và miêu tả một cách chi tiết, hệ thống về các di tích lịch

sử văn hóa, di tích lịch sử lưu niệm sự kiện, di tích văn hóa và kiến trúc nghệ thuật cùng những địa danh gắn với danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Trong cuốn sách này, tác giả đã khảo tả cụ thể về các di tích ở huyện Phổ Yên như đền Lục Giáp, chùa Đôi Cao, đình Yên Trung, đền Đồng Thụ, Từ đó, cuốn sách làm rõ một số vấn đề lịch sử và những nét văn hóa địa phương nổi bật của huyện Phổ Yên

Cùng trong năm 2003, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Nguyên xuất bản

cuốn Thái Nguyên - đất và người Đây là một tập hợp những bài viết của nhiều tác

giả về miền đất Thái Nguyên xưa và nay Trong cuốn sách, huyện Phổ Yên được đề

cập đến ở nhiều góc độ Một là, về danh nhân ở Phổ Yên có các bài Tìm hiểu quê hương Lý Bí (tác giả Minh Tú, tr.233-246), Nguyễn Cấu (?-1522) (tác giả Tùng

Trang 23

tích lịch sử - văn hóa ở Phổ Yên có các bài Sông Giã - sông Công (tác giả Hữu Khánh, tr.29-31); Đền Giá (tác giả Hữu Khánh, tr.72-75), Đền Lục Giáp (tác giả Đình Huyên, tr.76-78), Đền thờ tiến sĩ Đỗ Cận (tác giả Nguyễn Hưng, tr.79-82), Đền Đồng Thụ (tác giả Hữu Khánh, tr.83-85), chùa Tây Phúc (tác giả Nguyễn Đình

Hưng, tr.110-113)

Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Phổ Yên (nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2004) Trong chương I: Quê hương, con người và truyền thống đấu tranh vũ trang, các tác giả của cuốn sách đã trích dẫn một số tư liệu là các sử

sách cũ để đi đến những nhận định khái quát về lịch sử của vùng đất Phổ Yên thời trung đại Đáng chú ý, ở trang 15, tác giả dẫn tấm bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất

để kết luận địa danh Phổ Yên đã có từ rất sớm, ít nhất cũng trước năm Thiệu Bình 1 (1434) (gắn với nhân vật Đỗ Cận được ghi trên bia) Tác giả còn đề cập những nét cơ bản về tình hình kinh tế và văn hóa truyền thống của địa phương giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX (tr.19-20)

Cuốn Địa chí Thái Nguyên là công trình do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy

ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức biên soạn và được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2009 Đây là cuốn sách ghi chép về tất cả các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội của 7 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã trong tỉnh Phần huyện Phổ Yên gồm 5 mục lớn

Mục I: Địa lý giới thiệu về địa lý tự nhiên hiện nay của huyện; khái quát về sự thay đổi của địa lý hành chính từ thời nhà Trần đến nay Mục II: Dân cư - dân tộc

nêu lên những thành phần tộc người sinh sống trên địa bàn huyện, sự phân bố, mật

độ, nguồn gốc Mục III: Truyền thống lịch sử, các tác giả cuốn sách đã tập trung

trình bày những đóng góp của nhân dân các dân tộc Phổ Yên trong lịch sử chống ngoại xâm, chống phong kiến thối nát thời trung đại, cận đại, chống Pháp, chống Mĩ

từ sau khi có Đảng Bên cạnh đó, còn kể đến truyền thống hiếu học thông qua hai

nhân vật đỗ Tiến sĩ thời phong kiến ở địa phương là Nguyễn Cấu và Đỗ Cận Mục IV: Kinh tế, khái quát những thành tựu của địa phương ở các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong thời hiện đại Mục V: Văn hóa - xã hội, điểm lại những mốc cơ bản trong việc xóa mù chữ và nâng cao

dân trí ở Phổ Yên từ thời Pháp thuộc đến nay, liệt kê và khảo tả khái quát hai lễ hội

Trang 24

truyền thống tiêu biểu (lễ hội đền Giá, lễ hội đền Lục Giáp), ba danh nhân tiêu biểu (Lý Bí, Nguyễn Cấu, Đỗ Cận)

Tháng 10 năm 2012, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Phổ Yên tổ chức Hội thảo khoa học

Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế Năm

2013, nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản tập kỷ yếu hội thảo thành cuốn sách cùng tên Hội thảo nhằm làm sáng tỏ thêm một bước về quê hương, dòng họ, gia thế của vua Lý Nam Đế và vị thế của vương triều Tiền Lý đối với lịch sử dân tộc Trong 30 báo cáo được tập hợp lại trong kỷ yếu hội thảo, nhiều bài thể hiện mối liên hệ sâu sắc giữa vua Lý Nam Đế với các di tích lịch sử văn hóa, các phong tục tập quán cổ truyền của vùng đất Phổ Yên - nơi được đặt giả thuyết là quê hương của

nhà vua Có thể kể đến: bài viết Vấn đề quê hương Lý Nam Đế - một nghi án lịch sử cần được làm sáng tỏ của tác giả Nguyễn Minh Tường (tr.41-62); bài viết Về mối quan hệ giữa chùa Bảo Phúc (Hoài Đức, Hà Nội) với chốn Tổ: chùa Hương Ấp (Phổ Yên, Thái Nguyên) của tác giả Phạm Văn Kính (tr.77-84); bài viết Thông qua việc người dân Phổ Yên tri ân đối với Lý Nam Đế - suy nghĩ về vấn đề quê gốc của

Lý Bí của tác giả Nguyễn Thị Phương Chi; bài viết Những ký ức và chứng tích liên quan tới vua Lý Nam Đế tại chùa Hương Ấp, làng Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Thích Minh Tâm, Các bài viết đã cung cấp

một số tư liệu giá trị về vùng đất Phổ Yên trong lịch sử

Ví dụ, trong bài viết Về mối quan hệ giữa chùa Bảo Phúc (Hoài Đức, Hà Nội) với chốn Tổ: chùa Hương Ấp (Phổ Yên, Thái Nguyên), tác giả Phạm Văn Kính đã

trình bày kết quả khảo sát về những địa danh cổ và ký ức dân gian ở xã Tiên Phong gồm địa danh Cổ Pháp, đền Mục thờ Lý Nam Đế, câu đối ở chùa Hương Ấp Hay

trong bài viết Những ký ức và chứng tích liên quan tới vua Lý Nam Đế tại chùa Hương Ấp, làng Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tác giả

Thích Minh Tâm cung cấp tư liệu về lịch sử hình thành, giá trị lịch sử văn hóa, giá trị kiến trúc nghệ của chùa Hương Ấp - một ngôi chùa cổ được cho là hình thành từ

thời Lý Bí Đây là những tư liệu giá trị bổ sung cho việc khôi phục diện mạo đời

sống văn hóa của cư dân Phổ Yên thời trung đại

Bên cạnh các sách đã xuất bản chính thức, nhiều bài Tạp chí, Luận văn, Luận

Trang 25

vùng đất Phổ Yên

Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 - 1991, từ trang 62 đến trang 68 đăng

bài viết của tác giả Minh Tú với tựa đề Về Lý Nam Đế Trong công bố khoa học

này, tác giả đã trình bày về nguồn gốc, quê hương, thân thế, sự nghiệp của nhân vật

lịch sử Lý Bí gắn liền với lịch sử và văn hóa của mảnh đất Phổ Yên Mục 2: Quê hương gốc của Lý Bí - tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa các địa danh Giã Trung, Giã

Thù, Trung Năng, Thanh Năng, Thái Bình (thuộc huyện Phổ Yên) với những ghi chép trong sử sách cũ, trong thần phả, câu đối, để rồi rút ra nhận định ấp Thái Bình

nằm trong xã Tiên Phong (huyện Phổ Yên) là quê hương của Lý Bí Mục 3: Thân thế - sự nghiệp của Lý Bí, tác giả cho rằng Lý Bí đã xây dựng căn cứ địa chủ yếu

của quân khởi nghĩa ở đất Thái Bình (tức ấp Thái Bình của Phổ Yên nay)

Bài viết Tìm hiểu thêm về châu Giã Năng và ấp Thái Bình thời Lý Bí của tác

giả Nguyễn Hữu Khánh đăng trong mục Tư liệu - Đính chính sử liệu (tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6.1997, tr.84-86) Nội dung bài viết nhằm chứng minh địa danh Thái Bình, Giã Năng trước giờ được xem là quê hương Lý Nam Đế thuộc phần đất Phổ Yên ngày nay Để đi đến kết luận đó, tác giả đã trình bày và lý giải mối liên quan giữa những ghi chép trong sử sách cũ (về quê hương, về cuộc khởi nghĩa của Lý Bí) với những dấu ấn địa danh cổ, địa danh phản ánh đặc điểm địa hình và điều kiện tự nhiên của Phổ Yên (như sông Giã, chùa Hoàng hậu, ), những nét văn hóa truyền thống hiện còn ở địa phương gắn với nhân vật lịch sử Lý Bí Thông báo Hán Nôm năm 2008 có bài viết của tác giả Nguyễn Đình Hưng

với tựa đề Phát hiện di tích thờ tướng quân Phạm Cự Lạng ở huyện Phú Bình và Phổ Yên (Thái Nguyên) Bài viết đã công bố 4 di tích lịch sử văn hóa thờ danh

nhân Phạm Cự Lạng (trong đó có 1 di tích ở huyện Phú Bình, 3 di tích ở huyện Phổ Yên) Các di tích trên địa bàn Phổ Yên còn lưu giữ các tư liệu Hán Nôm quý được tác giả đề cập đến trong thông báo là đình Hoàng Đàm, đình Thượng Giã và nghè Nam Đô Đây là những phát hiện giá trị bổ sung vào kho tư liệu để khai thác, nghiên cứu về nhân vật Phạm Cự Lạng và mối liên hệ giữa ông với tục thờ phụng lâu đời tại địa phương Phổ Yên

Bài viết Di sản Hán Nôm mới phát hiện tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) của

tác giả Nguyễn Gia Bảo đăng trên Thông báo Hán Nôm năm 2009 Trong bài viết này, tác giả đã công bố các bia đá, cột đá có văn khắc, câu đối, sắc phong, thần tích,

Trang 26

thần sắc mới được phát hiện ở Phổ Yên Trên cơ sở thống kê và khảo lược nội dung

số di sản Hán Nôm này, tác giả đã đưa ra một vài kết luận về vùng đất Phổ Yên: là vùng đất có nhiều người đỗ đạt (tiến sĩ Nguyễn Cấu, Đỗ Cận - 2 người trên tổng số

9 người Thái Nguyên đỗ đại khoa thời phong kiến); là vùng đất phổ biến tập tục bầu hậu, mua hậu (hậu thần, hậu phật) trong nhân dân

Ở thể loại luận án, luận văn viết về địa phương, có luận văn Thạc sĩ Chính sách của các nhà nước quân chủ Việt Nam đối với tỉnh Thái Nguyên (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) của tác giả Nguyễn Trung Diệu bảo vệ tại trường Đại học

Sư phạm - Đại học Thái Nguyên năm 2010 Nội dung chính của luận văn được giải quyết trong khuôn khổ chương 2 và chương 3

Chương 2: Chính sách về chính trị, quốc phòng của các nhà nước quân chủ Việt Nam đối với tỉnh Thái Nguyên từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX Mục 2.1.2

Chính sách đối với các thế lực chống đối triều đình, tác giả nêu sự kiện cuộc bạo loạn chống họ Trịnh năm 1595 của tàn dư họ Mạc, tụ họp quân đánh cướp vùng

Phổ Yên làm căn cứ (tr.44-45) Chương 3: Chính sách về kinh tế, văn hóa Mục 3.1 Chính sách về kinh tế, tác giả đã trình bày chính sách quản lý của các triều Gia

Long, Minh Mệnh với vùng Thái Nguyên gồm việc lập sổ địa bạ ở tất cả các huyện

để làm cơ sở thu thuế ruộng công tư, việc định lệ thuế cho người Nùng, người Thổ

ở địa phương; việc quản lý khai thác các mỏ, trong đó đề cập đến sự kiện năm 1840 khai mỏ sắt ở xã Thượng Kết (Phổ Yên) (tr.93), trong mạng lưới các chợ ở đầu thế

kỷ XIX trên địa bàn Phổ Yên có chợ Lợi Xá, chợ Hoàng Đàm, chợ Đắc Hiền

(tr.95) Mục 3.2 Chính sách về văn hóa, tác giả đề cập khá sâu sắc đến tiểu sử, sự

nghiệp của tiến sĩ Nguyễn Đình Cấu (Nguyễn Cấu) và Đỗ Cận - hai danh nhân của đất Phổ Yên (tr.97-100)

Nghiên cứu về vấn đề ruộng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn thế

kỷ XIX có thể kể đến luận văn Thạc sĩ Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX của Lê Thị Thu Hương bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 2008, luận văn Thạc sĩ Châu Định Hóa (Thái Nguyên) thế kỷ XIX của Nguyễn Thị Dân bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 2011, bài viết Tình hình ruộng đất của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ Gia Long 4 (1805) của Đàm Thị Uyên - Hoàng

Trang 27

nghiên cứu về địa bàn Phổ Yên, nhưng các huyện Phú Bình (thế kỷ XIX là huyện

Tư Nông), Định Hóa hay Đại Từ đều là những địa phương lân cận, cùng thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Vì thế, nội dung những nghiên cứu trong các luận văn, bài tạp chí kể trên đều trở thành tư liệu để tác giả luận án tiến hành so sánh, đối chiếu chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt trong chính sách quản lý về kinh

tế và diễn biến trên thực tế của các loại hình sở hữu ruộng đất ở các địa bàn khác nhau của tỉnh Thái Nguyên thế kỷ XIX

1.2.2 Các công trình nghiên cứu của người nước ngoài

Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, địa bàn tỉnh Thái Nguyên (trong

đó có huyện Phổ Yên) đã được một số tác giả đề cập đến qua các khảo cứu mang tính tổng hợp

Năm 1904, tác giả Conrandy viết Les Provinces du Tonkin: Thai Nguyên

Công trình này là kết quả của việc điều tra dân tộc học về các tộc người sống ở Thái Nguyên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trên cơ sở nguồn tư liệu thành văn và tư liệu khảo sát điền dã, tác giả đã cung cấp nhiều tư liệu cụ thể, chi tiết về các tộc người ở Thái Nguyên trên các mặt tên gọi, đặc điểm hình thể, tình trạng xã hội, tổ chức cộng đồng và gia đình, tình trạng kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, Trong đó, bao gồm các tộc người sinh sống trên địa bàn huyện Phổ Yên Như vậy, công trình này

đã tái hiện khá rõ nét bức tranh dân cư - dân tộc trong tỉnh Thái Nguyên giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mặc dù ít đề cập đến từng huyện trong tỉnh

Một ghi chép về tỉnh Thái Nguyên: Notice sur la province de Thai-Nguyen

năm 1932 trình bày về nguồn gốc, vị trí địa lý, địa mạo của tỉnh, dân tộc, khí hậu; danh lam thắng cảnh, lịch sử quân sự; nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, tài chính, thuế; giáo dục, y tế, các tổ chức hiệp hội, … Ghi chép đề cập đến các địa phương trực thuộc, trong đó có Phổ Yên Năm 1933, tài liệu này được bổ sung một

số nội dung về mô tả thành phố; căn nguyên việc thành lập tỉnh Thái Nguyên; bọn giặc cướp, các đồn binh của Pháp và bản xứ, hành chính tỉnh, làng, xã, hội đồng hương chính, cải cách làng xã, thống kê dân số, … Tuy chủ yếu trình bày về thời kỳ cận đại, nhưng ghi chép này cũng cung cấp nhiều tư liệu đáng tin cậy, có tác dụng gợi mở và định hướng cho việc hồi cố những nội dung nghiên cứu về lịch sử huyện Phổ Yên giai đoạn thế kỷ XIX

Trang 28

Cuốn Lịch sử chính trị và quân sự tỉnh Thái Nguyên của tác giả Alf Red

Chinard - Công sứ Pháp ở Thái Nguyên, xuất bản năm 1934, bởi Trung Bắc Tân Văn trình bày bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Thái Nguyên, diện tích đất đai, kinh tế chăn nuôi, một số đồn điền ở Thái Nguyên những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Công trình cũng phân tích tình hình đời sống nông dân địa phương, qua

đó làm nổi bật những phong trào đấu tranh của nhân dân các huyện trong tỉnh, trong

đó có huyện Phổ Yên, chống lại chính quyền đô hộ của thực dân Pháp Việc nghiên cứu tài liệu này cung cấp cái nhìn bao quát, hệ thống về bối cảnh chung trong lịch

sử, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX

1.2.3 Nhận xét

Từ việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan cho thấy đối với vấn

đề kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX, các tác giả đi trước đã giải quyết một số khía cạnh của vấn đề ở mức độ khác nhau Theo đó, luận án có những kế thừa về các mặt nội dung và phương pháp

Về nội dung, luận án thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước trên hai mặt kinh tế và văn hóa

Trong lĩnh vực kinh tế, các công trình đã làm rõ chính sách chung của nhà Nguyễn về nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đối với xã hội Việt Nam thế kỷ XIX Chính sách kinh tế dành cho vùng trung du miền núi phía Bắc - nơi cư trú của các tộc người thiểu số cũng đã được nghiên cứu và trình bày hệ thống Tuy nhiên, hiệu quả hay tác động của chính sách đến các vùng địa lý cụ thể thì chưa được khảo cứu triệt để Chưa có công trình nào trình bày vấn đề đặt trong phạm vi không gian vùng đất Phổ Yên Bên cạnh chính sách của nhà nước, diện mạo của ba

bộ phận kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp) trong bối cảnh chính trị xã hội nhiều biến động của thế kỷ XIX cũng đã được làm sáng tỏ Diện mạo này chủ yếu là sản phẩm của cách tiếp cận bao quát, toàn cảnh, trên cả nước Như vậy, chính sách và thực trạng các ngành kinh tế của Việt Nam - Đại Nam nói chung trong thế kỷ XIX là mảng vấn đề đã được giải quyết

Trong lĩnh vực văn hóa, các công trình đi trước đã có những sưu tập và khảo cứu về nhiều mặt của đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, bao gồm văn học và nghệ thuật dân gian ở địa phương (như âm nhạc dân gian, những làn điệu dân ca,

Trang 29

với quê hương, con người, sự tích và các di tích văn hóa có liên quan; … Tuy nhiên, quy mô không gian của những sưu tầm và nghiên cứu này chủ yếu mở rộng trên địa bàn cả tỉnh Thái Nguyên, thậm chí rộng hơn nữa là tỉnh Bắc Thái cũ (Bắc Kạn, Thái Nguyên) Công trình được khoanh vùng hẹp vào địa bàn trung du phía nam của tỉnh, hay trực tiếp vào địa phận Phổ Yên là chưa có Vì vậy, những nét chung của đời sống văn hóa khu vực trung du miền núi phía Bắc (mà Phổ Yên là một bộ phận) về cơ bản đã được làm rõ, nhưng tính đặc thù, riêng biệt trong giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất ngã ba sông thì còn khuyết Thêm nữa, sự định

vị về mặt thời gian của các công trình nghiên cứu đi trước chủ yếu xoay quanh hai phạm trù rộng lớn: truyền thống và hiện đại Chưa có công trình khảo cứu về văn hóa Phổ Yên trong phạm vi thế kỷ XIX

Ngoài những kế thừa về mặt nội dung, luận án còn có sự kế thừa về mặt phương pháp, bao gồm các phương pháp chuyên ngành, liên ngành trong nghiên cứu các vấn đề lịch sử địa phương Đặc biệt, luận án kế thừa cách tiếp cận, xử lý và khai thác tư liệu địa bạ thông qua phương pháp phân tích định lượng để trình bày nội dung chương 3

Với mức độ giải quyết các vấn đề liên quan như vậy, đối với đề tài kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX, tác giả nhận thấy có những nhóm vấn đề chưa được nghiên cứu và những khía cạnh chưa được tiếp cận và khảo cứu kỹ lưỡng

Thứ nhất, những yếu tố tác động đến kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên thế kỷ XIX là vấn đề chưa được nghiên cứu Những yếu tố như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử thay đổi hành chính, đặc điểm xã hội, dân cư, truyền thống lịch sử văn hóa của Phổ Yên đã được làm rõ ở những mức độ khác nhau Khi đặt chúng trong bối cảnh thế kỷ XIX, những yếu tố nền tảng này có thể trở thành điều kiện thuận lợi hay thách thức khó khăn, là động lực thúc đẩy hay chướng ngại cản trở quá trình phát triển kinh tế - văn hóa của Phổ Yên

Thứ hai, thực trạng sở hữu và sử dụng ruộng đất ở Phổ Yên là vấn đề chưa được nghiên cứu Các nghiên cứu đi trước đã làm sáng rõ bức tranh ruộng đất Việt Nam thế kỷ XIX với tỉ lệ áp đảo của sở hữu tư nhân Nhưng do những đặc điểm riêng, bức tranh này có sự khác biệt nhất định giữa các địa phương Bức tranh ruộng đất Phổ Yên thế kỷ XIX và hiệu quả từ chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn qua các triều vua ở vùng này cần được làm rõ Kết quả của việc giải quyết vấn đề

Trang 30

cũng sẽ cho phép nhận định về việc vị trí cửa ngõ phía nam, sự tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng có làm cho quan hệ ruộng đất ở Phổ Yên mang dáng dấp đồng bằng hay không?

Thứ ba, những nét nổi bật của hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp của huyện Phổ Yên thế kỷ XIX là vấn đề chưa được nghiên cứu Giống cây trồng, kỹ thuật sản xuất, mùa vụ và năng suất, …; các nghề thủ công tiêu biểu và phương thức, quy mô sản xuất, …; hệ thống chợ làng và hoạt động trên bến cảng sông, … của Phổ Yên trong thế kỷ XIX chưa được phục dựng

Thứ tư, diện mạo văn hóa truyền thống của huyện Phổ Yên là vấn đề chưa được khảo cứu kỹ lưỡng và hệ thống Các công trình đã có về văn hóa Phổ Yên và Thái Nguyên đều xoay quanh những mảng rời rạc của văn hóa Tổng thể giá trị văn hóa vật chất, tinh thần địa phương với những nét chung, nét riêng; với cái phổ biến, cái đặc thù được sắp xếp trong một chỉnh thể mang tính hệ thống chưa được tiếp cận và làm sáng rõ

Tóm lại, đã có một số công trình liên quan đến huyện Phổ Yên thế kỷ XIX Các công trình nghiên cứu kể trên có thể sắp xếp thành hai dạng: dạng thứ nhất (chiếm số lượng lớn hơn) là các công trình nghiên cứu chung về tỉnh Thái Nguyên, trong đó có đề cập hoặc ít, hoặc nhiều đến huyện Phổ Yên; dạng thứ hai là những công trình nghiên cứu một mảng nào đó của diện mạo kinh tế, xã hội, văn hóa Phổ Yên Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đi trước đã làm rõ bối cảnh lịch sử (chính trị, kinh tế, văn hóa) dưới triều Nguyễn, tác động từ những chính sách của nhà Nguyễn đến một số địa phương ở những phương diện khác nhau Đối với Phổ Yên, thực trạng kinh tế, văn hóa của địa phương đặt trong tương quan với bối cảnh chung của dân tộc và triều đại thế kỷ XIX vẫn chưa được làm sáng tỏ một cách hệ thống ở một công trình riêng biệt Vì vậy, trên cơ sở xử lý những tư liệu mới, khai thác những tài liệu, tham khảo và kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi

trước, luận án “Kinh tế, văn hóa huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) thế kỷ XIX” là

công trình đầu tiên nghiên cứu về đề tài này

Trang 31

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1 Quá trình hình thành và những thay đổi diên cách

2.1.1 Trước thế kỷ XIX

Vùng đất Phổ Yên được hình thành và có địa danh khá sớm Thời các vua Hùng dựng nước, cùng với Cao Bằng và các xứ khác của Thái Nguyên, vùng đất này thuộc bộ Vũ Định của nước Văn Lang; thời Bắc thuộc, thuộc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ; từ khoảng thế kỷ thứ V - VI trở đi, dưới sự cai trị của nhà Lương, Trần, Tùy và Đường, vùng đất này là trung tâm của châu Giã Năng (bao gồm một phần đất của huyện Sóc Sơn, Hà Nội và huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày

nay) Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú gọi vùng đất này thời thuộc

Đường là châu Vũ Nga [5, tr.252]

Bước sang thời kỳ phong kiến độc lập, địa danh, địa giới của Phổ Yên tiếp

tục có những biến đổi qua các triều đại “Nhà Đinh chia làm đạo; nhà [Tiền] Lê và nhà Lý, là Thái Nguyên châu” [33, tr.518] Thời nhà Lý, hệ thống hành chính trong

nước gồm 24 lộ, phủ Vùng đất Thái Nguyên được gọi là châu Thái Nguyên và châu

Vũ Lặc Sang thời nhà Trần, nước được chia ra làm 12 lộ: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh Hóa, Hoàng Giang, Diễn Châu; lại có phủ, châu, trấn như Tân Bình, Nghệ

An, Thái Nguyên, Lạng Giang Lúc này, đất Phổ Yên thuộc trấn Thái Nguyên

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cho rằng “Có lẽ quy chế nhà Trần, những phủ, châu, trấn thì thống thuộc cả vào lộ” [33, tr.199] Năm Khai Đại 2

(1404) đời nhà Hồ, Thái Nguyên được đổi thành phủ Phủ Thái Nguyên bao gồm 14 huyện, trong đó có các huyện Phú Lương, Tư Nông, Vũ Lễ, Động Hỉ, Vĩnh Thông, Tuyên Hóa, Lộng Thạch, Đại Từ, Cảm Hóa,

Thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc 17 (1419), huyện Phổ Yên gọi là huyện Yên Định, là 1 trong 11 huyện của châu Thái Nguyên Lúc này, Tư Nông (tức là huyện Phú Bình ngày nay) cũng được sáp nhập vào Yên Định (Phổ Yên)

Thời Lê Sơ, khi Lê Thái Tổ lấy Kinh đô làm trung tâm và chia 4 phương Đông - Tây - Nam - Bắc của châu thổ Bắc Bộ làm 4 đạo thì Phổ Yên thuộc Thái

Trang 32

Nguyên được xếp vào Bắc đạo (gồm Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên), vừa có châu thổ, vừa có đồi núi Năm Quang Thuận 7 (1466), cả nước được chia làm 12 thừa tuyên là Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn Nhà

Lê lại đặt Ngũ Phủ quân với mỗi phủ quân tương ứng với một vài đạo nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn về quân sự Theo đó, Thanh Hóa và Nghệ An thuộc phủ Trung quân, Nam Sách và An Bang thuộc phủ Đông quân, Thiên Trường và Thuận Hóa thuộc phủ Nam quân, Bắc Giang và Lạng Sơn thuộc phủ Bắc quân Như thế, Thái Nguyên không nằm trong hệ thống quân Ngũ phủ này Cùng với Tuyên Quang,

Thái Nguyên “thuộc quân Phụng Trực” [33, tr.484] Năm Quang Thuận 10 (1469),

Lê Thánh Tông định lại bản đồ trong nước Thái Nguyên đổi làm Ninh Sóc, quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu Phổ Yên là 1 trong 7 huyện của phủ Phú Bình, thuộc thừa tuyên Ninh Sóc Từ năm Hồng Đức 14 (1483), Phổ Yên thuộc xứ Thái Nguyên, từ năm 1533 trở đi lại thuộc trấn Thái Nguyên - là một trong sáu ngoại trấn của khu vực Bắc Bộ

Về tên gọi Phổ Yên, Đại Nam nhất thống chí hai lần khẳng định không biết địa danh Phổ Yên có từ đời nào “Hai huyện Phổ Yên và Văn Lãng không thấy chép trong bản đồ thời Hồng Đức, chưa rõ đặt tên từ đời nào” [31, tr.155] “Chưa rõ tên huyện đặt từ đời nào, do phiên thần họ Ma nối đời quản trị” [31, tr.157] Trên cơ

sở tư liệu chủ yếu này, tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, phải đến phần khảo Sự diên cách về địa lý hành chính qua các đời Lê Nguyễn mới đề cập đến địa danh Phổ Yên Như thế, địa danh Phổ Yên rất có thể chỉ

xuất hiện từ sau khi thiết lập bản đồ Hồng Đức Tuy nhiên, một số tư liệu lại cho thấy tên Phổ Yên đã có trước đời Hồng Đức Một là, tấm bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất lập ngày 15 tháng 8 năm Hồng Đức 16 (1485) do Nguyễn Đôn Phục soạn, Tô Ngọc, Mậu Lâm Long và Kim Quang viết triện, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu Quốc Tử

Giám, ghi rõ “Cho đỗ đệ tam Giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân 50 người, Đỗ Cận: huyện Phổ Yên, phủ Phú Bình” [dẫn theo 47, tr.39-40] Hai là, từ thời kỳ trước đó,

Lê Thái Tổ đã ban thưởng 500 mẫu ruộng cho Lưu Nhân Chú, một trong những công thần trong cuộc chiến chống Minh Gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú có ghi

rằng số ruộng ban cấp chia ra rải rác ở các xã “1 - Huyện Đại Từ, xã Thuận

Trang 33

Huyện Phổ Yên, xã Tổng Thượng, thôn Quang Cựu 8 mẫu còn 4 mẫu; 4 - Huyện Phổ Yên, xã Tổng Thượng, thôn Quảng Bố 180 mẫu; … ” [30, tr.182] Hai tư liệu

này là cơ sở để đoán định rằng địa danh Phổ Yên phải có từ trước thế kỷ XV

Đồng Khánh địa dư chí khẳng định “tên huyện đặt từ thời thuộc Minh Nhà Lê vẫn theo thế Qua các triều không đổi” [53, tr.796]

2.1.2 Thế kỷ XIX

Đầu thế kỷ XIX, diên cách của Phổ Yên có hai điểm đáng chú ý

Một là, vùng đất từ giữa về phía tây và tây bắc của huyện tương đối ổn định, riêng phía đông nam có sự thay đổi Năm Gia Long 6 (1807), phần đất phía nam được cắt về phủ Đa Phúc (tổng Thượng Giã) Năm Gia Long 12 (1813), trấn lỵ của Thái Nguyên chuyển từ Bình Kỳ thuộc tổng Thượng Giã lên xã Đồng Mỗ thuộc huyện Động Hỉ (Động Hỉ bao gồm phần đất huyện Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên ngày nay)

Hai là, dấu ấn của hai thời kỳ: trước và sau cải cách hành chính của Minh Mệnh Trước cải cách, vua Gia Long vẫn giữ nguyên cách phân chia hành chính cũ của hai khu vực Đàng Ngoài và Đàng Trong Ở Đàng Ngoài, các cấp hành chính là trấn - phủ - huyện - xã Phổ Yên thuộc địa phận của trấn Thái Nguyên (là một trong

6 ngoại trấn của Bắc Thành) Đến thời Minh Mệnh, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh Cả nước được chia thành 31 đơn vị hành chính Phủ Thừa Thiên (còn gọi là Quảng Đức) là trung tâm Trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên (là 1 trong 13 tỉnh của miền bắc Việt Nam lúc đó)

Tỉnh Thái Nguyên thuộc liên tỉnh Ninh Thái (Bắc Ninh, Thái Nguyên), gồm

2 phủ 9 huyện Hai phủ của tỉnh Thái Nguyên là phủ Phú Bình và phủ Thông Hóa Huyện Phổ Yên thuộc phủ Phú Bình Địa giới của phủ Phú Bình được xác định là

“phía đông giáp giới hai huyện Yên Thế, Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh, phía tây giáp giới hai huyện Đại Từ, Phú Lương phủ Tòng Hóa, và hai huyện Yên Lãng, Tam Dương tỉnh Sơn Tây, phía nam giáp các huyện Kim Anh, Đa Phúc, Hiệp Hòa tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp giới huyện Cảm Hóa, châu Bạch Thông phủ Thông Hóa

và hai châu huyện Văn Quan, Văn Uyên tỉnh Lạng Sơn”, “phủ lỵ ở cách phía

Trang 34

đông nam thành tỉnh 20 dặm Phủ kiêm lý huyện Tư Nông, kiêm nhiếp huyện Phổ Yên, thống hạt 3 huyện Bình Xuyên, Động Hỉ, Vũ Nhai” [53, tr.791]

Về huyện lỵ - nơi đặt cơ quan hành chính cấp huyện, Đại Nam nhất thống chí và Đồng Khánh địa dư chí đều xác định huyện lỵ của Phổ Yên đặt tại xã Lợi Xá

(thuộc tổng Hoàng Đàm) Thành trì không thấy được nhắc đến Trong 5 đơn vị hành chính do phủ Phú Bình quản lý chỉ duy nhất có huyện Bình Xuyên là có lũy đất

“chu vi 64 trượng, cao 4 thước” [31, tr.164] Từ năm Tự Đức 4 (1851), triều đình

giao huyện Phổ Yên cho tri phủ Phú Bình kiêm lý, huyện lỵ vì vậy cũng bị bỏ đi

Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ chép: “Phủ Phú Bình (kiêm quản huyện Tư Nông và huyện Phổ Yên; ba huyện Bình Xuyên, Động Hỉ, Vũ Nhai thuộc cả hạt ấy)”

[23, tr.193] Từ đây, mọi công việc quản lý hành chính đều trực tiếp do phủ Phú Bình nắm, mà thành phủ lại không đặt trên địa bàn huyện Phổ Yên Thành đất có

“chu vi 79 trượng, cao 5 thước 3 tấc” đặt ở địa phận xã Triều Dương của huyện Tư Nông [31, tr.164], tức là huyện Phú Bình ngày nay Đến năm 1883, vì “dân ở lẫn lộn và phủ huyện xa cách, khi có việc, khó được nhanh chóng, nên lại cho đặt huyện lỵ Phổ Yên đặt ở xã Lợi Xá” [42, tr.330]

Thế kỷ XIX, địa giới của Phổ Yên có sự thay đổi qua các triều vua Đại thể trong nửa đầu thế kỷ, huyện Phổ Yên được chia làm 6 tổng với 24 xã, 1 phường và

1 trang:

Tổng Hoàng Đàm, gồm 5 xã: Hoàng Đàm, Lợi Xá, Sơn Cốt, Đắc Hiền, Cốt Ngạnh Tổng Thượng Vụ, gồm 4 xã: Thượng Vụ, Thượng Nhân, Đan Hà, Hạ Đạt Tổng Thượng Kết, gồm 3 xã: Thượng Kết, Hạ Kết, Cát Nê

Tổng Thống Thượng, gồm 6 xã, 1 trang: xã Thống Thượng, Trung Năng, Phúc Thuận, Thản Đãng, Kim Bảng, Thống Hạ và trang Tân Yên

Tổng Vạn Phái, gồm 3 xã: Vạn Phái, Nông Vụ, Hạ Vụ

Tổng Nhã Luật, gồm 3 xã, 1 phường: xã Nhã Luật, Dương Luật, Thanh Lộc

và phường Đại Hữu (Thủy Cơ)

Đến thời vua Đồng Khánh thì mở rộng thêm tổng Tiên Thù, tổng Tiểu Lễ và tổng Thượng Giã Tổng Tiên Thù gồm các xã Tiên Thù, Xuân Trù, Giã Thù, Thù Lâm (nay là Tiên Phong, Đồng Tiến, Tân Phú đều thuộc Phổ Yên) Tổng Tiểu Lễ gồm các

Trang 35

Phùng (nay là Tân Phú, Đông Cao, Tân Hương, Đồng Tiến, Ba Hàng đều thuộc Phổ Yên) Tổng Thượng Giã gồm các xã Trung Giã, Hạ Giã, Ninh Liệt, Bình Kỳ (nay thuộc Sóc Sơn - Hà Nội), xã Thượng Giã, Phù Lôi, Kim Tỉnh (nay là Thuận Thành và Trung Thành - Phổ Yên)

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng khẳng định việc chia 6 tổng ở Phổ Yên: “Đặt cai tổng phó tổng ở các tổng: Tỉnh Thái Nguyên … các tổng Hoàng Đàm, Thống Thượng, Thượng Vụ, Thượng Kết, Vạn Phái, Nhã Luật thuộc huyện Phổ Yên …” [23, tr.252] Các đơn vị tổng với tên gọi như trên được giữ nguyên mãi

cho đến đầu thế kỷ XX

Dưới thời Pháp thuộc, từ tháng 10 năm 1890 đến tháng 9 năm 1892, huyện Phổ Yên nằm trong phủ Phú Bình, thuộc tiểu Quân khu Thái Nguyên - Đạo quan binh I Phả Lại Từ tháng 10 năm 1892, Phổ Yên là một huyện thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bỏ đơn vị hành chính cấp phủ Phổ Yên là một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên gồm 6 tổng và 24 làng Năm 1918, Phổ Yên là 1 phủ (trong số 2 phủ, 3 huyện, 3 châu của tỉnh Thái Nguyên) bao gồm 8 tổng, với 36 làng

Như vậy, quá trình hình thành và sự thay đổi diên cách của Phổ Yên trong lịch sử cho thấy:

Lịch sử hành chính huyện Phổ Yên có nhiều thay đổi theo mỗi thời kì Để phù hợp với mục đích cai trị và thuận tiện quản lý, địa giới huyện Phổ Yên lúc mở rộng lúc thu hẹp Các làng xã cũng nằm trong quá trình thay đổi đó Tuy nhiên, tính chất xã hội làng xã thì không mấy thay đổi

Dưới thời phong kiến, các triều đại coi Phổ Yên cũng như nhiều địa phương khác thuộc xứ Thái Nguyên là phiên trấn, khó kiểm soát, nhưng lại trọng yếu nên không thể không kiểm soát Nhà nước có lúc ràng buộc lỏng lẻo, có lúc mạnh tay can thiệp Năm 1610, Lê Bật Tứ - Thị lang Hộ Bộ dâng tờ khải lên Trịnh Tùng xin

“xử trí đối với phiên trấn mạnh, để thống nhất chế độ” vì “Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Nam và Thuận Hóa hãy còn ở ngoài bản đồ… sẽ làm mối lo sau này” Hay năm 1712, “bắt đầu hạ lệnh cho các quan trấn thủ ở biên giới phải đến đóng tại trấn lỵ” thay cho việc kiêm lĩnh hoặc quản lĩnh vắng mặt như trước [33, tr.772]

Trang 36

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý, địa hình

Vị trí địa lý

Đại Nam nhất thống chí chép: “Huyện Phổ Yên: ở cách phủ 32 dặm về phía đông, đông tây cách nhau 54 dặm, nam bắc cách nhau 53 dặm; phía đông đến địa giới huyện Tư Nông và địa giới huyện Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh 8 dặm, phía tây đến địa giới huyện Đại Từ, phủ Tùng Hóa 46 dặm, phía nam đến địa giới huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh 37 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Động Hỉ 16 dặm” [31, tr.156-157] Đồng Khánh địa dư chí thì chép như sau: “phía đông giáp thôn Cầu Đông, Nghĩa Hương (huyện Tư Nông); phía tây giáp 2 xã Mi Khưu, Đăng Cao (huyện Bình Xuyên) và xã Kí Phú (huyện Đại Từ); phía bắc giáp xã Niệm Quang (huyện Động Hỉ); phía nam giáp xã Nam Lý (Bắc Ninh) và xã Đông Cao (huyện Đa Phúc thuộc tỉnh Bắc Ninh) Đông tây cách nhau 77 dặm, nam bắc cách nhau 63 dặm” [53, tr.796]

Tọa độ địa lý của Phổ Yên nằm trong khoảng 21o19’ đến 21o34’ vĩ độ Bắc,

105o40’ đến 105o56’ kinh độ Đông Với giới hạn tọa độ địa lý này, từ trong lịch sử, Phổ Yên cách không xa vùng trung tâm Cổ Loa - Kẻ Chợ Nếu lấy thủ đô Hà Nội - kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh xưa làm trung tâm thì Thái Nguyên

và Phổ Yên là ở phía bên kia rặng Tam Đảo, dải núi che chắn phía tây bắc - đông nam của Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ, cách Kinh thành Thăng Long 1542 dặm (thời Nguyễn) [47, tr.27]

Với vị trí địa lý như vậy:

Một là, Phổ Yên là một phần phên dậu quan trọng bảo vệ phía bắc kinh

thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ Dưới thời phong kiến, các triều đại quân chủ đã nhận thức vai trò quan trọng này của Phổ Yên nói riêng và Thái Nguyên nói chung khi ban hành chính sách cai trị với miền biên viễn Năm Cảnh

Thống 1 (1498), khi “nhà vua hạ sắc lệnh cho 4 xứ Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây

và Kinh Bắc sức cho phủ huyện phái người đốc dân phu chuyên trở thóc công, mỗi

xứ đều 12500 hộc để nạp, chứa vào kho thóc ở kinh sư” thì vẫn cho vùng này được thu thóc công về “chứa ở kho sở tại để việc biên phòng được đầy đủ” [33, tr.573]

Năm 1721, trước cuộc khủng hoảng nhiều mặt của chế độ phong kiến, Trịnh Cương

Trang 37

hạ lệnh giảm bớt số viên chức Thừa ty, Hiến ty ở các trấn miền núi phía Bắc gồm Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa và Lạng Sơn, mọi công việc đều giao cho Trấn

ty đảm nhiệm Nhưng vẫn có lưu ý đặc biệt đến một số địa bàn thuộc Thái Nguyên -

trong đó có Phổ Yên, ban rằng “phủ Phú Bình cùng 7 huyện Tư Nông, Động Hỉ, Bình Tuyền, Phổ Yên, Phú Lương, Đại Từ, Văn Lãng thuộc Thái Nguyên, địa thế liền với trấn không thể ví như nơi biên viễn khác được, viên chức ở các nơi ấy vẫn phải đến lỵ sở giữ chức phận như cũ” [33, tr.785] Thế kỷ XIX, đây cũng là một

trong những vùng đất sớm xóa bỏ chế độ thổ tù để áp dụng chính sách cứng rắn của

Minh Mệnh Ngay từ năm Minh Mệnh 10 (1829), khi thành thần tâu rằng “…châu Phổ Yên ở Thái Nguyên, châu Hàm Yên ở Tuyên Quang, các Thổ tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, Lại mục hẳn còn khuyết bổ xin thí sai”, nhà vua bèn hạ lệnh

“không cứ thổ ty, hào mục, cứ trong hạt ai là thanh liêm, tài năng, cần cán vốn được dân tin phục thì chọn cử tâu lên, không được theo trước xưng là tập quản”

[56, tr.154-155]

Hai là, Phổ Yên chính là cửa ngõ đầu tiên của Thái Nguyên, là chiếc cầu nối

liền vùng đồng bằng Bắc Bộ với trung du miền núi phía Bắc Nó không chỉ là vị trí

án ngữ con đường không xa từ phía Bắc xuống phía Nam, mà còn là cánh cửa trung tâm lớn nhất mở ra để đi lên miền Việt Bắc rộng lớn Vị trí chiến lược của Phổ Yên

- Thái Nguyên quan yếu về cả kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng Chẳng thế mà

ở nửa sau thế kỷ XIX, đã có lúc thành tỉnh Thái Nguyên được dự tính đặt tại địa

phận Phổ Yên Năm Tự Đức 33 (1880), “ đặt tỉnh tạm ở xã Yên Đổ, thuộc huyện Đại Từ để làm việc, đợi năm ba năm chiêu dân khai khẩn hơi có thành hiệu, sẽ di chuyển thành tỉnh Thái đến địa phận 2 xã Nghĩa Hương, Hoàng Đàm (giáp giới 2 huyện Phổ Yên, Tư Nông)” [41, tr.471]

Thái Nguyên nói chung và huyện Phổ Yên nói riêng có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu với đồng bằng châu thổ, nơi vốn có kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển Tuy chịu ảnh hưởng của cả hai vùng đồng bằng và miền núi, nhưng quá trình giao lưu tiếp xúc với Thăng Long - Hà Nội từ trong lịch sử làm cho địa phương này có nét gần gũi với vùng đồng bằng Bắc Bộ hơn so với các huyện Đại Từ, Định Hóa, Động Hỉ, Vũ Nhai cùng trong tỉnh Thái Nguyên

Ba là, người Việt trong quá trình di chuyển từ các thung lũng trước núi tiến về

đồng bằng, hay từ Bắc vào Nam, thông thường đều chọn các ngã ba sông làm nơi tốt

Trang 38

nhất để an cư lạc nghiệp Dân cư vùng đất Phổ Yên từ lâu đời đã ở vào vị trí của ngã

ba sông Vị trí Phổ Yên kẹp giữa sông Cầu và sông Công Phía đông là sông Cầu,

phía tây là sông Công Sự hợp lưu của sông Cầu và sông Công tại Thuận Thành đã tạo cho Phổ Yên một thế đứng khá bền vững Dòng sông Cầu với sự hợp lưu của sông Công là trục giao thông căn bản của Thái Nguyên để nối liền xuôi ngược Đây

là một lợi thế của Phổ Yên mà không phải vùng đất nào trong tỉnh cũng có

Địa hình

Phổ Yên - Thái Nguyên là một trong những vùng có địa hình vừa đa dạng, vừa phức tạp, với đủ cả ba vùng địa lý: đồng bằng, trung du, rừng núi Địa hình Phổ Yên thấp dần về phía nam và đông nam tạo thành hai khu vực với đặc điểm địa hình khác nhau

- Phía bắc và tây bắc của huyện, tương ứng với địa giới hành chính của các tổng Thượng Kết, Nhã Luật, Thống Thượng, là vùng đồi xen kẽ những dải đồng bằng nhỏ hẹp Thế kỷ XIX, đây là khu vực hoang vu nhất của Phổ Yên, còn ghi lại

dấu ấn trong câu ca dân gian “Ngược rừng ba dặm đường đi/ Ông cô chẳng thấy bà

dì thì không” Vùng này thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp (chè, lạc,

…), cây ăn quả lâu năm (vải, nhãn, ) và chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò, )

- Phía đông nam và tây nam của huyện, tương ứng với địa giới hành chính của các tổng Hoàng Đàm, Vạn Phái, Thượng Vụ, sang nửa sau thế kỷ XIX có thêm Thượng Giã, Tiểu Lễ và Tiên Thù, chủ yếu canh tác nông nghiệp lúa nước

Trong các dạng địa hình ở Phổ Yên, địa hình trung du có thềm phù sa cổ, đồi thấp có phong hóa cao là chủ yếu Nếu Thái Nguyên nói chung được xác định

là vùng miền núi và trung du thì riêng Phổ Yên có thể được coi là một huyện trung

du - đồng bằng Đặc điểm này khiến cho ở Phổ Yên tồn tại phổ biến dạng hình đồi, gò, đèo

Ba gò ông Táo: Gò nằm trên con đường từ xã Phúc Thuận (tổng Thống Thượng) đi sang xã Cát Nê (tổng Thượng Kết) Gọi là Ba gò ông Táo vì đây là

ba ngọn đồi chụm lại như ba ông đầu rau Tư liệu truyền miệng ở địa phương kể rằng ông Táo ở miền xuôi, đi ngược lên Tam Đảo, đi mãi mà vẫn chỉ thấy hoang

vu, không bóng người, tưởng đã là nơi cùng trời cuối đất mới để lại ba ngọn đồi

Trang 39

đánh dấu cương vực cai quản của mình rồi quay lại Vì thế, vùng phía trên Ba gò ông Táo, cư dân không thờ ông Táo như ở miền xuôi

Đèo Nứa: là con đèo từ xã Phúc Thuận của tổng Thống Thượng, men theo dãy núi thấp phía tây, chạy sang Mi Khưu và Đăng Cao của huyện Bình Xuyên Đèo không cao lắm nhưng địa thế hiểm trở Sát chân đèo có một đỉnh núi nhô cao như chiếc vung khổng lồ, nên người dân địa phương gọi là núi Chóp Vung Từ núi,

có thể quan sát được phạm vi khá rộng và khống chế cả đoạn đường đèo Nơi đây, năm 1917 đã ghi dấu những hoạt động của nghĩa quân Đội Cấn

Như thế, trải qua hàng nghìn năm với bàn tay lao động cần cù của con người, Phổ Yên đã trở thành một miền đồng bằng nhỏ, hay nói đúng hơn là một miền đồi

“Hàng năm, cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa hè nóng lắm, đầu mùa thu lạnh dần, đến mùa đông thì rét lắm” [31, tr.163] Với vị trí nằm trong khu vực nhiệt đới

gió mùa, khí hậu Phổ Yên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, thuận lợi cho việc phát triển thâm canh cây trồng theo mùa

Do phía tây Phổ Yên có dãy núi Tam Đảo đón gió đông nam, nên lượng mưa

ở lưu vực sông Công rất lớn Mưa lại phân bố không đều trong năm So với lũ sông Cầu, lũ sông Công lớn và đột ngột hơn, thường xảy ra vào mùa nóng (từ tháng 5 đến tháng 10), lên nhanh, xuống nhanh và biến động lớn, biên độ lũ từ 5m đến 7m Đặc biệt, ở các xã, tổng ven dãy Tam Đảo thường xảy ra những trận mưa lớn trong phạm vi hẹp, gây lũ quét, nước chảy như thác đổ

Về nhiệt độ, do nằm ở phía nam của Thái Nguyên, mà địa hình Thái Nguyên thấp dần từ núi cao xuống trung du và đồng bằng theo hướng bắc - nam, tạo ra sự khác biệt mức độ lạnh theo lãnh thổ Phổ Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu ấm của tỉnh cùng với Đại Từ, Động Hỉ, Tư Nông, … Trong khi châu Vũ Nhai, Định Hoá (châu Định), Phú Lương lạnh nhiều hơn

Trang 40

Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu Phổ Yên thường xuyên gây ra tình trạng

lũ lụt, đặc biệt là khu vực phía nam của huyện Đại Nam thực lục cho biết năm Tự

Đức 34 (1881), Phổ Yên có bão to [41, tr.566] Vì vậy, trong lịch sử nhân dân Phổ Yên luôn phải kiên cường đương đầu với khó khăn của thiên nhiên, xây dựng và bảo vệ quê hương, từ đó đã tạo cho con người nơi đây truyền thống đoàn kết và tương trợ lẫn nhau

Tài nguyên

So với một số địa phương khác cùng trong tỉnh Thái Nguyên như Động Hỉ,

Vũ Nhai hay Cảm Hóa, lâm thổ sản của Phổ Yên không phong phú bằng Là địa bàn chuyển tiếp giữa núi cao và đồng bằng nên rừng ở Phổ Yên không nhiều, rải rác

ở phía tây (tả ngạn sông Công)

Về khoáng sản, Thái Nguyên là tỉnh chiếm giữ địa lợi về tài nguyên khoáng

sản Các phủ, huyện đều có mỏ khoáng sản Đại Nam nhất thống chí cho biết cùng

với Động Hỉ, Tư Nông và Phú Lương (cùng trong phủ Phú Bình), huyện Phổ Yên

có mỏ sắt Đồng Khánh địa dư chí cũng khẳng định: “Các huyện Tư Nông, Phổ Yên, Động Hỉ có vàng, sắt” [53, tr.793] Như thế, thế kỷ XIX, Phổ Yên có 2 trên

tổng số 38 mỏ khoáng sản của toàn tỉnh Thái Nguyên

Bảng 2.1: Phân bố khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên thế kỷ XIX

Ngày đăng: 06/01/2018, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w