1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo sự nghiệp giáo dục (1997 - 2010)

77 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 198,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp truyền thống đó, trong quá trình xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội từ ngày tỉnh Hải Dương được tái lập 1997 đến nay,thực hiện những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, d

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Hiếu học là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.Tiếp nối truyền thống đó, Đảng ta đã coi giáo dục là một bộ phận, một nhiệm

vụ kinh tế - xã hội quan trọng

Cách mạng tháng Tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta xâydựng, phát triển nền giáo dục mới Khẩu hiệu “diệt giặc dốt” và sắc lệnhthành lập Nha bình dân học vụ của Chính phủ đã mở đầu cho việc xây dựngnền giáo dục của nhân dân Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh đã đi vàocuộc sống và mang lại hiệu quả lớn lao Đảng và nhân dân ta ý thức được sâusắc lời dạy của Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi íchtrăm năm phải trồng người”

Từ tháng 12/1986, với đường lối đổi mới của Đảng, một luồng gió đầysinh khí đã đưa đất nước chuyển mình sang một thời kỳ mới Hoàn cảnhkhách quan và chủ quan đã đặt ra nhiều thời cơ và thách thức đòi hỏi nền giáodục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, đạt tới trình độ phù hợp, đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1999) và trong chiến lược phát triểngiáo dục 2000 - 2010, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và công nghệ cùngvới giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển nguồn lực nhằmđưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến thếgiới Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII

đã khẳng định: “Nhận thức sâu sắc giáo dục đào tạo cùng với khoa học côngnghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư chogiáo dục là đầu tư phát triển”

Nằm trong chiến lược phát triển con người của Đảng, giáo dục là một bộphận của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Vì vậy, việc đảm

1

Trang 2

bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục là một tất yếu kháchquan, đảm bảo cho giáo dục phát triển theo đúng hướng “Nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, vì sự nghiệp phồn vinh của đất nước”.Cùng với truyền thống hiếu học, coi trọng việc học chung của cả nước,ngay từ xa xưa, Hải Dương đã nổi tiếng là “Lò tiến sĩ xứ Đông” với “Làngtiến sĩ Mộ Trạch” Nối tiếp truyền thống đó, trong quá trình xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội từ ngày tỉnh Hải Dương được tái lập (1997) đến nay,thực hiện những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, dưới sự chỉ đạotrực tiếp của Đảng bộ tỉnh Hải Dương, sự nghiệp giáo dục trong tỉnh đã cónhững bước tiến đáng kể.

Những cố gắng của Đảng bộ Tỉnh, của các cấp chính quyền, đoàn thể ởđịa phương và của toàn dân trong tỉnh, trong 10 năm kể từ sau đổi mới (1986

- 1996) đã đưa lại cho tỉnh một nền giáo dục có nội dung đúng đắn và nhiềuloại hình phong phú, vừa mang tính khoa học cao, vừa phù hợp với địaphương và mang tính nhân dân Sự nghiệp giáo dục Hải Dương đã phát triểngắn liền với công cuộc phát triển kinh tế xã hội, với công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa trong tỉnh, đồng thời cũng là một nhân tố quan trọng thúcđẩy đổi mới mọi mặt trong hoạt động xây dựng và bảo vệ quê hương đất nướccủa nhân dân trong tỉnh… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫncòn tồn tại những khó khăn, yếu kém cần phải giải quyết như cơ sơ vật chất

hạ tầng còn thiếu thốn; chất lượng giáo dục nói chung chưa cao; đội ngũ giáoviên còn thiếu nhiều; việc dạy và học thêm còn tràn lan…

Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong phát triển sự nghiệp giáodục ở tỉnh Hải Dương vì thế mang tầm quan trọng rất lớn Qua quá trìnhnghiên cứu, chúng ta vừa có thể hiểu rõ hơn về đường lối, chính sách củaĐảng đối với giáo dục nói chung, với sự nghiệp giáo dục trong tỉnh nói riêngđồng thời vừa có thể nêu lên những kiến giải để góp phần xây dựng một nền

Trang 3

giáo dục mới, phù hợp với sự phát triển chung hiện nay của tỉnh và đất nước.Với ý nghĩa đó, đồng thời là một người con của tỉnh Hải Dương, tôi đã chọn

đề tài “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo sự nghiệp giáo dục (1997 2010)” cho khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

-sản Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là một tỉnh nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, giáp thànhphố biển Hải Phòng, lại gần với thủ đô Hà Nội nên các lĩnh vực kinh tế, chínhtrị, xã hội của Hải Dương rất được quan tâm, trong đó có giáo dục Trongnhững năm gần đây, một số khoá luận của sinh viên cũng đã đề cập đến giáodục của Hải Dương trong giai đoạn trước đổi mới, giai đoạn sau 10 năm đổi

mới như: Đảng bộ Hải Hưng với sự nghiệp giáo dục và đào tạo thời kỳ 1986

-1996 (Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Văn Hạnh, K45, Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn), Bước đầu tìm hiểu sự phát triển giáo dục đào tạo ở Hải Dương trong những năm đổi mới từ 1986 - 2002 (Khoá luận tốt nghiệp của

Nguyễn Thị Hồng Vân, K45, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn)…Những khóa luận trên đây mặc dù có đề cập đến vấn đề giáo dục của tỉnh HảiDương nhưng đó là trong giai đoạn mà Hải Dương vẫn còn là một đơn vịhành chính của Hải Hưng cũ Tuy nhiên, từ khi tách tỉnh (1997) đến nay vẫnchưa có một công trình nào đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh HảiDương đối với sự nghiệp giáo dục

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đó, dựa vào sự tìmtòi về các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở lãnh đạocủa Đảng bộ tỉnh trong thời gian qua, bản khoá luận này có nhiệm vụ trìnhbày quá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hải Dương thời

kỳ 1997 - 2010, đồng thời nêu lên một số kinh nghiệm để xây dựng và phát

Trang 4

triển nền giáo dục Hải Dương trong thời kỳ tới, với hy vọng khoá luận sẽ gópphần nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển ngành giáo dục của tỉnhHải Dương.

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu khoá luận là góp phần tìm hiểu sự chỉ đạo, lãnhđạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời

kỳ 1997 - 2010 Tiếp đó, nêu lên những thành tựu đạt được cũng như nhữngmặt hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm góp phần phục vụ cho sự nghiệp pháttriển giáo dục ở giai đoạn sau

Giáo dục Hải Dương từ khi đổi mới đến nay có rất nhiều vấn đề cần phảiquan tâm nghiên cứu Nhưng do thời gian và phạm vi của một khoá luận tốtnghiệp, với khả năng có hạn của bản thân, khoá luận chỉ đề cập đến quá trìnhlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với sự nghiệp giáo dục từ ngày tỉnhHải Dương được tái lập (1997) đến năm 2010, phạm vi nghiên cứu chỉ nằmtrong địa bàn tỉnh Hải Dương Khoá luận cũng nêu lên một số vấn đề về tựnhiên, con người, kinh tế - xã hội trong tỉnh, những vấn đề giáo dục trướcnăm 1997; cũng như những Chỉ thị, Nghị quyết, văn kiện… của Đảng và Nhànước nói chung nhưng chỉ là để bổ sung làm rõ nội dung chính của khoá luận

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong khi thực hiện đề tài, khoá luận sử dụng chủ yếu các nguồn tài liệuthành văn như các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các báo cáo tổng kết, các

số liệu thống kê của Sở Giáo dục, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh HảiDương cũng như của các Đảng bộ cơ sở lưu ở Tỉnh uỷ Hải Dương, Ủy bannhân dân tỉnh Hải Dương Ngoài ra còn tham khảo một số tài liệu có liên quanđược lưu trữ tại Thư viện tỉnh Hải Dương và các sách của Nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia…

Trang 5

Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về pháttriển giáo dục trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phương pháp nghiên cứu đề tài là kết hợp sử dụng các phương pháp lịch

sử và phương pháp lôgic, phương pháp điều tra, so sánh, đối chiếu, tổng hợp

để làm rõ vấn đề

5 Đóng góp của đề tài

Đóng góp mới của khóa luận này là tập hợp, sắp xếp một cách có hệthống những tư liệu, sự kiện về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh HảiDương trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục giai đoạn 1997 - 2010,đồng thời rút ra những kinh nghiệm, tổng kết những thành tựu và hạn chế.Bên cạnh đó, khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiêncứu về lịch sử địa phương

Trang 6

NỘI DUNG

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2005

1.1 MỘT SỐ NÉT VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Hải Dương là một tỉnh ở trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, nơi xưa kia làvịnh biển nông được phù sa của các sông lớn bồi đắp Tổ tiên cư dân vùngnày là người Việt cổ từ núi rừng phía Bắc vượt gò đồi trung du về cư trú từthời các vua Hùng dựng nước Cũng có một số ít dân bản địa đã có mặt ở đây

từ trước sống trong các hang động vùng núi cao thuộc Chí Linh, Kinh Mônngày nay Những di chỉ khảo cổ mới phát hiện gần đây có di cốt vượn ngườiPongo, xương động vật và một vài công cụ thô sơ ở hang Thánh Hoá, núiNhẫm Dương, Kinh Môn đã chứng minh điều đó Tên gọi Hải Dương chínhthức có từ năm 1469 “Hải Dương” có nghĩa là “ánh sáng từ miền duyên hảichiếu về”

Năm 1947, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đểtiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, các huyện Đông Triều, Chí Linh,Nam Sách, Kinh Môn chuyển về tỉnh Hồng Quảng Năm 1954, các huyện trênlại chuyển về tỉnh Hải Dương Năm 1960, huyện Đông Triều được cắt hẳn vềHồng Quảng và huyện Vĩnh Bảo cũng cắt về tỉnh Kiến An

Từ 1960 trở đi, tỉnh Hải Dương có các huyện: Ninh Giang, Tứ Kỳ, GiaLộc, Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng, Nam Sách, Kinh Môn, KimThành, Thanh Hà, Chí Linh và thị xã Hải Dương

Trang 7

Tháng 8/ 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/NĐ-CP nâng cấpthị xã Hải Dương thành thành phố Hải Dương Như vậy, từ năm 1997 đếnnay, tỉnh Hải Dương được chia ra 12 đơn vị hành chính gồm thành phố HảiDương và 11 huyện: Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn, Kim Thành,Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Ninh Giang.

Về vị trí địa lý, Hải Dương tiếp giáp với 6 tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang,

Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên và Hải Phòng Hải Dương nằm trong địabàn kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) có cáctuyến đường bộ, đường sắt quan trọng của Quốc gia chạy qua như đường 5,

18, 183 lại gần cảng biển Hải Phòng và Cái Lân Hải Dương có nhiều di tíchlịch sử như Côn Sơn - Kiếp Bạc, Yên Phụ - Kính Chủ thờ các vị anh hùng dântộc, là cơ sở để phát triển các điểm du lịch

Hải Dương là điểm trung chuyển giữa hai thành phố cảng là Hải Phòng

và Thủ đô Hà Nội Theo dọc 102 km quốc lộ 5, Thành phố Hải Dương (trungtâm của tỉnh) cách Hải Phòng 45 km về phía đông và cách Hà Nội 57 km vềphía tây Phía Bắc của tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bayquốc tế Nội Bài ra biển và qua cảng Cái Lân, tạo điều kiện giao lưu hàng hoá

từ nội địa (vùng Bắc Bộ), từ tam giác phát triển kinh tế phía Bắc ra biển vàgiao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời tạo cơ sở hạtầng cho việc phát triển hành lang công nghiệp

Diện tích tự nhiên của tỉnh Hải Dương là 1.661,9 km2 Toàn bộ đất đaicủa tỉnh bao gồm một phần đất vùng núi (huyện Chí Linh và một số xã thuộchuyện Kinh Môn), còn đại bộ phận là đồng bằng Cảnh quan Hải Dương hùng

vĩ, nên thơ, với những dòng sông uốn khúc như dải lụa, ôm lấy những cánhđồng thẳng cánh cò bay của miền Tây Nam và những dải núi non trùng điệpmiền Đông Bắc với những thắng cảnh ngoạn mục

Trang 8

Khí hậu nóng ẩm, nguồn nước dồi dào của Hải Dương rất thuận lợi chotrồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp Vùng đồng bằng giữachâu thổ sông Hồng đất phù sa màu mỡ rất tốt cho trồng trọt và chăn nuôi.

Về kinh tế, Hải Dương là một địa phương có nền kinh tế phát triển tương

đối tốt Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cấy lúa, ngoài ra nhân dân trong tỉnhcòn trồng các loại cây hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn, lạc, đậu tương vàcác loại rau Hiện nay, Hải Dương đang tích cực chuyển dịch cơ cấu giốngmới có năng suất cao và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Bên cạnh trồng trọt, Hải Dương cũng là tỉnh mạnh về chăn nuôi Các convật được nuôi chủ yếu ở Hải Dương là trâu, bò, lợn, gà, vịt Chăn nuôi trongnhững năm gần đây ở tỉnh Hải Dương cũng khá phát triển Nhiều gia đình đầu

tư vào chăn nuôi trâu bò, thả cá Kinh tế hộ gia đình, trang trại cũng phát triểngóp phần tăng số lượng gia súc, gia cầm trong chăn nuôi ở tỉnh…

Hiện nay tỉnh Hải Dương tiếp tục phát triển những cơ sở công nghiệp lớnnhư nhiệt điện Phả Lại, xi măng Hoàng Thạch, xi măng Phúc Sơn… cùng vớinhiều nhà máy xí nghiệp và các cơ sở công nghiệp khác tạo cơ sở vững chắc

để Hải Dương thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá sớm trở thành một tỉnhcông nghiệp giàu mạnh Trong giai đoạn hiện nay, ngành công nghiệp HảiDương hình thành theo bốn hướng chính sau:

- Công nghiệp mũi nhọn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Các ngành công nghiệp dựa vào thế mạnh tài nguyên

- Công nghiệp dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có của tỉnh

- Các ngành công nghiệp dựa vào thế mạnh nguồn nhân lực

Năm 2006, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 2,3 lần so với năm

1997, bình quân trong 10 năm (1997 - 2006) tăng 10,0%/năm, trong đó khuvực nông - lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,4%/năm; khu vực công nghiệp vàxây dựng tăng 12,9%/năm; khu vực dịch vụ tăng 10,3%/năm Như vậy, tốc độ

Trang 9

tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hải Dương cao hơn cả nước (7,1%/năm) và thấp hơn vùng đồng bằng sông Hồng (10,6%/năm).

Dân số hiện nay của tỉnh Hải Dương gần 1,8 triệu người Tỷ lệ nhânkhẩu trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, hiện nay tăng 52%, là một tỉnh códân số trẻ Mức tăng dân số bình quân 1,61%, vào loại thấp so với bình quâncủa cả nước Nhịp tăng tự nhiên có xu hướng giảm

Lĩnh vực văn hoá - xã hội trong tỉnh tiếp tục có bước tiến bộ; chínhquyền các cấp được củng cố và kiện toàn; công tác cải cách hành chính đạtđược những kết quả bước đầu Bên cạnh đó, quốc phòng, quân sự địa phươngđược tăng cường, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.Trong tình hình mới của đất nước, phát triển kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hoá, dưới sự lãnh đạo của Đảng và các cấp chính quyền,nhân dân Hải Dương với đức tính cần cù chịu khó sẽ tập trung khai thác cóhiệu quả các nguồn lực có sẵn, tranh thủ các dự án phát triển, thu hút đầu tưbên ngoài, nhanh chóng hội nhập với xu thế phát triển chung cả nước, nângcao mức sống dân cư, phấn đấu xây dựng một tỉnh giàu về kinh tế, vững vềchính trị, ổn định về an ninh quốc phòng

1.1.2 Truyền thống văn hoá của tỉnh Hải Dương

“Nói đến Hải Dương, nhiều người thường gọi với cái tên xứ Đông, bởinơi đây vốn là trấn phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa Có thể khẳngđịnh rằng, truyền thống văn hiến từ ngàn xưa chính là niềm tự hào, đồng thời

là cội nguồn sáng tạo nên sức sống mãnh liệt, sức bật mạnh mẽ của mảnh đấtnày trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay” [24, tr.33]

Hải Dương hiện đang lưu giữ một khối lượng lớn văn hoá vật thể và phivật thể đa dạng, độc đáo với 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng Mảnhđất Hải Dương không chỉ giàu về tài nguyên khoáng sản mà còn tích trữ nhiềudấu tích của nền văn hoá cổ, nền văn minh sông Hồng, từ những rìu đá, rìu

Trang 10

đồng đến trống đồng, đồ gốm, các công trình kiến trúc thới Lý, Trần, Lê,Nguyễn là dòng chảy liên tục và rực sáng trên vùng đất này, đã tạo nên mộtkhông gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hoà cảnh quan thiên nhiên hùng

vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh

Hải Dương là quê hương của nhiều di tích lịch sử văn hoá như: Côn Sơn

- Kiếp Bạc, Yên Phụ - Kính Chủ… Đền Kiếp Bạc (Chí Linh) là di tích kỷniệm người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo; đền Phù Ủng (Kim Thi) là ditích kỷ niệm danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần; động Kính Chủ (KinhMôn) là một di tích lịch sử, một thắng cảnh; đền thờ thầy Chu Văn An, thầygiáo của muôn đời ở núi Phượng Hoàng, xã Văn An, Chí Linh Hải Dươngcũng là vùng quê mà danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng dân tộc NguyễnTrãi đã gắn bó cuộc đời và ngàn thu yên nghỉ Bên cạnh đó, Hải Dương làvùng quê của bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước, với Lục Đầu Giang đã đivào huyền thoại chiến thắng Bạch Đằng Tổng cộng ở Hải Dương có 127 ditích được xếp hạng quốc gia

Người Hải Dương giàu nghị lực, thông minh, sáng tạo, có truyền thốngvăn hoá Trong số dân 1,8 triệu người, ở Hải Dương, phần lớn là người Việt,chỉ có một số ít là người Hoa, Sán Dìu, Tày sống tại một số xã ở Chí Linh,Kinh Môn Với tinh thần lao động cần cù và đấu tranh dũng cảm, trong quátrình tạo dựng và giữ gìn quê hương, nhân dân Hải Dương đã viết lên trang sử

vẻ vang về truyền thống văn hoá phong phú và những chiến công rực rỡchống giặc ngoại xâm Mảnh đất Hải Dương đã sản sinh ra và đóng góp chođất nước những danh nhân chính trị, quân sự, ngoại giao, những nhà văn hoá,nhà khoa học, văn thơ, y học, những vị tổ nghề được cả nước ca tụng, tôn thờnhư Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Thị Điểm, Hải Thượng Lãn Ông -

Lê Hữu Trác, Tuệ Tĩnh, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Lương Bằng, LêThanh Nghị…

Trang 11

Hải Dương còn là một tỉnh có nền văn hiến lâu đời, có truyền thống vềkhoa bảng Các thế hệ sĩ tử Hải Dương đã lập nên những thành tích xuất sắcsuốt hơn tám thế kỷ của các khoa thi dưới thời phong kiến Tỉnh Hải Dươngxưa nổi tiếng là “Lò tiến sĩ xứ Đông” với 572 vị tiến sĩ, trong đó có 11 trạngnguyên, 10 bảng nhãn, 20 thám hoa Riêng huyện Nam Sách có 4 trạngnguyên, huyện Nam Sách là huyện có nhiều tiến sĩ nhất tỉnh và cũng là huyện

có nhiều tiến sĩ nhất cả nước với 125 tiến sĩ Xã Mộ Trạch được coi là “Làngtiến sĩ” của cả nước với 39 tiến sĩ Nhân dân Hải Dương vốn có truyền thốnghiếu học, truyền thống đó đã tạo nên những con người kiệt xuất như Lưỡngquốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Vũ Hữu, Vũ Quỳnh…

Bên cạnh việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, nhândân Hải Dương đang không ngừng xây dựng những giá trị văn hoá mới Hiệntoàn tỉnh có 68% gia đình đạt tiêu chuẩn “gia đình văn hoá”; 261 làng, khudân cư đạt tiêu chuẩn làng, khu dân cư văn hoá; 51% số xã và 49% số thôn cónhà văn hoá; trên 200 thư viện, tủ sách xã, thôn… các hoạt động văn hoá,nghệ thuật, thể dục, thể thao được tổ chức rộng rãi đến xã, phường với nộidung, phương pháp hướng vào việc phát huy bản sắc dân tộc truyền thống củađịa phương

Văn hoá xứ Đông còn được hình thành cũng như đi lên bằng sức laođộng cần cù, sáng tạo của con người trên mảnh đất Hải Dương Người HảiDương không những giỏi làm ra hạt lúa, hạt đậu, hoa thơm trái ngọt như gạonếp cái hoa vàng (Kinh Môn, Cẩm Giàng); vải thiều (Thanh Hà); dưa hấu(Gia Lộc); na dai, chuối mật (Chí Linh), mà còn biết chế biến nhiều món ănđặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh khảo,bánh cuốn, nem chua (thành phố Hải Dương), bánh gai (Ninh Giang), bánh đa

Kẻ Sặt (Bình Giang), rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng)…

Trang 12

Với những điều kiện tự nhiên, dân cư, nguồn nhân lực, kinh tế - xã hộinhư vậy, ngành giáo dục Hải Dương có rất nhiều điều kiện để phát triểnnhưng đồng thời cũng đứng trước những thách thức với mục tiêu nâng caodân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năngđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng duyên hải Bắc Bộ và tỉnhtrong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập khu vực và quốc tế.Kiêu hãnh, oai hùng với những chiến công vang dội trong lịch sử khángchiến chống giặc ngoại xâm cùng truyền thống ngàn năm văn hiến, HảiDương hôm nay khẳng định vị thế bằng những “bước chân Thánh Gióng”trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Hải Dương đang nỗlực không ngừng vươn lên hoà nhịp cùng sự đổi thay từng ngày, từng giờ củađất nước, phát huy truyền thống của một vùng đất giàu đẹp, văn hiến vàanh hùng.

1.1.3 Tình hình giáo dục của tỉnh Hải Dương trước năm 1997

Từ năm 1968 đến 1997, tỉnh Hải Dương và Hưng Yên hợp nhất thànhtỉnh Hải Hưng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương cũng hợp nhất với Đảng bộ tỉnhHưng Yên thành Đảng bộ tỉnh Hải Hưng Tiếp nối những truyền thống đã đạtđược trong giai đoạn trước, Đảng bộ tỉnh Hải Hưng tiếp tục lãnh đạo sựnghiệp giáo dục

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nướcthống nhất, nhân dân cả nước phấn khởi bước vào thời kỳ xây dựng đất nước

đi lên chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn phát triển đất nước theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục chăm lo cho sựnghiệp giáo dục, một bộ phận quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa về

tư tưởng, văn hoá Giáo dục có trách nhiệm to lớn và nặng nề trong việc thựchiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 13

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã chỉ rõ: Ngày nay, để phục vụ đặcbiệt việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá mới

và con người mới xã hội chủ nghĩa, hơn bao giờ hết chúng ta phải đẩy mạnh

1987 trẻ đến lớp khoảng 80%, năm học 1995 - 1996 đã đạt 93,5%)

Giáo dục Tiểu học, hoàn thành phổ cập tiểu học và xóa mù chữ từ năm

1991 Hiện nay, chất lượng phổ cập được giữ vững và nâng cao Các tiêuchuẩn phổ cập đạt 97%

Trung học phổ thông, từ năm 1992 đến nay số học sinh các bậc học đếntrường ngày càng tăng Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm đáng kể (trung học cơ sở

từ 15%, trung học phổ thông từ 8%, đến năm học 1996 - 1997 chỉ còn 0,6 đến1%) Các loại hình trường lớp ngày càng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu họctập của nhân dân

Hai là, chất lượng giáo dục đã có nhiều tiến bộ.

Chất lượng đại trà ở các cấp học phổ thông ngày càng ổn định và cónhững mặt tiến bộ; chất lượng mũi nhọn từng bước được nâng cao, chất lượng

Trang 14

giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ ngày càng được coi trọng Năm học 1995

- 1996 số học sinh khá, giỏi đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia tăng2,8 lần, số học sinh đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng tăng 3,4 lần so vớinăm học 1991 - 1992

Trẻ suy dinh dưỡng ở khu vực nhà trẻ, mẫu giáo mỗi năm giảm 2 - 3%.Hiện nay đã có 60% số cháu đạt kênh A

Ba là, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các cấp học đã từng bước đáp

ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục

Công tác bồi dưỡng giáo viên được tiến hành thường xuyên Tỷ lệ giáoviên đạt chuẩn đào tạo ở mức cao của toàn quốc Phong trào thi đua hai tốt,thi giáo viên giỏi, cải tiến phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học từbậc mầm non, phổ thông được duy trì đều đặn Phong trào dân chủ hoá trườnghọc bước đầu có hiệu quả

Bốn là, cơ sở vật chất trường lớp đã có sự tiến bộ vượt bậc.

Bằng các nguồn vốn (Nhà nước hỗ trợ, kinh phí xã, nhân dân đónggóp…) trong những năm qua, Hải Hưng đã tăng nhanh phòng học kiên cố,cao tầng Từ năm 1993 đến nay bình quân mỗi năm đưa vào sử dụng từ 350đến 450 phòng học kiên cố, cao tầng Riêng năm 1996 đã xây dựng được 746phòng học kiên cố cao tầng Tính đến cuối năm 1996 số phòng học kiên cố,cao tầng toàn tỉnh đạt được 35,4% so với tổng số phòng học

Năm là, công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được nâng cao.

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, các gia đình ngàycàng chăm lo toàn diện đến giáo dục Các xã, phường đã thành lập Hội đồnggiáo dục và tổ chức Đại hội Các hình thức đào tạo ở các cấp học, bậc họcngày càng mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ và nhân dân

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì ngành giáo dục Hải Hưngvẫn còn một số khó khăn, yếu kém cần phải khắc phục, đó là:

Trang 15

Một là, chất lượng giáo dục tiến bộ còn chậm so với yêu cầu phát triển

của giáo dục, kỹ năng vận dụng thực hành, năng lực tư duy độc lập sáng tạocủa một bộ phận học sinh còn yếu

Hai là, đội ngũ giáo viên còn thiếu nhiều, chất lượng còn yếu, nhất là

giáo viên mầm non và một bộ phận lớn giáo viên tiểu học, trung học cơ sởchưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển của giáo dục Đội ngũ thầy

cô và cán bộ quản lý được đào tạo trên chuẩn, giỏi về chuyên môn - nghiệp vụ

ở các cấp học còn ít

Ba là, cơ sở vật chất trường lớp ở một số địa phương, nhất là các xã

nghèo ở vùng sâu, vùng xa còn yếu kém Nhiều trường học sân chơi bãi tậpkhông đúng quy định, điều kiện và dụng cụ phục vụ giáo dục thể chất cho họcsinh còn thiếu và sơ sài Trang thiết bị để sử dụng cho việc đổi mới phươngpháp dạy học thiếu và lạc hậu, nhất là ngành học mầm non

1.2 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2005

1.2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục

* Giai đoạn từ 1997 đến 2000

Cùng với những thay đổi của cả nước, tỉnh Hải Dương cũng có nhiềuchuyển biến Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 20/11/1996 đãquyết định tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, Đảng

bộ tỉnh Hải Hưng tách ra thành Đảng bộ tỉnh Hải Dương và Đảng bộ tỉnhHưng Yên Sau khi được tái lập, tỉnh Hải Dương chuyển sang giai đoạn mớitrong lịch sử phát triển của mình

Tháng 6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã họp

và quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xãhội “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành

Trang 16

một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp

lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất; đời sống vật chất và tinh thần cao; quốc phòng, an ninh vững chắc, dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” Muốn tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục, phát huy nguồn lựccon người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để thực hiệnNghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ươngquyết định định hướng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaVIII) đãthảo luận và thông qua hai Nghị quyết quan trọng về định hướng chiến lượcphát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụđến năm 2000 Nghị quyết Trung ương 2 có tầm chiến lược lớn, mở khâu độtphá của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Nghị quyết Trung ương 2 khẳng định: “Thực hiện Nghị quyết các Đạihội VI, VII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ươngkhóa VII, trong những năm gần đây, giáo dục có những mặt tiến bộ” Cụ thểlà: mạng lưới trường học phát triển rộng khắp; quy mô giáo dục tăng; chấtlượng giáo dục có tiến bộ bước đầu; đã xuất hiện một số nhân tố mới tronggiáo dục Tuy nhiên, bên cạnh đó, ngành giáo dục còn có những mặt yếu kém

và bất cập về quy mô, cơ cấu và nhất là về chất lượng và hiệu quả

Nghị quyết Trung ương 2 cũng đưa ra những nhiệm vụ và mục tiêu pháttriển giáo dục đến năm 2000 Nhiệm vụ là “Phát huy những thành công đã đạtđược, khắc phục các mặt yếu kém theo hướng: chấn chỉnh công tác quản lý,khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp vàcủng cố hệ thống giáo dục và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và

Trang 17

hiệu quả giáo dục; phát triển quy mô giáo dục, chuẩn bị tiền đề cho nhữngbước phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21” Mục tiêu “chủ yếu là thực hiện giáodục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học”, cụ thểlà: phát triển bậc học mầm non, phổ cập giáo dục tiểu học, thanh toán nạn mùchữ cho những người trong độ tuổi 15 - 35…

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/BCHTW, Hội nghị Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh họp đầu năm 1997 đã quyết định mục tiêu, nhiệm vụ và nhữnggiải pháp phát triển giáo dục tỉnh nhà trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Ngày 9/4/1997, Hội nghị đã ra Nghị quyết số

02-NQ/TU “Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục”.

Nghị quyết đã đặt ra “Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển giáo dục trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2000” Mục tiêu chung được

đề ra là: Phát triển giáo dục phải coi trọng cả mặt bằng lẫn đỉnh cao dân trí;giáo dục ra những con người có đủ phẩm chất và năng lực để xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Chống khuynh hướng “thương mạihóa” trong các nhà trường; giữ gìn mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung

và phương pháp giáo dục Thực hiện việc đầu tư cho giáo dục, làm cho toàn

xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục Củng cố, tiếp tục đổi mới để phát triển hệthống giáo dục và mạng lưới trường lớp các cấp học, bậc học Phát triển quy

mô phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Đổi mới

rõ rệt công tác quản lý giáo dục Tuyên truyền và làm tốt công tác phòngchống các tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh, trật tự trường học

Nghị quyết 02 cũng đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát triển giáodục đến năm 2000 là: Tăng cường các nguồn lực để phát triển giáo dục; tạomọi động lực đủ mạnh để phát triển giáo dục như xây dựng đội ngũ giáo viên

Trang 18

và cán bộ quản lý, thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, đẩymạnh công tác xã hội hóa giáo dục.

* Giai đoạn từ 2000 đến 2005

Thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương về tiến hành Đại hộiĐảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (12/2000) đã đượctiến hành

Đại hội lần thứ XIII được tổ chức vào thời điểm chuyển giao thế kỷ.Tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến mới, thời cơ,thuận lợi đan xen với những khó khăn, thách thức

Những nhiệm vụ chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục cũng được Đạihội đề ra là: Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục "Tiếp tục quán triệt quan điểmgiáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển quy mô giáo dục, giữ vững, nângcao chất lượng và phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 2 (khóaVIII) về giáo dục Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm bồidưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có lương tâmnghề nghiệp, lối sống trong sáng, lành mạnh Nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Hội đồng giáo dục, Hội khuyến học các cấp Phấn đấu xây dựng thêm ítnhất 50 trường học đạt chuẩn quốc gia Đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóacác loại hình trường lớp trong giáo dục; chuyển các lớp bán công ra khỏitrường công; phát triển trường bán công, dân lập, tư thục Tranh thủ cácnguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư cho sự nghiệp giáo dục"

Một số giải pháp phát triển giáo dục được đồng chí Giám đốc Sở Giáodục Đào tạo tỉnh Hải Dương đề ra là: Củng cố vững chắc hệ thống trường lớp

ở các cấp học theo cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân quy định tạiNghị định 90/CP và Luật Giáo dục; huy động ít nhất 40% cháu tuổi nhà trẻ và80% cháu tuổi mẫu giáo đến trường mần non; làm tốt công tác giáo dục

Trang 19

hướng nghiệp; coi trọng giáo dục đạo đức; đẩy mạnh công tác xây dựngtrường chuẩn Quốc gia; đổi mới quản lý giáo dục; đổi mới phương pháp dạyhọc; đẩy mạnh công tác thanh tra giáo dục; thực hiện tăng cường công tác xãhội hóa giáo dục; huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; khuyếnkhích hoạt động của Hội đồng giáo dục, Hội khuyến học các cấp Những ýkiến, đóng góp của đồng chí có ý nghĩa quan trọng giúp Đảng bộ tỉnh cónhững chủ trương, biện pháp thích hợp để lãnh đạo sự nghiệp phát triển ngànhgiáo dục.

Tháng 4 năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐảngCộng sản Việt Nam được tiến hành Đại hội nhận định bước sang thời kỳ mới

“cách mạng nước ta vừa đứng trước thời cơ vận hội lớn, vừa phải đối mặt vớinhững thách thức, nguy cơ lớn không thể xem thường Nắm bắt cơ hội, tậndụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức với tinh thần cách mạngtiến công đưa cách mạng Việt Nam tiến lên mạnh mẽ, đó là vấn đề có ý nghĩasống còn đối với chúng ta trong thời kỳ mới” [18, tr.6 - 7]

Đại hội tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đại hộiyêu cầu trong giai đoạn hiện nay nhiệm vụ quan trọng là “tiếp tục nâng caochất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệthống trường lớp và hệ thống quản lý; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xãhội hóa” Phát huy tinh thần độc lập, suy nghĩ và sáng tạo của học sinh… Đẩymạnh phong trào học tập trong nhân dân… Tăng ngân sách cho giáo dục…Khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp…” [18, tr.35 - 36]

Đại hội IX tiếp tục đề ra mục tiêu cho ngành giáo dục trong 5 năm từ

2001 - 2005 là: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về pháttriển giáo dục…; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triểnkhai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; … từng bước phát triển

Trang 20

kinh tế tri thức”; làm cho đến năm 2010 “trẻ em đến độ tuổi đi học đều đượcđến trường; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước”.

Các chỉ tiêu về giáo dục cũng được đưa ra: Tỷ lệ học sinh trung học cơ

sở đi học trong độ tuổi đạt 80%, tỷ lệ học sinh phổ thông trung học đi họctrong độ tuổi đạt 45% vào năm 2005 Tiếp tục củng cố và duy trì mục tiêu phổcập tiểu học Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn lực là nhân tố quyết định cho

sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiệnnhững chủ trương của Trung ương Đảng, Chính phủ, Đảng bộ tỉnh HảiDương đã lãnh đạo ngành giáo dục Hải Dương phát triển tiến lên một bướcmới trong giai đoạn 2001 - 2005

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục

Những nội dung trong Nghị quyết Trung ương 2 đã được các cơ quanĐảng, chính quyền trong tỉnh nghiêm túc thực hiện trong đó bao gồm việc

Trang 21

khai thác các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; xây dựng đội ngũcán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên đáp ứng được nhu cầu trong giaiđoạn mới (thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) đã xây dựng quyhoạch công tác cán bộ của ngành những năm trước mắt và sau năm 2000);thực hiện tốt công tác quản lý giáo dục như chỉ đạo vấn đề điều chỉnh, đổimới công tác đánh giá chất lượng giáo dục, chỉ đạo về việc dạy thêm, họcthêm, chủ trương không có trường chuyên lớp chọn…

Tháng 12 năm 1997, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã họp Hội nghị tổng kết,đánh giá kết quả sau một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)

về giáo dục tỉnh Hải Dương Hội nghị đã đánh giá những thành tựu mà ngànhgiáo dục tỉnh đạt được như: chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao;

đa dạng hóa các loại hình trường học; phát triển công tác xóa mù chữ; tăngcường đội ngũ giáo viên…

Sau Hội nghị, Ban Tuyên giáo và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh HảiDương có văn bản hướng dẫn các Huyện ủy, Thành ủy cùng các phòng giáodục ở các huyện, thành phố triển khai ở địa phương đến các trường học vàgiáo viên 100% Phòng giáo dục các huyện, thành phố đều có chương trìnhhàng động cụ thể và giải pháp tích cực nhằm thực hiện Nghị quyết của Trungương, của Tỉnh ủy về giáo dục Trong năm 1997, căn cứ vào Nghị quyết 02của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có kế hoạch cụ thểhóa về đầu tư ngân sách cho giáo dục trên các mặt hoạt động theo hướng tíchcực và tăng dần, đảm bảo chi ngân sách khoảng 110 - 120 tỷ so với 370/380

tỷ (trên 30%) tổng ngân sách

Thông báo số 47-TB/TU đưa ra những đánh giá về thành tựu cũng nhưhạn chế của ngành giáo dục sau khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóaVIII) và Nghị quyết 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương Trong

Trang 22

đó, Tỉnh ủy Hải Dương nhận định “Sau hơn một năm thực hiện, sự nghiệpgiáo dục đã có tiến bộ góp phần vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài”.

Ngày 10/8/1998, Thường vụ Tỉnh ủy đã có thông báo số 143-TB/TU

“Thông báo ý kiến về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục trong thời gian tới” Trong thông báo 143-TB/TU có nêu lên ý kiến của Thường

trực Tỉnh ủy như sau: “Cơ bản nhất trí với đánh giá, đề xuất của Ban Tuyêngiáo Tỉnh ủy và đề nghị quy hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo Một nămqua, công tác giáo dục đã có nhiều tiến bộ về nhiều mặt, thực hiện tương đốitốt chủ trương của tỉnh duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập tiểu học, phấnđấu phổ cập trung học cơ sở, đã đáp ứng được 60% số học sinh tốt nghiệptrung học cơ sở có nhu cầu vào học trung học phổ thông, tăng cường đầu tưxây dựng cơ sở vật chật, nâng cao chất lượng dạy và học, tỷ lệ học sinh tốtnghiệp các cấp khá cao (trên 90%)” [43, tr.1]

Tháng 10/1998, Tỉnh ủy Hải Dương có Nghị quyết 04 về giáo dục trong

đó nhấn mạnh: Thực hiện đường lối của Đảng: Coi giáo dục là quốc sáchhàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, trước hết phải tăngcường tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai tròcủa giáo dục trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tạo ra phongtrào toàn dân làm giáo dục Thực hiện tốt xã hội hóa các nguồn đầu tư, thu hút

sự tham gia của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội vào việc chăm lo vàphát triển sự nghiệp giáo dục

Tháng 11/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương có Chỉ thị 19, Hộiđồng nhân dân Tỉnh khóa IX đã có kỳ họp thứ 8 bất thường về giáo dục Thựchiện Thông tư liên tịch số 35/TT-LT năm 1990 của Bộ giáo dục và Đào tạo vàCông đoàn Giáo dục Việt Nam

Trang 23

Tháng 6/1999, 100% xã (phường), huyện, thành phố đã tiến hành Đạihội giáo dục và thành lập Hội đồng giáo dục mà Chủ tịch hội đồng giáo dục làđồng chí Phó chủ tịch ủy ban nhân dân (xã, phường, huyện, thành phố) phụtrách văn xã.

Ngày 20/12/1999, Tỉnh Hải Dương tiến hành mở Đại hội giáo dục lầnthứ nhất, đã thành lập Hội đồng giáo dục tỉnh với 36 thành viên tham gia Banchấp hành, xây dựng quy chế hoạt động của mình và các chương trình hoạtđộng trong năm

Tháng 6/2000, Hội Khuyến học Tỉnh được thành lập, có Ban chấp hànhhội, có quy chế hoạt động dựa trên điều lệ Hội khuyến học Việt Nam Trongthời gian qua, Hội đã tham mưu và thành lập nhiều chi hội khuyến học cấp xã,phường, huyện, dòng họ

Tháng 10/2000, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã có đợt kiểm tra, khảo sátmột số cơ sở giáo dục trong toàn tỉnh Ban Tuyên giáo đã trình lên Tỉnh ủy

“Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, Nghị quyết 02 của Tỉnh

ủy về giáo dục và những biện pháp chủ yếu đạt mục tiêu đến năm 2000” Nội

dung của báo cáo là đánh giá kết quả đạt được sau 3 năm triển khai thực hiệnthông báo số 47-TB/TU và sau 1 năm thực hiện thông báo số 143-TB/TU

* Giai đoạn 2000 đến 2005

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII đã xác định nhiệm

vụ trong 5 năm (2001 - 2005) của Tỉnh là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn thời kỳ 1997 - 2000 và mứcbình quân cả nước” Để mục tiêu đó thành hiện thực thì yếu tố con người cóvai trò chủ thể hết sức quan trọng, trong đó sự nghiệp giáo dục với nhiệm vụ

“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” có vị trí “quốc sáchhàng đầu”

Trang 24

Ngày 26/9/2001, Tỉnh ủy Hải Dương đã ra Chương trình số 10-CTr/TU

về nâng cao chất lượng nguồn lực - yếu tố con người có ý nghĩa quan trọnghàng đầu và quyết định đối với một nền kinh tế và sự phát triển của xã hội.Việc nâng cao chất lượng nguồn lực là đòi hỏi bức thiết hiện nay để đảm bảothực hiện thắng lợi những nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỉnh ủy đã giao cho SởGiáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương chủ trì xây dựng và thực hiện đề án

“Phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực”; giaocho Ban Tổ chức chính quyền tỉnh chủ trì xây dựng và thực hiện đề án “Thuhút và sử dụng nhân tài”

Tháng 6/2002, căn cứ vào Chương trình hành động số 04/CTr-TU ngày4/5/2001 của Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lầnthứ XIII, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định số 2685/QĐ-UB

về việc phê duyệt đề án “Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực” Đến ngày 22/10/2002, Tỉnh ủy xây dựng chương trình thực

hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) trong đó đã điều chỉnh một sốmục tiêu của đề án

Sau khi đề án được phê duyệt, Chương trình thực hiện Kết luận Hội nghịTrung ương được thông qua, các cấp ủy đã tổ chức học tập, triển khai; ngànhgiáo dục với tư cách là cơ quan thường trực thực hiện đề án, đã tích cực phốihợp với các ngành có liên quan tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân(HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh ban hành nhiều chủ trương, biệnpháp thiết thực và kịp thời Tại các địa phương, các Phòng Giáo dục và Đàotạo, các nhà trường cũng chủ động tham mưu với cấp ủy và chính quyền địaphương có nhiều giải pháp cụ thể và tích cực tổ chức thực hiện

Tiếp đến, năm 2004, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ươngĐảng họp vào 01/2004 với nhiệm vụ là kiểm điểm nửa nhiệm kỳ đầu thực

Trang 25

hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ vàgiải pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội trong những năm tiếptheo Hội nghị nhận định, trong thời gian từ năm 2001 - 2004, giáo dục cóbước phát triển mới: “Sự quan tâm, chăm sóc và đầu tư của xã hội, nhất làcủa Nhà nước cho giáo dục được tăng cường đáng kể Năm 2000, Nhà nướcđầu tư 15% trong tổng đầu tư ngân sách cho giáo dục, năm 2003 đầu tư trên16%; quy mô giáo dục tiếp tục tăng… Giáo dục mầm non được quan tâm pháttriển…; công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được triển khai tích cực.Tính đến hết năm 2003, có khả năng 19 tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cậptrung học cơ sở Chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông có chuyển biến, cơ

sở vật chất kỹ thuật của các trường trung học trên cả nước được tăng cườngđáng kể, nhất là đối với các trường trọng điểm

Quán triệt Nghị quyết Trung ương chín và trên cơ sở phương hướng,mục tiêu, nhiệm vụ Hội nghị giữa nhiệm kỳ đã xác định, Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh xây dựng chương trình cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi Nghịquyết Trung ương chín Chương trình hành động đã được đề ra vào tháng4/2004 Nội dung của Chương trình đề cập đến việc “Phát triển giáo dục”

bằng cách thực hiện các đề án “Phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực”, đề án “Thu hút và sử dụng nhân tài” Chương

trình tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục quán triệt, triển khai mạnh hơn quan điểmphát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” Do đó, trong thời gian tới, nhiệm

vụ của Đảng bộ, chính quyền trong tỉnh là “Tập trung chỉ đạo để tập trungnâng cao chất lượng giáo dục Trong đó chú trọng đổi mới và nâng cao nănglực quản lý Nhà nước về giáo dục, xử lý dứt điểm những giáo viên không đạtchuẩn Tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông, quan tâm đầu tư cho bậc mầmnon Phát huy các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ kiên cố hóa phòng học mầm

Trang 26

non được xây dựng kiên cố, đẩy mạnh xây dựng các trường học đạt chuẩnquốc gia ở các cấp học”.

Ngày 29/6/2005, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương đã có báo cáolên UBND tỉnh về “Kết quả thực hiện đề án phát triển giáo dục và đào tạo đápứng nhu cầu nguồn nhân lực” Báo cáo khẳng định nhiều mục tiêu, nhiệm vụ

cơ bản của đề án đã đạt được hoặc có khả năng đạt được Tuy nhiên, cũng cònmột số mục tiêu chưa đạt được, cần có sự hỗ trợ của các cấp, các ngành đểkhắc phục, tháo gỡ, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của tỉnh ngày càng đápứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Tháng 9/2005, UBND tỉnh Hải Dương đã có Báo cáo số 58/BC-UB về

“Sơ kết bốn năm xây dựng và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn (2002 - 2005)” Báo cáo đã tổng kết những hoạt động của

tỉnh Hải Dương để thực hiện chủ trương đề ra tại Đại hội IX: Đẩy mạnhphong trào học tập trong nhân dân bằng các hình thức giáo dục chính quy vàkhông chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xãhội học tập Báo cáo cho biết, đến năm 2005, toàn tỉnh Hải Dương 100% xã,phường, thị trấn trong tỉnh có Trung tâm học tập cộng đồng (HTCĐ) Cáctrung tâm HTCĐ là cần thiết, mô hình tổ chức và hình thức hoạt động của cácTrung tâm HTCĐ là phù hợp với hoàn cảnh hiện nay Đồng thời, báo cáocũng nêu lên những nhiệm vụ, mục tiêu để tiếp tục phát triển hoạt động củaTrung tâm HTCĐ trong thời gian tới

1.2.3 Kết quả và hạn chế

1.2.3.1 ết quả

Cùng với nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh sự phát triển giáo dục, tăngcường các biện pháp chỉ đạo tổ chức và quản lý xã hội hóa gia đình, nhữngnăm qua ngành giáo dục tỉnh Hải Dương liên tục đạt được nhiều thành tíchnổi bật, góp phần xứng đáng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Trang 27

Một là, quy mô giáo dục đã phát triển mạnh và từng bước theo hướng

ổn định vững chắc

•Giáo dục mầm non

So với giai đoạn trước năm 1997, quy mô trường lớp của ngành giáo dụcmầm non được đa dạng hóa tạo điều kiện thuận lợi phát triển, nâng cao chấtlượng chăm sóc nuôi dạy trẻ và nâng cao tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổiđến lớp

Ngay từ năm 1998 tỉnh đã sáp nhập các nhà trẻ và trường mẫu giáo thànhtrường Mầm non trong các xã, phường để giảm bớt đầu mối, tạo điều kiện chocông tác quản lý, chỉ đạo được hiệu quả hơn Năm học 1997 - 1998, toàn tỉnh

có 318 trường, trong đó có 36 nhà trẻ độc lập thì đến năm học 2004 - 2005 cảtỉnh đã có 282 trường, trong đó có 276 trường mầm non bán công, 3 trường tưthục (năm 1998 chỉ có 1 trường tư thục) và 3 nhà trẻ độc lập, ngoài ra còn có

5 cơ sở tư thục và 284 nhóm trẻ gia đình (tăng so với năm 1998 là 102 nhóm).Các trường đều quy hoạch khuôn viên, thành lập các khu liên thôn, thựchiện phân chia nhóm lớp theo độ tuổi Các trường công lập trước đây đều ởthành phố, thị trấn - nơi có điều kiện thuận lợi trong tỉnh Đến năm học này,tỉnh đã chuyển toàn bộ các trường công lập thành trường bán công Toàn tỉnhkhông có xã, phường trắng cơ sở mầm non (kể cả các xã vùng sâu, vùng dântộc)

•Giáo dục phổ thông

Quy mô, hệ thống trường lớp của bậc học phổ thông trong thời kỳ 1997

-2005 được củng cố, giữ vững và có phát triển Số lượng học sinh tiểu học,trung học cơ sở giảm nhẹ do cơ cấu dân số trong độ tuổi giảm, học sinh trunghọc phổ thông có tăng nhẹ Tỷ lệ huy động trẻ theo độ tuổi đi học đạt cao,việc duy trì sỹ số học sinh luôn được thể hiện tốt

Trang 28

Bảng 1: Thống kê tổng số trường lớp, học sinh, bình quân học sinh trung học

phổ thông/lớp tỉnh Hải Dương từ 1996 - 2004

Đơn vị tính: học sinh

STT Năm học Tổng số

trường

Tổng số lớp

Tổng số học sinh

Bình quân HS/lớp

Trong đó TSHS

công lập

TSHS bán công dân lập

lượng 5 năm cuối 105,95% 104,46% 103,39% 98,98% 99,73% 109,56%

Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương

Hiện nay, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi năm sau cao hơn so với nămhọc trước: Tiểu học đạt từ 99,7% - 100%; trung học phổ thông đạt 98,7 -99,5%; tỷ lệ vào lớp 10 so với dân số trong độ tuổi (kể cả trung học phổthông) đạt 46,7 - 52,9% Năm 2004, số trường tiểu học là 278 trường với138.650 học sinh, tỷ lệ trẻ 6 tuổi huy động vào lớp 1 đạt 99,8% Tỷ lệ họcsinh bỏ học không đáng kể

Chất lượng phổ cập tiểu học đúng độ tuổi trong tỉnh tiếp tục được duy trì

và giữ vững Trong sự nghiệp giáo dục nói chung của Hải Dương, bậc tiểu

Trang 29

học đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích quan trọng góp phần nâng cao dân trí tại địa phương.

Như vậy, so với mặt bằng chung của toàn quốc, giáo dục tiểu học HảiDương được xếp vào những đơn vị mạnh, có nhiều điều kiện để phát triển vànâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Quá trình xây dựng các trường tiểuhọc chuẩn quốc gia cũng đạt được nhiều thành tựu Năm 2004 Hải Dương có

100 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Vào thời điểm đầu 2005, toàn tỉnh có

121 trường đạt chuẩn quốc gia (có thêm 4 trường mầm non, 17 trường tiểuhọc vừa hoàn tất thủ tục để Bộ ra Quyết định công nhận vào cuối năm học

Trang 30

Tổng số học sinh phổ thông năm 2004 - 2005 là 345.180 học sinh, trong

đó trung học phổ thông là 61.564 học sinh chiếm 64% tốt nghiệp trung học

cơ sở tăng gần 15% so với năm học 1997 - 1998 Hiện nay, tỷ lệ người biếtchữ trong đội tuổi 15 - 35 là 99,94%, trẻ 11 tuổi tốt nghiệp tiểu học vào họctrung học cơ sở đạt 99,8%, tỷ lệ người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở độtuổi từ 15 - 18 là 89,5%

Hai là, chất lượng giáo dục đã được nâng lên và luôn ở vị trí dẫn đầu

cả nước

•Giáo dục mầm non

Chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ không ngừng được củng cố, nâng cao.Đảng bộ tỉnh luôn chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chương trìnhchăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của Bộ; chỉ đạo ngành giáo dục thựchiện tốt các chuyên đề của Bộ hướng dẫn như: làm quen với toán, văn học,chữ viết và các lớp thực nghiệm đổi mới hình thức hoạt động cho trẻ Hiệnnay, tỷ lệ trẻ được ăn bán trú, ăn bữa phụ tại nhà trẻ đạt 93,3%, ở mẫu giáođạt 34,1%

Đảng bộ đã có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôidạy trẻ: Tích cực xây dựng và củng cố hệ thống các trường điểm, xây dựngtrường đạt chuẩn quốc gia; có chính sách để đội ngũ giáo viên được cải thiệncuộc sống, yên tâm gắn bó với nghề như: tuyển vào biên chế hiệu phó, hỗ trợ17% lương cho giáo viên ngoài biên chế được đóng bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế… đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng nângcao chất lượng đội ngũ: khuyến khích học tập nâng cao trình độ, tổ chức hộithảo, hội giảng, chuyên đề, tích cực tổ chức các lớp thực nghiệm, đẩy mạnhphong trào viết chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm…

Trang 31

Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi tiếp tục đượcthực hiện tốt Các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, học sinh giỏi tỉnh, huyệnđược tổ chức nghiêm túc, an toàn, đúng quy chế Thành tích học sinh giỏiquốc gia, quốc tế tiếp tục được củng cố Chất lượng giáo dục ở các cấp học,ngành học năm sau cao hơn năm trước, số lượng học sinh giỏi quốc gia vàquốc tế tăng lên hàng năm Số học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế chiếm tỷ lệcao: năm 2001 - 2002 là 62/88, 1 huy chương đồng quốc tế môn Vật lý; nămhọc 2002 - 2003 là 54/88, 3 huy chương đồng các môn Lý, Hóa; năm học

2003 - 2004 là 58/88, 1 học sinh đạt giải khuyến khích thi Olimpic Vật lý khuvực Châu Á

Bảng 3: Số lượng học sinh đạt giải cấp tỉnh, quốc gia, quốc tế

Trang 32

Ba là, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của tỉnh Hải Dương đã tương

đối đảm bảo về số lượng, chất lượng, về phẩm chất chính trị, đạo đức và nănglực quản lý, chuyên môn

Hiện nay đội ngũ giáo viên tiểu học của Hải Dương có 1822 giáo viênđạt tình độ Đại học và Cao đẳng chiếm 45% tổng số giáo viên tiểu học, độtuổi dưới 35 chiếm 54,6%, số giáo viên giỏi cấp tỉnh đạt 2,1%

Bảng 4: Đội ngũ giáo viên các bậc học phổ thông

-1999

1999 2000

2000 2001

2001 2002

2002 2003

2003 2004

Trang 33

Định mức biên chế giáo viên đảm bảo, chất lượng thường xuyên đượcnâng cao; việc bố trí, sắp xếp nhìn chung có hiệu quả và cơ bản đã khắc phụcđược tình trạng thiếu giáo viên; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn cao sovới mặt bằng chung toàn quốc.

Cụ thể là: tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở bậc mầm non là 60%; tiểu học có1,3 giáo viên/lớp, đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 42%; trung học cơ sở có 1,78giáo viên/lớp, đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 25,37%, trung học phổ thông có2,1 giáo viên/lớp, đạt chuẩn 97%

Đặc biệt, đến năm 2004 - 2005, các trường đều có cán bộ thư viện, thiết

bị Trong đó, thư viện có 360 người chuyên trách, 298 người kiêm nhiệm;thiết bị có 191 cán bộ chuyên trách, 399 cán bộ kiêm nhiệm Tỉnh không bốtrí giáo viên không đạt chuẩn đứng lớp

Bốn là, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học đã được tăng cường theo

hướng khang trang, hiện đại và từng bước đạt chuẩn quốc gia

Đảng bộ đã rất tích cực chỉ đạo phát triển cơ sở vật chất trường học, đápứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển giáo dục Bình quân diện tích/họcsinh so với yêu cầu tối thiểu theo tiêu chuẩn trường quốc gia của Bộ tươngđối đảm bảo ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông

Nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa trường học, các địa phương đã giảiquyết 336.633 m2 đất cho các trường còn thiếu diện tích so với mức quy địnhtối thiểu Nhiều địa phương thực hiện phương án sát nhập cơ sở vật chất 2trường trung học cơ sở và tiểu học, và xây dựng thêm một trường ở khu đấtmới để phấn đấu cả 2 trường đều đạt chuẩn Sở đã lập phương án trình Tỉnhcấp tiếp 237.000 m2 đất trong năm 2004 Năm học 2003 - 2004 toàn tỉnh xây

Trang 34

mới 1220 phòng học kiên cố với tổng số tiền dự toán là 102.508 triệu đồng Trong đó kinh phí dân đóng góp là 71.465 triệu đồng.

Tỷ lệ kiên cố cao tầng hàng năm đều tăng So với năm học 2001 - 2002,năm học 2004 - 2005, tỷ lệ kiên cố cao tầng ở các bậc học đều tăng từ 16 -21,15%; tiểu học là 42,56% (tăng 21,15%); trung học cơ sở là 53% (tăng21,1%); trung học phổ thông là 88,9% (tăng 16%) Đến nay, tỷ lệ phòng họctạm chỉ còn ở tiểu học là 28,17% và trung học cơ sở là 15,9% Tính chung lại

từ năm 1997 - 2005, tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng toàn tỉnh tăng từ 52,8%lên 69,3% Toàn tỉnh đã xóa tình trạng học 3 ca, 30% học sinh tiểu học đãthực hiện học 2 buổi/ngày

Hiện nay, 100% trường trung học phổ thông có phòng thiết bị; 81%trường có bộ thiết bị đồng bộ Lý, Hóa, Sinh (tăng 9,6); 74,3% số lớp 2 có đủmột bộ thiết bị đồng bộ (4 huyện mua đủ 1 bộ/lớp); mỗi trường trung học cơ

sở có ít nhất một bộ thiết bị đồng bộ lớp 7; Sở đã trích trên 3 tỷ đồng từ ngânsách của ngành để hỗ trợ đầu tư mua thiết bị cho các trường xây dựng chuẩnquốc gia Việc xây dựng phòng học bộ môn đã được quan tâm với sự chỉ đạothống nhất về thiết kế mẫu và trang thiết bị theo tiêu chuẩn trường chuẩnquốc gia

Năm là, công tác xã hội hóa giáo dục trong tỉnh không ngừng được

đẩy mạnh

Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, hìnhthành xã hội học tập, toàn dân chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục Côngtác xã hội hóa giáo dục đã góp phần tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ củacác cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và nhân dân góp phần tích cực vào

Trang 35

việc tăng cường cơ sở vật chất, động viên, thúc đẩy giáo viên dạy tốt, học sinh học tốt và mọi hoạt động giáo dục.

Hội khuyến học từ tỉnh tới các cơ sở hoạt động hiệu quả, mở được 261trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường; 100% Hội khuyến học các cấptrong tỉnh xây dựng được quỹ khuyến học với tổng số bình quân là từ 4 - 5,7

Quỹ KH của xã

Quỹ KH của dòng họ

1 TP Hải Dương 9.882 115 triệu 372 triệu 55 triệu

2 H Kinh Môn 6.478 60 triệu 125 triệu 102 triệu

3 H Thanh Miện 13.500 42 triệu 157,2 triệu 141 triệu

4 H Chí Linh 8.400 30 triệu 150 triệu 18 triệu

5 H Kim Thành 4.325 100 triệu 245 triệu 113,4 triệu

6 H Nam Sách 20.831 79,8 triệu 63,2 triệu 100,4 triệu

7 H Thanh Hà 9.210 19 triệu 370 triệu 120 triệu

8 H Tứ Kỳ 8.540 70 triệu 100 triệu 130 triệu

9 H Gia Lộc 12.811 20 triệu 80 triệu 289 triệu

10 H Ninh Giang 3.691 31 triệu 325 triệu 100 triệu

11 H Cẩm Giàng 4.584 5 triệu 80 triệu 50 triệu

12 H Bình Giang 7.000 60 triệu 170 triệu 160 triệuTổng cộng 109.252 60 triệu 2.237,5 triệu 1.378,8 triệu

Nguồn: Niêm giám thống kê năm 2003

Trang 36

Ngành giáo dục Hải Dương còn tranh thủ các tổ chức xã hội và tư nhântặng nhiều xuất học bổng, quà cho giáo viên, học sinh giỏi, học sinh có hoàncảnh khó khăn Cuối mỗi năm học, UBND tỉnh tổ chức lễ tuyên dương khenthưởng học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, học sinh đạt giải nhất tỉnh với tổng sốtiền thưởng từ 100 - 150 triệu đồng để thưởng cho giáo viên và học sinhgiỏi tỉnh.

Sáu là, đã từng bước tăng ngân sách, đảm bảo cấp đủ cho ngành

giáo dục

Ngân sách chi cho giáo dục hàng năm chiếm từ 26,1 đến 35,7% tổng chingân sách địa phương Năm 1999 là 135,5 tỷ đồng, năm 2000 là 177,22 tỷđồng, năm 2001 là 207,041 tỷ đồng, năm 2002 là 249,127 tỷ đồng, năm 2003

là 318,639 tỷ đồng Trong đó, chi cho mầm non chiếm từ 3,75 - 4,75%, chicho tiểu học từ 39,4 - 42,9%, cho trung học cơ sở từ 37,5 - 40,7%, cho trunghọc phổ thông từ 10,1 - 10,8%, các loại khác từ 4,24 - 5,75%

Bảng 6: Ngân sách giáo dục cho từng cấp học

đến4,75%

Chiếm39,4%

đến42,9%

Chiếm37,5%

đến40,7%

Chiếm10,1%đến%10,8

Trang 37

Các khoản đóng góp tự nguyện của cha mẹ học sinh từ 6,5 - 7,58 tỷđồng So với ngân sách được cấp từ năm 1998 đến năm 2005, nguồn kinh phínày bằng 8,22 đến 20,87%

Với tổng số nguồn ngân sách nói trên, khoản chi cho con người bao gồmlương và các khoản có tính chất như tiền lương chiếm phần chủ yếu: tiểu học

từ 79,5 92,1%, trung học cơ sở từ 75 91,40%, trung học phổ thông từ 76 87,7% Phần rất hạn chế còn lại chi cho các khoản hoạt động chuyên môn,nghiệp vụ, mua sắm xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị Nhìn chung các đơn vị

-đã sử dụng tương đối hiệu quả nguồn ngân sách tuy rất hạn chế này Cáckhoản mục chi hợp lệ, tiết kiệm và chủ yếu phục vụ cho các hoạt động chuyênmôn như mua sắm trang thiết bị dạy học, tổ chức các hoạt động chuyên đề,hội giảng, hội thảo, các hoạt động tăng cường giáo dục học sinh Cơ sở vậtchất trường lớp, trang thiết bị dạy học của tỉnh ngày càng một thêm đầy đủđáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển giáo dục

Bảy là, công tác quản lý giáo dục đã được đổi mới, hoạt động hiệu quả,

góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục

Bộ máy quản lý giáo dục của địa phương cũng được đảm bảo đủ về biênchế tổ chức Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực công táctốt, nhiệt tình, có trách nhiệm đối với công việc, có tinh thần đoàn kết, nhất trícao, đại đa số ngang tầm nhiệm vụ

Các cơ quan quản lý giáo dục, các trường học, cơ sở giáo dục được kiệntoàn bộ máy tổ chức, có quy chế làm việc rõ ràng, tích cực đổi mới phongcách lãnh đạo, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế mở cửa

Các trường đã thực hiện có hiệu quả kế hoạch thanh tra, đảm bảo vượtchỉ tiêu định mức về thanh tra nhà trường, thanh tra giáo viên; tăng cường tổchức các cuộc thanh tra đột xuất, thanh tra chuyên đề, trong đó đặc biệt chú ýthanh tra việc bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học, đổi mới phương pháp dạy

Trang 38

học, đổi mới chương trình, thay sách giáo khoa và quản lý việc dạy thêm, học thêm.

Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo và tổ chức, quản lý tốt các kỳ thi tuyển sinh, thihọc sinh giỏi, thi tốt nghiệp, đảm bảo nghiêm túc, đúng quy chế; đã áp dụngtin học để quản lý các kỳ thi, kể cả thi tốt nghiệp trung học cơ sở

1.2.3.2 Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ngành giáo dục Hải Dương vẫntồn tại những hạn chế, yếu kém mà Đảng bộ tỉnh, chính quyền cần khắc phụctrong thời gian tới Những tồn tại đó là:

Một là, chất lượng giáo dục tiến bộ chậm so với yêu cầu phát triển của

Vấn đề dạy thêm, học thêm không đúng quy định còn diễn ra ở một sốnơi; việc phát huy hiệu lực quản lý chuyên môn của một số trường còn hạnchế, tình trạng e dè, nể nang trong đánh giá, thanh tra, kiểm tra chuyên môncòn tồn tại

Hai là, đội ngũ giáo viên của tỉnh vẫn chưa thực sự đồng bộ về cơ cấu.

Tiểu học thừa giáo viên các môn văn hóa, thiếu giáo viên các bộ mônnăng khiếu như nhạc, họa, công nghệ; trung học cơ sở thừa giáo viên văn,toán, sinh nhưng thiếu giáo viên nhạc, họa, lý, hóa, giáo dục công dân; chỉ cógiáo viên trung học phổ thông là tương đối đồng bộ về cơ cấu Đội ngũ giáoviên thư viện, thí nghiệm chưa được bố trí ổn định và chưa có chuyên môn,nghiệp vụ

Ngày đăng: 06/01/2018, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w