SKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổiSKKN Các hình thức và biện pháp giáo dục để phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 36 tuổi
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐỂ PHÁT
TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3- 6 TUỔI
I PHẦN MỞ ĐẦU
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất ở
trường mầm non Hoạt động này không những giúp trẻ hình thành và phát triển cácnăng lực ngôn ngữ như nghe, nói, tiền đọc và tiền viết, mà còn giúp trẻ phát triển khảnăng tư duy, nhận thức, tình cảm… Đó là chiếc cầu nối giúp trẻ bước vào thế giớilung linh, huyền ảo, rực rở sắc màu của xã hội loài người Vì vậy, trẻ nói năng mạchlạc, được làm quen với chữ viết tiếng việt, được chuẩn bị sẵn sàng để bước vào lớpmột là yêu cầu trọng tâm của phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non
1 Lý do chọn đề tài:
- Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ, làphương tiện để trẻ lĩnh hội, tiếp thu các hoạt động của người lớn Việc phát triển vàhoàn thiện dần ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là một nhiệm vụ vô cùng cầnthiết Dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ nhỏ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ngôn ngữ củatrẻ được phát triển tốt chừng nào thì trẻ có khả năng giao tiếp và nhận thức tốt chừng
đó Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: trẻ phải có bộ máyphát âm bình thường, có môi trường sống thoải mái, có sự chăm sóc hướng dẫnthường xuyên của người lớn mà đặc biệt là của cô giáo dùng những phương pháp cókhoa học có tác dụng quan trọng đối với việc giáo dục tình cảm đạo đức, tình cảmthẩm mỹ và hình thành ở trẻ những nét tính cách ban đầu
- Khi trẻ hai tuổi trở lên, trẻ được gia đình đưa đi học ở trường mầm non Thờigian này cả ngày trẻ được ở cùng với các cô, được các cô thương yêu, chăm sóc vàdạy dỗ Các cô ở đây đều có trình độ chuyên môn nên trẻ được học tập, hoạt động đểphát triển đầy đủ về các mặt, trong đó việc phát triển về ngôn ngữ là vô cùng quan
Trang 2trọng Cũng như trẻ ở trường tôi khi vô đầu năm học, lúc bắt đầu đón trẻ vào lớp hầuhết các trẻ đều phát âm còn yếu, chậm, trẻ nói chưa sõi còn ngọng nhiều, khi yêu cầutrẻ diễn đạt ý nghĩ hay trả lời các câu hỏi của người lớn trẻ thường chỉ dùng một hai
từ hay những câu hỏi cụt để trả lời, các từ nói còn chưa chính xác, chưa gắn bó vớinhau Còn có một số trẻ chậm nói, nói lắp, nói ngọng và quá rụt rè nhút nhát vì trẻ cònnhỏ ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài, hoặc do bố mẹ lo đi làm kiếm tiền nênkhông có nhiều thời gian chăm sóc, tạo điều kiện thường xuyên trò chuyện với trẻ Do
đó việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi này là rất cần thiết, vì khi trẻ biết ngônngữ thì trẻ sẽ nói được suy nghĩ của mình và trẻ cũng hiểu được yêu cầu của ngườikhác muốn gì, nó cũng góp phần phát triển hoàn thiện cho các mặt khác và cũng làtiền đề để trẻ phát triển toàn diện ở các năm tiếp theo cũng như cho đến hết cuộc đời
trẻ Đó cũng là lí do mà tôi chọn đề tài: “Các hình thức và biện pháp giáo dục để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 3-6 tuổi”
2 Mục đích nghiên cứu:
Dân gian ta có câu “Trẻ lên ba cả nhà tập nói”, như vậy, từ rất xa xưa chúng ta
đã biết ngôn ngữ của trẻ có sự phát triển mạnh mẽ ở độ tuổi này Chính vì vậy sự pháttriển ngôn ngữ của trẻ có những đặc điểm khác nhau tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tuổicủa trẻ Việc nắm vững những đặc điểm này sẽ giúp cho người giáo viên có đượcnhững kiến thức và kĩ năng tốt nhất trong quá trình hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ, đặt
ra những phương pháp phù hợp để đạt được những mục tiêu cho giai đoạn nền móngnày
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, hiểu được hầu hết các câu nói trong sinh hoạthàng ngày
- Nói được câu có 4 - 5 từ vào cuối độ tuổi
Trang 3- Sử dụng được từ ngữ và mẫu câu thích hợp với tình huống và với người nóichuyện.
- Người khác hiểu được trẻ muốn nói gì
- Giúp cho bản thân và đồng nghiệp nắm vững các phương pháp để giáo dục trẻtốt hơn
4 Đối tượng nghiên cứu:
- Trẻ 3-6 tuổi
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Những trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo trong trường mầm non Sơn Ca
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Trò chơi
- Trực quan, đàm thoại
- Dùng lời: Đọc chuyện, thơ, đồng dao, ca dao…
- Ghi chép quá trình phát triển của trẻ
- Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ, Tài liệu tập huấn chương trình giáo dụcmầm non mới Chương trình bồi dưỡng thường xuyên
II NỘI DUNG:
1 Cơ sở lí luận:
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ MầmNon nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu được Ngônngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó làphương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thànhnhững cảm xúc tích cực Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng vàtrở thành một thành viên của cộng đồng Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn màtrẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội mà mọi người đều phải thực
Trang 4hiện theo những quy định chung đó Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểukhám phá, nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của ngườilớn trẻ sẽ được làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh.
Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các
sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày
Các chương trình giáo dục lứa tuổi mầm non ở thế giới cũng như ở Việt Nam ta
đã đặt ra vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở vị trí quan trọng và nghiêm túc Trong
đó yếu tố giáo viên giữ vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình đó phát triểnmột cách tích cực nhất Trên bước đường phát triển về kỷ năng ngôn ngữ và giaotiếp của trẻ, giáo viên là người phát hiện, hình thành những kỷ năng ngôn ngữ, quansát đánh giá khả năng ngôn ngữ của trẻ Giữa các trẻ không có sự phát triển đồngnhất về ngôn ngữ, tuy nhiên ở bình diện chung, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ vẫnthể hiện những nét cơ bản
2 Thực trạng:
a Thuận lợi và khó khăn:
* Thuận lợi:
- Các cháu đi học đều và đã quen với trường lớp
- Cô nắm vững phương pháp, yêu nghề mến trẻ, tận tình với trẻ và phụ huynh,được trau dồi kiến thức thường xuyên tập huấn các chuyên đề mới
- Được sự quan tâm chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quantâm nhắc nhở, giúp đỡ về chuyên môn
- Cô giáo cũng đã cố gắng học tập để nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp
vụ, nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin để phục vụ cho chương trình mới hiệnnay của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Khó khăn:
Trang 5- Một số trẻ tuy cùng độ tuổi nhưng sự phát triển về ngôn ngữ, nhận thức cũngnhư tất cả các mặt khác còn hạn chế hơn so với các bạn của mình.
- Nhà trường đã cố gắng sửa sang về cơ sở vật chất tuy nhiên một số phònghọc vẫn còn chật và các phương tiện học tập còn hạn chế chưa đáp ứng được với điềukiện của chương trình MN mới hiện nay
- Một số trẻ còn chưa được phụ huynh quan tâm về việc học tập cũng như tìnhcảm vì gia đình còn mải mê với cuộc sống bên ngoài, phụ huynh đa số là những ngườilao động nương rẫy
- Nhận thức của phụ huynh về việc đưa trẻ đúng tuổi đến trường còn hạn chế vìđịa bàn xung quanh trường còn nhiều người dân lao động vất vả điều kiện còn kém
b Thành công và hạn chế:
* Thành công: Phát triển ngôn ngữ mạch lạc, trẻ mạnh dạn trong giao tiếp, trẻ
biết lắng nghe và hiểu lời nói trong giao tiếp hàng ngày, diễn đạt rõ ràng và giao tiếp
có văn hoá trong cuộc sống, có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết, lễ phép,chủ động và tự tin trong giao tiếp
* Hạn chế: Bên cạnh những thành công trên cũng còn một số mặt hạn chế như
sau:
- Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ phụ thuộc vàotuổi mà nó phụ thuộc rất lớn vào môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ, nó bao gồm cảmôi trường lớp học, môi trường gia đình và môi trường văn hoá xã hội ở địa phương
mà nơi trẻ sinh sống Vì vậy muốn trẻ phát triển ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc và tự tinthì cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và địa phương Nhưng một số phụhuynh chưa quan tâm nhiều đến trẻ, ít trao đổi trò chuyện cùng với con em mình, vì
họ chủ yếu là những người dân lao động nghèo, suốt ngày với nương rẫy, tối đến mớiđón con về, trẻ chủ yếu là ở trường lớp Chính vì vậy nên cũng hạn chế một phầnkhông nhỏ trong phát triển ngôn ngữ của trẻ
Trang 6c Mặt mạnh, mặt yếu:
* Mặt mạnh:
- Khả năng nghe và phát âm của trẻ đã được cải thiện rất nhiều, số trẻ nóingọng cũng giảm đáng kể Trẻ cũng tự tin và giao tiếp với mọi người dễ dàng hơntrước
- Giúp trẻ nói còn yếu, nói ngọng, ít nói, rụt rè phát triển một cách đáng kể,mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, biết lễ phép, biết chào hỏi
- Các cháu hứng thú khi học và nắm vững kiến thức hơn, cũng như nhớ nộidung bài lâu hơn, sâu hơn, qua đó cô giáo đã nhận ra được sự nhanh nhẹn thông minhcủa từng cá nhân trẻ và phát huy được thêm tính sáng tạo cho trẻ
* Mặt yếu:
- Một số trẻ nói ngọng, nói lắp thì cần có sự quan tâm của nhà trường, gia đình
và xã hội, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình mà chủ yếu làgiao phó cho giáo viên Nhận thức của phụ huynh về việc đưa trẻ đúng tuổi đếntrường còn hạn chế, trẻ chưa qua lớp mầm, lớp chồi mà chủ yếu là học lớp lá
d Các yếu tố tác động:
Qúa trình phát triển ngôn ngữ của trẻ là phải để trẻ học nói bằng cách nói quamôi trường sống thực của nó Vì vậy tạo cơ hội để trẻ được thực hành nói là rất quantrọng Nhiều khi người lớn chúng ta tưởng như trẻ học ngôn ngữ ở trong giờ họcnghiêm chỉnh thì học được nhiều hơn là học ở ngoài giờ học Hoàn toàn không phảivậy Trẻ em không thụ động Trẻ em học lẫn nhau, học với nhau trong khi chơi, khinghe mọi người nói chuyện, nghe cô kể chuyện, học trên tivi , Ngôn ngữ có vai tròrất quan trọng đến sự phát triển nhân cách của trẻ Khi vốn ngôn ngữ của trẻ phongphú thì khả năng diển đạt câu từ của trẻ mạch lạc và khả năng hiểu người khác khi
Trang 7giao tiếp với mình cũng dễ dàng nên nó ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách củatrẻ
e Phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đề ra:
- Ông bà ta xưa có câu “Trẻ lên 3 cả nhà học nói” Thật đúng như thế dạy tiếng
mẹ đẻ cho trẻ 3 tuổi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ngôn ngữ phát triển tốt sẽgiúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Việcphát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học khác,giúp trẻ khả năng phát triển tư duy và ngôn ngữ, cảm thụ cái hay, cái đẹp xung quanh
trẻ Phát triển ngôn ngữ là một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu phát triểntoàn diện nhân cách cho trẻ mầm non
- Từ những vấn đề lý luận đã nêu trên, tôi nghiên cứu, tìm tòi và đề ra một sốgiải pháp cụ thể để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ với nhiều hình thúc cụ thể, từ việcxây dựng môi trường giáo dục, đến việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tácphẩm văn học, hoạt động vui chơi, trò chuyện với trẻ mọi lúc mọi nơi, quan sát, ghichép, trao đổi tuyên truyền với phụ huynh Giáo viên đã tự học tập nâng cao trình độtin học, đã chủ động thiết kế tạo các nguồn dữ liệu ôn luyện củng cố, phát triển ngônngữ phù hợp các chủ đề cho trẻ Ngoài ra trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái TiếngViệt Giáo viên đã chủ động biết cách tổ chức hướng dẫn theo hướng đổi mới Môitrường chữ trong lớp và khu vực trẻ thường xuyên tiếp xúc được tạo ra phong phú,các kiểu chữ phù hợp với qui định của nội dung giáo dục trẻ làm quen chữ viết Giáoviên đã biết tận dụng nguyên liệu phế thải để cho trẻ có cơ hội tham gia vào hoạt độngtạo môi trường chữ xung quanh lớp học cùng với cô
- Phải luôn luôn tạo ra môi trường trò chuyện sống động gần gũi giữa trẻ vớigiáo viên Tạo cơ hội để trẻ được trò chuyện, được cởi mở giao tiếp đóng vai trò quantrọng trong những năm học mẫu giáo mà đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi Việc hướng dẫn trẻhọc nói mà chỉ diễn ra trong khung cảnh trẻ chỉ được nghe cô nói là chủ yếu, trẻ thụ
Trang 8động ngồi nghe và trả lời khi được phép thì không thể phát triển khả năng ngôn ngữtích cực và phong phú ở trẻ được Cách thức tạo ra môi trường trò chuyện đối thoạisống động như trên đã trình bày rất phù hợp với đổi mới giáo dục mầm non hiện nay
là tổ chức giáo dục trẻ gắn liền với hoạt động trẻ thích thú, phù hợp với năng lực, kinhnghiệm của trẻ Giáo viên phải biết gợi mở, tạo môi trường, tạo điều kiện cho trẻ đểtrẻ có vốn sống, vốn kinh nghiệm cho trẻ để từ đó nâng cao và phát triển được ngônngữ của trẻ Chúng ta không chỉ dạy cho trẻ học thuộc các câu chuyện, các bài thơ,
mà cái chính là ta giúp trẻ phát triển vốn từ, phát triển cẩm xúc của mình qua bài thơ,câu chuyện, hiểu được ý nghĩa của câu chuỵện, giúp trẻ tự do lựa chọn những phương
tiện để diễn đạt, đây mới là cái đích mà cô giáo chúng ta cần chú ý Tạo tình huống đểkích thích trẻ hoạt động, tạo cơ hội để trẻ được tiếp xúc với nhiều chữ, nhiều kiểuchữ, trên giá góc, trên đồ dùng đồ chơi, trên biểu bảng, trên đồ dùng cá nhân
3 Giải pháp, biện pháp:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát
âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc,giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triểnthẩm mỹ, tình cảm, đạo đức Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ dàng tiếp nhậnnhững chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn Chính vì vậy
mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy trẻ pháttriển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau: Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúcmọi nơi: Giờ đón trẻ: Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tớitrường, tới lớp cô phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ Vì trò chuyện với trẻ
là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ,đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cungcấp, mở rộng vốn từ cho trẻ
Trang 9b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
b.1.Trò chuyện với trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
- Tôi có thể tận dụng mọi thời điểm để trò chuyện với trẻ, có thể tiến hành nóichuyện với một nhóm hoặc cá nhân một trẻ và đặc biệt là với những trẻ rụt rè, ít nói
- Nội dung mà tôi trò chuyện với trẻ được tôi lựa chọn theo các chủ đề gần gũivới trẻ như: gia đình, con vật, hoa, quả…
- Khi trò chuyện tôi có thể xưng tên của mình và gọi tên trẻ để trẻ biết tên của
cô, của trẻ và tên của các bạn trong lớp
VD: * Trong giờ đón trả trẻ: Tôi thường trò chuyện với trẻ như: Hôm nay ai
đưa bạn An đi học?, Ba mẹ chở bạn An đi bằng xe gì? Bạn An đi học để ba mẹ đi đâu? Con thích chơi với bạn nào? …
+ Khi tôi trò chuyện hỏi trẻ như vậy thì trẻ phải trả lời được các câu hỏi của tôi,nếu không trả lời được thì tôi sẽ gợi ý cho trẻ nói lại theo tôi
* Trong giờ ăn: Tôi trò chuyện với trẻ về các món ăn Hôm nay chúng ta ăn
món gì? Có ngon không? Bạn Hoa có thích ăn không? Và tập cho trẻ thói quen mời
cô và các bạn trước khi ăn…
* Trong giờ ngủ: Trước khi đi ngủ tôi cho trẻ đọc bài thơ “Giờ đi ngủ” và nói lời chúc “chúc các bạn ngủ ngon” …
+ Ở lứa tuổi này trẻ rất thích trò chuyện với con rối nên tôi thường xuyên sửdụng các con rối để trò chuyện với trẻ
+ Trò chuyện về các con vật: Cho trẻ xem tranh hỏi trẻ đây là con gì? Chó sủanhư thế nào? Con chó có mấy chân? Chó thích ăn gì?
- Sau những câu hỏi trẻ sẽ trả lời tôi và làm tiếng kêu của con vật đó, nếu trẻkhông nói được tôi nói trước và tập cho trẻ nói theo tôi
Trang 10* Trò chuyện với con rối: Gấu, chó, thỏ, mèo…Tập cho trẻ tự giới thiệu về
mình: Chào các bạn! Tôi là mèo mướp đây! Bạn tên gì? Bạn học lớp cô nào? … Lúc
này tôi phải tập cho trẻ cách trả lời lại với các con rối cho đúng và đủ từ, đủ ý
- Những lúc dạo chơi ngoài trời tùy thuộc vào từng chủ điểm tôi có thể cho trẻnghe các âm thanh của đồ vật, hiện tượng, những tiếng kêu của các con vật khác nhau
và yêu cầu trẻ bắt chước âm thanh, tiếng kêu đó nhằm phát triển thính giác, ngôn ngữ
và luyện phát âm cho trẻ
- Đối với trẻ ở lứa tuổi này tôi phải chú ý rèn luyện cho trẻ cả hai kỹ năng:+ Nghe, đoán âm thanh của các đồ vật, con vật hoặc các hiện tượng tự nhiên.+ Bắt chước âm thanh đó
VD: HĐ: “Chơi bắt chước”
+ Cho trẻ nghe và đoán tiếng gà gáy, gió thổi, xe chạy, vịt kêu…
+ Cô hỏi trẻ: Gà gáy như thế nào? Trẻ vừa nói vừa làm động tác mô phỏng.(Gàtrống đập cánh, gáy ò ó o…)
+ Gió thổi: Trẻ phát âm ào ào, hai tay giơ lên cao nghiêng người sang hai bên.+ Xe chạy: Trẻ phát âm zin, zin, hai tay giả cầm vô lăng lái xe
+ Vịt kêu: Trẻ phát âm cạp cạp, dáng đi lạch bạch…
- Nếu tiến hành trong giờ hoạt động âm nhạc thì tôi có thể cho trẻ nghe và đoán
âm thanh của nhạc cụ, bài hát và hát lại bài hát đó
- Nếu khi trẻ đã đoán được mà không bắt chước lại âm thanh đó được thì tôiphải làm mẫu để trẻ nghe và bắt chước theo cô bằng được thì thôi Có như vậy thì kỹnăng bắt chước và kỹ năng phát âm của trẻ mới phát triển được
- Tôi có thể yêu cầu trẻ thực hiện theo lời nói của tôi
- Đây là hoạt động giúp trẻ hiểu được và biết thực hiện hành động theo lời nóihoặc yêu cầu của cô
Trang 11- Đối với hoạt động này tôi cần phải yêu cầu trẻ thực hiện thường xuyên ở mọilúc mọi nơi, trong các thời điểm sinh hoạt hàng ngày: đón, trả trẻ, giờ chơi, ăn cơm,trong các giờ luyện tập có chủ đích…
VD:
+ Yêu cầu trẻ chào cô, chào ba, mẹ trong giờ đón trả trẻ
+ Yêu cầu trẻ cất dọn đồ chơi đúng chỗ khi chơi xong
+ Yêu cầu trẻ thực hiện bài tập, hát bài hát, tô màu…khi hoạt động có chủ đích
- Đối với biện pháp này khi nghe tôi yêu cầu trẻ làm thì trẻ phải thực hiện dù cólàm được hay không, có như vậy tôi mới biết được là trẻ có hiểu ý của tôi và đã thựchiện: “làm hoặc nói” mặc dù việc làm của trẻ chưa được hoàn thiện
b.2 Trong tiết dạy:
b.2.1 Đọc thơ, đồng dao, ca dao:
- Khi đọc thơ cho trẻ nghe tôi phải đọc thật diễn cảm, rõ ràng và đọc cho hết bàikết hợp với động tác minh hoạ nhẹ nhàng, đặc biệt nhấn mạnh là các từ tượng hình,tượng thanh
- Ngoài các giờ hoạt động có chủ đích là dạy cho trẻ thuộc thơ, tôi còn cho trẻđọc thuộc thơ, đồng dao, ca dao kết hợp với trò chơi dân gian ở mọi lúc, mọi nơi, giờdạo chơi ngoài trời…
- Khi dạy cho trẻ đọc thơ, đồng dao, ca dao tôi thường tập luyện cho trẻ theotừng bước:
+ Tôi đọc diễn cảm vài lần và khuyến khích trẻ đọc nhẩm theo cô
+ Cô và cả lớp cùng đọc lại bài thơ
+ Tập cho trẻ đọc theo nhóm, cá nhân trẻ…Nếu trẻ chưa đọc được thì cô có thểnhắc nhẹ cho trẻ để trẻ đọc được hết bài
Trang 12+ Cho trẻ đọc thơ kết hợp động tác minh họa trẻ sẽ dễ nhớ nội dung bài thơhơn.
VD: Dạy cho trẻ đọc thơ “Gà gáy”
- Cho trẻ nghe tiếng gà gáy Hỏi trẻ tiếng con gì?
- Con gà làm gì? (gáy)
- Gà gáy như thế nào?
- Cho trẻ tập làm tiếng gà gáy
- Cô đọc diễn cảm bài thơ vài lần để trẻ nghe và đọc nhẩm theo
- Cả lớp đọc theo cô vài lần
- Cho trẻ đọc thơ theo tổ, nhóm, cá nhân kết hợp động tác minh họa:
“Thấy trời đã sáng”: Đưa hai tay lên cao và vòng sang hai bên, mát nhìn lên
“ Gà gáy ò ó o”: Đưa hai tay lên trước miệng giả làm gà gáy
“ Đua nhau gà gáy”: Chỉ ngón tay
“ Gà gáy thật to”: Hai tay đưa ra trước mặt
“ Ò ó o o…” Hai tay lại đặt trước miệng
- Ở bài thơ này trẻ thường đọc “thấy trời” thành “hấy chời”,“Gà gáy” thành
“già giáy”, “thật to” thành “sật cho” nên tôi phải chú ý nghe và sửa ngay nhiều lần
cho trẻ để trẻ nhớ và nói rõ hơn
- Phần đàm thoại và trò chuyện với trẻ cũng không kém phần quan trọng đểphát triển ngôn ngữ cho trẻ, nên tôi không thể bỏ qua được Vì vậy khi trò chuyện
Trang 13hoặc đàm thoại tôi thường cho trẻ trả lời nhiều lần và đọc lại đoạn thơ đang đàm thoại
và chủ yếu là cho trẻ tập nói cá nhân
- Cho trẻ tập đọc đồng dao, ca dao cũng tương tự như cho trẻ đọc thơ và thườngxuyên cho trẻ đọc ở mọi lúc, mọi nơi để rèn luyện cho trẻ khả năng phát âm và cũngnhư cung cấp thêm vốn từ cho trẻ
- Khi kể chuyện thì tôi kết hợp với sử dụng đồ dùng minh họa sống động đẹpmắt và lạ mắt để tạo sự lôi cuốn trẻ với câu chuyện của mình: Tranh, mô hình, rối cácloại, băng đĩa, điệu bộ minh họa…
- Mỗi câu chuyện tôi phải kể cho trẻ nghe nhiều lần để giúp trẻ hiểu nội dungcâu chuyện, nhớ được trình tự nội dung câu chuyện đó
- Kể xong tôi thường đàm thoại với trẻ những câu hỏi phù hợp với trẻ để kíchthích sự tư duy của trẻ và trẻ có thể sử dụng các từ ngữ văn học nghệ thuật trong câuchuyện để trả lời cô
Vd: Câu chuyện tên gì? Trong chuyện có những ai? Ai đây? Đang làm gì? Đểlàm gì?
- Khi trẻ trả lời tôi thường khuyến khích trẻ trả lời kết hợp với mô phỏng hànhđộng hoặc lời nói của các nhân vật trong chuyện
Trang 14- Đối với những câu chuyện có nội dung dễ nhớ hoặc lời thoại ngắn tôi có thểcho trẻ kể cùng tôi hay tự kể với sự giúp đỡ của tôi, điều đó sẽ kích thích cho trẻ tậpluyện phát âm một cách dễ dàng và nhanh hơn
- Tôi cũng có thể kể cho trẻ nghe và cho trẻ tập kể lại cùng cô vào các giờ hoạtđộng chiều
VD: Câu chuyện “Cây Táo”
- Trò chuyện với trẻ về quả táo: màu sắc, hình dạng, mùi vị…
- Cho trẻ ăn thử táo Hỏi trẻ táo có ngon không? ( trẻ trả lời cũng là một hìnhthức phát triển ngôn ngữ)
- ĐT:
+ Câu chuyện tên là gì?
+ Trong chuyện có những ai?
+ Ông làm gì? Bé làm gì?
+ Có những ai đã gọi cây?
+ Gà trống gọi cây như thế nào? Cây ra đầy gì?
+ Bươm bướm gọi cây như thế nào? Cây ra đầy gì?
+ Ông, bé, gà trống, bướm gọi như thế nào? Cây ra đầy gì?
- Cứ mỗi câu hỏi khi trẻ trả lời cô lại khuyến khích trẻ thể hiện động tác minhhọa và câu nói của nhân vật
- Cho trẻ lên kể cùng với cô
- Khi sử dụng phương pháp này tôi thấy trẻ rất thích thú khi kể chuyện cùng với
cô, nhờ đó mà trẻ thuộc truyện được nhanh hơn và nhớ lâu hơn Trẻ con rất thíchnhững hình ảnh nhiều màu sắc và sinh động nên đối với mô hình rối hoặc phim ảnhthì trẻ đặc biệt là rất thích vì vậy nên trẻ rất muốn được lên kể chuyện cùng với cô đểthấy được con rối đó di chuyển như thế nào
Trang 15- Khi trẻ lên kể cùng với cô trẻ còn nói ngọng nhiều nên tôi phải chú ý nghethật rõ để sửa cho trẻ.
VD: Trẻ có thể phát âm “tưới nước” thành “chưới nước”, “ Quả táo” thành “
quả cháo”, “cây ơi, cây lớn mau” thành “ chây ơi, chây nhớng mau”…lúc này tôi sẽ
phát hiện ra và sửa ngay cho trẻ
- Do đó ở hình thức này cô rất dễ phát hiện ra ngôn ngữ của trẻ phát triển đượcđến mức độ như thế nào để còn kịp thời điều chỉnh cho trẻ Qua việc sửa lời nói chotrẻ như vậy trẻ sẽ nhớ câu chuyện được lâu hơn và ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triểntốt hơn
b.23 Kể chuyện theo tranh:
- Những bức tranh cho trẻ trò chuyện có nội dung đơn giản, rõ ràng gần gũi vớitrẻ, phản ánh được hoạt động của con người, con vật trong cuộc sống hàng ngày màtrẻ được thấy: Tưới nước, bế em, đi chơi, cho gà ăn…
- Tôi thường cho trẻ quan sát và trò chuyện với nhau
- Tôi kể mẫu cho trẻ nghe có đầy đủ các phần mở đầu, mô tả, kết thúc để trẻ cóthể hình dung và bắt chước theo cô
- Sau đó tôi cho trẻ tự kể với ý của trẻ, tôi thường khuyến khích, gợi ý cho trẻ
kể, khi trẻ kể được truyện chứng tỏ khả năng ngôn ngữ của trẻ đã phát triển Trẻ nghe
và hiểu được nội dung của bức tranh mà cô vừa kể cho trẻ nghe sau đó dùng chínhngôn ngữ và giọng điệu của mình để kể lại câu chuyện của bức tranh đó
- Khi trẻ kể chuyện chính là lúc ngôn ngữ của trẻ được bộc lộ, đó là lúc tôi cầnphải chú ý để biết được ngôn ngữ của trẻ có phát triển được tốt hay không để cònchỉnh sửa cho trẻ kịp thời
b.2.4 Nhận biết tập nói:
Trang 16- Đối với biện pháp này đối tượng cho trẻ nhận biết phải là các đồ vật, con vật,phương tiện giao thông, rau, hoa, quả gần gũi trẻ Và đặc biệt các đồ dùng để trẻ nhậnbiết phải thật rõ ràng, đẹp mắt và giống với vật thật nếu là đồ dùng mô phỏng để trẻnhận biết không bị sai lệch Vì các biểu tượng ban đầu bao giờ cũng khắc sâu vào tâmtrí của trẻ nếu đồ dùng không đúng với nội dung bài dạy thì rất dễ làm cho trẻ nhậnbiết sai lệch sau này.
VD: Dạy cho trẻ nhận biết bông hoa cúc mà không có hoa cúc cô lại đưa tranhhoa hướng dương thì trẻ sẽ nhận biết sai và áp dụng vào thực tế sẽ bị sai đi
- Lời nói của cô phải rõ ràng không nói ngọng, nói lắp nếu không trẻ sẽ bắtchước và khi sửa lại sẽ rất khó khăn
VD: “Quả cà chua” mà cô nói là “Cả cà tua” thì khi đó trẻ sẽ nói giống cô vàkhi sửa lại sẽ khó hơn
- Khi luyện tập cần cho trẻ luyện tập nhiều lần và chủ yếu cô chú ý vào luyệntập cá nhân trẻ để trẻ có cơ hội để phát triển ngôn ngữ của cá nhân mình và ghi nhớ sựvật được tốt hơn
VD: Cho trẻ nhận biết về Xe Đạp Đầu tiên tôi cho trẻ nhận về toàn diện cái xeđạp, sau đó sẽ nhận biết và gọi tên từng bộ phận của xe: Bánh xe, khung xe, tay lái,yên xe…
- Khi cho trẻ gọi tên tôi cho trẻ gọi nhiều lần, nếu sai tôi cho trẻ sửa lại Trẻ
thường hay nói “Xe đạp” thành “che chạp”, “Khung xe” thành “ hung che”…do đó
việc cho trẻ luyện phát âm cá nhân là rất cần thiết vì thế ở hoạt động này chủ yếu làtôi cho trẻ phát âm cá nhân để cô dễ dàng phát hiện và sửa sai cho trẻ hơn
- Hình thức tích hợp thêm cho trẻ môn âm nhạc vào trong hoạt động sẽ làm chotrẻ hứng thú và ngôn ngữ sẽ được phát triển tốt hơn
b.3 Trò chơi:
Trang 17- Trẻ ở lứa tuổi này rất thích những trò chơi hoạt động góc, hoạt động ngoàitrời…Trẻ trao đổi, trò chuyện với nhau trong khi chơi Kết hợp với lời hát, lời thơnhư: Tập tầm vông, con muỗi, bắp cải xanh…đây cũng là một hình thức mà tôi sửdụng để tập cho trẻ phát triển về ngôn ngữ rất hiệu quả
VD: Trò chơi “Tập tầm vông”
+ Cô cầm một vật nhỏ trong một tay
+ Sau đó hai tay cùng quay tròn trước mặt và cùng trẻ hát:
“Tập tầm vông tay không tay có Tập tầm vó tay có tay không Mời các bạn đoán sao cho đúng
Tập tầm vó tay nào có tay nào không Có có không không?
+ Cô để hai tay thẳng trước mặt và cho trẻ đoán xem vật đó ở trong tay nào
- Khi nghe cô hát hoặc đọc thơ và chơi thì trẻ sẽ bắt chước đọc hoặc hát và chơicùng với cô Với những câu hát, câu thơ, đồng dao và lặp đi lặp lại nhiều lần như vây
sẽ có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện khả năng nghe hiểu và phát âm đúng chotrẻ
- Các trò chơi tương tự như vậy ngoài việc tạo cho trẻ có một cơ thể khỏemạnh, linh hoạt, vui tươi mà nó còn là một hình thức để rèn luyện và phát triển ngônngữ cho trẻ một cách tự nhiên không gò ép và trẻ rất là hứng thú
b.4 Quan sát, ghi chép:
- Vào các giờ vui chơi tự do hoặc hoạt động góc tôi thường hay “để ý ngầm”lúc trẻ chơi và trò chuyện với nhau, tôi nghe được những câu nói chuyện của trẻ vớinhau:
VD:
+ Một bé nói: Mẹ cho em “ăng chơm” nhé.
Trang 18- Tôi nhẹ nhàng đến gần và hỏi trẻ đang chơi gì, trẻ nói cháu chơi cho em bé
“ăng chơm”
- Tôi cầm theo một búp bê khác và nói cho cô chơi cùng với, để cô thử cho em
bé ăn cơm với nào, vừa làm tôi vừa nói: cô cho em bé “ăn cơm”, con cho em bé ăn vànói giống cô đi
- Như thế trẻ sẽ chơi và nói nhiều lần như vậy
- Tôi ghi lại những lời trẻ nói hôm trước như vậy và đến hôm sau khi trẻ chơitiếp trò chơi cho em bé ăn tôi lại chú ý nghe trẻ nói xem trẻ đã tiến bộ như thế nào đểcòn có biện pháp hướng dẫn cho trẻ tiếp theo
VD: Trong giờ ăn cơm tôi thường nhắc nhở trẻ khi ăn không được nói chuyện,
không làm đổ cơm ra bàn, thì có trẻ thường hay mách lại với tôi là: “Chô ơi bạn A đổ
chơm da bàn”tôi cũng ghi chép lại cố gắng sửa cho trẻ để hôm sau theo dõi xem trẻ
nói có bị sai nữa không
b.5 Trao đổi tuyên truyền với phụ huynh:
- Ở bảng tuyên truyền trước lớp tôi thường dán những nội dung mà trong tuần
sẽ học để phụ huynh tiện theo dõi để cùng phối hợp với cô trong việc giáo dục trẻ Tôithường dán nội dung các bài thơ, bài hát, câu chuyện để phụ huynh biết và về nhà kể,đọc, hát cho trẻ nghe hoặc khi trẻ đọc, hát thì phụ huynh biết sai ở chỗ nào mà sửa kịpthời cho trẻ
- Khi đón và trẻ tôi cũng trao đổi về tình hình sức khỏe, học tập của trẻ Đặcbiệt là những trẻ khả năng ngôn ngữ còn yếu tôi nhắc nhở phụ huynh về nhà chú ýsửa, thường xuyên trò chuyện để trẻ với trẻ, khuyến khích trẻ ca hát, đọc thơ để ngônngữ của trẻ được phát triển tốt hơn
b.6 Đối với những trẻ khó khăn về ngôn ngữ:
Trang 19- Tôi phải nhận biết được những dấu hiệu của trẻ có khó khăn về ngôn ngữ đểkịp thời hướng dẫn như:
+ Trẻ không hiểu được những lời nói đơn giản của cô
+ Trẻ nói ngọng hoặc nói không rõ, nói lắp
+ Lên 3 tuổi vẫn chưa nói được các câu đơn giản, không diễn đạt được các nhucầu mong muốn của mình như: “Ăn cơm, uống nước, con chào cô…”
+ Không thích xem sách
+ Trẻ thường nói sai và tránh nhìn vào mắt với người nói chuyện
- Khi dạy trẻ có khó khăn về ngôn ngữ tôi cũng cần phải biết rằng trẻ chậm nóicần phân biệt được những khả năng, nếu nhận biết rõ được trẻ ở trong khả năng nàothì hướng giáo dục của mình sẽ có kết quả tốt hơn:
+ Nếu trẻ vẫn hiểu được lời nói: Tai đâu? Mắt đâu? Cô đâu? Hay thực hiệnđược những câu yêu cầu đơn giản của cô thì đó chỉ là chậm nói bình thường Nếunhững trẻ này được giúp đỡ tốt thì những có thể phát triển lời nói được rất nhanh
+ Nếu chậm cả hiểu và diễn đạt ngôn ngữ thì trẻ này thường bị những nguyênnhân nghe kém hoặc chậm phát triển về trí tuệ cần phải đưa trẻ đi khám về tai và não
có cảm giác mắc lỗi và sợ trẻ sẽ không tập trung sửa được…
Việc học ngôn ngữ của trẻ đòi hỏi các hoạt động phải được lặp đi lặp lại nhiềulần trẻ mới có thể ghi nhớ, thành thạo và ngôn ngữ của trẻ mới có thể phát triển hoànthiện được
Trang 20c Điều kiện để thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp này cần phải đảm bảo tính chính xác,khoa học, hợp lí, chặt chẽ và lôgic Phải đảm bảo được phương pháp nghiên cứu phùhợp theo từng đối tượng nghiên cứu
d Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Các giải pháp, biện pháp khi thực hiện đề tài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,biện pháp này hổ trợ cho biện pháp kia để đi đến thống nhất tìm ra các giải pháp tối
ưu nhất, nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác và khoa học
e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
- Đối với cô:
+ Qua bản SKKN này bản thân tôi ngày càng nắm vững kiến thức nội dung cáchoạt động, rút được nhiều kinh nghiệm, trau dồi thêm kiến thức, qua các giờ hoạtđộng, các giờ vui chơi để rèn luyện cho trẻ
+ Mỗi khi tiến hành các hoạt động tôi cảm thấy tự tin, thoải mái, tiết học trởnên sinh động và hấp dẫn hơn Nhờ đó việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng thuận lợihơn và không gò bó, rập khuôn
+ Từ chỗ SKKN tôi đã thành công trong các hội thi, thao giảng ở trường đượcBan giám hiệu và đồng nghiệp đánh giá cao
- Đối với trẻ:
+ Khả năng nghe và phát âm của trẻ đã được cải thiện rất nhiều, số trẻ nóingọng cũng giảm đáng kể Trẻ cũng tự tin và giao tiếp với mọi người dễ dàng hơntrước Trẻ nói rõ ràng, mạch lạc, mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp Trẻ khi giaotiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh
Trang 21+ Các cháu hứng thú khi học và nắm vững kiến thức hơn, cũng như nhớ nộidung bài lâu hơn, sâu hơn, qua đó cô giáo đã nhận ra được sự nhanh nhẹn thông minhcủa từng cá nhân trẻ và phát huy được thêm tính sáng tạo cho trẻ.
+ Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn
và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc sống hàng ngày
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
- Nghiên cứu bài dạy, chú trọng đầu tư đến việc soạn giáo án sáng tạo để dạycho trẻ
2.Ý kiến - kiến nghị:
Cần tạo điều kiện cho giáo viên được tham quan, dự giờ các lớp tập huấn đểgiáo viên có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm về phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cáchtoàn diện hơn
Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và địa phương tạo điềukiện cho trẻ đến trường, đến lớp sớm hơn theo đúng độ tuổi của mình (Trẻ chủ yếu làhọc lớp lá, bỏ qua lớp chồi và mầm)
Trang 22Nâng cao cơ sở vật chất để đáp ứng với chương trình mầm non mới hiện nay.
Dray sáp, ngày 20 tháng 12 năm 2014
Người viết
Trương Thị Hạnh
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN NHÀ TRƯỜNG
… ………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN PHÒNG GIÁO DỤC
………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
Trang 23Mục lục
1 Lý do chọn đề tài::……… Trang 1
2 Mục đích nghiên cứu::……… Trang 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:……… Trang 2
4 Đối tượng nghiên cứu: ……… Trang 2
5 Phạm vi nghiên cứu:……… Trang 2
6 Phương pháp nghiên cứu:……… Trang 2
1 Cơ sở lí luận: ……… Trang 2
Trang 24Tài liệu tham khảo nghiên cứu
- Qua thao giảng dự giờ của đồng nghiệp
- Qua nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻmầm non
- Qua xem chương trình trên VT2
- Tham khảo trên sách bồi dưỡng thường xuyên