1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

SKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổi

39 399 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổiSKKN Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổi

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG

“ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây

Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc với ông, bà, cha mẹ Và các sự vật hiệntượng đến nhận thức xung quanh, tất cả những cái trẻ nhìn thấy đều ảnh hưởngđến nhận thức của trẻ, dần dần trẻ có được những khái niệm đơn giản nhất vềthế giới xung quanh có nhu cầu muốn tìm tòi, phám phá về tính chất, đặc điểmcủa sự vật hiện tượng, tập hợp các số lượng, hình dạng, màu sắc, kích thước, vịtrí, sắp xếp của chúng trong không gian

Cho nên, giáo dục trẻ em là mắt xích đầu tiên của nền giáo dục toàn dân,

là nền móng vững chắc giúp trẻ tự tin bước vào cuộc sống Vì vậy trường mầmnon là mảnh đất thuận lợi nhất tạo điều kiện cho sự nảy nở và phát triển nhữngphôi thai trí tuệ đang còn ấp ủ trong trẻ, là môi trường tạo điều kiện cho sự pháttriển nhân cách toàn diện Trong đó quá trình hình thành các biểu tượng toánhọc cho trẻ mầm non là nhiệm vụ, là nội dung vô cùng quan trọng, là điều kiệnbắt buộc của giáo dục trí tuệ trong quá trình dạy học

Chính vì điều đó, ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non chúng ta phảichăm sóc giáo dục trẻ thật tốt Người giáo viên mầm non ngoài việc hướng dẫn

Trang 2

cho trẻ vui chơi, cho ăn, ngủ, giáo dục trẻ trở thành những đứa trẻ lễ phép ngoanngoãn thôi chưa đủ, mà nhiệm vụ của người giáo viên mầm non còn phải trang

bị cho trẻ những kiến thức ban đầu thông qua các hoạt động và qua các môn họchàng ngày

Từ đó dần hình thành lên nhân cách của trẻ và cũng từ đó trẻ được tiếpcận với những kiến thức từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó Qua các mônhọc giúp cho trẻ phát triển một cách toàn diện về mọi mặt như: Đức, Trí, Lao,Thể, Mỹ Giúp trẻ có một hành trang vững vàng, một tâm thế tự tin để bước vàolớp một

Vậy tổ chức các tiết học như thế nào để trẻ lĩnh hội các kiến thức mộtcách đơn giản nhưng hiệu quả nhất là đối với môn “ Làm quen với toán” Muốnlàm tốt được việc này trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết vớinghề, say sưa suy nghĩ tìm tòi, chu đáo tỉ mỉ, sáng tạo hướng dẫn trẻ tham giavào hoạt động một cách có khoa học để trẻ bước đầu nắm bắt, hình thành những

kỹ năng học tập đối với môn làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng

Thông qua môn học giúp trẻ nhận thức tốt hơn về thế giới xung quanh Từ

đó hình thành hệ thống hoá kiến thức một cách chính xác, khoa học Nhận thức

về toán học có liên quan mật thiết với quá trình phát triển toàn diện của trẻ,thông qua toán học sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, khám phá,

so sánh, phân tích, tổng hợp các sự vật hiện tượng khách quan Trên cơ sở đó bổsung thêm vốn ngôn ngữ và góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ và thểchất cho trẻ

Trên thực tiễn cho thấy, việc dạy cho trẻ các biểu tượng toán về tập hợp,

số lượng, phép đếm là yêu cầu trẻ phải đếm được thứ tự trong phạm vi 10.Nhận biết quan hệ số lượng trong phạm vi 10, nhận biết các chữ số, từ 1– 10.Biết thực hiện một số phép biến đổi đơn giản như thêm bớt, tạo nhóm, chianhóm đồ vật có số lượng trong phạm vi 10 ra 2 phần Chính vì những lí do trêntôi chọn đề tài “Một số biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 - 6tuổi” để nghiên cứu và áp dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cho trẻ

Trang 3

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Với đề tài này nhằm cung cấp thêm cho trẻ những kiến thức toán học banđầu và kỹ năng đếm, kỹ năng thực hiện các phép tính đơn giản Kiến thức cungcấp cho trẻ phải có trình tự, hợp lý và thống nhất, đồng thời phải chính xác, thiếtthực và mang tính ứng dụng cao Việc hình thành các biểu tượng số lượng chotrẻ mầm non là rất cần thiết, giúp trẻ trở nên có tổ chức, có kỹ luật, biết chú ýlắng nghe và ghi nhớ, tích cực và độc lập giải quyết nhiệm vụ được giao đúngthời gian quy định, qua đó trẻ được giáo dục trở nên có định hướng, có tổ chức,

có trách nhiệm

Trong quá trình hình thành những biểu tượng số lượng toán học cho trẻđồng thời sẽ hình thành các mối quan hệ giữa giáo viên với tập thể trẻ, giữa giáoviên với cá nhân trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với môi trường xung quanh Việcdạy học những kiến thức toán không chỉ góp phần phát triển các năng lực nhậnbiết, năng lực học tập cho trẻ, mà còn góp phần giáo dục toàn diện nhân cáchcho trẻ

Việc dạy cho trẻ nắm chắc các kiến thức trong hoạt động làm quen vớibiểu tượng số lượng, thông qua hoạt động làm quen với toán để phát triển toàndiện cho trẻ nhất là lĩnh vực phát triển nhận thức Việc tổ chức cho trẻ làm quenvới toán phải đưa ra các biện pháp hữu ích và trẻ phải được nói và làm, giáoviên không nên nói và làm thay trẻ

I.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là học sinh lớp lá 1 trường mầm nonKrông Ana

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu là học sinh (5 – 6 tuổi) trường mầm non Krông Ana

I.5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

+ Phương pháp quan sát, đàm thoại

Trang 4

+ Phương pháp thực hành

+ Phương pháp trải nghiệm thực tiễn

II Phần nội dung

II.1 Cơ sở lí luận

Trẻ sinh ra và lớn lên giữa thế giới của những sự vật và hiện tượng đadạng Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc và làm quen với những nhóm vật có màusắc, kích thước và số lượng phong phú, với các âm thanh, chuyển động có ởxung quanh trẻ Trẻ lĩnh hội số lượng của chúng bằng các giác quan khác nhaunhư: thị giác, thính giác, giác quan vận động

Từ đó, trẻ đã tích lũy được một vốn tri thức và kinh nghiệm sống, điềuquan trọng là tổ chức cho trẻ biết sử dụng vốn tri thức và kinh nghiệm ấy vàocác hoạt động học tập và vui chơi Được sự giúp đỡ của người lớn cùng với việcnắm được ngôn ngữ tích cực trẻ đã nhận biết, phân biệt và nắm được tên gọi củacác nhóm vật Trong quá trình thao tác với nhóm vật, ở trẻ hình thành hứng thúphân biệt các nhóm vật có số lượng là một và nhiều và trẻ lĩnh hội từ nhiều

Vì trẻ nhỏ thường có tính tìm tòi, tính ham hiểu biết sẽ thôi thúc trẻ tíchcực hoạt động Khi thao tác với các tập hợp cụ thể trẻ bắt đầu sử dụng tới cáccon số và phép đếm, trong quá trình ấy trẻ cũng xác định được mối quan hệ sốlượng: bằng nhau, không bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn Ngoài ra trẻ còn rất thíchđếm, trẻ không chỉ biết đếm xuôi mà còn biết đếm ngược, nhận biết được cáccon số Trẻ hiểu rằng mỗi con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn

có thể viết

Như vậy cần tiếp tục phát triển biểu tượng số lượng về tập hợp cho trẻ 5

-6 tuổi, bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo

cơ sở cho trẻ học phép tính đại số sau này ở trường phổ thông Đứa trẻ lớn lên sẽ

có lối sống thực tiễn, sâu sắc, phong phú, linh hoạt, sáng tạo và chủ động,không sống hời hợt, tẻ nhạt Vì vậy, phát triển nhận thức là phát triển óc tìm tòi,tính ham hiểu biết của trẻ thông qua hoạt động làm quen với toán, là một yêu

Trang 5

cầu rất cần thiết cho trẻ.

II.2 Thực trạng

a Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi:

Lớp có đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho

cô và trẻ Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường phân công cho 2 giáoviên đứng lớp đều trẻ, tâm huyết với ngành học, yêu nghề mến trẻ, có phẩm chấtnghề nghiệp, có trình độ chuyên môn tiếp thu nhanh với những đổi mới trongchương trình

Giáo viên luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao về chuyên môn tạo điềukiện thuận lợi cho việc học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Giáo viên đều là người địa phương gần trường, gần lớp, gần gũi với phụhuynh

* Khó khăn:

Có một số trẻ bố, mẹ chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mìnhnên việc tiếp thu bài của cháu còn chậm, còn nhút nhát với bạn bè và trong cáchoạt động ở lớp, đồ dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho môn học còn nhiều hạnchế

b Thành công, hạn chế

* Thành công:

Khi vận dụng đề tài này, thì khả năng thu nhận và vận dụng kiến thức, kỹnăng đã học vào những điều kiện, hoàn cảnh mới của trẻ chứng tỏ trí tuệ trẻ đãphát triển cao hơn và trẻ đã ý thức được vai trò của những kiến thức thu đượcđối với thực tiễn cuộc sống Việc trẻ sử dụng những kiến thức thu được vào thựctiễn cuộc sống sẽ làm cho chúng trở nên bền vững và sâu sắc hơn, góp phần hìnhthành ở trẻ kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống

Trong quá trình dạy học việc lựa chọn nội dung dạy học luôn phải gắn liền

Trang 6

với điều kiện sống của trẻ, nhằm luyện cho trẻ thói quen quan tâm, chú ý tới các

sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, qua đó nhận biết các mối quan hệ toán học cótrong các sự vật, hiện tượng đó Qua đó cũng giúp giáo viên nắm vững phươngpháp, hình thức tổ chức hoạt động phong phú, thu hút được trẻ, trẻ hoạt độngtích cực

* Hạn chế:

Tuy nhiên với nội dung của đề tài này, nếu giáo viên không chịu khó suynghĩ và tạo mọi điều kiện, tình huống để trẻ có thể ứng dụng những kiến thức,

kỹ năng của mình vào các hoạt động thì tiết học sẽ không mang lại kết quả cao

c Mặt mạnh, mặt yếu

giáo dục nhân cách cho trẻ

* Mặt yếu:

Song nếu giáo viên không nắm vững kiến thức, không chịu khó đầu tư xâydựng môi trường hoạt động cho trẻ, không có sự linh hoạt sáng tạo khi vận dụngcác nội dung biện pháp của đề tài thì việc tổ chức hướng dẫn cho trẻ hoạt động

sẽ không đạt hiệu quả

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

Với nội dung đề tài này đã đưa ra các biện pháp thực tiễn, dễ thực hiện

Đã có sự lựa chọn nội dung, các phương pháp biện pháp và hình thức phù hợp

Trang 7

cho trẻ hình thành biểu tượng số lượng Tiến hành phân tích tổng hợp tìm rađược những ưu điểm, hạn chế của trẻ, để tổ chức cho trẻ hoạt động có hiệu quảhơn.

e.Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra

- Từ kết quả khái quát thực trạng của đề tài, tôi có thể đưa ra những phântích và đánh giá sau:

Qua thực trạng nêu trên thì người giáo viên phải nắm được phương pháp

tổ chức hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ, tuy nhiên sự sáng tạo và linhhoạt trong quá trình tổ chức chưa cao vì vậy mà chất lượng giáo dục chưa hiệuquả Chính vì vậy chưa lôi cuốn và thu hút được trẻ, trẻ chưa hứng thú hoạtđộng

Việc tổ chức hoạt động còn cứng, chưa bao quát trẻ tốt vì vậy việc khuyếnkhích trẻ hoạt động chưa được giáo viên chú trọng, trẻ còn nhút nhát, chưa mạnhdạn và tự tin để tham gia hoạt động

Bên cạnh đó chưa thường xuyên cho trẻ tiếp xúc nhiều với biểu

tượng số lượng (trong các hoạt động mọi lúc, mọi nơi), mà đa phần trẻ tiếp xúc với biểu tượng số lượng thông qua các hoạt động học khi giáo viên tổ chức Chính vì nhận thấy được những bất cập trong việc tổ chức cho trẻ hoạtđộng với biểu tượng số lượng, bản thân tôi đã mạnh dạn tìm tòi, học hỏi để tìmcho mình những biện pháp có thể áp dụng trong quá trình thực hiện hoạt độngnhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ

II.3 Giải pháp, biện pháp

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Những giải pháp, biện pháp nêu ra trong đề tài nhằm giúp trẻ nâng caoviệc hình thành biểu tượng số lượng được tốt hơn Trẻ phát huy hết được tínhtích cực, chủ động, sáng tạo khi hoạt động

Giáo viên trau dồi thêm kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ

Trang 8

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

Biện pháp 1: Phương pháp dạy học thực hành

Ngày nay trong việc dạy trẻ các kiến thức toán học sơ đẳng (nhất là biểutượng về số lượng) thì phương pháp thực hành ngày càng được sử dụng thườngxuyên hơn Xu thế sử dụng các phương pháp thực hành bắt đầu được xem xéttrong hệ thống các phương pháp trực quan và dùng lời Thực tế cho thấy, việctrẻ làm quen với toán luôn được bắt đầu bằng việc tổ chức các hoạt động thựctiễn với các vật cho trẻ, trong đó hoạt động nhận biết của trẻ diễn ra trên cơ sởcủa các hình thức tư duy trực quan – hành động, trực quan hình tượng trong mốiquan hệ gắn bó với tư duy lô gíc

Phương pháp dạy học thực hành là trẻ phải thực hiện các hành động gồmmột chuỗi các thao tác cùng với việc sử dụng các đồ vật Trên cơ sở các thao tácthực hành, hình thành ở trẻ những biểu tượng số lượng ban đầu về kiến thức,hình thành những kỹ năng, kỹ xảo và kỹ năng vận dụng

chúng vào các tình huống khác nhau

Trong quá trình dạy trẻ những kiến thức về biểu tượng số lượng, giáo viêncần tổ chức cho mọi trẻ được tham gia luyện tập, thông qua việc thực hiện cácbài tập khác nhau Nhờ luyện tập mà những kiến thức – cơ sở của những thaotác trí tuệ và thực hành trở nên vững chác và có ý nghĩa hơn

Ví dụ: Cho trẻ làm các bài tập so sánh số lượng các nhóm vật bằng thiếtlập tương ứng 1:1 hay bài luyện tập đếm cho trẻ

Nhờ đó giáo viên có thể kiểm tra quá trình lĩnh hội của từng trẻ, cũng nhưtrẻ có thể tự kiểm tra kết quả thực hiện bài tập của mình Do vậy, có thể nói,luyện tập là một trong những phương pháp dạy học mang lại hiệu quả cao.Tương ứng với nhiệm vụ dạy học, thì giáo viên có thể sử dụng các bài tập đòihỏi ở trẻ sự tích cực, độc lập với các mức độ khác nhau như: bài tập tái tạo vàbài tập sáng tạo

Trang 9

Khi tổ chức cho trẻ thực hiện bài tập tái tạo, giáo viên đặt cho trẻ nhiệm

vụ học tập cụ thể, chỉ cho trẻ biện pháp giải quyết nó bằng trình tự các thao tác mẫu và vật mẫu của mình

Ví dụ: Khi trẻ đã nắm được kỹ năng đếm, giáo viên yêu cầu trẻ thực hiệnnhiệm vụ đếm xác định số lượng các nhóm vật khác nhau được xếp theo hàngngang

Ngoài ra các bài tập có tính chất vui chơi cũng thường xuyên được sử dụng, chúng rất phù hợp với trẻ mẫu giáo (đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi), nó tạo cho trẻnhững cảm xúc tốt và làm giảm sự căng thẳng cho trẻ Điều này xuất phát từ đặcđiểm cơ bản của dạy học mầm non là trẻ “học bằng chơi, chơi mà học” Việc sửdụng trò chơi được coi là một phương pháp dạy học khi toàn bộ tiết học đượclồng vào một trò chơi mà trẻ là người tham gia chính

Ví dụ: Trò chơi “ về đúng số nhà” được sử sụng ở phần sau của tiết họccủng cố và ứng dụng kiến thức kỹ năng cho trẻ

Biện pháp 2: Phương pháp dạy học trực quan

Khi sử dụng phương pháp dạy học trực quan cần phải có đầy đủ đồ dùngtrực quan Các đồ dùng này phải đẹp, đúng việc lựa chọn và sử dụng chúng phảiphụ thuộc vào trẻ, vào mục đích yêu cầu của tiết học toán Các vật trực quan cầnđược trưng bày đúng lúc và đặt ở nơi hợp lý để tất cả trẻ đều nhìn rõ

Ví dụ: Giáo viên sử dụng các bộ con giống, các nhóm đồ vật có trong lớphọc nhằm dạy trẻ đếm số lượng các nhóm vật

Khi sử dụng đồ dùng trực quan cần lưu ý trẻ tới sự tri giác những dấu hiệuchính của sự vật, hiện tượng mà trẻ tìm hiểu

Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát bể cá, hay lọ hoa có nhiều bông hoa với mụcđích hình thành biểu tượng về “một” và “nhiều” cho trẻ, cô cần hướng trẻ chú ýtới dấu hiệu số lượng của đối tượng đó

Trang 10

Song không nên lạm dụng sử dụng các vật mẫu quá lâu, mà nên chuyểnsang sử dụng các bài tập không dùng tới các vật mẫu để trẻ phải suy nghĩ.

Trong quá trình dạy trẻ, điều quan trọng là giáo viên cần hướng dẫn trẻ sử dụng hợp lý các đồ dùng trực quan Điều này được thể hiện ở sự kết hợp đúng đắn giữa việc tri giác trực tiếp đối tượng với lời nói Lời nói của giáo viên phảiđiều khiển hành động của trẻ giúp trẻ biết sử dụng đồ dùng trực quan đúng lúc

Biện pháp 3: Phương pháp dạy học dùng lời nói

Trong phương pháp hình thành các biểu tượng toán cho trẻ mầm non cáccâu hỏi đóng một vai trò đặc biệt Với trẻ mẫu giáo lớn, lời hướng dẫn của giáoviên có tính tổng thể phản ánh toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ Bằng lờinói giáo viên giảng giải chính xác lại những điều trẻ nhận biết được trong quátrình tri giác

Từ câu hỏi dựa trên sự tri giác và trí nhớ tái tạo của trẻ nhằm ghi

nhận những đặc điểm bên ngoài của đối tượng, yêu cầu trẻ tả lại những điều vừaquan sát hay nhắc lại nhiệm vụ của cô

Ví dụ: Đây là cái gì? Có bao nhiêu cái? Cháu vừa làm nhiệm vụ gì?

Và câu hỏi tái tạo có nhận thức giúp trẻ nắm và củng cố những kiến thứcmột cách sâu sắc hơn

Ví dụ: số hoa sẽ là bao nhiêu nếu thêm một bông? Làm thế nào để biết sốlượng hai nhóm hoa bằng nhau? Làm thế nào để biết nhóm nào ít hơn và nhómnào nhiều hơn?

Khi sử dụng câu hỏi giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi phải ngắn gọn, cụ thể,

đủ ý, nội dung câu hỏi phải vừa sức trẻ, các khái niệm trong câu hỏi phải quenthuộc với trẻ, nên đặt nhiều dạng câu hỏi cho một vấn đề, các câu hỏi phải cótính hệ thống, phải kích thích sự suy nghĩ của trẻ, tuyệt đối không sử dụng cáccâu hỏi ép trẻ trả lời Trẻ càng lớn thì việc sử dụng câu hỏi tình huống có vấn đềcàng có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy cho trẻ

Trang 11

Biện pháp 4: Dạy trẻ đếm xác định số lượng trong phạm vi 10, thêm, bớt,

xác định các mối quan hệ số lượng, nhận biết các số từ 1 đến 10

Ở mẫu giáo nhỡ trẻ được học đếm xác định số lượng trong phạm vi 5, còn lên mẫu giáo lớn trẻ tiếp tục học đếm xác định số lượng trong phạm vi 10, nhậnbiết các số từ 1 đến 10 được bắt đầu bằng việc dạy trẻ lập số mới trên cơ sở số

đã biết

Trên cơ sở đó trẻ bắt đầu thực hành so sánh hai nhóm đối tượng có sốlượng hơn kém nhau là một, sao cho số lượng của chúng được biểu thị bằng con

số mà trẻ đã biết và con số kề sau số đó

Ví dụ: khi dạy trẻ số 6 ta cho trẻ so sánh 5 bông hoa và 6 con ong thì giữa

số hoa và số ong trẻ sẽ thấy số hoa ít hơn số ong là một, và ngược lại số ongnhiều hơn số hoa là một, bằng cách đếm trẻ sẽ gọi số mới để diễn đạt số ong, khicho trẻ so sánh các từ số với nhau (5 thêm 1 là 6 và 6 bớt 1

là 5) như vậy, trẻ sẽ lĩnh hội nguyên tắc thành lập số mới

Khi dạy đếm cho trẻ 5 – 6 tuổi, giáo viên không nhất thiết phải trình bàyminh họa quá trình lập số mới cho trẻ, mà nên hướng dẫn trẻ thực hành lập sốmới với các đồ dùng được phát Trong quá trình hướng dẫn, giáo viên nên hạnchế sử dụng các hành động, thao tác mẫu, mà cần tăng cường dùng lời nói đểhướng dẫn trẻ (cô và trẻ cùng thực hiện)

Ví dụ: lớp mình xếp số ô tô ra hàng trên và xe máy ở hàng dưới sao chodưới mỗi ô tô là một xe máy

Trang 12

Khi trẻ thực hành lập số mới trên cơ sở so sánh số lượng hai nhóm vật hơnkém nhau một vật, trẻ cần tạo ra sự bằng nhau về số lượng giữa hai nhóm vật đóbằng cách thêm một vật vào nhóm có số lượng ít và gọi tên số lượng mới đượctạo bằng số mới Qua đó trẻ tiếp tục học so sánh, nhận biết mối quan hệ số lượnggiữa các nhóm đối tượng trong phạm vi 10 bằng cách đếm , thêm, bớt, tạo sựbằng nhau về số lượng.

Mặt khác, bằng các ví dụ cụ thể trẻ sẽ thấy được tính tương đối của cáckhái niệm “nhiều hơn”, “ít hơn” về số lượng giữa các nhóm đối tượng và cáckhái niệm “lớn hơn”, “nhỏ hơn” giữa các con số, từ đó ở trẻ hình thành biểutượng về trình tự của các số trong dãy số tự nhiên Qua so sánh, trẻ sẽ thấy rõnhóm vật nào nhiều hơn hay ít hơn nhóm vật nào, từ đó trẻ sẽ so sánh các con sốvới nhau để thấy con số nào lớn hơn hay nhỏ hơn số nào

Ví dụ: cho trẻ xếp 8 cái bát và 7 cái thìa ra và hỏi trẻ số nào nhiều hơn, sốnào ít hơn

Trong quá trình dạy đếm cho trẻ 5 – 6 tuổi, cần chú trọng phát triển kỹnăng đếm cho trẻ, thông qua các bài luyện tập

Trẻ có thể đếm từ trái sang phải, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới hay

từ dưới lên trên Trẻ mẫu giáo lớn không chỉ học đếm trong phạm 10 theo trật tựđếm xuôi, mà trẻ còn cần nắm được kỹ năng đếm ngược

Ví dụ: cô xếp 10 vật ra thành hàng ngang rồi cho trẻ đếm để xác đinh sốlượng Sau đó cô cất dần từng vật, sau mỗi lần cất cô yêu cầu trẻ nói cho cô sốvật còn lại, cứ như vậy tới khi không còn vật nào

Việc tổ chức dạy biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi không chỉ pháttriển kỹ năng đếm bền vững cho trẻ, mà còn phát triển ở trẻ khả năng địnhhướng cùng một lúc nhiều dấu hiệu của đối tượng, phát triển độ nhậy của cácgiác quan, phát triển các quá trình tâm lý như: chú ý, ghi nhớ có chủ định, tưduy, ngôn ngữ

Biện pháp 5: Dạy trẻ cách chia một nhóm đối tượng thành hai phần theo

Trang 13

các cách khác nhau.

Trong những năm tháng học ở trường mầm non trẻ nhỏ thường xuyên phải thực hiện các bài tập khác nhau như tạo các nhóm đối tượng theo các dấuhiệu khác nhau, nhóm các nhóm đối tượng thành một nhóm lớn hay tách từ mộtnhóm lớn ra thành các nhóm nhỏ, so sánh, biến đổi, đếm số lượng của chúng Những kiến thức, kỹ năng mà trẻ thu được thông qua việc thực hiện các bàiluyện tập là cơ sở để trẻ nắm được cách chia một nhóm đối tượng thành hai phầntheo các cách khác nhau

Ví dụ: chia một nhóm gồm 6 đối tượng thành hai phần theo các cách: 1 và5; 2 và 4; 3 và 3

Ban đầu mỗi trẻ có thể thực hành chia theo cách mà mình thích, tiếp theogiáo viên tổ chức cho trẻ thực hành chia một nhóm đối tượng thành hai phần với

số lượng của một phần theo yêu cầu của cô

Ví dụ: chia 8 cái kẹo thành hai phần, một phần là 3 cái thì phần còn lại sẽ

là mấy? Hay yêu cầu trẻ chia hai phần sao cho số lượng đối tượng của hai phầnđều bằng nhau

Khi trẻ đã nắm được các cách chia một nhóm đối tượng thành hai phầntheo các cách khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn trẻ khái quát lại những cáchchia đó với các thẻ số bằng cách yêu cầu trẻ đặt các thẻ số tương ứng với sốlượng đối tượng của mỗi phần chia

Ví dụ: với cách chia 8 đối tượng thành một nhóm có 3 đối tượng và mộtnhóm có 5 đối tượng thì trẻ sẽ sử dụng cặp thẻ số 3 và 5 để khái quát lại cáchchia đó

c Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp

Muốn thực hiện các biện pháp, giải pháp có hiệu quả thì giáo viên cầnnắm vững phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động, phải yêu thích môntoán, yêu nghề, mến trẻ, tự tìm tòi sáng tạo, học hỏi đồng nghiệp, tài liệu và truycập internet để có những biện pháp hay

Trang 14

Ngoài ra còn phải biết tham mưu với nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vậtchất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động học Giáo viên phải có kỹ năng giaotiếp tốt, biết vận dụng kiến thức chuyên môn của mình để giải thích cho phụhuynh hiểu được tầm quan trọng của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ, từ đó có được sự ủng hộ của phụ huynh.

d Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.

Các biện pháp nêu ra tuy khác nhau về mặt nội dung và phương phápnhưng đều có mối quan hệ mật thiết, khăng khít, hỗ trợ cho nhau

e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

* Kết quả khảo nghiệm:

Các biện pháp tôi đưa ra đã phù hợp với điều kiện thực tế của lớp Chấtlượng giảng dạy nâng lên rõ rệt, học sinh đi học chuyên cần hơn, yêu

thích học toán hơn

Bên cạnh việc khảo sát, qua việc áp dụng đề tài trong lớp Bản thân tôicũng tự tin và nhiều sáng tạo hơn khi dạy trẻ, biết kết hợp đan xen các hình thứccũng như lồng ghép trong phương pháp giảng dạy, biết tận dụng những cái mới

lạ vào các hoạt động để các cháu hứng thú hơn

Phụ huynh dần hiểu ra được phương pháp học tập của chương trình mầmnon tuy đơn giản như trò chơi nhưng mang lại nhiều kết quả tích cực

* Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

Đây là một đề tài sát với thực tế của lớp lá 1 trường Mầm non Krông Anagiúp giáo viên có thêm một số kinh nghiệm và biện pháp để giảng dạy tốt

Trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1

II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm

* Đối với giáo viên:

Trang 15

Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp tôi đưa ra đã phù hợpvới điều kiện thực tế của lớp Việc giảng dạy được nâng lên rõ rệt, học sinh đihọc chuyên cần hơn, yêu thích học toán hơn

Bên cạnh việc áp dụng đề tài trong lớp Bản thân tôi cũng tự tin và nhiềusáng tạo hơn khi dạy trẻ, biết kết hợp đan xen các hình thức cũng như lồng ghéptrong phương pháp giảng dạy, biết tận dụng những cái mới lạ vào các hoạt động

để các cháu hứng thú hơn

* Đối với học sinh:

+ Về thái độ: Trẻ hứng thú hoạt động chung

- Trẻ hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến

- Trẻ có nề nếp và thói quen học tập tốt và trật tự

+ Về cảm xúc tình cảm: Trẻ hào hứng tiếp nhận kiến thức một cách

thoải mái thông qua các hoạt động nhóm, tập thể

- Trẻ tập trung vào nội dung cô hướng dẫn

- Thời gian tập trung nhận thức vấn đề tốt hơn

+ Kết quả cụ thể:

- Trẻ hào hứng học tập, tập trung chú ý: 100%

- Trẻ mạnh dạn hồn nhiên: 100%

- Trẻ trả lời đúng câu hỏi của cô là 98%

III Phần kết luận, kiến nghị

III.1 Kết luận

Việc hình thành biểu tượng về số lượng cho trẻ 5 – tuổi là một nội dunglớn của chương trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm nonnhằm phát triển trí tuệ và các mặt khác góp phần phát triển toàn diện nhân cáchtrẻ, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ học toán sau này ở trường phổ thông Chính vì

Trang 16

vậy: “hình thành biểu tượng về số lượng” cho trẻ mầm non là rất cần thiết và vôcùng quan trọng

Việc làm này không chỉ có ý nghĩa lớn lao đối với các nhà nghiên cứu màđối với các trường mầm non đặc biệt là các cô giáo mầm non cũng rất quantrọng, vì vậy các trường mầm non cần phải nắm vững và cải tiến nội dung dạyhọc Các cô giáo mầm non cần nghiên cứu tìm ra nhữg biện pháp giảng dạy phùhợp với thực tế địa phương để phát huy tính tích cực độc lập trong học tập của trẻ

III.2 Kiến nghị

Nhà trường cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, tổ chức cho giáoviên tham quan học tập ở các đơn vị bạn

Bổ sung thêm một số đồ dùng, đồ chơi để giáo viên tổ chức hoạt động đạthiệu quả hơn

Buôn Trấp, ngày 20 tháng 12 năm 2014

Trang 17

………

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Giáo trình phương pháp hình thanh biểu tượng tốn học sơ đẳng cho trẻmầm non TS Đỗ Thị Minh Liên

- Chuyên đề 2 phướng pháp dạy trẻ mẫu giáo định hướng thời gian TS ĐỗThị Minh Liên

- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên

- Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sĩc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6tuổi ( theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ) Bộ Giáodục

- Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non-Nguyễn Aùnh Tuyết Các tạp chígiáo dục mầm non cĩ liên quan

Trang 18

MỤC LỤC

Trang

I.Phần mở đầu ……… 1

I.1.Lý do chọn đề tài ……… 1

I.2.Mục tiêu và nhiệm vụ ………3

I.3.Đối tượng nghiên cứu ………3

I.4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu ……… 3

I.5.Phương pháp nghiên cứu ……… 3

II Phần nội dung ……… 4

II.1.Cơ sở lí luận ……… 4

II.2.Thực trạng… ………5

a Thuận lợi, khó khăn ………5

b Thành công, hạn chế ……… 5

c Mặt mạnh, mặt yếu ……….6

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động ……… 6

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra… …… 7

II.3.Giải pháp, biện pháp… ……… 7

Trang 19

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp… ……… 7

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp… …… 7

c Điều kiều để thực hiện các giải pháp……… ……… …13

d Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp………… ……….14

e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu…… 14

II.4.Kết quả thu được qua khảo nghiệm ……… ……… 14

III.Phần kết luận, kiến nghị……… ……… 15

III.1.Kết luận……… ……… 15

III.2 Kiến nghị……… ……… 16

Tài liệu tham khảo……… ……… 17

Ngày đăng: 06/01/2018, 08:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w