1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh Hà Nội 2

101 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thăm dò về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 ..... Mục đích nghiên cứu Từ n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRỊNH KHẮC TỈNH

QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN

CHO GIÁO VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH HÀ NỘI 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRỊNH KHẮC TỈNH

QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN

CHO GIÁO VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH HÀ NỘI 2

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang 3

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Lê Huy Hoàng, người

đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2, cán bộ quản lý và giáo viên trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 đã tạo điều kiện

cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân

em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Trịnh Khắc Tỉnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất

kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác

Tôi cũng xin cam kết thêm rằng bản Luận văn này là nỗ lực cá nhân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này (ngoài các phần được trích dẫn) đều

là kết quả làm việc của cá nhân

Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Trịnh Khắc Tỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN QP&AN 5

1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục quốc phòng và an ninh 11

1.2.2 Bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên môn QP&AN 20

1.3 Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại các Trung tâm GDQP&AN 21

1.3.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên QP&AN 21

1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn QP&AN 26

1.3.3 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 27

1.3.4 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 27

1.3.5 Phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 28

1.4 Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 29

Trang 6

1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn 29 1.4.2 Tổ chức thực hiện và đánh giá 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN QP&AN TẠI TRUNG TÂM GDQP&AN HÀ NỘI 2 32 2.1 Khái quát về Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 32

2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, thao trường của Trung tâm

GDQP&AN Hà Nội 2 35 2.1.2 Điều kiện doanh trại, giảng đường ở Trung tâm GDQP&AN

Hà Nội 2 36 2.1.3 Quy mô phát triển giáo dục tại Trung tâm GDQP&AN

Hà Nội 2 37 2.1.4 Đội ngũ giáo viên tại Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 39

2.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN tại TTGDQP&AN Hà Nội 2 40

2.2.1 Nội dung bồi dưỡng 40 2.2.2 Phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng 44

2.3 Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN tại TTGDQP&AN Hà Nội 2 49

2.3.1 Hoạt động lập kế hoạch 49 2.3.2 Hoạt động tổ chức, chỉ đạo thực hiện và đánh giá 50 2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 53

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG & AN NINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG & AN NINH

HÀ NỘI 2 58

Trang 7

3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 58

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu của các biện pháp 58

3.1.2 Đảm bảo tính khoa học của các biện pháp 58

3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp 59

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 59

3.1.5 Đảm bảo tính hệ thống của các biện pháp 59

3.2 Một số biện pháp quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN tại Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 60

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 60

3.2.2 Biện pháp 2: Điều tra, xây dựng kế hoạch về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 61

3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức xây dựng nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 64

3.2.4 Biện pháp 4: Đa dạng các hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN 68

3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, chính sách về bồi dưỡng giáo viên QP&AN 70

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 71

3.4 Thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 8

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CNXH : Chủ nghĩa xã hôi

ĐHSPHN2 : Đại học sư phạm Hà Nội 2

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

NCKH : Nghiên cứu khoa học

Trang 9

của các hình thức bồi dưỡng 48 Bảng 2.7 Đánh giá của GV, CBQL về hoạt động lập kế hoạch bồi dưỡng

chuyên môn cho GV TTGDQP&AN Hà Nội 2 49 Bảng 2.8 Đánh giá về việc chỉ đạo thực hiện hoạt động bồi dưỡng giáo

viên tại Trung tâm 50 Bảng 2.9 Đánh giá về việc kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng 52Bảng 2.10 Đánh giá về các nguyên nhân hạn chế công tác quản lý bồi

dưỡng đội ngũ giáo viên tại Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 55 Bảng 3.1 Kết quả thăm dò về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN Trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 73

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm qua, cùng với những thành tựu vượt bậc của công cuộc đổi mới đất nước, công tác quốc phòng, an ninh nước ta luôn được Ðảng, Nhà nước, nhân dân chăm lo xây dựng, củng cố Vì vậy, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được giữ vững, công tác giáo dục quốc phòng & an ninh (GDQP&AN) ngày càng được tăng cường, củng cố Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tăng cường quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” [15] Tư duy mới của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay được thể hiện rõ ở việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

Nghị định 116/NĐ - CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về quốc phòng

và an ninh chỉ rõ: “Giáo dục quốc phòng và an ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân,

an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục và đào tạo trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể…” [12]

Quán triệt tinh thần đó, Vụ giáo dục quốc phòng và an ninh đã chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên GDQP&AN tại các trung tâm GDQP&AN, nhưng nhìn chung chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển GD&ĐT ngày càng cao theo xu thế thời đại Một bộ phận giáo viên GDQP&AN còn yếu về chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GDQP&AN trong tình hình hiện nay Chính vì vậy nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên GDQP&AN là việc làm cần thiết, cấp bách Với

Trang 11

những lý do trên, bản thân là một cán bộ công tác tại Trung tâm GDQP&AN

Hà Nội 2 trong quá trình chỉ đạo chuyên môn tại Trung tâm GDQP&AN nhận thấy vấn đề này cần thiết phải được đặt ra nghiên cứu một cách nghiêm túc, theo một hệ thống khoa học Vì vậy tôi tiến hành đề tài:

“Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh Hà Nội 2”

2 Mục đích nghiên cứu

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên GDQP&AN tại trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2 nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên GDQP&AN, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hiện nay ở Trung tâm

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục GDQP&AN, quản

lý công tác bồi dưỡng chuyên môn GDQP&AN

3.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

Đánh giá thực trạng công tác quản lý GDQP&AN, công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên GDQP&AN tại trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2

3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên GDQP&AN

4 Đối tƣợng và phạm nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên GDQP& AN tại Trung tâm GDQP& AN Hà Nội 2

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên

GDQP&AN tại trung tâm GDQP&AN Hà Nội 2

Trang 12

5 Giả thuyết khoa học

Nếu nâng cao được nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác bồi dưỡng chuyên môn; xây dựng kế hoạch, nội dung, phương pháp và hình thức

tổ chức bồi dưỡng chuyên môn; và quan tâm tới chế độ, chính sách bồi dưỡng thì sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên quốc phòng và an ninh;

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu, đề xuất được những biện pháp quản lý có tính khả thi, khoa học, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài Gồm các phương pháp:

- Phân tích

- Tổng hợp

- Khái quát hóa

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này dùng trong thu thập các thông tin, số liệu khái

quát về TTGDQP&AN Hà Nội 2; thăm dò ý kiến của cán bộ giáo viên Trung tâm về thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm, về các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên GDQP&AN Hà

Nội 2 chúng tôi đã đề xuất

Trang 13

Chúng tôi đã dùng bảng hỏi phỏng vấn giáo viên, cán bộ quản lí của TT + Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lí TT, giáo viên cơ hữu và giáo viên thỉnh giảng tại TT (60 người)

+ Dữ liệu thu được từ bảng hỏi được phân tích theo điểm số quy định Cách quy ước điểm số cho bảng hỏi

Mỗi nội dung đều có các lựa chọn và được quy ước bằng các mức điểm khác nhau:

1 Tốt, rất cần thiết, rất khả thi, rất thường xuyên: 3 điểm

2 Khá, cần thiết, khả thi,thường xuyên: 2 điểm

3 Trung bình, không cần thiết, không khả thi, không thường xuyên: 1điểm Điểm trung bình: X điểm (1 X 3)

n

i i

i 1

X Kx

Ki : Số người tham gia đánh giá ở mức độ Xi

n : Số người tham gia đánh giá

6.3 Phương pháp toán học xử lí số liệu

Dùng phần mềm Excell xử lí số liệu

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN QP&AN

1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Giáo dục quốc phòng và an ninh là vấn đề có ý nghĩa trọng yếu cho sự tồn vong của các quốc gia Trên thế giới, nhiều nước tổ chức quản lý bồi dưỡng giáo dục quốc phòng và an ninh tương đối tốt như: Liên Xô (trước

đây), Trung Quốc, Malaixia, Singapo, Thái Lan

Ở Liên Xô (trước đây) và Liên Bang Nga (ngày nay), việc nghiên cứu,

quản lý công tác bồi dưỡng ý thức quốc phòng cho cán bộ, giáo viên, viên chức, được Nhà nước Nga đặc biệt quan tâm Trong các công trình “Các vấn

đề giáo dục quân sự”, do E.G.Vapilin và Đại tá Q.Đ.Mulinva viết năm 2001:

“Những quan điểm phương pháp luận về xây dựng học thuyết giáo dục quân

sự ở Nga” đã phần nào phản ảnh được yêu cầu bức thiết quản lý giáo dục

quốc phòng cho các thế hệ ở Nga trước sự vận động, phát triển mau lẹ của

tình hình quốc tế và đất nước Nga hiện nay [dt 26]

Ở Trung Quốc, nước này thường xuyên quan tâm, chú trọng quản lý công tác bồi dưỡng ý thức quốc phòng, bảo vệ đất nước cho các tầng lớp nhân

dân, đặc biệt là đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy nội dung giáo dục quốc

phòng và an ninh, chủ thể tham gia vào việc xây dựng thế trận quốc phòng

Giáo dục quốc phòng do Bộ Quốc phòng Trung Quốc đảm nhiệm Theo

kế hoạch hàng năm của Chính phủ, từng trường tập huấn đội ngũ giáo viên đưa giáo viên tới các đơn vị quân đội để học GDQP&AN với thời gian 1 tháng Khoảng thời gian này các đơn vị quân đội tổ chức cho bộ đội học dã ngoại ngoài doanh trại Doanh trại quân đội lúc này trở thành các Trung tâm GDQP [dt 26]

Trang 15

Một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu đổi mới GDQP&AN cho cán bộ, GV trước yêu cầu chống ảnh hưởng nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch: Đề xuất giải pháp đổi mới nội dung chương trình, phương pháp GDQP&AN cho cán bộ, GV đáp ứng yêu cầu bảo vệ đất nước trung thành với thành quả cách mạng xây dựng nền QP toàn dân Các tác giả: Lý Xương Giang, Tiểu Kính Dân, Vương Bảo Tôn đã đi sâu nghiên cứu chiến lược phát triển GDQP&AN của Trung Quốc trước sự vận động, biến đổi phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước

Tại Malaixia, quan niệm QP là: “Răn đe, tự lực, tự cường, thương lượng bao giờ cũng hơn chiến tranh”, muốn QP tốt thì kinh tế phải mạnh Vì

vậy, nghiên cứu về QP và tổ chức GDQP&AN cho đội ngũ GV được tiến hành thường xuyên và rộng khắp, đạt chất lượng tốt Dân số 23 triệu, nhà nước đầu tư xây dựng 41 trung tâm GDQP cho HSSV, tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá trong GDQP&AN; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục GDQP&AN; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục GDQP&AN và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo [dt 26]

Ở Singapo, Nhà nước đầu tư xây dựng và giao cho Bộ Quốc phòng quản lí các trung tâm GDQP Theo kế hoạch năm, các giáo viên dạy

GDQP&AN tập trung tại các trung tâm GDQP để học GDQP&AN với thời gian 1 tháng [dt 26]

Vương quốc Thái Lan quan niệm QP như sau: “Quốc gia bền vững, nhân

dân phồn thịnh” Sự hợp tác giữa các thành phần Nhà nước và tư nhân là nhân

Trang 16

tố cốt lõi trong chiến lược quốc phòng Quốc phòng gắn chặt an ninh quốc gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau Nội dung gắn GDQP&AN được thể hiện rất sâu sắc

Từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên GDQP&AN được tiến hành ở các trung tâm GDQP&AN nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn

Cộng hòa Pháp quan niệm quốc phòng được hiểu theo nghĩa rộng nhất,

không chỉ là lĩnh vực của quân đội và chính quyền nhà nước mà có liên quan đến mọi công dân và mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước Vì vậy, hệ thống giáo dục và nội dung GDQP&ANđược tổ chức chặt chẽ, toàn diện và sâu sắc Việc BDGV ở Pháp được thực hiện theo 3 hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV Tạo ra sự phù hợp với công việc đối với tất cả GV đặc biệt là đối với GV dạy GDQP&AN mà lĩnh vực đó luôn có

sự phát triển mạnh mẽ và các thiết bị trở nên lạc hậu Định kỳ xác định những kiến thức sẽ phải đưa vào tổng thể chương trình bồi dưỡng để tổ chức BDGV

Có thể nói ở Pháp luôn có sự chú trọng tới vấn đề BDGV, bởi họ luôn mong muốn có ĐNGV có chất lượng cao nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch GDQP&AN

Ở Mỹ, từ năm 1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua "Luật Giáo dục quốc phòng”, tuyên truyền tư tưởng "lợi ích quốc gia trên hết”, đưa GDQP&ANvào trong các loại hình giáo dục Ngày nay trước tình hình mới, đối mặt với tình hình đa cực hóa thế giới, toàn cầu hóa kinh tế, mạng hóa thông tin, Mỹ càng coi trọng phổ cập tư tưởng GDQP&AN mang màu sắc riêng của Mỹ Giáo dục chủ nghĩa yêu nước là nội dung cốt lõi của GDQP&AN. Ở đây cần phải chỉ rõ, chỗ khác biệt của nước Mỹ trong việc bồi dưỡng tư tưởng yêu nước cho công dân, không tập trung sức chú ý vào khu vực cư trú và quốc dân, mà nặng về hệ thống tư tưởng có liên quan mật thiết với đời sống xã hội

Trang 17

Nên khái niệm mà họ sử dụng không phải là "Tổ quốc”, "cố hương”, mà là

"nước Mỹ”, "lối sống Mỹ” Chủ yếu là vì con đường phát triển mà nước Mỹ

đã trải qua tương đối ngắn, hình thành một quốc gia nhiều dân tộc, những dân tộc đó đều coi nước Mỹ là quê hương mình

Do chịu sự giáo dục đó nên mọi người hết sức nhạy cảm với uy danh toàn nước Mỹ, rất trung thành với quốc gia dù nó là đúng hay sai Ngoài ra do chịu ảnh hưởng của "Tinh thần Mỹ” khiến cho Mỹ tạo thành thói xấu là bá quyền, cho rằng Mỹ có sứ mệnh đặc biệt đối với toàn cầu, là "duy trì trật tự mới của thế giới, gánh vác trách nhiệm sen đầm thế giới”, đó chính là động lực mưu cầu địa vị chủ đạo và bá quyền thế giới của Mỹ Chính phủ Mỹ coi người Mỹ là "dân tộc thượng đẳng”, dưới phương châm "lãnh đạo đúng đắn”

đó, phải hoàn thành trách nhiệm do Thượng đế giao cho là lãnh đạo toàn thế giới tiến bước trên đường dẫn tới thiên đàng Quan niệm này thường được dùng để biện minh cho mọi thủ đoạn bao gồm cả sử dụng sức mạnh quân sự

để bảo vệ quyền lợi của Mỹ ở khắp nơi trên thế giới

Chi phối bởi quan niệm đó, Mỹ đã phổ cập yêu cầu, các đoàn thể và bộ máy chính quyền các cấp phải coi chủ nghĩa yêu nước là động lực tinh thần của thế giới cường quyền, chỉ cần vì "quyền lợi nước Mỹ” là có thể sử dụng mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự, dân chúng phải biến chủ nghĩa yêu nước thành hành động cụ thể

Trọng điểm GDQP&AN Mỹ là: Yêu đất nước, biết phục tùng, trọng đoàn thể, chịu cống hiến Ở Mỹ rất nhiều người chỉ nói tự do, không lo phục tùng Trong GDQP&AN, nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên GDQP&ANlà phải nói cho HS biết, một người không biết phục tùng không phải là một người hoàn chỉnh Phục tùng cấp trên, phục tùng đoàn thể, phục tùng quốc gia là tố chất cơ bản cần có của một con người hoàn chỉnh, một con người không biết phục tùng, làm sao biết cống hiến

Trang 18

Để làm tốt việc bồi dưỡng giáo viên GDQP&AN, nước Mỹ tổ chức GDQP&AN từ cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học Mỗi trường quân đội Mỹ cử một sĩ quan đảm nhiệm chuyên trách bồi dưỡng hướng dẫn cho các giáo viên trong trường giảng dậy GDQP&AN cho HS, SV Hàng năm đều tập trung các sĩ quan này về đơn vị quân đội một tháng tổ chức BDGV những nội dung cần bổ sung, thay đổi xoay quanh vấn đề tâm lý, đạo đức, phục tùng, đặt "lợi ích nước Mỹ trên hết” Để từ đó các sĩ quan này BDGV các trường quan điểm chiến lược GDQP&AN cho thế hệ HS, SV [dt 26]

Rõ ràng trên thực tế nhiều nước trên thế giới rất quan tâm nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng, quản lý hoạt động bồi dưỡng để tìm ra những biện pháp quản lý hữu hiệu Sở dĩ GDQP&AN và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên GDQP&AN là động lực thúc đẩy sự phát triển chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân để bảo vệ tổ quốc Hình thức BDGV tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đó là một trong những quy luật đã được dân tộc ta đúc kết trong lịch sử Dưới chế độ phong kiến, các triều đại trị

vì đất nước tuy mạnh yếu khác nhau nhưng lúc nào cũng quan tâm đến kế sách giữ nước Nhiều bậc hiền tài đã nghiên cứu hiến kế sách hay cho việc trị nước và giữ nước Việc chiêu tập binh mã, việc rèn quân, luyện quân, việc khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc… là những kế sách có giá trị như những tài liệu khoa học về quốc phòng của dân tộc

Nhận thức được quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị truyền thống của dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm

Trang 19

có những chủ trương, giải pháp mang tính chiến lược về vấn đề QP&AN và GDQP&AN Những chủ trương, chính sách đó cùng với những văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về GDQP không chỉ là cơ sở pháp lý mà còn là một cơ sở khoa học, cơ sở phương pháp luận định hướng cho các hoạt động nghiên cứu về QP&AN trong thời đại mới

Tuy nhiên, công tác GDQP&AN cho học HS, SV trong các trường Đại học, Cao đẳng, trung tâm GDQP&AN còn nhiều bất cập, cần khắc phục Đội ngũ giáo viên GDQP&AN còn thiếu; năng lực còn hạn chế nhất là về đổi mới

PP giảng dạy và ứng dụng CNTT Hình thức tổ chức giảng dạy chưa phù hợp Công tác quản lý, rèn luyện sinh viên trong GDQP&AN chưa chặt chẽ Cơ sở vật chất dạy và học quá nghèo nàn; tài liệu, chương trình chưa phong phú Công tác đào tạo, quản lý đào tạo (tổ chức dạy học, kiểm tra, thi, cấp chứng chỉ giáo dục quốc phòng…) chưa khoa học, thống nhất, chặt chẽ; việc cập nhật, thu nhận thông tin phục vụ cho GDQP&AN còn chậm, rất lúng túng Nhiều văn bản pháp quy về GDQP&AN còn chồng chéo, không còn phù hợp Việc tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong toàn dân về công tác QP&AN và GDQP&AN trong ngành giáo dục nhất là trong các cơ sở giáo dục đào tạo chưa thật sâu rộng, chưa thấy hết vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác QP&AN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có một số công trình nghiên cứu, bài biết về vai trò của GDQP&AN trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, giáo dục ý thức QP&AN cho cán bộ, giáo viên HS,SV các, trường Đại học, Cao đẳng và trung học nói riêng

Tiêu biểu là các công trình: “Trường ĐH với nhiệm vụ GDQP” (Nguyễn Thị Doan, Tạp chí QP toàn dân, 12/1998)[14]; “Một số vấn đề nâng cao chất lượng GDQP cho cán bộ, HS,SV tăng cường hơn nữa công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong tình hình mới” (Phùng Khắc Đăng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12/2003)[17]; Phan Ngọc Liên, “GDQP cho thế hệ

Trang 20

trẻ trong các nhà trường và những vấn đề cần lưu tâm”.[22] “Thực trạng và giải pháp đổi mới GDQP trong các trường ĐH, CĐ”, của Hà Văn Công [13] Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của GDQP&AN cho cán bộ, HS, SV trong các trường ĐH, CĐ, THCN, và THPT hiện nay Nhìn chung, các tác giả đã đề cập tới tầm quan trọng của GDQP&AN cho cán bộ, HS, SV trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đồng thời đã đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng quản lý GDQP&AN ở các nhà trường

Tuy vậy các tác giả chưa đi sâu đề cập vấn đề quản lý, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở Trung tâm GDQP&AN, các trường ĐH, CĐ, THCN, THPT Nhằm nâng cao chất lượng GDQP&AN cho cán bộ HS, SV yếu tố đóng vai trò then chốt quyết định đến chất lượng và hiệu quả GDQP&AN chính là đội ngũ người thầy Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới GDQP&AN hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giáo viên tại TTGDQP&AN hết sức cần thiết và quan trọng, đó là một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng của TTGDQP&AN

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục quốc phòng và an ninh

1.2.1.1 Quản lý

Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động cao hơn Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Trong lịch sử, đã có một “sự tiến hoá” của các tư tưởng quản lý từ thời thượng cổ đến nay

Chủ nghĩa Mác đã đề cao vai trò của quản lý: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì

Trang 21

ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [10, tr.23-480]

Tuỳ theo các cách tiếp cận, mà có nhiều cách định nghĩa về hoạt động quản lý như:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [27, tr.616]

Theo chương trình của Học viện chính trị quốc gia, quản lý là một quy

trình công nghệ và “có nghĩa là điều khiển” mà đối tượng điều khiển của nó

là các mối quan hệ giữa: con người với thiên nhiên, con người với kỹ thuật

công nghệ (máy móc, phương tiện hiện đại), con người với con người Do đó quản lý là “ sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi

hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” [19, tr.18]

Định nghĩa này thể hiện ý chí của người quản lý, nó hàm chứa mầu sắc chính trị và quan điểm giai cấp

Theo Trần Hữu Cát – Đoàn Minh Duệ, hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức Định nghĩa này cho ta thấy bất luận một tổ chức nào, có mục đích gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều phải có sự quản

lý, người quản lý để tổ chức đó hoạt động và đạt được mục đích

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là

trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (chủ thể quản lý); quản lý ai? quản lý cái gì? (khách thể quản lý); quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); quản lý bằng cái gì? (công cụ quản lý); quản lý nhằm làm gì (mục tiêu) và từ đó chúng ta cũng nhận thức được: Bản chất của quản lý là những hoạt động của

Trang 22

chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống

Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: Quản lý là

sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu chung của hệ thống

Hệ thống chức năng của quản lý:

Quản lý cũng như các hoạt động khác đều có chức năng riêng của nó Quản lý có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể xác định 4 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

- Kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của nhà

quản lý Nhà quản lý phải xác định được mục đích, mục tiêu, nội dung, biện pháp, con đường, cách thức, điều kiện để tiến hành mọi công việc Với kế hoạch đã có, nhà quản lý phối hợp các nguồn lực trong một quy trình tổ chức nhất định để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra

- Tổ chức: Sau khi đã lập xong kế hoạch, nhà quản lý phải thực hiện kế

hoạch bằng cách điều hành và phối hợp, phân công, phân cấp các thành viên trong tổ chức, phát huy hết các nguồn lực, tạo ra sự hoạt động đồng bộ của bộ máy, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển tổ chức và đạt được mục tiêu đã

đề ra Chức năng cơ bản của tổ chức là gắn kết các thành tố, các bộ phận để thực hiện thành công kế hoạch Hai yếu tố có tác động mang tính quyết định đến quy trình tổ chức là cơ chế và năng lực của nhà quản lý Nhà quản lý

có tổ chức tốt thì bộ máy của cơ quan, của tập thể mới vận hành tốt và đạt hiệu quả cao

- Chỉ đạo: Chỉ đạo giống như công việc của một “nhạc trưởng” Nhà

quản lý phải dẫn dắt, hướng dẫn, điều chỉnh mọi liên kết, mọi hoạt động của

tổ chức Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ đạo là quá trình vận

Trang 23

hành, điều khiển hệ thống hoạt động hợp lý, nhịp nhàng, không có sự chồng chéo, vô lý Thực chất chức năng chỉ đạo của chủ thể quản lý là điều hành bằng các văn bản, quyết định hành chính, là trình bày bằng mệnh lệnh và tôn trọng nguyên tắc dân chủ của tổ chức

- Kiểm tra: Kiểm tra là chức năng cơ bản, không thể thiếu của người

quản lý Có thể nói không có thanh tra, kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý Thông qua kiểm tra, người quản lý nắm được những vấn đề tồn tại, thiếu sót, hạn chế, khuyết điểm để có những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh đồng thời phát hiện những ưu điểm để phát huy, động viên, khích lệ hoàn thành kế hoạch đã đề ra

Nội dung kiểm tra là kiểm soát tình hình, phát hiện động viên, phê phán, đánh giá thu thập thông tin và xử lý thông tin Kiểm tra chính là xác định mối quan hệ ngược trong quản lý Muốn kiểm tra đúng thực chất thì phải có chuẩn, dựa theo chuẩn, nó là cái thước mà khách thể quản lý và chủ thể quản

lý đều phải tuân theo

Bốn chức chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý Trong chu trình đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản lý Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin được biểu hiện bằng sơ đồ sau:

Trang 24

Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin

1.2.1.2 Quản lý giáo dục quốc phòng và an ninh

1.2.1.2.1 Quản lí hình thức tổ chức dạy học GDQP&AN cho sinh viên

Giáo dục quốc phòng và an ninh cho SV trung tâm hiện nay được tổ chức thực hiện theo các hình thức sau: dạy học tập trung; dạy học kết hợp (rải phần lý thuyết và tập trung phần thực hành) hoặc dạy học rải (lí thuyết và thực hành)

Tại trung tâm (TT) GDQP&AN được tổ chức dạy học GDQP&AN cho

SV tập trung: Trước năm học mới (thường tháng 5 hoặc 6 hàng năm), TTGDQP&AN tổ chức hội nghị liên kết GDQP&AN với các trường ĐH, CĐ trong cụm liên kết, nhằm đánh giá công tác phối hợp GDQP&AN trong năm

và thống nhất kế hoạch GDQP&AN năm học tới, tại hội nghị TTGDQP&AN

và các nhà trường thống nhất kế hoạch GDQP&AN cho SV trong năm học; theo kế hoạch SV các trường ĐH, CĐ được đưa tới TTGDQP&AN để học tập (SV đào tạo trình độ ĐH và CĐ là 165 tiết)

Theo quy định của Bộ GD&ĐT các trường ĐH, CĐ có khoa hoặc bộ môn GDQP&AN thì tổ chức dạy học tại trường, các trường này thường tổ chức dạy học rải trong một học kỳ hay cả năm học (thường giảng dạy trong

Thông tin

Kế hoạch

Tổ chứcKiểm tra

Chỉ đạo

Trang 25

năm học thứ nhất của khóa học); nhà trường chủ động được thời gian giảng dạy các môn học trong khóa học

Các trường ĐH, CĐ không có khoa, bộ môn GDQP&AN: liên kết với các trường có khoa, bộ môn GDQP&AN để giảng dạy cho SV (cụm liên kết); địa điểm, thời gian, hình thức tổ chức giảng dạy do hai nhà trường thống nhất

và được ký hợp đồng giảng dạy, khi hoàn thành thì được thanh lý hợp đồng (hàng năm); hoàn thành khóa học, khoa hoặc bộ môn chuyển kết quả học tập của SV cho các nhà trường có SV học GDQP&AN Sinh viên hoàn thành khóa học tại TTGDQP&AN, được cấp chứng chỉ GDQP&AN; SV học GDQP&AN tại các khoa, bộ môn GDQP&AN sau khi hoàn thành khóa học, các khoa, bộ môn chuyển kết quả học tập của SV cho nhà trường để từng trường cấp chứng chỉ cho SV Chứng chỉ GDQP&AN cấp cho SV để xác nhận hoàn thành kết quả học tập môn GDQP&AN SV đạt điểm trung bình môn học từ 5 điểm và không bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên được cấp chứng chỉ GDQP&AN và được ghi kết quả xếp loại trong chứng chỉ Chứng chỉ GDQP&AN là một trong những điều kiện để xét tốt nghiệp

Không cấp chứng chỉ cho SV được miễn toàn bộ chương trình; SV cao đẳng học liên thông lên ĐH chỉ học bổ sung những học phần còn thiếu

1.2.1.2.2 Quản lí đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên GDQP&AN

Đội ngũ CBQL, GV GDQP&AN là người làm nhiệm vụ quản lí, giảng dạy có trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục, có kiến thức GDQP&AN, có tinh thần trách nhiệm của người thầy, người chỉ huy và người quản lý cán bộ giáo dục

Đội ngũ CBQL và GV GDQP&AN có vị trí, vai trò quan trọng trong đào tạo, là nhân tố quyết định đến chất lượng dạy và học môn GDQP&AN cho SV các trường CĐ, ĐH Do tính chất đặc thù của môn học nên việc quản

lý đội ngũ này cũng khác với quản lý đội ngũ CBQL và GV của các môn học

Trang 26

khác trong cùng trình độ đào tạo vì ngoài hoạt động dạy và học ở TTGDQP&AN còn có các hoạt động ngoại khóa, duy trì nề nếp ăn, ở và sinh hoạt tập trung gần môi trường quân đội Do đó đội ngũ cán bộ GV cũng được phân công luân phiên tham gia quản lý trực tiếp học viên 24/24 giờ trong ngày và các ngày trong tuần cũng như cả khóa học

Cán bộ quản lý và GV GDQP&AN là sĩ quan: điều động, sử dụng, bồi dưỡng thực hiện theo Điều lệnh Quản lý bộ đội và Nghị định 165/2003/NĐ-

CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về biệt phái sĩ quan QĐND VN [11] Chế

độ, chính sách thực hiện theo Thông tư 53/2011/TTLT-BGDĐT-BQP-BTC ngày 15/11/2011 của Liên Bộ GDĐT-Bộ LĐTB&XH-Bộ QP-Bộ TC.[9]

Bộ GDĐT thường xuyên tổ chức bồi dưỡng tập huấn cập nhật kiến thức mới về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL, GV GDQP&AN

Quản lí GDQP&AN cho giáo viên là hoạt động có mục đích, có tổ chức của nhà quản lí nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình giáo dục, những hoạt động của cán bộ, giáo viên, huy động các nguồn lực khác nhau để thực hiện có hiệu quả chương trình, nội dung phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục theo kế hoạch đã xác định

1.2.1.2.3 Quản lí sinh viên trong học tập GDQP&AN

Quản lý SV học tập GDQP&AN thực hiện như SV học các môn học khác; song do tính chất đặc thù của môn học nên SV học môn GDQP&AN vừa học tập lĩnh hội kiến thức mới vừa rèn luyện lễ tiết, tác phong, tính kỷ luật gần như các đơn vị quân đội

Quản lý SV học tập GDQP&AN: SV phải chấp hành đầy đủ các quy định trong học tập và có đủ số lần kiểm tra cho mỗi học phần; mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên và có đủ 80% thời gian có mặt trên lớp sẽ được dự thi kết thúc học phần thứ nhất Mỗi SV phải dự thi đủ các học phần theo quy định Học phần có từ 2 đến 3 đơn vị học trình SV phải kiểm tra ít nhất một

Trang 27

lần; học phần có 4 đơn vị học trình trở lên kiểm tra ít nhất 2 lần Số lần cụ thể

do hiệu trưởng các trường quy định

Sinh viên thuộc đối tượng được miễn học, miễn thi, miễn học các nội dung thực hành và tạm hoãn học là:

Đối tượng được miễn học: SV có bằng tốt nghiệp sĩ quan quân đội; SV

là người nước ngoài; SV đào tạo đại học văn bằng 2 đã có chứng chỉ

GDQP&AN do cơ sở được cấp có thẩm quyền cho phép cấp

Đối tượng được miễn học và miễn thi các học phần đã học: SV chuyển

trường hoặc đào tạo liên thông được miễn học các học phần đã học nhưng phải có phiếu điểm đánh giá kết quả học tập các học phần tương ứng SV học

và tốt nghiệp trình độ CĐ liên thông lên ĐH được miễn học và miễn thi các học phần đã học

Đối tượng được miễn học các nội dung thực hành kỹ năng quân sự: SV

là tu sĩ thuộc các tôn giáo; SV có thương tật, khuyết tật bẩm sinh, bị bệnh mãn

tính làm hạn chế chức năng vận động có giấy chứng nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở trở lên; SV đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự được miễn nội dung học thực hành kỹ năng quân sự nhưng phải dự kiểm tra, thi đủ các nội dung theo quy định

Đối tượng được tạm hoãn học: SV Việt Nam đang học tập ở nước ngoài

hoặc đang học tập tại các trường của nước ngoài, trường liên doanh, liên kết với nước ngoài tại Việt Nam; SV bị ốm đạu, tai nạn, thiên tại, hỏa hoạn; SV là phụ nữ đang mang thai hoặc có con nhỏ dưới 24 tháng

Các đối tượng này phải được sự đồng ý của hiệu trưởng Hết thời gian tạm hoãn, các trường bố trí cho SV vào học các lớp phù hợp để hoàn thành chương trình Sinh viên học GDQP&AN tại các trung tâm được học tập, rèn luyện và sống trong môi trường gần với mội trường quân đội SV được biên chế theo từng tiểu đội, trung đội (lớp), được ăn, ở và học tập tập trung như các

Trang 28

đơn vị quân đội; thực hiện 11 chế độ trong ngày (thể dục sáng, ăn cơm sáng,

kiểm tra trật tự nội vụ, học tập, ăn cơm trưa, nghỉ trưa, học tập buổi chiều, thể dục thể thao, ăn cơm tối, sinh hoạt: đọc báo, nghe tin tức; sinh hoạt tiểu đội

hoặc trung đội theo kế hoạch, điểm danh và ngủ tối) và 3 chế độ trong tuần

(chào cờ; duyệt đội ngũ và văn hóa văn nghệ)

Sinh viên học GDQP&AN tại khoa hoặc bộ môn GDQP&AN chỉ được học kiến thức trong nội dung chương trình môn học, không có điều kiện và môi trường rèn luyện gần như môi trường quân đội Đây cũng là những hạn chế trong học tập GDQP&AN tại các nhà trường, không tạo được ý thức tập thể, sát thực tế, tính cộng đồng

1.2.1.2.4 Quản lí cơ sở vật chất, phương tiện dạy học GDQP&AN

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy có vai trò quan trọng trong giảng dạy nói chung và trong giảng dạy GDQP&AN nói riêng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học, tạo sự say mê, hứng thú trong giảng dạy và học tập

Giáo dục quốc phòng và an ninh cho SV trong các trường ĐH trước kia vốn được xem là môn học khô khan đến nay do được đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã góp phần giúp giáo viên truyền tải kiến thức tới người học một cách hiệu quả nhất, người học hứng khởi, đam mê trong học tập Với vị trí, tầm quan trọng của cơ

sở vật chất, phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy thì việc mua sắm, bảo quản và quản lý để giữ tốt, dùng bền đóng vai trò rất quan trọng đối với nhà quản lý

Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học đặc thù do đó về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học môn GDQP&AN cũng được quản lí chặt chẽ từ khâu mua sắm, sử dụng và bảo quản Sản xuất thiết bị dạy học môn GDQP&AN chủ yếu do các đơn vị quân đội đảm nhiệm, có những chủng loại

Trang 29

chỉ có một nhà máy sản xuất do vậy trong mua sắm không thể áp dụng mời thầu cạnh tranh mà thực hiện theo chỉ định thầu; trong khai thác sử dụng và quản lí có sự chỉ đạo thống nhất giữa Bộ GDĐT, Bộ QP, Bộ CA và các cơ sở GDQP&AN

1.2.2 Bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên môn QP&AN

1.2.2.1 Bồi dưỡng

+ Bồi dưỡng

Theo "Từ điển tiếng Việt": "Bồi duỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất" Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ nghề nghiệp” [27, tr.34] Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân để đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp

Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức để bù đắp kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu so với nhu cầu phát triển của xã hội, thường được xác định bằng chứng chỉ Do đó bồi dưỡng có những yếu tố cơ bản là:

- Bổ sung kiến thức, kỹ năng, phương pháp để từ đó nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn qua hình thức học tập đào tạo nào đó

- Bồi dưỡng có mục đích, mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức thực hiện cụ thể:

- Đối tượng được bồi dưỡng phải có một trình độ chuyên môn nhất định, cần được bồi dưỡng thêm về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, tin học, ngoại ngữ … để đáp ứng sự nghiệp giáo dục phục vụ CNH - HĐH đất nước Mục đích bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất, chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để đạt được hiệu quả công việc đang làm.Tóm lại, khái niệm "bồi dưỡng" thường chỉ cho hoạt động dạy học nhằm bổ sung, bồi đắp thêm kiến thức, kỹ năng cho cả người dạy và người học Xét về mặt thời gian thì đào tạo thường có

Trang 30

thời gian dài hơn, nếu có bằng cấp thì bằng cấp chứng nhận về mặt trình độ, còn bồi dưỡng có thời gian ngắn và có thể có giấy chứng nhận đã học xong khoá bồi dưỡng Tuy nhiên khái niệm đào tạo và bồi dưỡng chỉ là tương đối Xét một cách khác, bồi dưỡng được xác định như một quá trình làm biến đổi hành vi, thái độ con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập nảy sinh trong quá trình tự học, giảng dạy, giáo dục và quá trình lĩnh hội kinh nghiệm từ sách vở

Hoạt động bồi dưỡng là quá trình tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng nhằm biến đổi hàng vi, thái độ nhằm bổ sung, bồi đắp kiến thức, kỹ năng một cách có hệ thống thông qua việc học tập

1.2.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn QP&AN

Là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề, kiến thức, kỹ năng thực tiễn Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho giáo viên QP&AN, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc của người giáo viên QP&AN Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đối với mọi giáo viên QP&AN là thường xuyên, liên tục

Đối với cấp TTGDQP&AN, bồi dưỡng chuyên môn là bồi dưỡng cho giáo viên QP&AN nắm vững các kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình GDQP&AN để dạy được tất cả các đối tượng HS,SV của TTGDQP&AN đáp ứng các yêu cầu giảng dạy GDQP&AN trong giai đoạn hiện nay

1.3 Bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên tại các Trung tâm GDQP&AN

1.3.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên QP&AN

a, Vị trí người giáo viên QP&AN

Đội ngũ giáo viên trong các TTGDQP&AN là một bộ phận cán bộ của quân đội, của Đảng, là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng trong giáo

Trang 31

dục GDQP&AN Đây là những người thầy có chức năng truyền bá Chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho HS,

SV Đồng thời đội ngũ giáo viên QP&AN cũng truyền bá kiến thức khoa học

xã hội và nhân văn, kiến thức quân sự, giúp người học hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp luận Mácxít, bồi dưỡng tư duy, năng lực thực hành Họ cũng là lực lượng tiên phong trong đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng Vì vậy đội ngũ giáo viên trong các TTGDQP&AN góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện, hiểu biết một số nội dung cơ bản về GDQP&AN; truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với bảo vệ Tổ quốc; nâng cao lòng yêu nước, yêu CNXH; có ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; có kiến thức cơ bản về đường lối QP&AN và công tác quản lí nhà nước về QP&AN; có kĩ năng QP&AN cần thiết để tham gia vào sự nghiệp xây dựng, củng cố nền QP toàn dân, AN nhân dân sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

b,Vai trò người giáo viên QP&AN:

Hiện nay các phương tiện dạy học hiện đại phát triển mạnh mẽ, cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị khá đầy đủ nhưng không thể thay thế được vị trí, vai trò của người giáo viên, mà ngược lại càng khẳng định vị trí, vai trò to lớn của họ đối với sự nghiệp GDQP&AN tại Trung tâm GDQP&AN Nhà giáo dục K.D.Usinxki đã nhấn mạnh: “Không một điều lệ, chương trình, không một cơ quan giáo dục nào dù có tạo ra được sức mạnh khôn khéo như thế nào cũng không thể thay thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục Không một sách giáo khoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt, một khen thưởng nào có thể thay thế ảnh hưởng cá nhân người thầy giáo đối với học sinh” Yêu cầu quan trọng với người giáo viên trong TTGDQP&AN là phẩm chất chính trị, đạo đức, phương pháp, tác phong công tác, năng lực giáo

Trang 32

dục, huấn luyện, chỉ huy HS, SV Đội ngũ giáo viên phải có năng lực, trí tuệ cao, phương pháp sư phạm tốt, sắc bén về tư duy lí luận, vận dụng tốt phương pháp dạy học, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác, xuất phát từ luận điểm: Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản, V.I Lênin cho rằng đội ngũ nhà giáo có vị trí, vai trò to lớn đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Ông viết:

“Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của các chương trình Cái gì quyết định phương hướng đó? Hoàn toàn và chỉ là thành phần các giáo viên mà thôi” [10] V.I.Lênin cho rằng: Lịch sử đã ghi nhận để xây dựng Hồng quân thành một đội quân lớn mạnh thì phải đào tạo ra những đội ngũ mà theo V.I.Lênin là phải có giác ngộ chính trị cao, có kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, có chuyên môn nghề nghiệp Người cho rằng, mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực cần đòi hỏi những yêu cầu riêng [10]

c, Nhiệm vụ người giáo viên QP&AN:

Trong xây dựng vững mạnh chế độ xã hội chủ nghĩa, Người chỉ rõ: “Đội quân giáo viên phải đề ra cho mình những nhiệm vụ giáo dục to lớn và trước hết phải trở thành đội quân chủ yếu trong sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa” [24,t4 tr7] Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao giáo dục nói chung và

vị trí, vai trò của người thầy giáo nói riêng Người là thầy giáo cách mạng đầu tiên, trực tiếp mở trường đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đặt nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục cách mạng ở hàng thứ hai trong ba nhiệm vụ lớn về kiến quốc: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và giặc ngoại xâm” [24,t4 tr12] Theo Người, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa Trong xây dựng quân đội, Người cho rằng:

“Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật

Trang 33

nghiêm” [24,t4 tr15] Giáo dục khéo ở đây chính là nhấn mạnh sự thành thạo,

là nghệ thuật của người thầy, người giáo viên trong TTGDQP&AN huấn luyện giáo dục HS,SV nhằm phát triển nhân tố con người trong hoạt động QP&AN Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định việc huấn luyện như là một sự đòi hỏi cần thiết mà không phải ai cũng có thể thực hiện được Theo Người:

“Không phải ai cũng huấn luyện được Trong huấn luyện tránh máy móc mà phải huy được tính sáng tạo ở mọi hoàn cảnh, Người viết: “Các chú cần mạnh dạn áp dụng những điều đã học, nhưng cần phải áp dụng một cách thiết thực, thích hợp với hoàn cảnh của ta, chớ giáo điều, chớ máy móc…” [24,t4 tr17] Người luôn đặt ra yêu cầu toàn diện đối với người cán bộ, phải có cả tài lẫn đức, trong đó về phẩm chất là phải có đạo đức cách mạng và xem đó là gốc

rễ Người thầy không chỉ có đức mà còn phải có tài, đó là kiến thức toàn diện

và kiến thức chuyên môn, phải thấm nhuần những tri thức của Chủ nghĩa Mác Lênin, sự giác ngộ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ của cách mạng, đồng thời trên nền tảng tri thức mà hình thành sự thành thạo nghiệp vụ chuyên môn của mình Về cách dạy của người thầy, Người nhấn mạnh là phải thạo nghề, sao cho học sinh mau hiểu, mau nhớ, lý luận phải đi đôi với thực hành Người đặt ra yêu cầu phải huấn luyện sao cho “nhanh như chớp, biến hóa như thần, đó là bí quyết của phép dụng binh” Đồng thời, huấn luyện cần phải theo những quy trình nhất định, Người nói “Đã nắm được quy luật thế giới, thì phải dùng nó vào thực hành cải tạo thế giới, thực hành tăng gia sản xuất, thực hành giai cấp đấu tranh, dân tộc đấu tranh, đó là quá trình liên tiếp của hiểu biết… thực hành, hiểu biết, lại thực hành, lại hiểu biết nữa” [24,t4 tr22] Muốn vậy, con đường phát triển của người thầy là phải tích cực học tập, tu dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phải học tập không ngừng, học tập suốt đời, gắn lý luận với thực hành nhằm hoàn thiện nhân cách Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Đại hội

XI của Đảng tiếp tục xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu…

Trang 34

Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành”[15] Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện Chỉ thị số 12 của

Bộ Chính trị, Đảng bộ, lãnh đạo Bộ GD&ĐT đã từng bước triển khai có hiệu quả công tác GDQP&AN trong hệ thống giáo dục quốc dân; giúp cho HS,SV nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng và an ninh; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng và trang bị những kỹ năng quân sự cần thiết phát triển nhân cách toàn diện, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và tổ chức đào tạo đội ngũ giáo viên ở TTGDQP&AN theo tiêu chuẩn, chức danh quy định Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 15/2001/NĐ - CP của Chính phủ về GDQP, tháng 1 năm 2006, đã đánh giá: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên GDQP&AN

đã từng bước đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng”; đồng thời cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập, đó là: “Chưa thực hiện tốt chế độ, chính sách, tổ chức, biên chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên GDQP&AN trong các TT GDQP&AN, trường trung học phổ thông, chuyên nghiệp dạy nghề” Việc đội ngũ giáo viên GDQP&AN trong các TT GDQP&AN, nhất là trường trung học phổ thông, trường chuyên nghiệp dạy nghề chưa bảo đảm về số lượng, chất lượng là vấn đề nan giải và có nhiều nguyên nhân Ngoài sự tác động “ràng buộc” bởi các quy định về tổ chức, biên chế , theo chúng tôi, có nguyên nhân quan trọng do nhận thức về công tác GDQP&AN của ngành chủ quản và cơ quan chức năng chưa thật sự sâu sắc, chưa quan tâm đúng mức tới công tác xây dựng đội ngũ giáo viên GDQP&AN Cùng với đó là việc thực hiện chế độ, chính sách và việc đầu tư kinh phí, phương tiện, vật chất đảm bảo cho công tác xây dựng đội ngũ giáo viên GDQP&AN cũng chưa thật tương xứng

Trang 35

Thực hiện được vị trí, vai trò của mình, người giáo viên trong TTGDQP&AN phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đạo đức cách mạng, phương pháp, tác phong công tác, tích cực đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong GDQP&AN

1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn QP&AN

a, Vai trò hoạt động bồi dưỡng chuyên môn QP&AN

Hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có tầm quan trọng chiến lược

quyết định đến chất lượng giáo dục trong TTGDQP&AN Vì vậy đòi hỏi người quản lý phải thường xuyên chú ý đến việc bồi dưỡng nâng cao cả về trình độ lý luận chính trị cũng như trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên

b, Ý nghĩa hoạt động bồi dưỡng chuyên môn QP&AN:

Hiện nay công tác GDQP&AN cho HS, SV tại các trung tâm đang được

sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Ban Giám đốc, đang tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình GDQP&AN cho HS,SV Vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị và trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên tại TTGDQP&AN

Hà Nội 2 ngày càng trở nên cấp bách Có thực hiện tốt điều này thì chất lượng GDQP&AN mới được nâng cao, sản phẩm của TTGDQP&AN mới đảm bảo chuẩn đầu ra Người giáo viên phải có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới, phải nhận thức đầy đủ đường lối đổi mới GDQP&AN của Đảng, Nhà nước Bản thân người giáo viên phải tự học tự nghiên cứu, tự rèn luyện Thực tiễn trong thời gian qua, chất lượng đội ngũ giáo viên của TTGDQP&AN chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên TTGDQP&AN sẽ tạo nên sự chuyển biến cao về chất lượng dạy và học GDQP&AN cũng như chất lượng học môn GDQP&AN hiện nay

Trang 36

1.3.3 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN

Đội ngũ giáo viên GDQP&AN thông qua học tập bồi dưỡng thường xuyên nhằm cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực dạy học GDQP&AN, năng lực giáo dục và những năng lực kỹ thuật, chiến thuật theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Qua đó người giáo viên GDQP&AN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy cho nhiều bậc học, yêu cầu phát triển giáo dục của TTGDQP&AN, yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục GDQP&AN

1.3.4 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN

Ngoài những nội dung bồi dưỡng chủ yếu cho giáo viên nói chung, giáo viên TTGDQP&AN cần phải được bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ, trình

độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá HS,

SV, đạo đức chính trị, quan điểm của Đảng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân Bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ…, Từ đó đáp ứng được các công việc chủ yếu sau đây:

- Truyền đạt những chân lý khoa học của môn học GDQP&AN

- Hỗ trợ và tạo điều kiện để HS, SV học hỏi kiến thức, hình thành kỹ năng thực hành GDQP&AN

Trang 37

- Tích luỹ kiến thức, hiểu và nắm vững những điểm mới trong chương trình GDQP&AN; nâng cao năng lực sư phạm, nắm vững yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học; có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tương tác để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong TTGDQP&AN

- Củng cố các kết quả bồi dưỡng của các năm, các chu kỳ, trên tinh thần

tự học tự bồi dưỡng của giáo viên

Các nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở TTGDQP&AN gồm:

- Bồi dưỡng chuyên môn về đổi mới GDQP&AN

- Bồi dưỡng năng lực chuyên môn

- Bồi dưỡng phương pháp dạy học tiên tiến

- Bồi dưỡng ứng xử sư phạm

- Bồi dưỡng tác phong sư phạm quân sự

- Bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ, sử dụng bảng thông minh dạy GDQP&AN

- Năng lực nghiên cứu khoa học

Phương pháp bồi dưỡng đảm bảo yêu cầu nghiêm túc, hấp dẫn, thiết thực hiệu quả Ngoài việc tổ chức nghe giảng, cần phát triển các hình thức: thảo luận, đối thoại, thực hành thao giảng, tham quan thực tế, thực hành soạn bài, sử dụng các thiết bị dạy học, thiết kế kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới

Trang 38

Quản lý, chỉ đạo học tập bồi dưỡng theo hướng thiết thực, hiệu quả Chú trọng hơn tới hình thức học tập theo tổ, nhóm chuyên môn

Các phương pháp bồi dưỡng chuyên môn:

- Phương pháp bồi dưỡng trực tiếp

- Phương pháp bồi dưỡng gián tiếp

- Phương pháp giao việc

- Phương pháp phân công

Các hình thức bồi dưỡng chuyên môn:

- Bồi dưỡng dài hạn

- Bồi dưỡng ngắn hạn

- Bồi dưỡng theo từng chuyên đề

- Bồi dưỡng theo hình thức tự bồi dưỡng

- Bồi dưỡng theo hình thức đón đầu

- Tham gia hội thảo, hội thi, hội giảng

- Bồi dưỡng từ xa

1.4 Quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN

1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

Nắm chắc tình hình đội ngũ giáo viên để lập kế hoạch bồi dưỡng phù hợp

và sát thực Lập kế hoạch phải có tính khoa học, lâu dài; phải dựa vào kế hoạch

của Bộ, Vụ QP&AN, Bộ tư lệnh Thủ Đô…; phải đảm bảo các nội dung: mục

tiêu, chỉ tiêu, biện pháp thực hiện, điều kiện (các nguồn lực) thực hiện…

Giáo viên xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn của cá nhân, tổ bộ môn, khoa, Trung tâm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong đơn vị

Kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phải xác định được các vấn đề sau:

- Mục tiêu bồi dưỡng

- Đối tượng bồi dưỡng

- Nội dung bồi dưỡng

- Kế hoạch tổ chức cụ thể

Trang 39

1.4.2 Tổ chức thực hiện và đánh giá

Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN được tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã xây dựng Việc tổ chức thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN cần có sự thống nhất về kế hoạch giữa TTGDQP&AN và cơ sở đào tạo (Bộ tư lệnh Thủ Đô, Vụ giáo dục Quốc phòng…)

Đánh giá kết quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN dựa vào kết quả bồi dưỡng của từng giáo viên trong từng nội dung bồi dưỡng (lĩnh hội được tri thức, kĩ năng và khả năng vận dụng tri thức, kĩ năng vào công tác giảng dạy …); dựa vào kết quả bồi dưỡng của tập thể giáo viên trong từng nội dung bồi dưỡng (số người thực tham gia bồi dưỡng so với dự kiến,

số giáo viên đạt kết quả bồi dưỡng tốt trên tổng số giáo viên tham gia…) Điều đặc biệt cần lưu ý trong việc đánh giá công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN là đánh giá ý nghĩa thiết thực của các đợt bồi dưỡng chuyên môn đối với việc nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy đào tạo tại TTGDQP&AN

1.4.3 Xây dựng các chế độ, chính sách về bồi dưỡng giáo viên QP&AN

Sau mỗi đợt bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN, Ban Giám đốc TTGDQP&AN tổ chức họp các giáo viên tham gia bồi dưỡng đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm TTGDQP&AN cũng tổ chức hội thảo về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN Từ thực tế tổ chức thực hiện

và kết quả thu được sau các đợt bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, Ban giám đốc TTGDQP&AN cùng các lãnh đạo Khoa, Bộ môn, Phòng ban trực thuộc trung tâm xây dựng các chế độ, chính sách về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN

Trang 40

Kết luận chương 1

Đội ngũ giáo viên QP&AN là lực lượng nòng cốt, biến các mục tiêu GDQP&AN thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả GDQP&AN Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên QP&AN cần tiến hành công tác BDGV theo chuẩn đã được Bộ GD&ĐT, Vụ GDQP&AN quy định Đặc biệt việc bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên QP&AN cả về phẩm chất, năng lực, trình độ và phương pháp

sư phạm phù hợp với đối tượng đào tạo đa dạng, ngày càng phát triển Việc bồi dưỡng cũng đáp ứng yêu cầu mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo” theo quan điểm của Đảng, đặt ra

yêu cầu cao của việc nâng cao chất lượng GDQP&AN trong thời gian tới

Nội dung chương 1 đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN Từ đó phân tích và chỉ rõ những yêu cầu về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên QP&AN

Ngày đăng: 05/01/2018, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. C. Mac - Ph.Anghen (1993), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mac - Ph.Anghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
13. Hà Văn Công, “Giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 62/TW của Bộ Chính trị”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 62/TW của Bộ Chính trị”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
14. Nguyễn Thị Doan, “Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
20. Trần Kiểm (2002), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý nhà trường phổ thông
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
21. Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền (2006), Quản lý và lãnh đạo nhà trường, Giáo trình khoa Quản lý Giáo dục - Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và lãnh đạo nhà trường
Tác giả: Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền
Năm: 2006
22. Phạm Ngọc Liên, “Kết hợp giảng dạy lịch sử với quốc phòng cho thế hệ trẻ”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp giảng dạy lịch sử với quốc phòng cho thế hệ trẻ”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
23. Ngô Duy Lý, “Xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường quân đội”, Tạp chí Nhà trường quân đội. số 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường quân đội”, "Tạp chí Nhà trường quân đội
24. Hồ Chí Minh, Toàn tập,t4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr,7, 34-35 25. Thủ Tướng Chính Phủ Quyết định Số: 412/QĐ-TTg ngày 10/04/2012 Phêduyệt Quy hoạch Hệ thống Trung tâm GDQP - AN sinh viên giai đoạn 2011 – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập,t4", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr,7, 34-35 25. Thủ Tướng Chính Phủ "Quyết định Số: 412/QĐ-TTg ngày 10/04/2012 Phê
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 81/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24/12/2007 ban hành chương trình giáo dục quốc phòng - an ninh trình độ đại học, cao đẳng Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học GDQP&AN Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2007), Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDQP&AN sinh viên Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2008, 2011, 2012), Quy định về liên kết GDQP&AN của các cơ sở giáo dục đại học Khác
6. Bộ Chính Trị, chỉ thị số: 417/CT-TTg ngày 31/03/2010 về tăng cường công tác Giáo dục quốc phòng - an ninh Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 5367/QĐ-BGDĐT ngày 26/10/2011 ban hành Chương trình đào tạo giáo viên GDQP&AN, trình độ đại học Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 3141/QĐ-BGDĐT ngày 20/08/2012 ban hành chương trình đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng - an ninh, văn bằng 2 trình độ đại học Khác
9. BQP-BGDĐT-BLĐTBXH, số123/2015/TTLT ngày 05/11/2015 quy định tổ chức, hoạt động của trung tâm GDQP&AN; liên kết GDQP&ANcủa các trường CĐ, cơ sở GDĐH Khác
11. Chính phủ, Nghị định số: 165/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về biệt phái sĩ quan QĐND VN Khác
12. Chính phủ, Nghị định số: 116/2007/NĐ-CP ngày 10/07/2008 về Giáo dục quốc phòng - an ninh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w