1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao

141 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 4,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó là sự giúp đỡ của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ K ế hoạch và đầu tư, các đơn vị, địa phương, các nhà khoa học trong và ngoài Bộ, sự chỉ đ

Trang 1

MGHiÊN CỨU GIA CẦM THỤV PHƯƠNG

TS PHÙNG ĐÚC TIẾN

Kỷ thuật sẩn xuất

THỊT GÀ AN TOÀN CHẤT LƯỢNG CAO

Trang 2

VIỆN CHẢN NUÔI TRUNG TÂM NGHIÊN cứu GIA CẨM THỤY PHƯƠNG

K ỹ thuât sản xuất

THỊT GÀ AN TOÀN CHẤT LƯỢNG CAO

Trang 4

TRUNG TÂM NGHIÊN cứu GIA CẦM THỤY PHƯƠNG

- VIỆN CHĂN NUÔI ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRlỂN

TS Phùng Đức Tiến

Giám đốc Trung tâm

Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương được thành lập theo quyết định số 47NN - TCCB/QĐ ngày 17 tháng 02 năm

1989 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT Ra đời trên tiền đề là tổ, đội, trại gia cầm Thụy Phương được xây dựng từ những năm đầu thập

kỷ 70 của thế kỷ 20, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, đối tượng nghiên cứu đơn điệu không có tác động lớn đến sản xuất Khi thành lập Trung tâm cũng là lúc nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nông nghiệp nông thôn đi vào công cuộc đổi mới Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đối diện vói

sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường, cơ sỏ vật chất của hình thức chăn nuôi tập thể bị xoá sổ, nhiều đơn vị chăn nuôi tập trung bị giải thể hoặc thua lỗ kéo dài

Trước bối cảnh như vậy, Trung tâm đã lựa chọn hướng đi đúng với những giải pháp chuẩn xác vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước vào các hoạt động Bên cạnh đó là sự giúp đỡ của Bộ Nông nghiệp và PTNT,

Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ K ế hoạch và đầu

tư, các đơn vị, địa phương, các nhà khoa học trong và ngoài Bộ,

sự chỉ đạo của Viện Chăn nuôi nên Trung tâm đã không ngừng lớn mạnh toàn diện

Trang 5

Với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đối tượng ngày càng đa dạng, phong phú từ các giông bản địa đến các dòng giống nhập nội và các dòng giống chọn tạo trong nước trên cơ sở các nguồn gen sẩn có như gà lông màu Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo, gà tre, Tam Hoàng 882, Hang cun, Lương Phượng, ISA, Sasso; gà chuyên trứng Goldline, Brownick; gà chuyên dụng hướng thịt Plymouth Rock, Hybro, Ross 208, Ross 308, Marshall, Hubar, Cobb; các dòng gà đặc sản như gà Thái Hoà, gà Ác, gà Sao, gà Tây, gà

H ’mông, chim câu Pháp; thuỷ cầm như ngan nội, ngan Pháp R51, R71, Superheavy, vịt Super M2, super M3, vịt Star 53, Star

76, đà điểu, cá sấu, nhiều dòng giống lần đầu tiên vào Việt Nam Ngoài các lĩnh vực di truyền chọn giống, thức ăn dinh dưỡng, ấp trứng, an toàn sinh học, thú y phòng bệnh, xây dựng mô hình, Trung tâm đang tập trung vào lĩnh vực an toàn thực phẩm, môi trường chán nuôi, tế bào gốc, protein dược liệu, dung dịch hoạt hoá điện hoá Như vậy, từ nghiên cứu cơ bản có định hướng ứng dụng đến nghiên cứu triển khai đều được đẩy mạnh

Những năm đầu chỉ là một số đề tài thí nghiệm ở cấp cơ sở quy mô nhỏ nhưng đến nay Trung tâm đã phối hợp vói Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Thành Tây, Viện Công nghệ sinh học, Viện công nghệ thực phẩm - Bộ công nghiệp, Viện dinh dưỡng - Bộ Y tế, Viện thú y quốc gia, Cục thú y, Viện công nghệ môi trường - Viện Khoa học công nghệ Việt Nam, Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam, Hội chăn nuôi Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao TBKT chăn nuôi, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc, Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Trạm nghiên cứu thử nghiệm thức ăn, Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền Trung, Công

ty Tư vấn dịch vụ phát triển chăn nuôi, các bộ môn của Viện

Trang 6

Chăn nuôi, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, các đơn vị chăn nuôi gia cầm của Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam, Công ty cổ phần Phúc Thịnh, Liên hiệp hội khoa học Thanh Hoá, Sở khoa học công nghệ các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Cao Bằng, Bấc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hoá triển khai 7 đề tài phối hợp cấp Nhà nước, 3 đề tài độc lập cấp Nhà nước, 2 nghị định thư, 4 dự án p cấp Nhà nước, 50 đề tài cấp Ngành và phối hợp cấp Ngành, 5 dự án nông thôn miền núi của Bộ Khoa học và công nghệ.

Kết quả nghiên cứu khoa học đã xây dựng được hệ thống giống gà lông màu, gà công nghiệp, gà đặc sản, vịt chuyên thịt, ngan Pháp, đà điểu từ dòng thuần tới ông bà, sản xuất ra bố mẹ

và con thương phẩm có ưu thế lai phục vụ sản xuất Nhiều giống cấp ông bà được đưa vào danh mục giống gốc như các dòng ngan, gà LV, vịt Supermeat Sản phẩm khoa học còn là các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ dinh dưỡng cân bằng axitamin, bổ sung các chế phẩm sinh học phù hợp với các đối tượng và các lứa tuổi làm tăng năng suất từ 5 - 12%, quy trình ấp trứng cùng với thiết bị mới tăng tỷ lệ nở lên 7 - 13% so với những năm trước đây, quy trình an toàn sinh học, thú y phòng bệnh được áp dụng trên bình diện rộng làm lợi cho sản xuất hàng trăm tỷ đồng

Quy trình sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao từ chuồng nuôi tói bàn ăn được hoàn thiện tại hai vùng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống các số liệu đánh giá tình hình chăn nuôi gia cầm, giết Iĩiổ, mức độ ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chăn nuôi, đề xuất các cơ chế chính sách giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra về môi trường khi phát triển chăn nuôi

Trong quá trình triển khai nghiên cứu có 30 công trình được công nhận tiến bộ kỹ thuật, đang đề nghị công nhận tiến bộ kỹ

Trang 7

thuật cho 23 công trình, nhiều công trình khoa học công nghệ đạt giải thưởng lớn.

Nghiên cứu khoa học gắn vói sản xuất như một dòng chảy liên tục Trong những năm qua, Trung tâm đã bằng nhiều được truyển như tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, người chăn nuôi, các chủ trang trại khắp các tỉnh thành trong cả nước, phối hợp với đài truyền hình Việt Nam tổ chức hơn 40 lượt phát sóng, gần 20 lượt phát tin trên Đài tiếng nói Việt Nam, 52 lượt bài đăng tải trên các báo Nhân dân, Lao động, Đầu tư, Nông nghiệp , hàng trăm bài báo khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín, phối hợp vói Nhà xuất bản Nông nghiệp, Nhà xuất bản Lao động - xã hội xuất bản 28 đầu sách kể

cả chuyên khảo và hướng dẫn kỹ thuật cùng hàng- vạn tờ gấp phát cho các hộ chăn nuôi Phối hợp vói hệ thống khuyến nông, các Hội cựu chiến binh, Liên hiệp hội khoa học, Hội chăn nuôi, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các doanh nghiệp, các chủ trang trại, gia trại, chính quyền các địa phương, khắp các vùng sinh thái như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẩng, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng , xây dựng nhiều mô hình chăn nuôi gia cầm đậm nét trong sản xuất có doanh thu từ 100 triệu đến 5 tỷ đồng/năm Hàng năm Trung tâm cung cấp cho sản xuất hàng trăm ngàn con giống bố mẹ để sản xuất ra hàng chục triệu con gia cầm thương phẩm và những năm qua Trung tâm đã cấp hàng chục triệu gia cầm thương phẩm có chất lượng cao cho sản xuất, đã chuyển hơn 6.000 đà điểu vào 35 tỉnh thành như Cao Bằng, Bắc Cạn, Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hoà, Đà Nẩng, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bắc Ninh,

Trang 8

Bắc Giang, Hà Tây , Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào nuôi cho kết quả tốt.

Trung tâm phối hợp với các địa phương, các doanh nghiệp, các chủ trang trại xây dựng nhiều dự án phát triển chăn nuôi thu hút hàng trăm tỷ đồng vào sản xuất như Tổng công ty Khataco Khánh Hoà, Công ty Minh Hung Đà Nẵng, Dahaco Bắc Ninh, Trại ngan giống Bắc Giang, cơ sở sản xuất giống gia cầm Bắc Ninh, Công ty Quang Việt, Công ty xây dựng Cao Bằng, Tổng công ty đóng tàu Nam Triệu, Công ty TNHH Đồng Phú Hưng thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu đã thực sự thúc đẩy sản xuất và đón trước sản xuất, đóng góp tích cực cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng thu nhập cho người nông dân, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu vùng xa, vùng phên dậu của đất nước

Kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu và sản xuất làm căn cứ thực tiễn cho Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt các dự

án “Giống gà năng suất, chất lượng cao”; dự án “Nâng cao năng suất giống vịt, ngan” Nhờ có kết quả nghiên cứu và chuyển giao vào sản xuất tạo động lực quan trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm phát triển, nên từ một Trung tâm ít người biết, đến nay là địa chỉ tin cậy của hàng chục triệu nông dân từ miền núi phía Bắc tới đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, đổng bằng sông Cửu Long.Hợp tác quốc tế trong những năm gần đây được sự quan tâm của Viện Chăn nuôi, Trung tâm đã tham gia các đề tài trong dự

án Biodiva, điều tra đánh giá ảnh hưởng của dịch cúm do Canada

hỗ trợ, hợp tác với Cuba về cá sấu, cộng hoà dân chủ nhân dân Lào về chăn nuôi gia cầm và đà điểu, thực hiện nghị định thư vứi Hungary về gà tây, gà Sao, với Grimaud Freres Cộng hoà Pháp

Trang 9

về gà lồng màu, ngan, vịt Star; với Ân Độ về gà Marshall; với Trung Quốc về gà lông màu, đà điểu

Đồng thời với việc đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng được củng cố và

mở rộng Từ một trại nghiên cứu gia cầm xây dựng lạc hậu xuống cấp, diện tích nhỏ, trang thiết bị hầu như không có gì đến nay Trung tâm đã có Trạm nghiên cứu đà điểu Ba Vì vói hệ thống chuồng trại tương đối đồng bộ cho việc triển khai các đề tài dự án Tại Thụy Phương, cơ sở vật chất được củng cố từ khu hành chính đến các chuồng nuôi Trạm nghiên cứu gia cầm c ẩm Bình đang được quy hoạch và xây mới nhiều hạng mục công trình tạo nên một diện mạo mói đúng với tiềm năng sẵn có Để tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao Trung tâm triển khai 2 dự án: “Phát triển giống gà năng suất, chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010” Xây dựng trại giống

gà ông bà vói quy mô 13.000 mái sinh sản trên diện tích 35,4 ha tại Phổ Yên, Thái Nguyên; Dự án: “Cải tiến nâng cao chất lượng vịt, ngan giai đoạn 2006 - 2010” đang được triển khai tại c ẩm Giàng, Hải Dương Để hoàn thiện và khép kúi từ nghiên cứu đến sản xuất, Bộ Khoa học và công nghệ giao cho Trung tâm triển khai dự án nông thôn miền núi tại Hải Dương vói nội dung quan trọng là xây dựng một nhà máy giết mổ với trang thiết bị hiện đại tại Lương Điền, cẩm Giàng Trung tâm sẽ triển khai Trạm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tại Hàm Thuận Nam - tỉnh Bình Thuận vào đầu năm 2008

Thực hiện quyết định 705 ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt đề án chuyển đổi Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương sang hoạt động theo cơ chế

tự trang trải kinh phí quy định tại Nghị định 115/2005/NĐ - CP

Trang 10

của Chính phủ, Trung tam sẽ thành lập Công ty cổ phần dịch vụ thương mại và phát triển chăn nuôi trong thời gian tới.

Trang thiết bị điều kiện làm việc cho cán bộ khoa học, công nhân viên cũng được thay đổi, hệ thống máy tính kết nối thông tin khu vực và thế giới thường xuyên Hộ thống chuồng trại và trang thiết bị đồng bộ được lắp đặt ở các cơ sở giảm bớt sức lực của người lao động vừa nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm vừa hạ giá thành, tạo sức cạnh tranh mạnh trên thị trường Các thiết bị nghiên cứu hiện đại phục vụ cho nghiên cứu tế bào gốc, protein dược liệu cũng được trang bị và sử dụng có hiệu quả.Trong quá trình hình thành và phát triển, Trung tâm luôn coi đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ vừa là động lực vừa là mục tiêu Chính vì vậy trong nhiều năm qua đã tập trung các nguồn lực cho công tác đào tạo đại học và sau đại học từ hơn 20

kỹ sư khi mới thành lập đến nay đã có đội ngũ hơn 100 cán bộ đại học và trên đại học, trong đó có 9 tiến sỹ, 26 thạc sỹ, 7 nghiên cứu sinh, 9 học viên cao học Đội ngũ cán bộ công nhân viên từ 81 người năm 1989 lên gần 300 người năm 2007 Do có lực lượng cán bộ công nhân viên được đào tạo chuyên sâu nên đã thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Ngoài việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho sự phát triển của đơn

vị, Trung tâm còn phối hợp với các Viện: Viện Dinh dưỡng, Viện công nghệ và thực phẩm, các trường: Đại học Bách Khoa

Hà Nội, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm I Hà Nội, Đại học Hồng Đức Thanh Hoá, Cao đẳng nông lâm Hà Bắc, Cao đẳng nông nghiệp Hà Nội, Cao đẳng nông nghiệp Hà Tây, Cao đẳng nông nghiệp Nam Định hướng dẫn luận văn cao học, thực tập tốt nghiệp và chuyên đề cho hàng trăm sinh viên

Trang 11

Với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, để nấm bắt được công nghệ tiên tiến, tranh thủ sự ủng hộ của nước ngoài, Trung tâm đã cử hơn 70 lượt cán bộ đi tham quan học tập tại nhiều quốc gia và lãnh thổ như Mỹ, ú c , Nhật Bản, Pháp, Hungary, Italia, Malaysia, Xingapo, Cộng hoà Sec, Nam Phi, Cu Ba, Trung Quốc, Ẩn Độ, Lào, Campuchia, Đan Mạch, Hà Lan, Thái Lan, Đài L o a n -

Trung tâm là đơn vị đầu tiên được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt đề án chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ - CP của Chính phủ Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để Trung tâm định hướng cho các hoạt động tạo đà phát triển những năm tới

Liên tục trong nhiều năm qua, Trung tâm thường xuyên quan tâm chăm lo tói đời sống việc làm của người lao động, mặc

dù hơn 4 năm qua phải đứng trước những khó khăn gay gắt nhưng đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên không ngừng nâng cao tạo sự phấn khỏi trong toàn Trung tâm.Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể được củng cố lớn mạnh không ngừng, có hai chi bộ vói gần 40 đảng viên, gương mẫu đi đầu trong các hoạt động, 3 chi đoàn vói hơn 70 đoàn viên

là lực lượng xung kích trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ

kỹ thuật, tập thể nữ chiếm 67% toàn Trung tâm là bộ phận quan trọng cấu thành sức mạnh của Trung tâm Các nhà khoa học nữ

đã được nhiều giải thưởng lớn Cá nhân TS Bạch Thị Thanh Dân

là một trong 8 tập thể và cá nhân được vinh danh vinh quang Việt Nam năm 2007; công đoàn Trung tâm được khen thưởng nhiều lần với hàng chục công đoàn viên tiên tiến, xuất sắc được nhận bằng khen, giấy khen của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn ngành nông nghiệp

Trang 12

Trong quá trình hình thành và phát triển, nhiều thời điểm Trung tâm đã vượt qua những khó khăn, thách thức, đặc hiệt giai đoạn từ cuối 2003 đến nay do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm và thay đổi cơ chế hoạt động nhưng Trung tâm vẫn đứng vững, đổi mói và đi lên trở thành một Trung tâm lớn nhất trong cả nước về nghiên cứu gia cầm, có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Với những thành tích đạt được, tập thể và

cá nhân của Trung tâm đã được Đảng và Nhà nước trao tặng 02 Huân chương lao động hạng H, 04 huân chương lao động hạng m ,

04 bằng khen của thủ tướng chính phủ, 01 cờ thi đua của Bộ Nông nghiệp và PTNT, 10 giải thưởng Bông lúa vàng và 02 huy chương tuổi trẻ vói sự nghiệp khoa học công nghệ, 09 huy chương vì Sự nghiệp xanh, 03 cúp vàng vì, Sự nghiệp xanh, 11 cúp vàng nông nghiệp, 26 huy chương vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp, 30 bằng lao động sáng tạo, 01 giải thưởng mai vàng hội nhập, tập thể cán bộ nữ khoa học được nhận giải thưởng Kovalevskaia, thương hiệu ban nhà nông Việt Nam năm 2005 giải thưởng nhà nước về khoa học công nghệ, giải thưởng Vifotex và nhiều bằng khen và giải thưởng khác Ngày 13 tháng 3 năm 2007, Chủ tịch nước ký quyết định số 253/2007/QĐ - C ĨN tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất cho Trung tâm

Nhìn lại chặng đường đã qua với bao thăng trầm và phát triển, tuy nhiên trên đây mới chỉ là bước đầu Những năm tói, đặc biệt từ nay đến 2010, trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu, đổi mới cơ chế hoạt động, đứng trước những thách thức không nhỏ nhưng cũng có những vận hội mới Để góp phần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, Trung tâm sẽ tập trung các nguồn lực triển khai tốt các đề

Trang 13

tài khoa học tạo các sản phẩm theo hướng hàng hoá khép kín, có sức cạnh tranh mạnh, phối hợp với các tổ chức, cá nhân, các địa phương chuyển tải nhanh kết quả vào sản xuất để xứng đáng hơn nữa vói niềm tin của hàng chục triệu nông dân trong cả nước Đẩy nhanh hơn nữa việc củng cố xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, chủ động đứng vững và phát triển khi chuyển sang cơ chế mới, mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp tục phối hợp vói các trường, các Viện đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ Triển khai các dự án đúng tiến độ, mở rộng sản xuất kinh doanh Không ngừng chăm lo nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, tiếp tục tăng cường và củng cố các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể xã hội, phấn đấu từ nay đến 2010 Trung tâm có diện mạo mói đóng góp tích cực hơn cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

Trang 14

CHĂN NUÔI GIA CẦM ỏ Nước TA

TS Phùng Đức Tiến, ThS Hoàng Văn Lộc,

TS Nguyễn Quý Khiêm

I THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI GIA CẦM Ở NƯỚC TA

1 Những kết quả đạt được

Sau 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tâng trưởng nhanh và bền vững vói giá trị sản xuất lón Ngành chăn nuôi đạt 9059,8 tỷ đồng năm 1986

và tăng lên 21.199,7 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 48.654,5

tỷ đồng chiếm 24,7% giá trị sản xuất nông nghiệp Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi Như vậy, chăn nuôi gia cầm chỉ đứng sau chăn nuôi lợn, có vai trò quan trọng trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Tổng đàn gia cầm 1986 có 99,9 triệu con, đến 2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng đầu con bình quân 7,85%/năm Trong đó số lượng đàn gà thời gian 1990 - 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng dịch cúm số lượng đầu con có giảm Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con trong đó gà 152 triệu con, thuỷ cầm 62,6 triệu con Một số vùng kinh tế sinh thái có số lượng gia cầm lớn như: vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc bộ là hai vùng có

số lượng gia cầm lớn nhất tương ứng 58,4 và 42,5 triệu con;

Trang 15

Đồng bằng sông Cửu Long 36,4 triệu con (chủ yếu là thủy cầm); vùng Bắc Trung bộ 33,2 triệu con, Đông Nam bộ 15,4 triệu con, Duyên hải miền Trung 12,5, Tây Bắc 8,8 triệu con, Tây Nguyên 7,8 triệu con.

Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà công nghiệp như: AA; Avian; Ross; ISA; Brown nick; Goldline; Hyline ; các giống vịt Super M, c v

2000 Layer, Khakicampbell; ngan Pháp R51, R71 Gà broiler trước đây phải nuôi 55 - 56 ngày, nay chỉ còn 42 - 45 ngày, khối lượng cơ thể đạt 2,1 - 2,3 kg/con, tiêu tốn 1,9 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà trứng thương phẩm 4 dòng cho năng suất 270 - 280 quả/mái/năm Đồng thòi với việc đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp, từ năm 1995 đã tập trung nghiên cứu và phát triển gà chăn thả năng suất chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc Các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabứ, ISA, Sasso, gà Ai cập cho chất lượng thịt, trứng ngon như gà địa phương nhung năng suất thịt, trứng cao hơn 130 - 150% Các giống gà lông màu được thị trường ưa chuộng nên phát triển tương đối nhanh.Năm 2002, thông qua chương trình hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam - Hungary đã nhập 3 dòng gà Sao phát triển tốt trong sản xuất Bên cạnh việc nhập nguồn gen quý năng suất cao, khai thác các điều kiện thiên nhiên ưu đãi như đồng bãi chăn thả, các nguồn thức ăn tận dụng đã có nhiều công trình nghiên cứu phục tráng, chọn lọc nâng cao năng suất các nguồn gen gia cầm bản địa

Đối vói vịt thịt nuôi sinh sản: năng suất trứng đạt từ 220 - 240 quả/mái/năm Vịt Super M thương phẩm nuôi 50 - 55 ngày tuổi đạt 3,3 - 3,5 kg/con Vịt siêu trứng đạt 250 - 270 quả/mái/nãm

Trang 16

Ngan Pháp cho năng suất cao hơn ngan nội từ 135 - 155%, nuôi thịt 70 - 80 ngày tuổi cho khối lượng 3,1 - 3,3 kg/con.

Đồng thòi với kết quả nghiên cứu về di truyền, chọn giống được áp dụng vào sản xuất, các công trình nghiên cứu về thức ăn dinh dưỡng, ấp trứng, thú y phòng bệnh cũng có nhiều thành công và được người chăn nuôi nhanh chóng áp dụng Khoa học công nghệ đã góp phần làm tăng tổng sản lượng thịt, trứng gia cầm trên phạm vi toàn quốc

Về sản lượng thịt gà: Trong tổng số 185 triệu con, có khoảng

50 triệu gà mái đẻ các loại, 135 triệu gà nuôi thịt bao gồm 35 triệu gà công nghiệp và lông màu, gần 100 triệu gà địa phương Hàng năm, có thể sản xuất được 650.000 tấn thịt (trong đó, ước tính thịt gà công nghiệp là 120.000 tấn, thịt gà lông màu là150.000 tấn, thịt gà địa phương là 280.000 tấn và 100.000 tấn thịt gà mái đẻ thải loại) Trong tổng số 650.000 tấn thịt gà, có khoảng 70.000 tấn gà giống để tái tạo đàn, còn lại 580.000 tấn thịt gà thương phẩm

Về sản lượng thịt vịt, ngan: Trong tổng số 69 triệu vịt, ngan,

có 9 triệu vịt ngan nuôi công nghiệp, 12 triệu mái đẻ và 48 triệu vịt, ngan nội nuôi thịt Hàng năm, đàn vịt, ngan này có thể sản xuất được 226.000 tấn thịt (gồm 90.000 tấn thịt vịt, ngan công nghiệp, 118.000 tấn thịt vịt ngan nội địa và 18.000 tấn thịt vịt ngan đẻ thải loại) Khối lượng vịt, ngan giống thuộc đàn hậu bị

để tái tạo đàn là 16.000 tấn, còn lại là 210.000 tấn thịt ngan, vịt

thương phẩm

Về sản lượng trứng gia cầm năm 2003 đạt 4,79 tỷ quả, trong

đó có khoảng 3,1 tỷ quả trứng gà và 1,69 tỷ quả trứng vịt các loại Năm 2006 sản lượng trứng đạt 3,97 tỷ quả

Trang 17

Trong thời gian qua, một số giống gia cầm cao sản nhập nội chủ yếu là giống bố mẹ, thương phẩm, mặt khác nuôi trong điều kiện trang thiết bị lạc hậu xuống cấp, chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý nên không phát huy được tiềm năng con giống, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn nhiều hạn chế.

Việc sử dụng thức ăn chăn nuôi tại chỗ chưa hợp lý, mất cân đối về giá trị dinh dưỡng: bảo quản, chế biến nguyên liệu thức ăn kém nên bị mốc, mọt, độc tố nhiều Thức ăn sản xuất ra bán với giá cao ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi

Công tác thú y chưa đảm bảo được an toàn dịch bệnh nên tỷ

lệ nuôi sống của đàn gia cầm nuôi chăn thả trong dân thấp, đặc biệt dịch cúm gia cầm còn đang diễn biến phức tạp gây cản trở cho sự phát triển sản xuất

Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy như Pháp lệnh Thú y, Pháp lệnh về quản lý giống vật nuôi nhưng trên thực tế chưa đi sâu vào cuộc sống

Quản lý thị trường còn nhiều yếu kém, giống và sản phẩm chăn nuôi nhập lậu chưa được ngăn chặn triệt để gây khó khãn cho các cơ sở sản xuất trong nước đồng thòi không kiểm soát được nguồn lây lan dịch bệnh

Trang 18

Ngành gia cầm chưa quỵ hoạch theo hướng gắn nguyên liệu với chế biến, mất cân đối giữa các vùng, miền do đó chưa phát huy được lợi thế so sánh của các vùng kinh tế sinh thái.

Thị trường trong nước gặp nhiều khó khăn Xuất khẩu chưa tìm kiếm được thị trường ổn định; xúc tiến thương mại, thông tin thị trường còn yếu kém; hệ thống chế biến sản phẩm còn ít; thiết

bị thô sơ và lạc hậu

Chính sách hỗ trợ khuyến nông còn nhỏ bé và hạn chế, hoạt động mang nhiều tính hành chính

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn thấp và chưa có trọng tâm Nhiều mô hình về KH - CN chưa được nhân rộng trong sản

xuất, lực lượng cán bộ khoa học ở địa phương vừa yếu vừa thiêu

trầm trọng Đào tạo huấn luyện cho người chăn nuôi còn yếu kém.Các nguồn vốn tín dụng vào chăn nuôi gia cầm còn hạn chế Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách N hà nước chưa được thỏa đáng Vốn đầu tư trực tiếp FDI, nguồn vốn trong dân, nguồn kiều hối, ODA chưa được huy động nhiều vào sản xuất

n ĐÀN GIỐNG GIA CẦM QUỐC GIA HIỆN NAY

Từ 7.700 vịt giống ông bà, hàng năm có thể cung cấp200.000 vịt giống bố mẹ cho sản xuất và 31 triệu vịt thương phẩm với 69.700 tấn thịt vịt hoi

Trang 19

Với 4.000 ngan giống gốc có thể cung cấp 72.600 ngan giống bố mẹ để sản xuất ra 5,8 triệu ngan nuôi thịt, tương đương 1.500 tấn thịt ngan mỗi năm.

Các cơ sở nuôi giữ gia cầm giống gốc được phân bố như sau: miền Bắc có 9/12 cơ sở chiếm 75,0%;- miền Trung 1/12 cơ sở chiếm 8,3% và miền Nam 2/12 cơ sở chiếm 16,7%

Số lượng gia cầm giống gốc được nuôi giữ ở miền Bắc là 27.700 con, chiếm 78,82%; miền Trung nuôi giữ 1.000 con bằng 2,88% và miền Nam là 5.000 con, chiếm 14,4% tổng số gia cầm giống gốc cả nước

Số lượng và sự phân bố đàn gia cầm giống gốc năm 2006

T T C o sỏ nuôi giữ G à Vịt Ngan Ngỗng Tổng

Trang 20

2 Chương trình dự án giống quốc gia

Để phát triển chăn nuôi gia cầm, từ năm 2000 Nhà nưóe đã đầu

tư cho Chương trình giống với 3 dự án: dự án phát triển gà chăn thả năng suất chất lượng cao 2000 - 2001, dự án nhân giống vịt, ngan

2000 - 2001, dự án phát triển giống vịt ngan 2002 - 2005

Mục tiêu: tổ chức chọn lọc và cải tạo một số giống gia cầm địa phương để nâng cao năng suất, chất lượng giống; đồng thòi xây dựng hệ thống cung ứng gia cầm năng suất cao theo mô hình hình tháp, nâng cao thị phần sản xuất thịt, trứng gia cầm công nghiệp do các doanh nghiệp trong nước sản xuất ra

Sau các năm thực hiện, các dự án đã hoàn thành tốt nội dung được phê duyệt Chọn lọc nâng cao các giống gia cầm trong nước, nhập và nhân nhanh phục vụ sản xuất con giống có năng suất chất lượng cao như: gà Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng, Sasso, ISA color; ngan Pháp R51 - R71, vịt cv Super M2, cv

2000 Layer Nhập các thiết bị thí nghiệm, hệ thống chuồng nuôi

và máy ấp nở hiện đại đồng bộ

Các dự án đã cung cấp cho sản xuất hàng trăm nghìn con giống bố mẹ có năng suất, chất lượng cao để sản xuất ra hàng chục triệu gia cầm thương phẩm Đặc biệt trong dịch cúm gia cầm vừa qua, nhờ làm tốt công tác thú y phòng bệnh và an toàn sinh học nên các cơ sở đã bảo vệ được đàn giống góp phần tích cực vào việc phục hồi, phát triển chăn nuôi gia cầm sau dịchNgày 10/01/2006 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 17/2006/QĐ - TTg về việc tiếp tục thực hiện chương trình giống cây trồng vật nuôi và giống cây công nghiệp đến năm 2010.Trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt:

Trang 21

Dự án “Phát triển giống gà chất lượng cao” với tổng vốn kinh phí dư toán đầu tư 75 tỷ đồng nhằm mục tiêu tâng cường năng lực cho ngành chăn nuôi gà theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, chủ động hội nhập, đáp ứng nhu cầu thực phẩm của xã hội.

Dự án “Cải tiến nâng cao chất lượng giống vịt ngan” có kinh phí đầu tư 36,8 tỷ đồng vói mục tiêu triển khai sản xuất giống vịt, ngan năng suất chất lượng cao thẹo phương thức tiên tiến trên cơ sở tăng cường năng lực cho các đơn vị 'nuôi giữ giống gốc, góp phần hoàn thiện hệ thống sản xuất giống vịt, ngan đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi thuỷ cầm theo hướng cổng n ghiệp hoá có quy mô và tỷ xuất hàng hoá cao

Thực hiện hai dự án trên tạo bước tiến quan trọng trong việc nâng cấp cơ sở hạ tầng sản xuất giống, hoàn thiện hệ thống sản xuất giống từ cấp ông bà đến con thương phẩm đảm bảo tiêu chí

- TCT Chăn nuôi Việt Nam: 6 cơ sở ở miền Bắc

- Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam: 1 cơ sở

Trang 22

1.3 Các trang trại tư nhân và chăn nuôi hộ gia đình

Tính đến cuối năm 2003, cả nước có 2.260 trang trại chăn nuôi gia cầm, chiếm 26% tổng số trang trại chăn nuôi; quy mô1.000 - 14.000 con, bình quân 2.000 - 3.000 con/trang trại Năm

2006 số trang trại chăn nuôi gia cầm tăng lên 2873 trang trại, chiếm 16,0% tổng trang trại chăn nuôi cả nước Trong đó tổng trang trại chăn nuôi gà là 1.950, chăn nuôi vịt là 668, trang trại gia cầm giống là 219 trang trại Trong đó, một số tỉnh có số lượng trang trại lớn như: Hà Tây 392 trang trại, Đồng Nai 281 trang trại, Bình Dương 208 trang trại; Thanh Hóa 106 trang trại; Đồng bằng sông Cửu Long 238 trang trại Quy mô trang trại từ

2000 đến 10.000 con chiếm 90%

1.4 Công ty nước ngoài

Có 4 công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gia cầm ở Việt Nam: Công ty TNHH CP Việt Nam, Công ty TNHH JAFFA Comíeed, Công ty TNHH Cargill Việt Nam, Công ty TNHH Proconco Năm 2002 - 2003, các công ty giống nước ngoài chiếm khoảng 65 - 70% thị trường gà công nghiệp hướng thịt và hướng trứng tại Việt Nam

Trang 23

2 Phân bố theo quy mô đàn gia cầm

Phân bố trang trại theo quy mồ chăn nuôi

Phương thức chăn nuôi Quy mô

(con)

S ố lượng trang trại

Tỷ lê (% )

SL quay vòng (lần)

T ỷ trọng sấn xuất (% )

C hăn nuôi truyền thống

(C hăn nuôi gia đình)

C hăn nuôi công nghiệp > 2 0 0 0 2 000 1,73 • 4 - 5 20

Nguồn: Thomas Delquigny và ctv, 2004.

3 Phân bố trang trại theo lãnh thổ và mật độ

Các trại nuôi gia cầm có mặt khắp đất nước V iệt Nam Xét về tổng thể m ật độ phân bố trang trại có sự dao động theo vùng, miền

M ật độ thưa nhất 12 trại/km2 tập trung ở các tỉnh:

+ Miền núi phía Bắc: Cao Bằng, Lai Châu, Bắc Kạn, Sơn La.+ Các tỉnh miền Trung: Quảng Bình, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước

+ Các tỉnh ven biển: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận,

Trang 24

4 Phân bố trang trại theo dân cư

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trung bình 13 người/1 trang trại nuôi gia cầm, trong đó có sự khác biệt lớn giữa miền Bắc và miền Nam

Miền Bắc: Trung bình 6,5 người/1 trang trại gồm các tỉnh: Thái Bình, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Nam, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Nam Định, Thanh Hóa Có thể cho rằng hầu như các hộ gia đình ở những tỉnh trên đều nuôi gia cầm

Miền Nam: Trung bình 13 ngưòi/1 trang trại tập trung ở các tỉnh: Bình Thuận, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, An Giang, Khánh Hòa, Bạc Liêu, Bà Rịa, Sóc Trăng, Tp Hồ Chí Minh.Như vậy, sự khác biệt giữa 2 miền có nguyên nhân đặc thù:

ở miền Nam, tỷ lệ các trại nuôi công nghiệp và bán công nghiệp cao hơn so với miền Bắc

5 Phân tích theo cơ cấu giống và sản phẩm gia cầm sản xuất

Giống gia cầm nuôi trong các loại hình trang trại rất phong phú và đa dạng: gà, vịt, ngan, gà Tây, gà Nhật, chim cút

Những trang trại gia đình có quy mô nhỏ chỉ nuôi giống địa phương, trang trại công nghiệp hoặc bán công nghiệp nuôi giống gia cầm nhập nội hoặc các con lai

Có sự chuyên môn hóa theo vùng và các loại gia cầm sản xuất ở Việt Nam:

+ Miền Bắc chủ yếu sản xuất gà chiếm 75% trong vùng.+ Miền Nam và miền Trung chủ yếu sản xuất vịt chiếm 66% trong vùng

Trang 25

IV PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG

ở Việt Nam tồn tại 3 hình thức chăn nuôi gia cầm đó là chăn nuôi truyền thống, bán công nghiệp và công nghiệp

1 Chăn nuôi truyền thống (theo hộ gia đình)

Đây là loại hình chăn nuôi gia cầm phổ biến nhất, được hình thành từ lâu đời với phương thức tự cung tự cấp, phát triển các giống gia cầm địa phương mang tính vùng miền Đặc điểm của loại hình này là đầu tư ít, chăn thả tự do, thời gian nuôi kéo dài mỗi năm 2 - 2,5 lứa và hiệu quả kinh tế thấp

Việc cung ứng giống gia cầm chủ yếu là tự nhân giống, từ các hộ lân cận hoặc từ các trang trại tư nhân hay trại nhà nước thông qua người phân phối

Sản phẩm gia cầm được tiêu dùng trong gia đình hoặc bán ra vói một lượng nhỏ tại các chợ hoặc thông qua trung gian là ngưòi thu gom

Loại hình chăn nuôi gia đình hoạt động theo chu trình khép kín và sản xuất khoảng 65% lượng gia cầm được tiêu thụ

ở V iệt Nam

2 Chăn nuôi bán công nghiệp

Bao gồm các trang trại chăn nuôi với số lượng gia cầm mỗi lứa hàng trăm con, mỗi năm 3 - 4 lứa, tổng số gia cầm hàng năm

từ 500 đến 2.000 con Đặc điểm của loại hình này là vốn đầu tư vừa phải, vòng quay nhanh

Việc cung ứng giống chủ yếu từ các cơ sở nhà nước, công ty liên doanh, công ty nước ngoài hoặc trang trại tư nhân

Sản phẩm gia cầm được tiêu thụ thông qua trung gian hoặc trực tiếp với người tiêu thụ

Trang 26

Loại hình chăn nuôi này sản xuất và tiêu thụ từ 10 -1 5 % sản lượng thịt gia cầm tại Việt Nam.

3 Chăn nuôi công nghiệp

Mô hình này mới được hình thành ở Việt Nam Đặc điểm là đầu tư lớn vói sự giám sát kỹ thuật chặt chẽ, chu kỳ chăn nuôi gà Broiler ngắn (5 lứa/năm), các giống gia cầm ngoại nhập có năng suất cao, tâng trưởng nhanh Việc cung ứng con giống chủ yếu từ các công ty nước ngoài hoặc các trang trại Nhà nước Sản phẩm của loại hình này được mua bán theo hợp đồng và chiếm khoảng

25 - 30% sản phẩm thịt gia cầm được tiêu thụ ở Việt Nam

Từ 3 phương thức chăn nuôi trên, chúng ta có thể hiểu chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam theo lĩnh vực thị trường gia cầm như sau:Gần 65% sản phẩm thịt gia cầm được sản xuất và tiêu thụ tại

chỗ Người dân ít có điều kiện tiếp cận vói những dịch vụ chăn

nuôi Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu tiêu dùng nội vùng, bày bán tại chợ, ít có sự mua bán lưu thông từ vùng này sang vùng khác Với loại hình này, kiểm soát thú y cấp độ Nhà nước còn hạn chế không theo dõi giám sát được

Khoảng 35% sản phẩm thịt gia cầm mang tính công nghiệp

và bán công nghiệp, tập trung chủ yếu vào khu vực Nhà nước và các trang trại tư nhân đang có xu hướng phát triển mạnh với sự tham gia của m ột số Công ty nước ngoài Mô hình này rất sôi động thông qua hoạt động vận chuyển mua bán con giống và các sản phẩm chăn nuôi qua mạng lưới phân phối từ ngưòi sản xuất qua người thu gom đến các đại lý cấp tỉnh, huyện và xã đến người mua là những trang trại chăn nuôi

Như vậy, hệ thống phân phối tiêu thụ bao gồm nhiều tác nhân Khó xác định phạm vi trong nước dẫn đến việc không xác

Trang 27

định được lai lịch nguồn gốc, xuất phát của gia cầm Không thể lập được mối liên hệ giữa địa điểm cung ứng và sản xuất.

Hệ thống sản xuất có đặc trưng chủ yếu là các trang trại nhỏ chỉ bán với số lượng ít, đầu tư cho sản xuất thấp và thiếu sự quan tâm tổ chức chăn nuôi dẫn đến không chú trọng theo dõi thú y,

kỹ thuật chăn nuôi, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả kinh tế không cao Tuy nhiên, đây là loại hình có vị trí quan trọng cho nông dân và cung cấp thực phẩm tại chỗ, không phải mua, ngoài ra có thể bán để tăng thu nhập

Hệ thống thu gom làm pha trộn các giống và các loại gia cầm có nguồn gốc khác nhau Gia cầm được giao bán với thời gian kéo dài làm ảnh hưởng đến chất lượng con giống

V MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHỤC HỚI VÀ PHÁT TRIỂN CHẢN NUÔI GIA CẦM

Để đạt mục tiêu đưa tổng đàn gia cầm tăng trưởng bền vững

9 - 10%/năm và đạt 229 triệu con vào năm 2006 Đến năm 2010, tổng đầu con đạt 282 triệu con trong đó có 233 triệu gà và 48,8 triệu thuỷ cầm Dự kiến đến năm 2015, tổng đầu con gia cầm đạt

397 triệu con Cần thực hiện tốt một số giải pháp dưới đây:

1 Q uy hoạch vùng chăn nuôi gia cầm

Sau dịch cúm gia cầm cho thấy sự bất cập của các cơ sở chăn nuôi trên phạm vi toàn quốc về thú y phòng bệnh và an toàn sinh học Do vậy, để phát triển nhanh và bền vững cần có sự điều tra quy hoạch ngành lại một cách khoa học hơn

2 Công tác giống

Tăng cường năng lực cho các cơ sở nuôi giữ giống gốc nhằm nhân nhanh giống bố mẹ có năng suất chất lượng cao phục vụ sản xuất

Trang 28

Triển khai tốt 2 dự án “Phát triển giống gà chất lượng cao” và

dự án “Cải tiến nâng cao chất lượng giống vịt ngan” hoàn thiện, phát triển hệ thống giống ba cấp: ông bà, bố mẹ và thương phẩm trên phạm vi toàn quốc, sử dụng triệt để ưu thế lai, đồng thời ứng dụng công nghệ tin học vào quản lý hệ thống giống

Trong nhũng năm tói đổng thời với việc nhập và phát triển các giống gia cầm cao sản cần đầu tư chọn lọc nhân thuần các giống gia cầm nội Lai tạo được các dòng gà chăn thả của Việt Nam, tiến tới chủ động con giống

3 Đẩy mạnh công tác thú y phòng bệnh tại các cơ sở nhân giống

Để phát triển vói tốc độ cao và bền vững chúng ta còn phải quan tâm hơn nữa tới công tác thú y phòng bệnh cho gia cầm, tăng cường trang thiết bị an toàn sinh học và thiết bị chẩn đoán, củng cố lại mạng lưới thú y cơ sở, phát hiện kịp thời và xử lý nhanh các ổ dịch phát sinh

4 Tăng cường đầu tu nghiên cứu khoa học và chuyển giao TBKT

Trong những năm tói Nhà nước cần tăng mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học để có nhiều công trình trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong chăn nuôi gia cầm Các kết quả nghiên cứu cần được hỗ trợ kịp thời để nhanh chóng góp đi vào đcd sống

xã hội góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi

5 Đẩy mạnh công nghiệp chế biến, đảm bảo vệ sinh thực phẩm

Nhà nước cần có quy hoạch lại hệ thống chế biến sản phẩm gia cầm, đồng thời đầu tư trang thiết bị hiện đại để đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng cao về thực phẩm

Trang 29

6 Trang thiết bị

Trong những năm qua, tuy đã có một số cơ sở được bổ sung trang thiết bị chăn nuôi tương đối hiện đại nhưng còn ít và chưa đồng bộ Nhìn chung phải gắn xây dựng mói và sử dụng trang thiết bị một cách hiệu quả hơn

7 Công tác đào tạo

Đẩy manh công tác đào tạo Đảm bảo trong 5 - 1 0 nãm tới đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ tương đương các nước trong khu vực Kết quả nghiên cứu đạt trình độ các nước có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển để chủ động hội nhập khi ta thực hiện cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại, AFTA(2006), APEC, hiệp ước thương mại Việt - Mỹ, WTO

8 Tăng cường công tác khuyến nông trên cơ sở xã hội hoá

Tăng cường hơn nữa công tác khuyến nông trong chăn nuôi gia cầm trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh chăn nuôi theo hướng trang trại góp phần đưa tỷ lệ trang trại chăn nuôi gia cầm tăng cao hơn

9 Sắp xếp lại các doanh nghiệp, đẩy nhanh cổ phần hóa, bán khoán cho thuê các đơn vị sản xuất giống gia cầm

Vói tinh thần phát huy nội lực và để đảm bảo tính chủ động cho các đơn vị sản xuất, cần rà soát lại hệ thống các doanh nghiệp trong ngành, đẩy nhanh hơn nữa công tác cổ phần hóa và giải thể các đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài

10 Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn vốn

Nhà nước cần có cơ chế chính sách để thu hút các nguồn vốn ODA, FDI, kiều hối, túi dụng và vốn nhàn rỗi trong dân

Trang 30

11 Mở rộng họp tác quốc tế

M ở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trên thế giói và khu vực để tranh thủ vốn và công nghệ

12 Sắp xếp lại các đơn vị nghiên cứu gia cầm

Tổ chức theo hướng gắn kết nghiên cứu với đào tạo, huấn luyện, hoa hoạc gắn với sản xuất, khoa học phải thực sự đón trước và thúc đẩy sản xuất Phát huy sức mạnh tổng hợp của đội ngũ, khác phục tình trạng chồng chéo, phân tán, xây dựng cơ quan khoa học “xuất sắc” có đủ năng lực tạo những đột phá về khoa học công nghệ

Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo động lực quyết định ch o sự phát triển bền vững chăn nuôi gia cầm ở nước ta trong những năm tới

Trang 31

Sản phẩm quan trọng nhất của ngành chăn nuôi gà là thịt Sản phẩm thịt gà cũng như bất cứ loại thịt nào khi trở thành hàng hoá đều có các tiêu chí quy định kiểm soát về an toàn thực phẩm

và chất lượng sản phẩm để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Quản lý chất lượng thịt gà là vấn đề không nhỏ đối với nhiều nước, chất lượng thịt gà được hiểu ngoài việc phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng cơ bản của thịt gà còn phải đảm bảo yếu tố vệ sinh theo quy định vệ sinh an toàn thực phẩm của quốc gia đó Tuỳ theo quy định của từng nước, từng khu vực mà người ta đặt ra các tiêu chuẩn cho chúng Năm 1982, tổ chức FAO và tổ chức Y tế thế giới WHO đã có một chương trình hỗn hợp FAO/WHO về tiêu chuẩn của chất lượng thực phẩm Uỷ ban tiêu chuẩn hoá quốc tế được thành lập (CAC) và hiện nay có 135 nước thành viên

Trang 32

Ở EU, người ta đặc biệt quan tâm đến thịt gà sản xuất bằng công nghệ nào, có nuôi bằng ngũ cốc biến đổi gen không? Như các nước Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, các sản phẩm chãn nuôi được thu gom giết mổ chế biến trong điều kiện vệ sinh nghiêm ngặt, yêu cầu vệ sinh đối với nhà xưởng, thiết bị, công nhân chế biến đều được quy định rất chặt chẽ trong các tiêu chuẩn, ở hầu hết các nước phát triển, việc sản xuất kinh doanh lưu thông thực phẩm đều được giám sát theo pháp luật Mỗi nước đều có luật riêng về thực phẩm rất sớm.

Từ trước tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng thịt gà ở các góc độ khác nhau nhưng đều chỉ rõ Salmonella, Campylobacter là 2 vi khuẩn hàng đầu gây ra ngộ độc thực phẩm Trẻ em có nguy cơ nhiễm Salmonella gấp 10 lần

ở người lớn Các kim loại nặng như: Chì (Pb); Cadini (Cd); thuỷ ngân (Hg) cũng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người Kháng sinh tồn dư trong thịt gà cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ ngưòi tiêu dùng Tiêu chuẩn nhập khẩu thịt gà vào Nhật Bản cho phép tồn dư: Oxytetracycline 0,3ppm ở gan; 0,6ppm ở thận; 0,lppm ở cơ; Suníađimidine 0,1 ppm ở gan, thận; 0,01 ở mố Codex (CAC) FAO quy định cho phép tồn dư trong thịt gà: Procaine benzylpenicillin 50|ag/kg trong cơ, gan,

mỡ Neomycin 500pg/kg; Oxytetracycline 100pg/kg Ngoài ra, Aílatoxin trong thịt gà cũng phải được kiểm soát một cách nghiêm ngặt

Ở Thái Lan, Bộ luật thực phẩm (Food Act) BE2522 năm

1979 gồm 78 điều, luật gồm 8 chương quy định khá tường tận

yêu cầu về chất lượng thực phẩm, tổ chức giám sát chất lượng,

xử phạt vi phạm Ở Malaysia có tên là “Luật thực phẩm 1983” Luật gồm 5 chương, 399 điều Ở các nước đang phát triển, công

Trang 33

nghiệp chế biến còn yếu kém, sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tiêu thụ tươi sống, điều kiện vệ sinh thực phẩm chưa tốt.

Tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm thịt, trứng, sữa được coi

là “sạch” , ở các nước khác nhau có khác nhau Tuỳ theo trình độ

và tập quán sử dụng, song nhìn chung gồm 3 yêu cầu chính: giá trị dinh dưỡng đặc thù của sản phẩm, mức độ nhiễm khuẩn và các chất tồn dư trong thực phẩm

Như vậy, để kiểm soát an toàn và chất lượng thịt gà cần phải chú ý đến các nhân tố như: các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt,

khả năng tích luỹ chất độc hại và vi sinh vật có hại ở các công

đoạn sản xuất Theo tạp chí FVO - 2001, ngày nay cần kiểm soát thực phẩm một cách hệ thống từ khâu sản xuất thức ăn đến chăn nuôi, giết mổ, chế biến thực phẩm và bán thực phẩm đến người tiêu dùng

Việc sản xuất thịt gà an toàn và chất lượng cao không chỉ đơn thuần ở một khâu nào m à phải bắt đầu từ việc lựa chọn giống, hệ thống từ đàn gà ông bà, bố mẹ đến con thương phẩm, chế độ dinh dưỡng, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình phòng bệnh, kiểm soát giết mổ, chế biến và vận chuyển tiêu thụ, như vậy phải kiểm soát từ chuồng nuôi đến bàn ăn

Có thể chia quá trình sản xuất thịt gà an toàn và chất lượng cao thành 3 công đoạn sau:

Công đoạn 1: Lựa chọn giống gà, quy trình sản xuất giống

thương phẩm và chăn nuôi gà thịt

Công đoạn 2: Giết mổ và chế biến thịt gà.

Công đoạn 3: Lưu thông thịt gà trên thị trường.

Trong mỗi công đoạn, khả năng tích luỹ các chất độc hại và

vi sinh vật có hại do tác động của nhiều khâu:

Trang 34

Đối với nước ta, những năm gần đây nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, đòi sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Nhu cầu của xã hội về thực phẩm cũng đi theo xu hướng an toàn và chất lượng cao Song thực trạng cũng như các nước đang phát triển, an toàn và chất lượng sản phẩm còn rất nhiều vấn đề bức xúc trong thực tế sản xuất và đời sống xã hội Thịt gà cũng như các loại thịt khác từ lâu chưa được kiểm soát chặt chẽ theo hệ thống từ sản xuất con giống, kỹ thuật chăn nuôi, thú y phòng bệnh, giết mổ, bảo quản và tiêu thụ Thịt gà chủ yếu giết mổ thủ công, bày bán tràn lan ở các chợ, mức độ an toàn và chất lượng sản phẩm còn nhiều bất cập.

Theo kết quả khảo sát mới đây của trường đại học Nông lâm

- thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong 149 mẫu thịt gà được kiểm ư a có đến 44,96% số mẫu có hàm lượng kháng sinh vượt quá mức quy định cho phép từ 2,5 - 1.100 lần so với tiêu chuẩn ngành Trong đó Cloramíenicol chiếm 87,5%; Flumequin chiếm 83,3%; Clotetracycline chiếm 62,5%; Amocilin 60% K ết quả

điều tra 628 hộ chăn nuôi gà nhận thấy ngưòi chăn nuôi sử dụng kháng sinh không hợp lý như: liều cao, dùng liên tục, làm cho người sử dụng sản phẩm chịu tác động bất lợi về sức khoẻ Theo tạp chí Nông thôn đổi mói số 48 năm 2003 cho biết, hiện trạng tổn dư kháng sinh trong thịt, trứng, sữa đang là vấn đề báo động gây hậu quả nghiêm ưọng đến sức khoẻ người tiêu dùng

Ngoài ra còn có những cơ sở sử dụng thức ăn có chất kích thích sinh trưởng, thức ăn nấm mốc trong chăn nuôi tạo ra sản phẩm không an toàn, chất lượng thấp ảnh hưởng tói quyền lợi người tiêu dùng

Từ những năm 1970 đến nay, chăn nuôi gà công nghiệp đã hình thành và phát triển với những giống gà chuyên thịt nổi tiếng được nhập và nuôi cho kết quả tốt như: gà Plymouth, Hybưo,

Trang 35

BE, Ross - 208, Ross - 308, Avian, Cobb, AA, Lahmann Theo

xu thế chung của th ế giới và vói nét văn hoá ẩm thực riêng, từ năm 2990 nước ta cũng triển khai nghiên cứu và phát triển nhiều giống gà lông màu năng suất chất lượng cao như: Tam Hoàng, Lương Phượng, Sasso, ISA, Kabir và các tổ hợp lai Mỗi năm cung cấp cho sản xuất hàng chục triệu con vói chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tiên tiến Năng suất trứng/mái/nãm đạt: 150 - 180 quả Tỷ

lệ phôi 92 - 96%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 82 - 84% Gà nuôi thịt đến 10 tuần tuổi đạt khối lượng 1,9 - 2,3kg/con Tiêu tốn thức ăn/kg tăng ữọng 2,6 - 2,9kg, tỷ lệ nuôi sống đạt 93 - 96% Chất lượng trứng thơm ngon được thị trường ưa chuộng Đồng thời với việc nghiên cứu về giống cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về thức ăn dinh dưỡng để nâng cao nâng suất và cho ra sản phẩm chất lượng cao Các công trình nghiên cứu đã xác định được mức năng lượng, proteỉn, cân bằng axit amin cho gà sinh sản và nuổi thịt Sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước để phục vụ chăn nuôi Một khâu quan trọng trong quy trình sản xuất giống gà đó là ấp trứng cũng được triển khai nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ và áp dụng vào sản xuất với kết quả ấp nở cao

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thú y phòng bệnh cho gia cầm nói chung và cho gà nói riêng Kết quả nghiên cứu

đã đưa ra được quy trình phòng trị bệnh cho gà bằng vaccine và thuốc kháng sinh, gốp phần năng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Từ cuối năm 2003 đến nay, dịch cúm gia cầm xuất hiện liên tục gây hậu quả nghiêm trọng cho người chăn nuồi và sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, đồng thời vdi thực trạng an toàn thực phẩm đang là vấn đề thòi sự đe dọa người tiêu dùng thịt gia cầm Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao

Trang 36

Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương triển khai đề tài:

“Nghiên cứu sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao

Đề tài đã triển khai đồng bộ cả hai khu vực Hà Nội và thành

phố Hồ Chí Minh Sau 3 năm triển khai cho thấy để sản xuất thịt

gà an toàn chất lượng cao thì phải làm tốt ở rất nhiều khâu như:

- Đối với đàn gà bố mẹ:

Phải kiểm tra định kỳ thức ăn sử dụng nuôi đàn gà bố mẹ đảm bảo hàm lượng aflatoxin, kim loại nặng: asen, chì, cadimi, thuỷ ngân đều dưới ngưỡng cho phép

Kiểm soát định kỳ nguồn nước uống cho đàn gà bố mẹ về , hàm lượng kim loại nặng: asen, chì, cadimi, thuỷ ngân và vi sinh vật đều dưới ngưỡng tiêu chuẩn cho phép dùng cho gà uống.Trong quá trình nuôi phải đảm bảo đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và chế độ dinh dưỡng trong các giai đoạn

- Kiểm tra huyết thanh với kháng nguyên bạch lỵ cần gửi mẫu kiểm tra tình hình nhiễm bạch lỵ của đàn gà bố mẹ, đảm bảo đàn gà bố mẹ khoẻ mạnh tỷ lệ sạch bệnh đạt 95 - 100%, đây cũng là yêu cầu quan trọng nuôi gà sinh sản tạo con thương phẩm sạch bệnh

- Giải ‘pháp khoa học công nghệ trong chăn nuôi gà thịtGiám sát và phân tích các nguyên liệu đầu vào: thức ăn, nước uống Kiểm ư a định kỳ thức ăn sử dụng cho đàn gà nuôi thịt cho thấy hàm lượng aflatoxin, kim loại nặng: asen, chì, cadimi, thuỷ ngân đều đạt dưới ngưỡng cho phép đảm bảo tiêu chuẩn dùng cho gà thịt (TCN 661 - 2006)

Nguồn nước cho đàn gà nuồi thịt giám sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng: asen: 0,002 - 0,003mg dưới ngưỡng cho phép (0,5mg), chì: 0,001 - 0,002 mg đạt dưới ngưỡng cho phép

Trang 37

(0,lm g), cadimi: 0,0001mg - vết dưới ngưỡng cho phép (0,02mg), thuỷ ngân: 0,00 lm g - vết dưói ngưỡng cho phép (0,003mg) và các chỉ tiêu vi sinh vật đều dưói ngưỡng cho phép đảm bảo tiêu chuẩn được dùng cho gà thịt.

Nguồn nước uống, thức ăn sử dụng nuôi gà thịt được kiểm tra định kỳ trong suốt quầ trình nuôi, đến tuổi giết thịt sản phẩm tiếp tục được kiểm tra hàm lượng aílatoxin, kim loại nặng và kháng sinh

Gà nuôi thịt được kiểm soát nguồn nước uống, thức ăn đảm bảo tiêu chuẩn cho phép, đến tuổi giết thịt sản phẩm thịt phân tích cho thấy: Aílatoxin (dưói ngưỡng cho phép: 0,005mg/kg), Asen: không phát hiện (dưới ngưỡng cho phép: 0,05mg/kg), thuỷ ngân: khớng phát hiện (dưói ngưỡng cho phép: 0,03mg/kg), hàm lượng chì: 0,062 - 0,081mg/kg (dưới ngưỡng cho phép: 0,5mg/kg); hàm lượng Cadimi: 0,011 - 0,013mg/kg (dưói ngưỡng cho phép: 0,05mg/kg)

Sử dụng bột cá nuôi gà thịt với tỷ lệ hợp lý: Bột cá là nguồn protein động vật chính sử dụng trong thức ăn nuôi gà Thức ăn dùng nhiều bột cá có tác dụng làm cho gia cầm sinh trưởng nhanh, nhưng chất lượng thịt dễ bị giảm do mùi vi tanh Sử dụng khẩu phần không có hoặc ít bột cá gà sẽ lớn chậm không có hiệu quả kinh tế Vì vậy xác định lượng bột cá trong khẩu phần và

thời gian ngưng bột cá trước giết mổ thích hợp để nuôi gà đạt

hiệu quả nhưng vẫn cho chất lượng thịt đảm bảo là cần thiết

* Kết quả nghiên cứu sử dụng khẩu phần từ 1 - 42 ngày có 5% bột cá và khẩu phần từ 43 - 56 ngày và 63 ngày có 4% bột

cá, dừng bột cá trước khi giết mổ 7 ngày, tỷ lệ nuôi sống đạt cao 98,57% Khối lượng cơ thể đạt 1760,3g/con Chi phí thức ãn/kg tăng trọng thấp

Trang 38

Khi đánh giá cảm quan, chất lượng thịt gà khi sử dụng bột cá: Sản phẩm thịt vẫn đảm bảo chất lượng tốt, thịt gà thơm ngon không có mùi tanh của bột cá.

Thòi gian ngừng sử dụng một số loại thuốc kháng sinh trước khi giết mổ trong chăn nuôi gà thịt cho thấy nếu ngừng sử dụng Amoxicilin, Enroíloxacin, Tylosin theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất thì hàm lượng tồn dư các loại kháng sinh trong thịt

gà theo tiêu chuẩn Codex sẽ ở dưới ngưỡng cho phép Riêng Doxyciclin ngừng sử dụng 7 ngày theo khuyến cáo thì hàm lượng vẫn còn cao hơn (0,04mg/kg) như vậy khi sử dụng thuốc này lưu ý thời gian ngừng sử dụng thuốc phải dài hơn trước giết

mổ Theo tiêu chuẩn của EU khi ngừng sử dụng Amoxycilin ở ngày thứ 7 thì lượng còn tồn dư cũng ở dưới mức cho phép

Về việc sử dụng các chế phẩm sinh học để thay thế thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt: Có thể sử dụng men tiêu hoá Allzym thay th ế kháng sinh để nuôi gà thịt vẫn cho khối lượng

cơ thể 1710g/con Sử dụng Organcid, Anolyte có tỷ lệ nuôi sống cao tương ứng 96 - 98%, khối lượng cơ thể đạt 1630 - 1642g/con

ở 56 ngày tuổi

- Giải pháp khoa học công nghệ áp dụng tại cơ sở giết mổMột số giải pháp khoa học công nghệ triển khai tại cơ sở giết mổ:

+ Dụng cụ giết mổ: Tại điểm giết mổ phải tập huấn cho công nhân giết mổ hiểu biết được nội quy, qui định của lò mổ, trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ cho công nhân Không dùng chung dao kéo để mổ phủ tạng Dụng cụ chứa thịt và chứa phủ tạng phải riêng biệt Dụng cụ chứa thịt được tẩy trùng trước và sau sử dụng M ổ treo, không mổ trên nền sàn Có bàn inox để đóng gói sau mổ

Trang 39

+ Thiết bị nhà xưỏng: Tách riêng biệt khu vực cắt tiết và khu

mổ Mặt bằng khu giết mổ rộng rãi Có hố sát trùng ở cửa trước

và sau nhà xưởng Tường nhà được ốp gạch men (tối thiểu cao 2m), có trần nhà Nền nhà được láng phẳng, thường xuyên được tẩy rửa và phun thuốc sát trùng trước và sau giết mổ

+ ' Nguồn nưóe sử dụng trong giết mổ: Thường xuyên thay rửa bể chứa nước Không cho bơm nước từ giếng lên dùng ngay

mà phải qua bể lọc, bể lắng

Bể chứa nước dùng giết mổ làm bằng inox, có nắp đậy, thường xuyên thau rửa, không để nước tích tụ quá lâu ngày Bể lắng có dàn phun mưa để khử lượng Fe trong nước Nước được lọc và định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu vi khuẩn Có hệ thống bể để

xử lý nước thải

Nhờ có những giải pháp trên, kết quả sản phẩm gà thịt được giết mổ tại cơ sở giết mổ đảm bảo vệ sinh Mức độ nhiễm vi sinh vật trong nước sử dụng giết mổ và trong thịt gà sau giết mổ giảm đáng kể

- Giải pháp khoa học công nghệ áp dụng để bảo quản thịt gàÚng dụng giải pháp khoa học kỹ thuật dùng axit axetic và axit lactic vào khâu xử lý bảo quản thịt gà, nhằm đảm bảo chất lượng thịt, kéo dài thòi gian cung cấp thịt tươi cho ngưòi tiêu dùng

- Các giải pháp khoa học công nghệ ở khâu vận chuyển, tiêu thụ:

Mẫu thịt gà vận chuyển bằng phương pháp thủ công, không bao gói, chuyên chở bằng xe máy đến nơi bày bán Kết quả xét nghiệm cho thấy tổng s ố vi khuẩn tái nhiễm 14,15 X 106 kl/g vượt ngưỡng cho phép 14,15 lần, Coliform vượt ngưỡng cho phép 19,5 lần; Ecoli vượt ngưỡng cho phép 2,04 lần; Bacillus cereus vượt ngưỡng cho phép 4,5 lần

Trang 40

Mẫu thịt gà vận chuyển bằng xe đông lạnh chuyên dùng từ điểm giết mổ đến nơi tiêu thụ đã hạn chế được sự tái nhiễm của

vi khuẩn Sạu thời gian vận chuyển thì hàm lượng vi khuẩn được xác định đều nằm dưới ngưỡng cho phép

Với 3 phương thức bày bán: siêu thị, tủ mát và sạp bán tạichợ

Mẫu thịt gà bày bán trong siêu thị, thịt gà được bảo quản lạnh trong cửa hàng sau 6 giờ, kiểm tra cho thấy tổng số vi khuẩn không tăng quá giới hạn cho phép chỉ ở mức 2 x l0 3 tăng hơn so vói trước khi bày bán không đáng kể

Mẫu thịt gà bày bán tại các chợ trong tủ mát Sau 6 giờ cho thấy số lượng vi khuẩn tái nhiễm đã tăng lên 9 ,3 x l0 5 tuy vậy cũng đạt ở mức cho phép

Mẫu thịt gà bày bán tại sạp ngoài chợ kết quả cho thấy lượng

vi khuẩn tái nhiễm đã tăng lên 17,88 lần so với ngưỡng cho phép

Đã từ lâu, nhu cầu xã hội đòi hỏi phải có nguồn thực phẩm nói chung và thịt gà an toàn chất lượng cao nói riêng Song muốn sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao, cũng như các nước trên thế giới cần phải có những luận cứ khoa học và thực tiễn Để góp phần giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ

từ nhiều phía, trong đó áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ để sản xuất ra thịt gà an toàn chất lượng cao từ chăn nuôi đến bày bán có ý nghĩa quan trọng

Ngày đăng: 05/01/2018, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm