1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh quảng ngãi

131 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Báo cáo này đã đề cậpđến những cản trở để người nghèo ở các nước thế giới thứ ba tiếp cận với cácdịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, nước sạch, cũng như sựcần

Trang 1

HỒ QUÝ NHÂN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ GIÁO DỤC CHO TRẺ EM NGHÈO

TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hiệp

Đà Nẵng - Năm 2011

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./

Tác giả luận văn

Hồ Quý Nhân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM NGHÈO 9

1.1 Một số vấn đề cơ bản về giáo dục và nghèo 9

1.1.1 Khái niệm và vai trò của giáo dục dối với phát triển kinh tế 9

1.1.2 Nghèo và trẻ em nghèo 14

1.1.3 Vai trò của các dịch vụ giáo dục đối với người nghèo và vấn đề giảm nghèo 21

1.2 Quan niệm và nội dung tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo 23

1.2.1 Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo 23

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo 25

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo 31

1.2.4 Nội dung tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ của trẻ em nghèo 37

1.3 Kinh nghiệm về hoạch định và cung cấp dịch giáo dục cho trẻ em nghèo trên thế giới 40

1.3.1 Kinh nghiệm của Liên hợp quốc và Ngân hàng thế giới 40

1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 43

1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 45

Trang 4

2.1 Tổng quan thực trạng nghèo và giảm nghèo của tỉnh Quảng Ngãi 47

2.1.1 Thực trạng nghèo của tỉnh Quảng Ngãi 47

2.1.2 Các chính sách đối với người nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi 51

2.1.3 Những tồn tại trong giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi 53

2.2 Các chính sách về giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi 55

2.3 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ của trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi 59

2.3.1 Các nhân tố sư phạm 59

2.3.2 Các nhân tố ngoài sư phạm 67

2.4 Thực trạng mức độ tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo tỉnh Quảng Ngãi 80

2.4.1 Khả năng tiếp cận giáo dục mầm non 80

2.4.2 Khả năng tiếp cận giáo dục tiểu học, THCS và THPT 84

2.4.3 Đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục thông qua chỉ tiêu tổng hợp EAAI 89

2.4.4 Đánh giá chung 90

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM NGHÈO Ở TỈNH QUẢNG NGÃI 96

3.1 Mục tiêu phát triển giáo dục tỉnh Quảng Ngãi 96

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục 96

3.1.2 Mục tiêu phát triển giáo dục tỉnh Quảng Ngãi 98

3.2 Định hướng và mục tiêu về giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi 100

3.2.1 Định hướng giáo dục cho trẻ em nghèo 100

3.2.2 Mục tiêu về giáo dục cho trẻ em nghèo 101

3.3 Định hướng trong việc tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi 102

Trang 5

3.4.1 Giải pháp chung 104 3.4.2 Một số giải pháp cụ thể đối với nhóm đối tượng trẻ em nghèo ở vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn và dân tộc thiểu số 112

KẾT LUẬN 116 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiViện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ươngChương trình mục tiêu quốc gia

Điều tra mức sống hộ gia đình

Ủy ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Giáo dục và Đào tạoGiáo dục cho mọi ngườiGiáo dục mầm nonTổng sản phẩm trong nướcGiáo dục tiểu học

Giáo dục thường xuyênViện nghiên cứu chính sách Nhật BảnLao động - Thương binh và Xã hộiMục tiêu phát triển thiên niên kỷMầm non

Tổ chức phi chính phủNhà xuất bản

Viện trợ phát triển chính thứcĐánh nghèo có sự tham gia của cộng đồng

Sở Giáo dục và Đào tạo

Sở Lao động - Thương binh và Xã hộiTổng cục Thống kê

Trang 7

Tổ chức giáo dục và văn hóa Liên Hợp QuốcQuỹ dân số Liên Hợp Quốc

Ngân hàng Thế giới

Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 8

bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1

Thước đo hộ đói, hộ nghèo theo nhu cầu lương thực

thực phẩm của Bộ LĐ-TB và XH và TCTK giai đoạn

Bảng 2.3 Thu nhập bình quân 01 nhân khẩu 1 tháng chia theo

Bảng 2.4 Số lượng cơ sở giáo dục mầm non năm học 2010 - 2011 61Bảng 2.5 Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục phổ thông 63Bảng 2.6 Hiện trạng diện tích đất của các cơ sở giáo dục 64Bảng 2.7 Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục phổ thông 66Bảng 2.8 Số lượng trường có nhân viên y tế tại các đơn vị giáo

dục thuộc huyện, thành phố quản lý 67Bảng 2.9 Chi tiêu cho giáo dục của trẻ em so với tổng chi tiêu

của hộ gia đình theo nhóm thu nhập năm 2008 70

Trang 9

Bảng 2.10 Chi giáo dục bình quân 1 người đi học trong một năm

Bảng 2.11 Tình hình chi ngân sách địa phương và cho giáo dục 73Bảng 2.12 Chi đầu tư cho phát triển của ngành giáo dục giai đoạn

Bảng 2.17 Tình trạng học sinh trung học cơ sở bỏ học sớm phân

Bảng 2.18 Tỷ lệ trẻ em đến nhà trẻ đúng tuổi 83Bảng 2.19 Tỷ lệ % tích luỹ trẻ đến tuổi có đi học nhà trẻ

85Bảng 2.22 Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp 87Bảng 2.23 Các chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục, phân

theo nhóm thu nhập, ĐTMSHGĐ 2008 và 2010 90Bảng 2.24 Miễn học phí phân theo nhóm thu nhập 94Bảng 3.1 Dự báo số học bậc mầm non và bậc phổ thông giai đoạn

Trang 10

cho người nghèoHình 2.1 Tốc độ giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 (tính đến

Trang 11

Hình 2.13 Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở cấp THCS theo nhóm thu

Hình 2.14 Tỷ lệ biết chữ phân theo nhóm thu nhập 89Hình 2.15 Đường cong Lorenz trường hợp bỏ học 90Hình 2.16 Chi tiêu trung bình bằng tiền mặt cho mỗi trẻ em đi

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã trải qua hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và vừa đạtđược vị thế “quốc gia có thu nhập trung bình thấp” vào năm 2009 Đi cùng vớităng trưởng kinh tế là tỷ lệ nghèo giảm mạnh trong toàn quốc Tỷ lệ giảm đóinghèo đã đưa Việt Nam vào trong số các nước đứng đầu về giảm đói nghèotrong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI Việt Nam cũng đạt được chỉ số pháttriển con người ở mức trung bình mặc dù là một nước rất nghèo Nằm trong bốicảnh chung của cả nước, trong thập niên vừa qua, tỉnh Quảng Ngãi cũng đã cónhững bước phát triển vượt bậc Mức tăng trưởng bình quân GDP giai đoạn giaiđoạn 2001 - 2005 đạt ở mức 10,3%; 2006 - 2010 đạt ở mức 18,66% Thu nhậpbình quân đầu người (GDP): năm 1995 là 170 USD, năm 2000 là 192 USD, đếnnăm 2005 là 325 USD và năm 2010 đạt 1.228 USD Tỉnh Quảng Ngãi cần tậndụng các cơ hội hiện nay để phát huy những thành công này, kết cấu hạ tầngđang dần được cải thiện, để có thể tập trung vào việc tăng cường và nâng cao cácdịch vụ xã hội cơ bản và sự tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ đó

Tuy nhiên, một số khó khăn và thách thức đã trở nên ngày càng rõ nét hơntrong những năm qua Sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng vàmiền núi, giữa các nhóm dân cư tính theo hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đang tăngtrong khi khoảng cách về các chỉ tiêu xã hội vẫn còn lớn Một vấn đề ngày càngtrở nên rõ ràng là những cơ chế hiện hành nhằm đảm bảo sự tiếp cận của ngườinghèo với các dịch vụ xã hội và mạng lưới an sinh xã hội hoạt động không hiệuquả Hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản và mạng lưới an sinh xã hội chính thứccòn bỏ sót đối tượng Chất lượng của các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có giáodục vẫn còn thấp Mức đầu tư cho giáo dục tuy đã tăng đáng kể nhưng vấn chưađáp ứng được nhu cầu thực tiễn Những khó khăn về điều kiện tự nhiên và tậpquán sinh hoạt, điều kiện sống với mức thu nhập thấp và không tăng lên trongthời gian qua của những hộ nghèo trong khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao, chênh

Trang 13

lệch giàu nghèo giữa các vùng thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núicũng là những trở ngại lớn đối với việc tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ emnghèo Trong một số trường hợp, các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có giáo dụckhông được đầu tư đúng mức so với các dịch vụ không cơ bản Tất cả những vấn

đề nêu trên đều cho thấy tỉnh Quảng Ngãi cần phải tăng cường hơn nữa các dịch

vụ xã hội cơ bản cho người nghèo cả về phạm vi đối tượng và chất lượng của cácdịch vụ Có ba vấn đề trong việc tiếp cận đến các giáo dục:

Thứ nhất, đó là sự tiếp cận không đồng đều tới dịch vụ giáo dục và sự khác

nhau đáng kể về các chỉ số đánh giá Phạm vi đối tượng của dịch vụ giáo dụcchưa bao trùm hết bộ phận cư dân nghèo nhất, còn tốc độ giảm nghèo đã có xuhướng chậm lại trong khi bất bình đẳng kinh tế, xã hội gia tăng

Thứ hai, khả năng trang trải các chi phí cho dịch vụ giáo dục của hộ nghèo

cho trẻ em nghèo còn thấp và thực tế đang có xu hướng giảm xuống Lý dochính trong lĩnh vực giáo dục là chi phí đi học trực tiếp và gián tiếp càng làmtăng khoảng cách tiếp cận đến dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo (đặc biệt đốivới trung học cơ sở hoặc cao hơn)

Thứ ba, chất lượng của dịch vụ giáo dục thấp, chẳng hạn tỷ lệ bỏ học và lưu

ban trong trường tiểu học tương đối cao, trong khi tỷ lệ nhập học đã được cảithiện đáng kể Những ví dụ như thế đã cho thấy trong nhiều trường hợp chấtlượng dịch vụ giáo dục còn ở mức thấp và việc cải thiện nó chậm hơn so với việc

mở rộng các phạm vi đối tượng

Trong bối cảnh như vậy thì lại có những thay đổi kinh tế – xã hội nhanhchóng Việc cải thiện chất lượng của các dịch vụ y tế và giáo dục không nhữngnâng cao đời sống của người dân mà còn tăng cường sức cạnh tranh của nguồnnhân lực tỉnh Quảng Ngãi và có tác động đáng kể đối với hoạt động kinh tế củatỉnh trong tương lai Xuất phát từ những điều này, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giảipháp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo tại tỉnhQuảng Ngãi”

Trang 14

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu về các dịch vụ xã hội cơ bản được Ngân hàng thế giới(WB) cũng như Liên hợp quốc nghiên cứu trong các báo cáo phát triển hàngnăm Báo cáo phát triển thế giới năm 2004 “Cải thiện các dịch vụ để phục vụngười nghèo” cho rằng cần đưa các dịch vụ xã hội cơ bản một cách hiệu quảhơn, tiến tới giải quyết một trong những trọng tâm của thế giới hiện nay là loại

bỏ đói nghèo và lạc hậu ra khỏi xã hội chúng ta Trong Báo cáo này đã đề cậpđến những cản trở để người nghèo ở các nước thế giới thứ ba tiếp cận với cácdịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, nước sạch, cũng như sựcần thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho ngườinghèo cả về mặt số lượng và chất lượng

Nghiên cứu của Anderson, Jame, Daniel Kaufmann và Francesa Recanatininăm 2003 nghiên cứu việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản đối với vấn đềgiảm nghèo ở các nước đang phát triển Trong đó nhấn mạnh giáo dục là mộttrong những dịch cụ cơ bản

Nghiên cứu của Azfar, Omar và Gurgur nghiên cứu ảnh hưởng của thamnhũng đến lợi ích tiếp cận y tế và giáo dục cho người nghèo ở Philippines

Nghiên cứu của Banerjee, Abhijit, Shawn Cole năm 2003 đã cách thức đểnâng cao chất lượng của y tế và giáo dục cho người nghèo ở Ấn Độ

Để cải thiện cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản trong nghiên cứu về “Cungứng dịch vụ giáo dục và y tế ở Châu Mỹ La Tinh” các tác giả Di Tela, Raphael,

và William Savedoff đã đưa ra những khuyến nghị cải cách về thể chế nhằm tăngcường mối quan hệ giữa trách nhiệm giữa các nhà hoạch định chính sách, nhàcung ứng dịch vụ và người dân

Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới hàng năm đều tập trung phân tích

và đánh giá chi tiêu công cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và ảnh hưởng của chi tiêu

Trang 15

công đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo.

Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu ở nước ngoài về dịch vụ xã hội chongười nghèo đều thống nhất quan điểm là người nghèo rất hạn chế trong việctiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản và chính phủ các nước cần có biện pháphiệu quả hơn để giúp người nghèo có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với các dịch

vụ đó Tuy nhiên trong các nghiên cứu này chưa đưa ra một cách có hệ thống cáctiêu chí để đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục đối với người nghèo và cácnguyên nhân cơ bản tác động đến khả năng tiếp cận giáo dục của người nghèo

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Báo cáo phát triển Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2004 về

“Nghèo” [31, tr 52-61] đã đưa ra một số đánh giá ban đầu về các dịch vụ xã hội

cơ bản cho người nghèo ở Việt Nam như giáo dục, y tế và cung cấp nước sạch.Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2005 về “Quản lý và điều hành” cũng đã tậptrung vào đánh giá chi tiêu của chính phủ cho các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồmchi cho giáo dục, y tế và một số lĩnh vực khác [32, tr 13-16] Báo cáo phát triểnthế giới năm 2006 về “Công bằng và phát triển” lại đề cập đến bất bình đẳng vềtiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cuốn sách

“Về tình trạng nghèo khổ trên thế giới” nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm

1997 đã đưa ra những khó khăn của người nghèo khi tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản Báo cáo chung của Chính Phủ Việt Nam – các nhà tài trợ – nhóm côngtác về đói nghèo NGO năm 1999 “Việt Nam tấn công đói nghèo” nghiên cứutổng quan về nghèo đói ở Việt Nam và cũng đã đề cập đến các dịch vụ xã hội cơbản cho người nghèo Báo cáo của Oxfam quốc tế về: Tăng trưởng với côngbằng, chương trình thảo luận về xoá đói giảm nghèo cũng đã đề cập đến các dịch

vụ xã hội cơ bản cho người nghèo Cuốn sách “Đa dạng hoá thu nhập và nghèo”của JBIC đã nghiên cứu những trở ngại đối với đa dạng hoá về thu nhập, trong

đó việc tiếp cận hạn chế các dịch vụ xã hội cơ bản là một trong những trở ngại

để người nghèo đa dạng hóa thu nhập của họ

Trang 16

TS Võ Thị Ánh Tuyết, Viện ngiên cứu phát triển giáo dục đã nghiên cứucông bằng xã hội trong giáo dục, trong đó tác giả đã đánh giá bất bình đẳngtrong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục của các nhóm thu nhập khác nhau và đưa racác giải pháp để làm giảm bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục [23].

TS Vũ Quang Việt trong bài viết “Giáo dục tư hay công nhìn từ góc độ lý thuyết kinh tế” cũng đã phân tích những hạn chế của người nghèo trong việc tiệp cận dịch vụ giáo dục và làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận một cách tốt

đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” NXB Chính trị quốc gia, 1999 của GS TS

Vũ Thị Ngọc Phùng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, nghèođói và bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Cuốn sách “Gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo” của Diễn đàn pháttriển Việt Nam (VDF) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng với giảmnghèo và khả năng tiếp cận với cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, điện thoại, nước)

và các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế và chăm sóc sức khoẻ) [10]

Đề tài "Nghiên cứu những giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội tronggiáo dục - đào tạo ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" do TS Võ Thị Ánh Tuyết làmchủ nhiện đề tài [23] đã nghiên cứu thực trạng về công bằng xã hội trong giáodục và đưa ra các giải pháp khá hữu hiệu trong việc đảm bảo công bằng xã hộitrong giáo dục ở Việt Nam

Đề tài "Nghiên cứu các giải pháp phát triển giáo dục ở các xã đặc biệt khókhăn thuộc chương trình 135" đã nghiên cứu các giải pháp để tăng cường phát

Trang 17

triển giáo dục cho các xã vùng sâu, vùng xa.

Nghiên cứu “Cung cấp giáo dục cơ bản có chất lượng cho mọi người”(2002) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh tập trung vào vấn đề giáo dục trong đó cógiáo dục cho người nghèo Nghiên cứu đã phát hiện, người nghèo gặp rất nhiềukhó khăn khi tiếp cận giáo dục, đặc biet giáo dục có chât lượng Từ đó cho phépkết luận, chính sách hỗ trợ giáo dục chưa thực sự có lợi cho người nghèo

Bên cạnh các sách chuyên khảo về nghèo đói và các dịch vụ cho ngườinghèo còn có nhiều bài viết nghiên cứu của giới nghiên cứu cũng đã đề cập đếncác vấn đề dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo như bài viết của tác giả BùiTất Thắng “Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập ở Việt Nam trên Tạp chíNghiên cứu kinh tế số 6 năm 1999; bài viết “Tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội ở nước ta – những vấn đề đặt ra và định hướng khắc phục của tác giảPGS TS Trần Văn Chử đăng trên Tạp chí Kinh tế phát triển số 2/2005 đã đề cậpđến mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng về việc tiếp cận các dịch vụgiáo dục, y tế Bài viết “Thực trạng giảm nghèo” ở Việt Nam của PGS TS TrầnQuý Thọ đề cập đến các vấn đề về nghèo đói và thực trạng giảm nghèo ở ViệtNam trong thời gian qua

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập, khai thác một số khíacạnh về nghèo đói và việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo.Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và nghiên cứu một cách toàn diện hơn vấn đề đó,

đề tài làm rõ sự cần thiết phải tăng cường và nâng cao chất lượng của các dịch

vụ xã hội cơ bản cho người nghèo, thực trạng của các dịch vụ xã hội cơ bản chongười nghèo, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị cho việc tăng cường và nângcao chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo trong thời gian tới đểViệt Nam có thể đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của WB và địnhhướng phát triển bền vững

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu như sau:

Trang 18

-Khái quát hóa được các vấn đề chung về nghèo, dịch vụ giáo dục cho trẻ

em nghèo, nội dung, các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố tác động đến khả năngtiếp cận dịch vụ của trẻ em nghèo

-Đánh giá đầy đủ về thực trạng nghèo, khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dụccủa trẻ em nghèo và các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dụccủa trẻ em nghèo tỉnh Quảng Ngãi

-Tổng quan các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dụccủa trẻ em nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi

-Đánh giá tổng quan về nghèo đói và khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ

em nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi

-Đề xuất các giải pháp khả thi và thiết thực tăng cường khả năng tiếp cậndịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Các biểu hiện của khả năng tiếp cận dịch vụ giáodục của trẻ em nghèo tại tỉnh Quảng Ngãi và các nhân tố tác động đến biểu hiệnnày

-Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu tăng cường khảnăng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo ở các cấp học: mẫu giáo, tiểuhọc, trung học cơ sở và trung học phổ thông ở tỉnh Quảng Ngãi

-Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu về khả năng tiếp cận của trẻ emnghèo từ 2000

5 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp tổng hợp và phân tích: Tổng hợp và xử lý các số liệu thống

kê đã được công bố và phân tích thực trạng tiếp cận dịch vụ giáo dục của ngườinghèo trên phạm vi tỉnh Quảng Ngãi

-Phương pháp hồi cứu: Trong nghiên cứu có tham khảo và sử dụng kết quảĐTMSHGĐ trong giai đoạn 2000 - 2010 do Cục Thống kê tỉnh thực hiện và kết

Trang 19

quả điều tra hộ nghèo hàng năm do Sở LĐ - TB và XH và các huyện, thành phốthực hiện; số liệu của các điều tra do ngành GD&ĐT và Ban Dân tộc tỉnh tiếnhành.

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Qua việc khái quát hóa các vấn đề chung về nghèo và trẻ em nghèo, khảnăng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo, đề tài đi sâu phân tích thựctrạng khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi Từ đó, đề ra các giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ các nhà hoạch địnhchính sách của tỉnh Quảng Ngãi trong việc cải thiện và nâng cao khả năng tiếpcận dịch vụ giáo dục của trẻ em nói chung và trẻ em nghèo nói riêng, đồng thời,làm cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đề ra các giải pháp nâng cao chấtlượng giáo dục các bậc học và cấp học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lựccủa tỉnh trong tương lai

Trang 20

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH

VỤ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM NGHÈO

1.1 Một số vấn đề cơ bản về giáo dục và nghèo

1.1.1 Khái niệm và vai trò của giáo dục dối với phát triển kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm giáo dục

Giáo dục luôn là lĩnh vực luôn được xã hội quan tâm nhất Không chỉ vì

“hiền tài là nguyên khí quốc gia” mà đơn giản giáo dục là tương lai Tương laicủa mỗi gia đình, tương lai của cả dân tộc

Giáo dục là một hiện tượng phổ biến cho mọi giai đoạn phát triển và tồn tạivĩnh hằng cùng với xã hội loài người Giáo dục là hoạt động của thế hệ đi trướctruyền lại cho thế hệ đi sau, của những người biết trước truyền lại cho nhữngngười chưa biết về những kinh nghiệm trong các lĩnh vực: lao động sản xuất, sinhhoạt cộng đồng và hoạt động của những người tiếp thu những kinh nghiệm đó.Nói một cách khác giáo dục là một quá trình bao gồm tất cả những hoạt độnghướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực cũng như phẩm chất con người, để

có thể phát triển nhân cách họ một cách đầy đủ và làm cho mọi người trở nên cógiá trị tích cực đối với xã hội

Giáo dục, trên nguyên tắc, giúp người học mở mang trí óc, tăng kiến thức

và khả năng suy nghĩ trừu tượng, hiểu biết sự thật, phát triển đạo đức cá nhân vànăng khiếu thưởng thức mỹ thuật, nghệ thuật, cuối cùng là sống hài hòa với mọingười chung quanh Dưới quan điểm “giáo dục vị nhân sinh” thực dụng hơn,giáo dục hôm nay có thể xem là một phương tiện giúp người học gia tăng khảnăng và chất lượng lao động cho sản xuất ngày mai Dùng thuật ngữ kinh tế,giáo dục có thể xem là một quá trình tích lũy vốn con người (human capital),tương tự như quá trình tích lũy vốn vật thể (physical capital) Theo quan điểmkinh tế này, giáo dục bao gồm giáo dục, đào tạo lẫn nghiên cứu

Nói đến giáo dục người ta thường nói đến giáo dục của nhà trường Đây làcách hiểu hẹp nhất, nó chỉ là một loại trong hệ thống giáo dục Trong giao tiếp

Trang 21

giữa người với người, trong gia đình, trong công tác con người từng giờ, từng phúttiếp nhận sự giáo dục của người khác và của xã hội Như vậy giáo dục chính làmột hoạt động tiếp nhận kiến thức, hiểu biết của người khác và của xã hội Giáodục là một hoạt động và bao gồm các khía cạnh sau: i) giáo dục là quá trình sảnxuất, truyền bá tri thức thông qua các tổ chức và cơ cấu nhà nước, cá nhân nhằmmục đích bồi dưỡng cho con người thích ứng với cuộc sống Theo khái niệm nàygiáo dục có thể chia làm 3 loại:

- Giáo dục nhà trường: gồm giáo dục phổ thông và giáo dục chuyênnghiệp

- Giáo dục gia đình: Đây là cơ sở của giáo dục nhà trường

- Giáo dục xã hội: nó vừa tác động kiểm nghiệm thành quả của giáodục nhà trường, vừa kéo dài và bổ sung cho giáo dục nhà trường trong xã hội.Trong các hình thức nêu trên, giáo dục nhà trường có ý nghĩa rất to lớn Sựphát triển của hình thức giáo dục nhà trường đã tạo nên hình thức giáo dục quốcdân

Trong quá trình phát triển, khi xã hội có sự phân công lao động chặt chẽ thìgiáo dục là một phân hệ xã hội được tổ chức nhằm điều khiển việc hình thànhnhân cách đáp ứng nhu cầu xã hội Như vậy, giáo dục hiện đại có một số đặcđiểm sau:

Thứ nhất, theo quan điểm truyền thống giáo dục được hiểu là việc truyền

kinh nghiệm của thế hệ đi trược cho thế hệ đi sau, và đối tượng giáo dục là thế hệtrẻ

Thứ hai, các loại hình giáo dục ngày càng được tổ chức một cách linh hoạt

và đa dạng, sự phân công giữa các tổ chức xã hội trong hoạt động giáo dục cũngnhư trong nội bộ ngành giáo dục cũng đang ngày càng cơ động đáp ứng nhu cầuhọc tập ngày càng cao của con người

Khái niệm giáo dục được nêu ở trên là quan điểm rộng nhất về giáo dục

Trang 22

Theo nghĩa hẹp và ở các cấp độ khác nhau, có thể phân biệt giáo dục (hình thànhphẩm chất) với dạy học (hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo), hay phân biệt giáodục theo cấp học (tới hết bậc trung học phổ thông) với đào tạo (sau phổ thông vàkhối chuyên nghiệp) Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài này sử dụng khái niệmgiáo dục theo nghĩa rộng.

Giáo dục là một loại dịch vụ, một quan điểm chưa từng có trong lịch sử,một quan điểm khác hẳn với nhận thức thông thường

Lâu nay, người ta vẫn cho giáo dục là sự nghiệp công ích, là phúc lợi xã hộicần phải được bao cấp hoàn toàn; đối với các nho sĩ phong kiến thì giáo dục làmột hình thái hoạt động thanh cao, thuần tuý trau dồi hiểu biết và đức hạnh,không liên quan gì đến những sinh hoạt vật chất như sản xuất hàng hoá, tính toángiá cả, lưu thông trao đổi

Thời đại của nền văn minh trí tuệ đã bật sáng những tín hiệu mới, buộcchúng ta phải chuyển đổi quan niệm Giáo dục không thể là một ốc đảo, đứngngoài nền kinh tế thị trường, đứng ngoài những yêu cầu phát triển của xã hội;sản phẩm của giáo dục cũng phải coi là hàng hoá, dù là một thứ hàng hoá đặcbiệt Hoạt động của giáo dục phải phù hợp với kế hoạch tổng thể của đất nước,chịu sự chi phối trực tiếp những yêu cầu của kinh tế, xã hội

Giáo dục vừa là một ngành hoàn chỉnh, hoạt động với tinh thần chủ độngsáng tạo theo mục tiêu nhiệm vụ của chính phủ giao cho nhưng cũng lại vừa làmột bộ phận chủ chốt trong hệ thống tổng thể của đất nước với tư cách là mộtloại dịch vụ quan trọng, hoạt động theo cơ chế thị trường

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) coi giáo dục là dịch vụ thương mại.Trong lần đàm phán với ta, WTO đã đề cập nhiều đến giáo dục Trong hiệp nghịthương mại Việt - Mỹ cũng có điều khoản nêu rõ giáo dục phải chịu sự điềuchỉnh một phần của hoạt động thương mại Rõ ràng ngày nay, thương mại cómột tầm hoạt động và tác dụng rộng lớn, có tính xã hội rất cao Nhiều nước ở Âu

Trang 23

Châu xác định nền kinh tế xã hội hiện nay gồm 3 loại: kinh tế khai thác, kinh tếchế biến và kinh tế dịch vụ Người ta liệt giáo dục vào loại kinh tế dịch vụ Đảng ta, Nhà nước ta xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, đồng thờicũng coi giáo dục là một loại dịch vụ công cộng Trong một văn bản quan trọngcủa Trung ương, có những câu đáng lưu ý: “Dịch vụ công cộng nêu ở đây chủyếu bao gồm giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hoá, thể dụcthể thao” “Dịch vụ công cộng có liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân

và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội” “Loại dịch vụ này cần đượcthực hiện một cách kiên định và tích cực ” [12]

Trong lý luận hiện đại không hề đánh đồng loại dịch vụ giáo dục như mọiloại dịch vụ khác Các tổ chức kinh tế thế giới cũng coi giáo dục là loại dịch vụđặc biệt - một loại dịch vụ vừa có thị trường, vừa phi thị trường, vừa có phầnphải cân đối tài chính, phải có lãi, vừa có phần phi lợi nhuận Khi nói đến sảnphẩm của giáo dục cũng là hàng hoá, chúng ta không được quên nhấn mạnh nétđặc thù của nó là mặt hình thái ý thức xã hội trong sản phẩm đó bên cạnh nhữngthuộc tính phổ biến như mọi thuộc tính của hàng hoá khác

1.1.1.2 Vai trò giáo dục đối với phát triển kinh tế

Trong nhiều năm, định đề cho rằng sự mở rộng giáo dục đã thúc đẩy hoặcthậm chí đã quyết định tốc độ tăng trưởng đã được coi là hiển nhiên Những con

số thống kê và các công trình nghiên cứu về nguồn tăng trưởng kinh tế đã chỉ rarằng, không phải là sự tăng của vốn hiện vật mà là sự tăng của “vốn con người”

đã là nguồn chính của tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đã phát triển Trong các

mô hình tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, các nhà kinh tế thường bắt đầu với

khái niệm hàm sản xuất Ý niệm này xem tổng sản lượng là hàm của các nhân tố

sản xuất như vốn con người, vật thể, thiên nhiên và xã hội Sự tích lũy của vốnvật thể để đưa đến tăng trưởng kinh tế đã được nhấn mạnh trong mô hìnhSolow–Swan[37] Vai trò của vốn thiên nhiên đã được Hotelling (1931) phântích trong một bài nghiên cứu mở màn cho ngành kinh tế của các tài nguyên

Trang 24

không thể tái sinh Vốn xã hội, còn gọi là khả năng xã hội, là một ý niệm ít cụthể hơn, và do đó khó mang vào các mô hình kinh tế định lượng Nó bao gồmnhững yếu tố như sự mở cửa và cạnh tranh của nền kinh tế, cách dàn xếp các tổchức, sự thành thật, lòng tin, các hệ thống kết nối cá nhân với nhau, vv Nói gọn,vốn xã hội là tập hợp tất cả những thứ vô hình giúp giảm thiểu tổn phí giao dịch

và làm thị trường hoạt động có hiệu quả hơn

Mô hình tăng trưởng nội sinh (endogenous growth models) dựa trên nhữngcông trình tiêu biểu của Uzawa (1965), Lucas (1988) và Romer (1990) [36] giảithích sự tích lũy của vốn con người và nhấn mạnh đến kiến thức cũng như lợi íchngoại tác của giáo dục như một động cơ chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Lợiích ngoại tác của giáo dục trong sản xuất là:

- Những người có học dùng vốn vật thể khéo léo hơn người ít học, và

do đó có khả năng cải tiến kỹ thuật hay sang chế ra những phương pháp sản xuấthiệu quả hơn;

- Những người có học vấn cao có khuynh hướng làm tăng năng suấttrung bình của các người thợ làm việc bên cạnh họ

Vì thế trong quá trình phát triển các nước sẽ hướng đến việc sử dụng côngnghệ dùng nhiều tri thức thay cho công nghệ dùng nhiều sức người hay vốn vậtthể

Một khác biệt lớn của mô hình tăng trưởng nội sinh và mô hình Solow–Swan

là quan hệ nhân quả giữa vốn con người và kinh tế Vì giáo dục vắng mặt trong môhình Solow-Swan, vốn con người đồng nghĩa với dân số Trong mô hình này, tăngtrưởng vốn con người sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tếkhông ảnh hưởng gì đến vốn con người Trái lại, trong mô hình tăng trưởng nộisinh, vốn con người tùy thuộc vào dân số và giáo dục/nghiên cứu Do đó, giáo dục

và kinh tế tương tác hai chiều: giáo dục tốt làm tăng kiến thức và vốn con người,dẫn đến tăng trưởng kinh tế; và tăng trưởng kinh tế làm tăng nguồn lực dành chogiáo dục Như vậy, tình hình giáo dục của một quốc gia sẽ nhất thiết sẽ phản ánh sự

Trang 25

phát triển kinh tế của nước đó

- Những lý luận của các mô hình phát triển kinh tế dài hạn nói trên nhấnmạnh vào yếu tố cung của giáo dục vì trong cân bằng dài hạn, cung cầu sẽ bằngnhau trong tất cả các thị trường, kể cả thị trường giáo dục và lao động

Như vậy giáo dục có vai trò quan trọng đối việc việc tạo ra tri thức mà trithức lại là công cụ sản xuất duy nhất không tuân theo quy luật năng suất cận biêngiảm dần Tuy nhiên cần nhấn mạnh giáo dục chỉ là một khía cạnh của chính sáchphát triển kinh tế trong dài hạn

Giáo dục là trọng tâm của quá trình phát triển Tiến bộ lớn nhất trong côngcuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được ở những quốc gia biết kết hợp sự đầu tư cóhiệu quả và đúng đắn vào giáo dục với những chính sách kinh tế hợp lý Giáo dụcgiúp cho con người phát triển sử dụng và tăng cường được năng lực; giúp họ cóđược cuộc sống khỏe mạnh và hữu ích hơn; và có khả năng quyết định và thamgia vào quá trình biến đổi của bản thân họ và của cả xã hội Giáo dục là trọng tâmcủa quá trình nỗ lực vì một xã hội công bằng hơn

1.1.2 Nghèo và trẻ em nghèo

1.1.2.1 Khái niệm về nghèo và trẻ em nghèo

Khái niệm về nghèo:

Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và đang thu hút nỗ lựcchung của cả cộng đồng quốc tế nhằm từng bước xoá bỏ đói nghèo và nâng caophúc lợi của người dân Tuy nhiên rất khó có thể đưa ra một khái niệm chungthống nhất thế nào là đói nghèo Do vậy có rất nhiều cách tiếp cận về nghèo đói,dưới đây là một số quan niệm về đói nghèo

 Theo trường phái phúc lợi: Coi một xã hội có hiện tượng đói nghèo khimột hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có được một mức phúc lợi kinh tếđược coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩncủa xã hội đó Cách hiểu này coi đói nghèo là việc chưa được thoả mãn nhu cầu

Trang 26

cá nhân mà xã hội gọi đó là phúc lợi kinh tế của cá nhân, hay độ thoả dụng cánhân Tuy nhiên vì độ thoả dụng vốn là một khái niệm mang tính ước lệ, nókhông thể đo lường hay lượng hoá được nên người ta thường đồng nhất nó vớicác khái niệm khác cụ thể hơn đó là mức sống Khi đó tăng thu nhập cá nhânđược coi là tăng mức sống hay độ thoả dụng cá nhân

 Theo trường phái nhu cầu cơ bản: Coi cái gì đó mà người nghèo thiếu

là một tập hợp những hàng hoá và dịch vụ được xác định cụ thể mà việc thoảmãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc sống Những nhucầu cơ bản đó bao gồm lương thực thực phẩm, nước điều kiện vệ sinh, nhà ởquần áo, giáo dục, y tế cơ sở và giao thông công cộng Trong những nhu cầu cơbản đó thì nhu cầu về dinh dưỡng là quan trọng nhất Điểm khác biệt chính củatrường phái này so với trường phái phúc lợi là nó không đi vào xác định mứcsống hay độ thoả dụng cơ bản mà là một hệ thống các hàng hoá cá nhân cơ bảnđược coi là mọi cá nhân có quyền được hưởng Trường phái này được khởixướng bởi nhà kinh tế người Anh Seebohn Rowntree trong những năm 1900 vàtrở nên phổ biến sau thập kỷ 70 Theo trường phái này, để xoá đói giảm nghèocần có chính sách cụ thể đối với từng loại nhu cầu cơ bản chứ không chỉ tậptrung vào mỗi việc tăng thu nhập cho cá nhân Bởi lẽ đơn giản, nếu chúng ta tăngthu nhập cho họ mà y tế cơ sở không được cải thiện thì nguy cơ bệnh tật vẫn cóthể rơi vào tình trạng đói nghèo Quan niệm này được thể hiện rất rõ thông quađịnh nghĩa về đói nghèo mà hội nghị quốc tế về đói nghèo tại Thái Lan năm

1993 đã đưa ra, theo đó “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư khôngđược hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người đã đựơc xã hội thừanhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từngđịa phương”

Trường phái thứ ba có tên gọi là trường phái năng lực Trường phái

này do nhà kinh tế người Mỹ gốc Ấn Độ đưa ra Theo ông giá trị cuộc sống củacon người không chỉ phụ thuộc vào độ thoả dụng hay thoả mãn các nhu cầu cơ

Trang 27

bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể mà

họ được hưởng để vươn lên một cuộc sống mà họ mong muốn

Trên đây là ba trường phái với các quan niệm cơ bản về đói nghèo Tuynhiên, còn có một số quan niệm khác nhau về đói nghèo, chúng hết sức phongphú và đa dạng

 Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tạiCopenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về đói

nghèo “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu

để tồn tại ”.

 Trong Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèoViệt Nam của Chính phủ Việt Nam ban hành năm 2003 [7] thừa nhận định nghĩachung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu á - Thái BìnhDương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: nghèo là tìnhtrạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bảncủa con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độphát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Như vậy, nghèo là sự bần cùng hóa về phúc lợi Trước hết đó là sự thiếuthốn về vật chất, sống với mức thu nhập và tiêu dùng thấp, điển hình là tình trạngdinh dưỡng kém và điều kiện sống thiếu thốn Nghèo về thu nhập thường dẫnđến nghèo về con người, có nghĩa là sức khỏe kém và trình độ giáo dục thấp.Nghèo về vật chất và con người sẽ kéo theo trình trạng nghèo về xã hội như tính

dễ bị tổn thương, không có tiếng nói trong hầu hết thể chế trong xã hội và sự bấtlực trong việc cải thiện điều kiện sống của cá nhân Đây chính là bản chất đachiều của nghèo đói Sự tiếp cận nghèo đói như một hiện tượng đa chiều đưa đến

sự hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân của đói nghèo và một chính sách toàn diệnhơn hướng tới xóa đói giảm nghèo Chẳng hạn, bên cạnh các vấn đề thúc đẩytăng trưởng và phân phối thu nhập có lợi hơn cho người nghèo, sự tiếp cận

Trang 28

nghèo đói đa chiều còn đặt vấn đề về khả năng tiếp cận công bằng đến các dịch

vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, và phát triển hệ thống an sinh xã hội chongười nghèo

Khái niệm trẻ em nghèo:

Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam,trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 (mười sáu) tuổi (Điều 1)

Vậy trẻ em nghèo là những công dân dưới 16 tuổi thuộc diện nghèo Tuynhiên, khái niệm về trẻ em nghèo có nhiều quan điểm khác nhau

 Quan điểm thứ nhất đơn giản cho rằng, trẻ em nghèo là những đứa trẻsống trong các hộ gia đình nghèo thông qua cách đánh giá, xác định theo tiêu chímức thu nhập của hộ gia đình hoặc tự bản thân phải sống trong tình trạng nghèokhổ Đây là phương pháp đo lường một chiều, coi thu nhập là chỉ số duy nhất vềtình trạng phúc lợi Kết quả của phương pháp này là Tỷ lệ nghèo trẻ em, tínhtoán số trẻ sống trong các gia đình có thu nhập dưới mức đã được định trước.Lợi thế của phương pháp này là kết quả rất dễ hiểu Hơn nữa, có thể dễ dàng suy

ra khoảng cách giàu nghèo và mức nghèo từ thông tin về thu nhập của các hộ giađình (Ravallion 2004) Hạn chế của phương pháp này trong việc đo lường nghèotrẻ em là chỉ bao gồm một chiều cạnh duy nhất và việc sử dụng hộ gia đình làđơn vị chính để phân tích Tuy nhiên, phương pháp đo lường nghèo tiền tệ(money-metric) đã và đang là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trongviệc phân tích nghèo trên thế giới

 Quan điểm thứ hai cho rằng, các phương pháp truyền thống trong đánhgiá tình hình nghèo dựa trên cơ sở mức thu nhập hoặc chi tiêu của hộ gia đình đãcho thấy nhiều bất cập trong việc đánh giá tình hình nghèo cụ thể ở trẻ em Thựctrạng thiếu sự quan tâm đến nghèo trẻ em và nhược điểm của phương pháp tiền

tệ đã đặt ra yêu cầu phải có hướng tiếp cận khác để thấy rõ thực trạng của nghèotrẻ em

Trang 29

Quan điểm này dựa trên Khái niệm nghèo trẻ em theo Công ước năm 1989

về Quyền trẻ em (CRC) và phương pháp tiếp cận theo nhu cầu cơ bản được ápdụng ở Việt Nam CRC tập trung vào bốn chủ đề chính là tồn tại, bảo vệ, pháttriển và tham gia; đồng thời xác định các quyền cơ bản của trẻ em trong các lĩnhvực này (UNHCHR 1989) Phương pháp tiếp cận theo nhu cầu ở Việt Nam xácđịnh tám nhóm nhu cầu cơ bản đó là lương thực, nhà ở, quần áo, y tế, giáo dục,nước sạch, vệ sinh, và tách biệt xã hội Những nhu cầu được xác định theophương pháp tiếp cận này và các quyền quy định trong CRC hầu như là trùngnhau và cùng hướng đến những lĩnh vực phát triển của trẻ Do đó, chúng bổ sung

và củng cố lẫn nhau để xác định tình trạng nghèo trẻ em Khái niệm nghèo trẻ

em là một khái niệm đa chiều dựa trên các phương pháp đo lường phi tiền tệ vàđược điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện xã hội và văn hóa Việt Nam

Nghèo trẻ em trong cách tiếp cận đa chiều có thể được định nghĩa như sau:nghèo trẻ em bao gồm các đối tượng dưới 16 tuổi không được hưởng các quyềnquy định trong Công ước năm 1989 của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em vàkhông được tiếp cận các nhu cầu cơ bản của con người

Trong đề tài này, tác giả chỉ đánh giá tình trạng trẻ em nghèo theo quanđiểm thứ nhất, tức là thông qua đánh giá tình trạng hộ nghèo theo tiêu chí thunhập hoặc mức chi tiêu để xác định

1.1.2.2 Các chỉ tiêu để đánh giá nghèo

Như phần trên chúng ta đã phần nào hiểu được thế nào là đói nghèo, tuynhiên để biết được cụ thể ai là người nghèo thì chúng ta phải sử dụng tới cácthước đo đói nghèo Các thước đo này là khác nhau ở mỗi quốc gia và vào từngthời kỳ nhất định, ngay trong một quốc gia thì từng vùng cũng có các tiêu chuẩnkhác nhau, sự khác nhau này do trình độ phát triển kinh tế của từng vùng vàotừng thời kỳ nhất định

* Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người

nghèo và người không nghèo, người ta có thể dùng thước đo tiền tệ hoặc phi tiền

Trang 30

tệ để xác định Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo:

- Ngưỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi làtối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khoẻ mạnh

- Ngưỡng nghèo tương đối: Được xác định theo phân phối thu nhậphoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân

cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng

* Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tếxác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu cơ bản của con người:

Theo WB thì thang đo đói nghèo [33] là:

- Đối với nước nghèo: Các cá nhân được coi là nghèo khi mà có thunhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với các nước đang phát triển thì là 1 USD/ngày

- Đối với các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ ngày

- Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

- Các nước phát triển là 14,4 USD /ngày

Tuy vậy các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường ởcác nước đang phát triển nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng Thế giớiđưa ra Các quốc gia vẫn có các tiêu chuẩn riêng của mình bởi lẽ giá cả và phongtục tập quán của các nước là khác nhau:

- Mỹ đưa ra chuẩn: một gia đình 4 người có thu nhập dưới 16.000USD/năm có nghĩa là dưới 11,1 USD /người /ngày;

- Trung Quốc: người có mức thu nhập dưới 960 nhân dân tệ/năm được coi

là nghèo [33]

Thước đo đói nghèo ở Việt Nam

* Ngưỡng nghèo của Tổng cục Thống kê, xác định dựa theo cách tiếp cậncủa WB Theo hướng này Tổng cục Thống kê đưa ra hai ngưỡng nghèo:

Trang 31

Nghèo đói lương thực, thực phẩm là những người có mức thu nhập khôngđảm bảo cho lượng dinh dưỡng tối thiểu bù đắp (2.100 kalo/người/ngày đêm).Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal nàygọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.

- Nghèo đói chung được xác định trên cơ sở ngưỡng nghèo lương thựcthực phẩm và coi đó là tương đương với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu và 30%còn lại là các nhu cầu cơ bản tối thiểu cơ bản khác Nghèo đói chung là nhữngngười mà thu nhập không đảm bảo cả hai nhu cầu cơ bản trên

* Phương pháp xác định chuẩn nghèo của CTMTQG về giảm nghèo căn cứvào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2000 - 2010 vàmức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ LĐ-TB&XH đưa ra chuẩnnghèo đói bắt đầu từ năm 1997 đến nay nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấpthôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự trợ giúp củaChính phủ từ CTMTQG về xóa đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ khác Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng một chuẩn thống nhất để đánh giá tỷ lệ

hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí Quốc tế để so sánh

Bảng 1.1: Thước đo hộ đói, hộ nghèo theo nhu cầu lương thực thực phẩm

của Bộ LĐ-TB và XH và TCTK giai đoạn 1996 - 2000

Hộ đói <13kg gạo/tháng <13kg gạo/tháng <13kg gạo/tháng

Hộ nghèo 25kg gạo/tháng <20kg gạo/tháng <15kg gạo/tháng

Nguồn: Bộ LĐ - TB và XH.

* Theo chuẩn của Bộ LĐ-TB&XH đưa ra thì ngưỡng nghèo ở nước ta chotừng khu vực giai đoạn 1996 - 2000, 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010 cụthể như Bảng 1.2

Trang 32

Bảng 1.2: Ngưỡng nghèo qua các giai đoạn từ năm 2001 - 2010 ở nước ta

Đơn vị: đồng/người/tháng

1.1.3 Vai trò của các dịch vụ giáo dục đối với người nghèo và vấn đề giảm nghèo

Giáo dục có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế và giảmđói nghèo Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng giáo dục góp phần nâng caođời sống của nhân dân, đặc biệt là đối với những người nghèo, qua việc nâng caonăng suất lao động, giảm tỷ lệ sinh, tăng cường sức khỏe để con người tham giamột cách đầy đủ vào các hoạt động kinh tế xã hội Các nghiên cứu cũng đãkhẳng định đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học, được coi là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc nâng cao cuộc sống vậtchất và tinh thần của con người, các cơ hội và tăng trưởng kinh tế

Giáo dục giúp cho người nghèo có nhiều khả năng để tạo ra và tìm việclàm, hòa nhập cộng đồng Như đã nói ở trên, nghèo đói là một khái niệm đachiều bao gồm nghèo về vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội, dovậy việc tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục cho người nghèo sẽ giúp họgiảm bớt đi những nghèo về con người và nghèo về xã hội Khi nghèo đói về con

Trang 33

người và xã hội giảm đi sẽ góp phần làm gia tăng thu nhập của họ.

Người nghèo có mức thu nhập thấp một phần là do nguồn lực tương đốithấp của họ, một phần do sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động Giáo dục

có thể góp phần quan trọng giúp giải quyết được vấn đề thứ nhất, đồng thời cũngtạo tiền đề quan trọng để giải quyết vấn đề thứ hai Đó là bởi giáo dục đã tạo rađược nguồn nhân lực, nhân tố cốt lõi đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển củamỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Nhưng ở đây cần lưu ý rằng giáo dục là mộtphương tiện đặc biệt không trực tiếp thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng mà chỉtrực tiếp tạo ra cho người học một tiềm năng tiềm tàng để bước vào một hoạtđộng thực tiễn cùng với cộng đồng Cho nên các nguồn đầu tư vào giáo dục hômnay chỉ có thể dẫn đến giảm nghèo sau một số năm khi nguồn nhân lực củangười nghèo được nâng cao nhờ học vấn bước đầu phát huy tác dụng, làm tăngkhả năng tự tìm việc, tạo việc và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng cácnguồn lực gia đình

Giáo dục mà đặc biệt là giáo dục tiểu học và giáo dục phổ thông làm tăngphúc lợi cho người nghèo thông qua việc làm cho họ trở thành những công dânhữu ích hơn, tạo điều kiện cho họ những kỹ năng mới thông qua quá trình làmviệc và giảm rủi ro thất nghiệp, tạo ra khả năng quyết định và tham gia vào quátrình biến đổi của bản thân họ và của cả xã hội Những người nông dân biết chữvới trình độ học vấn tối thiểu là bậc tiểu học được xem là có năng suất và nhạybén hơn đối với những công nghệ mới so với những người nông dân mù chữ.Đặc biệt những người thợ thủ công và thợ máy đã huấn luyện biết đọc biết viếtthì được coi là có khả năng cao hơn trong việc đổi mới sản phẩm

Người nghèo có mức thu nhập thấp một phần do nguồn lực tương đối thấpcủa họ, một phần do sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động Giáo dục cóthể góp phần quan trọng giúp giải quyết vấn đề gia tăng nguồn vốn con ngườicho người nghèo, đồng thời cũng tạo tiền đề quan trọng để giải quyết vấn đềphân biệt đối xử trên thị trường lao động Đó là bởi giáo dục đã tạo ra đượcnguồn vốn con người nhân tố cốt lõi để phát triển của mỗi cá nhân, gia đình vàđóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế Đặc biệt là người nghèo, họ hiểu

Trang 34

ra rằng có thêm nhiều năm được giáo dục ở nhà trường là con đường hy vọngduy nhất cho con cái họ thoát khỏi nghèo đói.

Như đã trình bày ở trên giáo dục có vai trò giúp cho việc nâng cao thu nhậpcủa mỗi người, của mỗi gia đình và toàn thể xã hội Trong điều kiện kinh tế thịtrường, khi cơ chế cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi mỗi người đều phải chủđộng, năng động sáng tạo thì hiệu quả của việc đi học càng được biểu hiện mộtcách rõ nét hơn Nếu thất học hoặc trình độ học vấn thấp, con người sẽ rất khókhăn khi tạo việc làm hoặc chỉ tìm được việc làm với thu nhập thấp và như vậy

sẽ sa vào cảnh nghèo khổ Cứ như thế, những người nghèo lại khó có điều kiệnđầu tư cho con em họ học tập và tiếp tục lại rơi vào cái vòng nghèo khổ

Giáo dục đóng góp vào phát triển nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân giúp

họ nâng cao thu nhập và mức sống và đương nhiên từ đó góp phần tích cực vào

sự phát triển xã hội

1.2 Quan niệm và nội dung tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo

1.2.1 Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo

Khả năng tiếp cận được hiểu một cách tổng quát như sau: Một sản phẩmhoặc dịch vụ dễ dàng tiếp cận là một trong những thứ có thể được sử dụng bởitất cả người dùng nó dự định, có tính đến khả năng của họ khác nhau Khả năngcủa một người dùng làm cho đầu vào và nhận thức về đầu ra của một quá trìnhtiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ có thể bị suy giảm Điều này có thể là vĩnh viễnhay tạm thời và có thể là do điều kiện khác nhau về thể chất, tâm thần hoặc môitrường

Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục là việc tiếp cận tới dịch vụ giáo dụcmột cách dễ dàng, không có những rào cản trong điều kiện và khả năng khácnhau của người học Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục là một ý niệm thựcchứng Nó mô tả một sự kiện không chối cãi được, đó là mức độ sử dụng dịch vụgiáo dục trong bất cứ xã hội nào, tại bất kỳ thời điểm nào, cũng không đồng

Trang 35

đều Một nhà kinh tế thực chứng sẽ tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả của mức

độ tiếp cận dịch giáo dục, và đưa ra một vài đề xuất để làm tăng mức độ tiếp cận,nếu cần thiết

Rõ ràng giáo dục là một lĩnh vực phát triển đặc trưng cho trẻ em, có thểđược xem như nhu cầu cơ bản và quyền của con người Mỗi đứa trẻ đều có nhucầu giáo dục cho bản thân để có thể thực hiện vai trò như một chủ thể kinh tếđộc lập trong tương lai và đảm bảo cuộc sống của mình Quyền được tiếp cậngiáo dục đã được quy định không chỉ trong Công ước về Quyền trẻ em của LiênHợp Quốc (UNHCHR 1989) mà cả trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (UN2008) [27] và Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam Luật nàynêu rõ trẻ em có quyền và nghĩa vụ học tập tại các trường công lập mà khôngphải đóng học phí

Luật này cũng quy định: “Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm chotrẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điềukiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn Nhà trường và các cơ sở giáo dụckhác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ,thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặtchẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Cơ sởgiáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về độingũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục.Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; chínhsách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xãhội trong giáo dục.”

Giáo dục tiểu học làm tăng phúc lợi cho trẻ em nghèo thông qua việc làmcho chúng trở thành những công nhân hữu ích hơn Hơn nữa giáo dục có vai tròrất quan trọng cho trẻ em gái và phụ nữ - sẽ giúp họ hiểu được lợi ích của nhữnggia đình có quy mô nhỏ hơn và khỏe mạnh hơn, số ca tử vong ở trẻ em cũng sẽ íthơn

Trang 36

Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em nghèo là cáchthức để chính phủ huy động được một nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh

tế Khi trẻ em nghèo được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế có nghĩa làchính phủ đã tạo điều kiện cho chúng có cơ hội trẻ thành công dân có ích vàđóng góp vào quá trình phát triển của quốc gia

Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em nghèo cũng làmột cách thức để thúc đẩy nỗ lực trong tương lai của các chương trình giảmnghèo của mỗi quốc gia Như đã nói ở trên, nghèo đói là một khái niệm đa chiềubao gồm nghèo về vật chất, nghèo về con người (mù chữ, sức khỏe yếu….) vànghèo về xã hội Muốn cho người nghèo thoát nghèo cần phải quan tâm nhiềuhơn đến khía cạnh nghèo về con người và nghèo về xã hội, đặc bệt là nghèo vềcon người

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của trẻ em nghèo

Khả năng tiếp cận giáo dục đối với trẻ em nghèo đề cập tới khả năng củachúng được thụ hưởng với một mức độ và chất lượng nhất định dịch vụ này Khi

đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo, để có thể hình dung rõ

ràng khả năng tiếp cận dịch vụ này đối với trẻ em nghèo, cần phải so sánh với

khả năng tiếp cận của nhóm không nghèo Đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục

có thể sử dụng các chỉ tiêu trong bảng sau đây:

Bảng 1.3: Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em

Trang 37

Tiểu học Số đi học tiểu học đúng tuổi

Số 6-10 tuổi

Số bỏ học ở cấp tiểu học

Số đi học tiểu học đúng tuổi

Trung học cơ sở Số đi học THCS đúng tuổi

Số 11-14 tuổi

Số bỏ học ở cấp THCS

Số đi học THCS đúng tuổiTrung học phổ

Nguồn: PGS TS Nguyễn Văn Cầu, Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho

người nghèo, Tạp chí kinh tế phát triển tháng 11 năm 2006.

Số người đi học đúng tuổi ở mỗi cấp được xác định dựa trên tiêu thứcngười đó đang đi học, đã hoàn thành bậc học dưới, nhưng chưa hoàn thành bậchọc tương ứng với độ tuổi Số bỏ học ở mỗi cấp, ngược lại, là những người đãhoàn thành bậc học dưới, nhưng không tiếp tục đi học bậc tương ứng với độ tuổi.Các tỷ lệ trên có thể tính riêng cho nam và nữ, tính riêng cho từng vùng,tính riêng cho nhóm nghèo và không nghèo để có thể tiến hành so sánh Để đánh

giá khả năng tiếp cận giáo dục, có thể sử dụng các phương pháp so sánh như sau: Thứ nhất, so sánh trực tiếp các tỷ lệ trên giữa nhóm nghèo và không nghèo

để thấy rõ khả năng tiếp cận giáo dục của nhóm trẻ em nghèo so với nhóm trẻ

em không nghèo

Thứ hai, sử dụng phương pháp đường cong Lorenz để đánh giá mức độ công

bằng trong khả năng tiếp cận giáo dục giữa nhóm trẻ em nghèo và không nghèo.Đường cong này biểu diễn tỷ lệ % tích luỹ của biến giáo dục trên trục tung (y) và

tỷ lệ % tích luỹ của nhóm dân số tương ứng trên trục hoành (x), được sắp xếp theonhóm thu nhập, bắt đầu từ nhóm nghèo nhất cho tới nhóm giàu nhất trong dân số

Ví dụ như, đường cong có thể chỉ ra tỷ lệ % tích luỹ nhóm trẻ nghèo nhất đi họctiểu học đúng tuổi tương ứng với tỷ lệ % tích luỹ nhóm trẻ nghèo nhất từ 6-11tuổi Nếu tất cả trẻ em, không phân biệt mức thu nhập, có tỷ lệ % tích luỹ đi họctiểu học bằng nhau ở tất cả các nhóm thì sẽ hình thành nên một đường thẳng 45o,

Trang 38

chia đôi trục toạ độ thành hai phần bằng nhau, gọi là đường công bằng Còn nếu

tỷ lệ % tích luỹ của biến giáo dục có giá trị cao hơn (thấp hơn) trong số nhữngngười nghèo thì đường cong sẽ nằm ở trên (dưới) đường công bằng, thể hiện tìnhtrạng dễ (khó) tiếp cận giáo dục hơn đối với người nghèo Đường cong Lorenzcàng nằm xa đường công bằng bao nhiêu, càng thể hiện nhóm người nghèo khótiếp cận giáo dục hơn bấy nhiêu hay bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụgiáo dục càng cao bấy nhiêu

Thứ ba, có thể so sánh chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của nhóm

trẻ em nghèo và không nghèo (EAAI) Chỉ số này được xây dựng dựa trênnguyên tắc: chuyển các tỷ lệ thành các chỉ số rồi tổng hợp thành một chỉ số duynhất theo các trọng số thể hiện mức độ quan trọng của từng tỷ lệ

Các tỷ lệ được chuyển thành chỉ số bằng công thức sau:

) 1 (min

max

max

T T

T T

mà giá trị của chỉ số có ý nghĩa khác nhau Đối với chỉ số nhập học, giá trị chỉ số

càng gần 0 càng cho thấy khả năng tiếp cận giáo dục càng dễ dàng, tuy nhiên với

chỉ số bỏ học thì với giá trị càng gần 1 thì mới phản ánh khả năng tiếp cận giáo

dục càng hiệu quả hơn Và vì vậy, đối với chỉ số tổng hợp EAAI, giá trị của nócàng lớn, càng gần 1 bao nhiêu phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục càng dễdàng và hiệu quả bấy nhiêu Hệ thống các chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáodục được liệt kê trong bảng sau (Bảng 2) Riêng chỉ số nhập học giáo dục mầm

non được tổng hợp từ hai chỉ số nhập học nhà trẻ (I 1dNT ) và mẫu giáo (I 1dMG) theotrọng số thể hiện vai trò quan trọng của giáo dục tiền học đường (4-5 tuổi) đốivới trẻ em:

Trang 39

) 2 ( 4

3 1 1

I I

I  

Sau khi có đầy đủ các chỉ số tổng hợp, chúng ta tiến hành tính chỉ số đánh

giá khả năng tiếp cận giáo dục EAAI theo công thức (3) Các trọng số Ci đượcxác định với giả thiết rằng giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học là các dịch vụ

xã hội cơ bản và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, đồngthời giáo dục cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng hơn giáo dục cấp phổ thông(Bảng 1.5)

Bảng 1.4: Trọng số các thành tố phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục

Các thành tố Trọng số (Ci) Các thành tố Trọng số (Ci)

Tiểu học 0.35 Trung học phổ thông 0.1

Bảng 1.5: Hệ thống các chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục

Khả năng tiếp cận giáo dục mầm non (I1) I1d NA

Khả năng tiếp cận giáo dục tiểu học (I2) I2d I2b

Khả năng tiếp cận giáo dục THCS (I3) I3d I3b

Khả năng tiếp cận giáo dục THPT (I4) I4d I4b

Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục

4 1

i

i id

i

i ib

EAAI

Chỉ số tổng hợp = Chỉ số bỏ học - Chỉ số

Nguồn: PGS TS Nguyễn Văn Cầu, Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho

người nghèo, Tạp chí kinh tế phát triển tháng 11 năm 2006.

Chỉ số tổng hợp EAAI phần lớn có giá trị từ 0 đến 1, với khoảng 0,0 đếndưới 0,3 biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục rất kém, khoảng từ 0,3 đến dưới 0,5biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục kém, khoảng từ 0,5 đến dưới 0,7 biểu thị khảnăng tiếp cận giáo dục trung bình, khoảng từ 0,7 đến dưới 0,9 biểu thị khả năngtiếp cận giáo dục khá, khoảng từ 0,9 đến 1 biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục

Trang 40

tốt Nếu chỉ số này có giá trị âm, chỉ số nhập học còn lớn hơn cả chỉ số bỏ học,chứng tỏ khả năng tiếp cận giáo dục quá kém.

Ngoài ra để đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho người nghèo,các tổ chức quốc tế còn đánh giá mức độ chênh lệch giữa các vùng/nhóm dân cư

về tình trạng giáo dục được thể hiện thông qua việc tính toán chỉ số PAR(Population Antributable Risk - tức là sự rủi ro gắn với dân số Bản chất củaPAR là sự chênh lệch (độ lớn của sự thay đổi cần có) để toàn thể xã hội (tất cảcác nhóm dân cư) có được ưu thế (mức tiến bộ) tương đương như mức độ củanhóm dân cư hiện có ưu thế nhất Mở rộng ra, có nghĩa là mức chênh lệch giữađối tượng được so sánh (có thể là toàn thể hoặc chỉ là một bộ phận) và một đốitượng được chọn làm chuẩn (đối tượng có ưu thế nhất) về mức độ rủi ro đối vớimột hiện tượng nào đó (ví dụ trong trường hợp này là chênh lệch giữa các vùng

về tỷ lệ đi học tiểu học đúng tuổi của trẻ em 6-10 tuổi)

PAR được xác định như là một tỷ lệ giữa giá trị tuyệt đối của hiệu số giữagiá trị bình quân chung (I) và giá trị của nhóm dân cư có ưu thế nhất (Ia) và giátrị bình quân chung của chỉ tiêu là đối tượng so sánh Công thức để tính PARnhư sau:

|I - Ia|

PAR = -

IPAR: Mức độ rủi ro gắn với dân số

I: Giá trị bình quân chung (hoặc của nhóm dân cư/vùng cần phân tích).Ia: Giá trị của nhóm dân cư (hoặc vùng) có ưu thế nhất

Trong trường hợp so sánh tổng thể: I là giá trị bình quân chung của chỉ tiêu(ví dụ như mức bình quân chung của cả nước hoặc của tất các các nhóm dân cư)

Ia là giá trị của vùng hoặc nhóm dân cư có ưu thế nhất (tốt nhất) Có thể sử dụngPAR để so sánh cá biệt, khi đó giá trị I sẽ là của một vùng hoặc một nhóm dân cưxác định

Ngày đăng: 05/01/2018, 07:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w