Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng ý thức conngười là tồn tại thực tế, còn sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới chỉ cótrong cảm giác, trong khái niệm của chủ th
Trang 1TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC- LÊ NIN
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC MÁC
VÀ TRIẾT HỌC TRONG LỊCH SỬ VỀ VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN
HÀ NỘI, THÁNG 12-2017
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 NHẬN THỨC LUẬN- KHÁI NIỆM VÀ CÁC TƯ TƯỞNG TRƯỚC MÁC 3
1.1 Khái niệm 3
1.2.Các tư tưởng trước Mác về nhận thức luận 3
CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ BẢN CHẤT QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC 11
2.1.Khái quát chung sự khác biệt 11
2.2 Quan điểm của triết học Mác về nhận thức luận 13
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3MỞ ĐẦU
Lý luận nhận thức (hay nhận thức luận) được coi là học thuyết về khảnăng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thứccũng như về con đường, phương pháp nhận thức Từ trước đến nay, nó luôn
là một chủ đề lớn trong lịch sử tư tưởng triết học nói chung Trong lịch sửtriết học, vấn đề về nhận thức luôn đóng vai trò chủ yếu và thậm chí, có khi(thời cận đại ở Tây Âu) còn là vấn đề trung tâm của triết học Vấn đề này vớitính cách là một nội dung quan trọng trong vấn đề cơ bản của triết học, vềthực chất nó là vấn đề về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong quátrình nhận thức
Trước Mác, lịch sử triết học đã trải qua các thời kỳ phát triển khácnhau với các nền triết học rực rỡ như triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp-
La Mã Cổ đại, triết học Tây Âu trung, cận đại,… Mỗi nền triết học với các triếtgia tiêu biểu đã cho ra đời những quan niệm khác nhau về mặt nhận thức luận
So với triết học Mác thì về cơ bản những quan niệm này có nhiều điềukhác nhau, không thống nhất, và để tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề này, tác giả
lựa chọn đề tài: “Sự khác biệt giữa triết học Mác và triết học trong lịch sử
về vấn đề nhận thức luận” làm tiểu luận kết thúc môn học.
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CÁC CÁC TƯ TƯỞNG
VỀ NHẬN THỨC LUẬN TRƯỚC MÁC 1.1 Khái quát chung
Lý luận nhận thức là lý luận về khả năng nhận thức của con người, về
sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, về con đường và phương pháp nhậnthức là vấn đề có tầm quan trọng trong lịch sử triết học Quan niệm về nhậnthức, quá trình nhận thức và bản chất của nhận thức, trong lịch sử triết học từtrước đến nay đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau hết sức phong phú và
đa dạng
Có thể nói, mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học, tức vấn đềmối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, vật chất và ý thức là điểm xuất phát của lýluận nhận thức
Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng ý thức conngười là tồn tại thực tế, còn sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới chỉ cótrong cảm giác, trong khái niệm của chủ thể, trong cái tôi, do ý thức sản sinh
ra Xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủnghĩa duy tâm khách quan coi nhận thức là sự “hồi tưởng lại” của linh hồn bất
tử về “thế giới các ý niệm” hoặc là sự “tự ý thức về mình của ý niệm tuyệtđối”
Nói chung những người theo chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ sự côngnhận ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, đều cho rằng ý thức sảnsinh ra vật chất Với nhiều dạng khác nhau, dù công khai hay che đậy bằngnhững mánh khóe tinh vi, chủ nghĩa duy tâm cuối cùng cũng đi đến thừa nhận
sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên, của “Thượng đế”, do đó mà chủ nghĩaduy tâm đã trở thành cơ sở thế giới quan của tôn giáo
Trang 5Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm kháchquan, những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái hoài nghi
về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyêntắc của nhận thức Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năngnhận thức của con người Họ cho rằng con người chỉ nhận thức được cácthuộc tính bề ngoài, còn bản chất bên trong của sự vật thì không thể nhận thứcđược
Kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, một chủ nghĩa duy vật đượcC.Mác và Ăngghen đánh giá rất cao cũng không thoát khỏi những quan niệmphiến diện, hẹp hòi về nhận thức Chính vì vậy mà trong “Luận cương vềPhơ-bách, C.Mác đâ nêu lên một nhận định có tính tổng kết về hạn chế củachủ nghĩa duy vật và triết học trước đó về nhận thức rằng: “Khuyết điểm chủyếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay – kể cả chủ nghĩa duy vậtcủa Phơ-bách là sự vật, hiện thực khách thể hay hình thức trực quan, chứkhông được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn,không nhận thức được về mặt chủ quan.”
1.2 Cụ thể
1.2.1.Nhận thức luận trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại
Trường phái Nyàya - Vai’sesika: Thừa nhận sự tồn tại khách quan củađối tượng nhận thức; đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức v.v.Thước đo duy nhất để kiểm tra tính chân lý của các tri thức là thực tiễn
Trường phái Jaina: Cho rằng nhận thức là sự phản ánh thế giới, phảnánh tính biếnchuyển liên tục của thế giớiTôma Để nhận thức thế giới phảixây dựng và sử dụng hệ thống các khái niệm như là các công cụ đồng thờicũng là kết quả của sự nhận thức
Trang 6Trường phái Lokàyata: Phái này có khuynh hướng duy vật theo lậptrường kinh nghiệm luận Họ cho rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất, xácthực của nhận thức Các kết luận, các suy lý chỉ có giá trị trong mối liên hệvới thế giới một cách kinh nghiệm Họ phủ nhận tính chân lý của những trithức lý tính.
1.2.2 Nhận thức luận trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại
Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại là một trong những xuất phát điểmcủa lịch sử triết học thế giới Cho đến ngày nay, nó vẫn sáng lên ánh hàoquang của những trí tuệ bách khoa kỳ diệu của những khả năng tư duy triếthọc thiên tài, như:
Hêraclít (520 - 460 tr.CN): Ông cho rằng, nhận thức thế giới là nhậnthức lôgôt của vũ trụ, nghĩa là nhận thức tự nhiên và xã hội trong trạng tháiđấu tranh và hài hòa của những mâu thuẫn của chúng Ông rất coi trọng nhậnthức cảm tính nhưng không tuyệt đối nó Theo ông, thị giác thường bị lừa vì
tự nhiên thích giấu mình nên muốn nhận thức được nó phải tư duy, phải có ócsáng suốt Ông còn nêu lên tính tương đối của nhận thức tùy theo hoàn cảnh
và điều kiện mà thiện - ác, xấu tốt, lợi - hại chuyển hóa cho nhau
Đêmôcrít (460 - 370 tr.CN): Khác với nhiều nhà triết học trước đó phủnhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lýtính Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai dạng:
Dạng nhận thức mờ tối là dạng nhận thức cảm tính, do các giác quanđưa lại, dạng nhận thức theo "dư luận chung", nghĩa là những cảm giác nhưmùi vị, màu sắc, âm thanh v.v là những cảm giác phổ biến mà mọi người đềucảm nhận được một cách dễ dàng khi nhận thức Nhận thức cảm tính là nhậnthức chân thực nhưng còn mờ tối vì chưa nhận thức được cái bên trong, cáisâu kín của sự vật
Trang 7Dạng nhận thức chân lý là dạng nhận thức thông qua những phán đoánlô-gích, đó là dạng nhận thức được bản chất của sự vật, vì nó chỉ ra được cáikhởi nguyên của thế giới là nguyên tử, chỉ ra được tính đa dạng của thế giới là
do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử
Platôn (427 - 347 tr.CN) :Ông cho rằng, tri thức là cái có trước các sựvật cảm tính mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhậnthức các sự vật đó Những ý kiến xác thực được khơi dậy, được hồi tưởng lạinhờ các câu đối thoại giữa loài người thì sẽ trở thành tri thức Cách đối thoạinhư vậy được Platôn gọi là phương pháp biện chứng
Theo ông nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính vì linh hồn
trư-ớc khi nhập vào thể xác con người dưới trần thế thì ở thế giới bên kia đã cósẵn các tri thức.Do vậy, nhận thức của con người chỉ là quá trình nhớ lại, hồitưởng lại của linh hồn những cái đã bị lãng quyên trong quá khứ chứ khôngphải là sự phản ánh các sự vật của thế giới khách quan
Arixtốt (384 - 322 tr.CN): Trong lý luận nhận thức của mình, Arítxtốtthừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc kinhnghiệm và cảm giác Cảm giác đóng vai trò quan trọng trong nhận thức, nhờcảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết
về đối tượng, cảm giác là điểm khởi đầu trên con đường hình thành tư duykhoa học theo quá trình: cảm giác - biểu tượng - kinh nghiệm - nghệ thuật -khoa học Mối quan hệ giữa đối tượng và tri thức tuân theo trật tự thời gian:đối tượng nhận thức là cái tồn tại trước, tri thức là cái có sau
1.2.3 Nhận thức luận trong triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ
Lịch sử phát triển của xã hội Tây Âu thời kỳ trung cổ kéo dài hàngngàn năm khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XV Đây là giai đoạn mà xét về góc
độ triết học là bước thụt lùi so với thời kỳ cổ đại, song xét về sự phát triển của
Trang 8hình thái kinh tế-xã hội thì đây là thời kỳ đầu cho sự phát triển mới, gồm cácđại biểu sau:
Tômát Đacanh (1225 - 1274): ông cho rằng, mọi nhận thức diễn ratrong chủ thể nhờ tiếp thu ở khách thể những gì giống với chủ thể chứ khôngphải mọi tồn tại của khách thể đều được tiếp thu, đó là hình ảnh của sự vậtchứ không phải bản thân sự vật.Ông chia "hình dạng" thành hình dạng cảmtính và hình dạng lý tính Hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính, nhờhình dạng lý tính mà ta mới biết được cái chung chứa đựng nhiều thực thểriêng biệt Hình dạng cảm tính có vai trò trong nhận thức là nhờ nó mà cảmgiác trở nên cảm thụ tích cực
Đơn Xcốt (1265 - 1308): Tri thức được hình thành từ tinh thần và từđối tượng nhận thức Tinh thần tuy có vai trò to lớn trong nhận thức nhưngcũng vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức Cũng có cái ý chí "không
ai biết được" tựa hồ như quyết định tính chất hoạt động tinh thần của conngười Nhưng, theo ĐơnXcốt, chỉ có những sự vật đơn nhất, cá biệt mới làthực tại cao nhất
1.2.4 Nhận thức luận trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại
Những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhậnthức duy vật về thế giới trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng, nổi hơn cả
là thuyết nhật tâm (lấy mặt trời làm trung tâm) của Nicôlai Côpécních (1475 1543), để bác bỏ thuyết địa tâm của Ptôlêmê (người Hy Lạp thế kỷ II), mộtgiả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời Thuyết nhật tâmcủa Côpécních đã giáng một đòn nặng nhất vào thần học, vào thế giới quantôn giáo, vào những truyền thuyết của tôn giáo
Trang 9-Do sự phát triển của mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong xã hội Tây
Âu thời kỳ cận đại, đó là tiền đề cho sự phát triển rực rỡ của triết học, với cácđại diện tiêu biểu sau:
Bru nô (1548-1600):Nhận thức luận của Bru-nô có ý nghĩa lớn đối với
sự phát triển của triết học Ông đã nêu ra quan niệm biện chứng trong vấn đềnhận thức giới tự nhiên: "Ai muốn nhận thức những bí mật của giới tự nhiênthì hãy xem xét cái tối thiểu và cái tối đa của những mâu thuẫn và những mặtđối lập" Ông đề cao vai trò của thực nghiệm và kinh nghiệm đòi hỏi khoa học
tự nhiên phải dựa trên thực nghiệm, đồng thời cũng hết sức coi trọng tư duy lýtính trong quá trình nhận thức Mục đích cao nhất của tư duy là nắm bắt đượcqui luật tự nhiên
Quá trình nhận thức được Brunô chia thành ba giai đoạn Giai đoạnđầu là cảm giác, giai đoạn hai là là lý trí và giai đoạn cuối cùng- giai đoạn cao
là trí tuệ Brunô đã bị Giáo hội thiêu sống chính vì những tư tưởng triết họcduy vật chống lại chủ nghĩa kinh viện và những người đứng đầu giáo hội
Phranxi Bêcơn (1561 - 1621): Ông cho rằng con người cần thống trị,phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó có thực hiện được hay không, tất cả phụthuộc vào sự hiểu biết của con người Bêcơn cho rằng tri thức là sức mạnh,sức mạnh là tri thức
Theo Bêcơn, phương pháp nhận thức tốt nhất là phương pháp quy nạptức là phương pháp đi từ cái riêng lẻ, ít chung hơn đến cái khái quát trừutựơng, nhiều chung hơn Tri thức chân chính chỉ có thể đạt được bằng cáchgiải thích những liên hệ nhân quả Bêcơn coi phương pháp thực nghiệm làcông cụ chủ yếu của nhận thức khoa học; khoa học cần nhận thức giới tựnhiên, chứ không cần những giáo lý của thần học
Trang 10Tômát Hốpxơ (1588 - 1679): Hốpxơ đã phát triển tư tưởng đúng đắncho rằng, cơ sở nhận thức là tri giác cảm tính Nhưng do hạn chế về mặt lịch
sử, Hốpxơ vẫn chưa thể hiểu được mối quan hệ biện chứng của nhận thứccảm tính và lý tính
Xpinôda (1632 - 1677):Nhận thức luận của Xpinôda gồm bốn nộidung chính Một là, Thừa nhận khả năng nhận thức của con người là vô hạn;hai là, Không thừa nhận có tư tưởng bẩm sinh và cho rằng, nhiệm vụ của nhậnthức là phải đạt tới việc phát hiện ra sự tồn tại của những nguyên nhân kháchquan của các "dạng thức", tức là của các sự vật đơn nhất; ba là, Chia quá trìnhnhận thức của con người thành nhận thức cảm giác, nhận thức giác tính vàtrực giác Trực giác lý tính giúp chúng ta nhận thức được bản chất đích thựccủa thực thể; bốn là, Giải quyết mối quan hệ giữa tất yếu và tự do một cáchduy vật, tất yếu và tự do không loại trừ nhau, mà phụ thuộc vào nhau- muốn
có tự do phải nhận thức và hành động theo cái tất yếu
1.2.5 Nhận thức luận trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX
-Kant (1724 - 1804): Ông chia tri thức của con người ra làm hailoại: tri thức kinh nghiệm cảm giác và tri thức “tiên nghiệm” (tri thức có sẵn);ông chia nhận thức của con người làm ba giai đoạn: Trực quan cảm tính, Giáctính phân tích và Lý tính
Lútvích Phơbách (1804 - 1872): Công lao của Phoiơbắc ở chỗ ôngcông nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới, những gì hôm naychưa nhận thức được thì các thế hệ mai sau tiếp tục nhận thức Đối tượngnhận thức là giới tự nhiên, là thế giới vật chất không phụ thuộc vào ý thức củacon người Ông đã phê phán kịch liệt những người theo chủ nghĩa hoài nghi
và thuyết không thể biết
Trang 11Trong khi phát triển lý luận nhận thức duy vật, Phơibách chỉ mới hiểuđược thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu của con người về tinh thần, về sinh
lý, mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt động vậtchất của con người, là lao động sản xuất vật chất, là đấu tranh giai cấp trong
xã hội của con người, và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thứccảm tính và lý tính Đó là những hạn chế của ông trong lý luận nhận thức
Trang 12CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ BẢN
CHẤT QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC 2.1.Khái quát chung sự khác biệt
Đối lập với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năngnhận thức của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực kháchquan vào trong đầu óc của con người Tuy nhiên do hạn chế bởi tính trựcquan, siêu hình nên chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phảnánh trực quan, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật Họchưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước triết học Lênin đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về
Mác-lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấyđược vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, kháiquát các thành tựu khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên họcthuyết biện chứng duy vật về nhận thức Học thuyết này ra đời đã tạo ra mộtcuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì đã xây dựng được những quanđiểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức Học thuyết này ra đờidựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với
ý thức của con người Theo đó, xét về bản chất, nhận thức luôn mang tính thứhai, bị quyết định, chi phối bởi thế giới khách quan
Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người, coinhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, làhoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể Vì vậy, về nguyên tắc, không có cái
gì mà con người không thể biết, chỉ có cái con người chưa biết Trong tương
Trang 13lai, với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, dần dần con người sẽ biết.Nhận thức chỉ có thể hoàn thành và thực hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể
và khách thể nhận thức Con người là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhậnthức Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ýchí, phẩm chất đạo đức… đều tham gia vào quá trình nhận thức với nhữngmức độ khác nhau và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức Còn khách thể nhậnthức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bắt,phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Do vậy,khách thể nhận thức không hoàn toàn đồng nhất với toàn bộ hiện thực kháchquan, phạm vi của khách thể rộng đến đâu là tùy theo sự phát triển của khoahọc Như vậy, cả chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức đều mang tính lịchsử-xã hội
Ba là, khẳng định nhận thức là một quá trình tích cực, biện chứng,sáng tạo Sự phản ánh thế giới là một quá trình vận động, phát triển, mâuthuẫn chứ không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và thụđộng Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động(nhận thức cảm tính) đến tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) rồi từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đếnbản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
Bốn là, nhận thức là quá trình trong đó con người thông qua hoạt độngthực tiễn tác động vào hiện thực khách quan để nhận thức bản chất và quyluật của hiện thực Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn.Thực tiễn vừa là động lực vừa là mục đích của nhận thức đồng thời là tiêuchuẩn của chân lý
Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thếgiới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn