1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hệ thống chính trị và phát triển bền vững ở Việt nam

29 230 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 265,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội baogồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp phápđược liên kết với nhau trong một hệ t

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

MỞ ĐẦU

Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, phát triển bền

vững đã sớm trở thành một mục tiêu chiến lược quan trọng của Đảng Cộng

sản và Nhà nước Việt Nam Tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam đãkhẳng định: phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao

và bền vững hơn, gắn với phát triển con người; thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởngkinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn

đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người; bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tàinguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên; hoàn chỉnh luật pháp, tăngcường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên…

Trên thực tế, ngay từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế

kỷ XX, cùng với việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm phát triểnnền kinh tế - xã hội của đất nước, Việt Nam đã tích cực tiến hành công cuộcđổi mới toàn diện đất nước, tìm tòi và vận dụng nhiều biện pháp quan trọng

để phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; cam kết thựchiện đầy đủ Chương trình Nghị sự 21 Trong tiến trình phấn đấu thực hiện

mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, Việt

Nam luôn kiên trì và thực hiện một cách nghiêm túc các cam kết quốc tế và

đã đạt được những thành công lớn, có ý nghĩa quan trọng trên cả ba mục tiêu

cơ bản: tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, được thếgiới thừa nhận và đánh giá cao

Hiện nay, trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, vấn đề phát triểnbền vững lại không ngừng được đặt ra và được xem là yếu tố luôn song hànhtrong quá trình đổi mới đó

Để làm rõ vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài: “Hệ thống chính trị và

sự phát triển bền vững ở Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn học.

Trang 3

Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội baogồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp phápđược liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quátrình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thờiphù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước

và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chínhtrị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền

- Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủthể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nộidung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chínhcủa quyền lực Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thựchiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Hệthống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiếnbinh Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dânđược thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 4

Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhândân.

2 Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự pháttriển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trongtương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trênthế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, vănhóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồnthiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơngiản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh

tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đếnmôi trường sinh thái học”

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáoBrundtlanc (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban môi trường

và phát triển thế giới –WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghirõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầuhiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầucủa các thế hệ tương lai

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từnhững năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiềuđịnh nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựatrên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầuhiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăngtrưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả

Trang 5

nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Pháttriển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, songkhông làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tươnglai.

– Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại màkhông làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầucủa họ

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our commonfuture) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liênhợp quốc [89], “phát triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát triển đápứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đápứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Định nghĩa này được nhiều tổ chức vàquốc gia trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm

về phát triển bền vững vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ giữacác thế hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo

ra phát triển bền vững, vì suy cho cùng, bản chất của phát triển bền vững tức

là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia,dân tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắnvới sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cầnphải có Tuy nhiên, định nghĩa này thiên về đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho sựPTBV, mà chưa nói đến bản chất các quan hệ nội tại của quá trình phát triểnbền vững là thế nào?

Chính vì vậy, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra địnhnghĩa cụ thể hơn, đó là: “phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới,lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chấtlượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhucầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối

Trang 6

quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhucầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảotoàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường Tuy vậy, định nghĩa nàyvẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của pháttriển bền vững và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình pháttriển bền vững phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo

ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thayđổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường

tự nhiên Theo hướng phân tích đó, Luận án đề xuất một cách định nghĩa cụthể hơn về phát triển bền vững, đó là: phát triển bền vững là một phương thứcphát triển kinh tế- xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT với mục tiêu đáp ứng tốt hơncác nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứngnhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà

cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừngnâng cao chất lượng sống của con người Định nghĩa này có thể mở rộng với

ba cấu thành cơ bản về sự phát triển bền vững:

– Về mặt kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo rahàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chínhphủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đếnsản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

– Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được

sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y

tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọicông dân

– Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trìnền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lựctái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các

Trang 7

nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế mộtcách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn địnhkhí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như cácnguồn lực kinh tế.

II Nguyên nhân dẫn đến đổi mới chính trị ở Việt Nam

1 Nguyên nhân khách quan

 Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ trên thế giới

 Xu thế đổi mới kinh tế ở các cường quốc lớn trên thế giới: Mỹ,Liên Xô, Trung Quốc …

 Đòi hỏi bức thiết tình hình đất nước sau 10 năm 1975 -1985:Khủng hoảng kinh tế xã hội hàng chục năm

2 Về chủ quan

Đảng đã có ba bước đổi mới kinh tế cục bộ:

 Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu khóa IV với những chínhsách làm cho sản xuất "bung ra"; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa IV vềkhoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong hợp tác xãnông nghiệp; các Quyết định 25/CP và 26/CP của Thủ tướng Chính phủ

Hội nghị Trung ương tám khóa V tháng 6 -1985 về giá - lương - tiềnvới chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chếmột giá

 Kết luận của Bộ Chính trị khóa V tháng 8-1986 xác định cơ cấukinh tế nhiều thành phần, sử dụng đúng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, xóa bỏ cơchế tập trung quan liêu, bao cấp

Những thử nghiệm ban đầu nêu trên là tiền đề quan trọng hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

III Đường lối xây dựng hệ thống chính trị.

Trang 8

1 Đường lối xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ trước đổi mới (1945-1986)

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị

1.1.1 Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân (1945 - 1954)

Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hoà ra đời đánh dấu sự hình thành ở nước ta một hệ thống chính trị cáchmạng với các đặc trưng sau đây:

Có nhiệm vụ thực hiện đường lối cách mạng “Đánh đuổi bọn đế quốcxâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xoá bỏ những ditích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế

độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội” Khẩu hiệu “Dân tộctrên hết, Tổ quốc trên hết” là cơ sở tư tưởng cho hệ thống chính trị giai đoạnnày Dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc hết sức rộng rãi: khôngphân biệt giống nòi, giai cáp, tôn giáo, ý thức hệ, chủ thuyết; không chủtrương đấu tranh giai cấp Đặt lợi ích của dân tộc là cao nhất

Có một chính quyền tự xác định là công bộc của dân, coi dân là chủ vàdân làm chủ, cán bộ sống và làm việc giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư

Vai trò lãnh đạo của Đảng (từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 2 năm1951) được ẩn trong vai trò của Quốc hội và Chính phủ, trong vai trò của cánhân Hồ Chí Minh và các đảng viên trong Chính phủ

Có một Mặt trận (Liên Việt) và nhiều tổ chức quần chúng rộng rãi, làmviệc tự nguyện, không hưởng lương và không nhận kinh phí hoạt động từnguồn ngân sách Nhà nước, do đó không có điều kiện công chức hóa, quanliêu hoá

Cơ sở kinh tế chủ yếu của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân là nềnsản xuất tư nhân hàng hoá nhỏ, phân tán, tự cấp, tự túc; bị kinh tế thực dân vàchiến tranh kìm hãm, chưa có viện trợ - Đã xuất hiện (ở một mức độ nhất

Trang 9

định) sự giám sát của xã hội dân sự đối với Nhà nước và Đảng; sự phản biệngiữa hai đảng khác (Đảng Dân chủ và Đảng xã hội) đối với Đảng Cộng sảnViệt Nam Nhờ đó đã giảm thiểu rõ rệt các tệ nạn thường thấy phát sinh trong

bộ máy công quyền

1.1.2 Hệ thống chuyên chính vô sản (1955 - 1975 và 1975 – 1986)

Ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thìthắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu củacách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳ thực hiện nhiệm vụ lịch

sử của chuyên chính vô sản Bước ngoặt lịch sử này đã diễn ra trên miền Bắccách đây hơn năm mươi năm và từ sau ngày 30-4-1975 diễn ra trong phạm vi

cả nước

Từ tháng 4-1975, với thắng lợi hoàn toàn và triệt để của sự nghiệpchống Mỹ cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giaiđoạn tiến hành các mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước Do đó hệ thốngchính trị của nước ta cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyênchính dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản trongphạm vi nửa nước (1955-1975) sang hệ thống chuyên chính vô sản hoạt độngtrong phạm vi cả nước

Bước sang giai đoạn mới, Đại hội IV của Đảng nhận dịnh rằng, muốnđưa sự nghiệp cách mạng đến toàn thắng, “điều kiện quyết định trước tiên làphải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện vàkhông ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”

1.1.3 Cơ sở hình thành hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta

Một là, lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ và về chuyên chính vôsản

C.Mác đã chỉ ra rằng: giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sảnchủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ đến xã hội kia.Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, nhà nước của thời kỳ

Trang 10

ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp

vô sản V.I.Lênin nhấn mạnh: muốn chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa

xã hội thì phải chịu đựng lâu dài nỗi đau đớn của thời kỳ sinh đẻ, phải có mộtthời kỳ chuyên chính vô sản lâu dài Bản chất của chuyên chính vô sản là sựtiếp tục đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới

Chuyên chính vô sản là một tất yếu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tưbản đến chủ nghĩa xã hội Nhưng việc vận dụng tư tưởng này cần xuất phát từđiều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia Thí dụ, sự vận dụng sáng tạochuyên chính vô sản vào tình hình cụ thể nước ta đã được thể hiện sinh độngtrong việc ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và hệ thống chính trịDân chủ nhân dân giai đoạn 1945 -1954

Hai là, đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạnmới.Trong Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976)

về đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ởnước ta, có đoạn viết: nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng:cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tưtưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt Ngày18-12-1980, Quốc hội khoá VI thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, trong đó khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản”

Như vậy, về thực chất, kể từ Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) chođến khi Đảng đề ra đường lối đổi mới đất nước, hệ thống chính trị nước tađược tổ chức và hoạt động theo các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của chuyênchính vô sản và do vậy, tên gọi chính thức của hệ thống này được xác định là

hệ thống chuyên chính vô sản

Ba là, cơ sở chính trị của hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta đượchình thành từ năm 1930 và bắt rễ vững chắc trong lòng dân tộc và xã hội

Trang 11

Điểm cốt lõi của cơ sở chính trị đó là sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối củaĐảng Mặc dù ở miền Bắc Đảng Cộng sản không phải là đảng chính trị độcnhất mà còn có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, nhưng những đảng chính trị nàythừa nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam

và là thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Bốn là, cơ sở kinh tế của hệ thống chuyên chính vô sản là nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp Đó là một nền kinh tế hướng tớimục tiêu xoá bỏ nhanh chóng và hoàn toàn chế độ tư hữu đối với tư liệu sảnxuất với ý nghĩa là nguồn gốc và cơ sở của chế độ người bóc lột người, thiếtlập chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức;

sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể; loại bỏ triệt để cơ chế thị trường, thiết lập

cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp Nhà nước trởthành một tổ chức kinh tế bao trùm Từ đó cách tổ chức và hoạt động của hệthống chuyên chính vô sản không thể không phản chiếu cả ưu điểm, lẫn hạnchế, sai lầm của mô hình kinh tế này

Năm là, cơ sở xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản là liên minhgiữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Kết quảcủa cuộc đấu tranh giai cấp “ai thắng ai” trong lĩnh vực chính trị, kinh tế vàkết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủnghĩa, đã tạo nên một kết cấu xã hội bao gồm chủ yếu là hai giai cấp và mộttầng lớp: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Tình hìnhnày đã ảnh hưởng đến sự thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc

1.2 Chủ trương xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản mang đặc điểm Việt Nam

Trong giai đoạn này việc xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản đượcquan niệm là xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; tức là xâydựng một hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ xã hội thể hiện ngày càng đầy đủ

sự làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn

Trang 12

hoá, xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân Do đó,chủ trương xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản gồm những nội dung sauđây:

Một là, xác định quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hoá bằngpháp luật và tổ chức

Hai là, xác định Nhà nước trong thời kỳ quá độ là “Nhà nước chuyênchính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”, là một tổ chức thựchiện quyền làm chủ tập thể của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, một

tổ chức thông qua đó Đảng thực hiện sự lanh đạo của mình đối với tiến trìnhphát triển của xã hội Muốn thế Nhà nước ta phải là một thiết chế của dân, dodân, vì dân, đủ năng lực tiến hành ba cuộc cách mạng, xây dựng chế độ mới,nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới

Ba là, xác định Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động xã hội trongđiều kiện chuyên chính vô sản Sự lãnh đạo của Đảng là đảm bảo cao nhấtcho chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, cho sự tồn tại và hoạt độngcủa Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bốn là, xác định nhiệm vụ chung của Mặt trận và các đoàn thể là đảmbảo cho quần chúng tham gia và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời

là trường học về chủ nghĩa xã hội Vai trò và sức mạnh của các đoàn thểchính là ở khả năng tập hợp của quần chúng, hiểu rõ tâm tư và nguyện vọngcủa quần chúng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quần chúng Muốnvậy, các đoàn thể phải đổi mới hình thức tổ chức, nội dung và phương thứchoạt động cho phù hợp với điều kiện mới Hoạt động của các đoàn thể phảinăng động, nhạy bén với những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống, khắcphục bệnh quan liêu, giản đơn và khô cứng trong tổ chức và trong sinh hoạt

Mở rộng các hình thức tổ chức theo nghề nghiệp, theo nhu cầu đời sống vànhu cầu sinh hoạt văn hoá để thu hút đông đảo quần chúng vào các hoạt động

xã hội, chính trị

Trang 13

Năm là, xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhànước quản lý là cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội.

Đánh giá sự thực hiện đường lối

Hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản giai đoạn 1975-1986 đượcchỉ đạo bởi các đường lối của các Đại hội IV và V của Đảng đã góp phầnmang lại những thành tựu mà nhân dân ta đạt được trong 10 năm (1975-1986)đầy khó khăn, thử thách Điểm tìm tòi sáng tạo trong giai đoạn này của Đảng

là đã coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của hệ thống chuyênchính vô sản ở nước ta, đã xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dânlàm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong hoạt động của hệ thốngchính trị ở tất cả các cấp, các địa phương

Trong hệ thống chuyên chính vô sản giai đoạn này, mối quan hệ giữaĐảng, Nhà nước và nhân dân ở từng đơn vị chưa được xác định thật rõ; mỗi

bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa làm tốt chứcnăng của mình Chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế xã hội chủ nghĩacòn nhiều thiếu sót

Bộ máy nhà nước cồng kềnh và kém hiệu quả mà cơ chế quản lý tậptrung quan liêu, bao cấp là nguyên nhân trực tiếp; các cơ quan dân cử các cấpđược lựa chọn, bầu cử và hoạt động một cách high thức chủ nghĩa Không ít

cơ quan chính quyền không tôn trọng ý kiến của nhân dân, không làm côngtác vận động quần chúng, chỉ quen dùng các biện pháp mệnh lệnh hành chính

Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạnmới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vần đề kinh tế -xã hội cơbản và cấp bách Nguồn gốc sâu xa là coi nhẹ công tác xây dựng Đảng Cótình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng, độc đoán trong phương thức lãnhđạo của Đảng Trong 10 năm (1976 - 1986) trên 19 vạn đảng viên bị đưa rakhỏi Đảng, có những người bị truy tố trước pháp luật Trong số đó một phầnkhá lớn là những đảng viên phạm sai lầm về phẩm chất đạo đức

Trang 14

Đảng chưa phát huy tốt vai trò và chức năng của các đoàn thể trongviệc giáo dục, động viên quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội Cácđoàn thể chưa tích cực đổi mới phương thức hoạt động đúng với tính chất của

tổ chức quần chúng

Nguyên nhân chủ quan:

 Duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp

 Hệ thống chuyên chính vô sản có biểu hện bảo thủ, trì trệ, chậmđổi mới so với những đột phá trong cơ chế kinh tế đang diễn ra ở các địaphương, các cơ sở trong toàn quốc Do đó đã cản trở quá trình đổi mới cơ chếkinh tế

 Bệnh chủ quan, duy ý chí; tư tưởng tiểu tư sản vừa “tả” khuynh,vừa hữu khuynh trong vai trò lãnh đạo của Đảng

Những hạn chế, sai lầm trên đây cùng những yêu cầu của công cuộc đổimới, đã thúc đẩy chúng ta phải đổi mới hệ thống chuyên chính vô sản thành

hệ thống chính trị trong thời kỳ mới

2 Đường lối xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới

2.1 Quá trình hình thành đường lối đổi mới hệ thống chính trị

Nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị.

Đảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh

tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thốngchính trị Phải tập trung đổi mới kinh tế trước hết, vì có đổi mới thành công vềkinh tế mới tạo được điều kiện cơ bản để tiến hành đổi mới hệ thống chính trịthuận lợi Mặt khác, nếu không đổi mới hệ thống chính trị, thì đổi mới kinh tế

sẽ gặp trở ngại Hệ thống chính trị được đổi mới kịp thời, phù hợp sẽ là điềukiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế Như vậy, đổi mới

hệ thống chính trị là đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch

Ngày đăng: 03/01/2018, 19:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w