1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi huyện lâm bình, tỉnh tuyên quang

127 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trước khi bước vào bậc học Tiểu học vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được mục tiêu mong đợi như: chất l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN NGỌC HOÀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ 5 TUỔI HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN NGỌC HOÀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ 5 TUỔI HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Hoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Tâm lý Giáo dục,Trường Đại học Sư phạm-Đại học Thái Nguyên

đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ - Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ bảo tận tình, chu đáo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Cảm ơn các trường Mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang đã cung cấp

số liệu, tạo điệu kiện khảo sát, tham gia ý kiến giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những ha ̣n chế Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Ngọc Hoàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ 5 TUỔI 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 8

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 10

1.2.1 Đánh giá, đánh giá kết quả giáo dục 10

1.2.2 Phổ cập giáo dục, giáo dục mầm non 13

1.2.3 Phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi 14

1.2.4 Đánh giá kết quả giáo dục mầm non 15

1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 15

1.3 Một số vấn đề về đánh giá kết quả phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi 17

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 17

1.3.2 Nội dung đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầm non 5 tuổi 19

1.3.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 20

1.3.4 Hình thức đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầm non 5 tuổi 21

Trang 6

1.3.5 Tiêu chí đánh giá 22

1.3.6 Công cụ đánh giá 23

1.4 Vấn đề quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 24

1.4.1 Lập kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 24

1.4.2 Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 25

1.4.3 Chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá 26

1.4.4 Kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 27

1.5 Những yếu tố ảnh hướng đến việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 28

1.5.1 Yếu tố khách quan 28

1.5.2 Yếu tố chủ quan 32

Kết luận chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ 5 TUỔI Ở HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG 36

2.1 Khái quát vê tình hình phát triển kinh tê, văn hóa - xã hội và giáo dục của huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 36

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 36

2.1.2 Khái quát về giáo dục mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 37

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 37

2.3 Thực trạng đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 39

2.3.1 Thực trạng về nội dung đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh tuyên Quang 39

2.3.2 Thực trạng về phương pháp đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh tuyên Quang 43

2.3.3 Thực trạng về hình thức đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh tuyên Quang 46

2.3.4 Thực trạng về tiêu chí đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh tuyên Quang 51

Trang 7

2.3.5 Thực trạng về công cụ đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non huyện

Lâm Bình, tỉnh tuyên Quang 53

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 56

2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 56

2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 57

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 60

2.4.4 Thực trạng kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 68

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 70

2.5.1 Yếu tố chủ quan 70

2.5.2 Yếu tố khách quan 73

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 74

2.5.1 Điểm mạnh 75

2.4.2 Hạn chế 77

Kết luận chương 2 79

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI Ở HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG 80

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 80

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 80

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 80

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 80

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 80

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 80

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 81

3.2.1 Biện pháp 1 Kiện toàn ban chỉ đạo và nâng cao chất lượng về quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi 81

Trang 8

3.2.2 Biện pháp 2 Xây dựng quy trình đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm

non cho trẻ 5 tuổi 84

3.2.3 Biện pháp 3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực đánh giá cho đội ngũ giáo viên, chuyên viên trong công tác đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi 86

3.2.4 Biện pháp 4 Hoàn thiện bộ công cụ các tiêu chí đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phù hợp với điều kiện thức tế của địa phương 88

3.2.5 Biện pháp 5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tổng kết trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi 91

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tình khả thi của các biện pháp 95

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 95

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 95

3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 95

3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm 95

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 95

Kết luận chương 3 100

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101

1 Kết luận 101

2 Khuyến nghị 102

2.1 Đối với Ủy ban Nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 102

2.2 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 103

2.3 Đối với cán bộ quản lý 103

2.4 Đối với các trường mầm non 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 109

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng nội dung đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non

cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 42 Bảng 2.2 Thực trạng các phương pháp, cách thức thực hiện công tác kiểm tra,

đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi của các trường mầm non huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 44 Bảng 2.3 Thực trạng các hình thức đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non

cho trẻ 5 tuổi tại các đơn vị ở Huyện Lâm Bình, Tỉnh Tuyên Quang 47 Bảng 2.4 Thực trạng về mức độ sử dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả

phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 50 Bảng 2.5 Thực trạng về tiêu chí đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non

cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 52 Bảng 2.6 Thực trạng về việc sử dụng các công cụ đánh giá kết quả phổ cập giáo

dục mầm non trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 54 Bảng 2.7 Thực trạng lập kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm

non trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 56 Bảng 2.8 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo

dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 58 Bảng 2.9 Thực trạng công tác chỉ đạo, điều hành của cấp uỷ Đảng, Chính

quyền huyện Lâm Bình, Tỉnh Tuyên Quang về hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 61 Bảng 2.10 Thực trạng Công tác chỉ đạo, điêu hành của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo

dục các cấp về việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 65 Bảng 2.11 Thực trạng kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục

mầm non cho trẻ 5 tuổi tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 69 Bảng 2.12 Nhận thức của cán bộ quản lý về sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan

trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 71 Bảng 2.13 Nhận thức của cán bộ quản lý về sự ảnh hưởng của các yếu tố khách

quan trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang 73 Bảng 3.1 Khảo sát tính cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 96

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp giáo dục có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước

về trước mắt cũng như lâu dài Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển Giáo dục - Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững” Trong Hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, đây là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Bác Hồ kính

yêu đã từng nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”

Chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp ủy đảng, chính quyền, của mỗi gia đình và toàn xã hội Trẻ em được tiếp cận với giáo dục mầm non sớm sẽ thúc đẩy quá trình học tập, phát triển về thể chất, nhân cách, trí tuệ trong giai đoạn tiếp theo, nhất là trẻ 5 tuổi - thời kỳ có tính quyết định để tạo tiền đề phát triển toàn diện trong tương lai

Thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW (5/12/2011) của Bộ Chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi [15], các địa phương trong cả nước tập trung công tác chỉ đạo tiến hành chăm lo phát triển Giáo dục Mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và các trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đảm bảo cho trẻ 5 tuổi đều được đến trường học tập, vui chơi Sau một thời gian triển khai, nhiều địa phương của nước ta

đã thực hiện thành công việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Lâm Bình là huyện vùng cao, vùng sâu, xa của tỉnh Tuyên Quang, mới được thành lập vào ngày 28/01/2011 theo Nghị quyết số 07-NQ/CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Na Hang và huyện Chiêm Hóa Đây là huyện cách trung tâm Thành phố Tuyên Quang 150 km, có địa hình chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, nhiều khe suối chia cắt, đất rộng chủ yếu là núi, rừng phòng hộ, hồ thủy điện Tuyên Quang; người thưa gồm hơn chục dân tộc thiểu số, trong đó đông nhất là các dân tộc Tày, Dao và Mông

Ngay sau khi thành lập, được sự quan tâm, chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, các cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương đã bước đầu thực hiện có hiệu quả công tác

Trang 11

giáo dục đào tạo, quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Lâm Bình được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân Năm 2013 huyện Lâm Bình đã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trước khi bước vào bậc học Tiểu học vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được mục tiêu mong đợi như: chất lượng công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi chưa cao, trẻ vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, thể lực, và tâm lý sẵn sàng

đi học; Sự chỉ đạo của ban chỉ đạo phổ cập còn chưa được sát sao, kết quả đánh giá còn chưa được chi tiết, công tác đánh giá còn mang tính hình thức, chưa chỉ ra được những mặt yếu cụ thể để các đơn vị khắc phục; bất cập về công tác điều tra cập nhật

số liệu; công tác quản lý hoạt động phổ cập giáo dục theo địa bàn, hướng dẫn giảng dạy, duy trì các lớp phổ cập giáo dục, đối tượng chuyển đi, chuyển đến, chưa triệt để… trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý

Nhằm góp phần củng cố kết quả và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tạo tiền đề cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi sau, tôi chọn đề tài

“Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đối với bậc học Mầm non

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

* Khách thể nghiên cứu

Hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

* Đối tượng nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động đánh kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

Trang 12

4 Giả thuyết khoa học

Chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng phổ cập là công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục Hiện nay, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tuy nhiên trong quá trình thực hiện phổ cập vẫn gặp nhiều khó khăn, chất lượng chưa cao, những kỹ năng và kiến thức cần thiết để trẻ vào lớp 1 còn nhiều hạn chế… Vì vậy nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang một cách khoa học phù hợp với đặc điểm của trẻ mầm non 5 tuổi và điều kiện thực tiễn của huyện Lâm Bình, thì sẽ nâng cao được chất lượng phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi trong thời gian tới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn khách thể điều tra

Để thực hiện đề tài trên, tôi tiến hành điều tra trên tổng số 61 người (trong đó: Đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang: 03 người; Cán bộ quản lý và chuyên viên Phòng Giáo dục huyện Lâm Bình: 5 người; Hiê ̣u trưởng các trường Mầm non: 8 người; Cán bộ, giáo viên làm công tác phổ cập: 20 người; cán bộ Ủy ban Nhân dân xã, thôn: 25 người)

6.2 Giới hạn thời gian nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng số liệu khảo sát từ năm học 2015 - 2017

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn bản liên quan đến quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

Trang 13

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pha ́ p phỏng vấn

Trao đổi, trò chuyện với cán bộ quản lí phòng giáo dục và đào tạo, giáo viên tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và phụ huynh học sinh tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ về việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; qua đó nắm bắt thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng anket

Điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập những thông tin về các hoạt động quản lý của cán bộ quản lí, giáo viên về việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Đồng thời biết được các cách thức thực hiện phổ cập cũng như đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nghiên cứu các báo cáo về việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em

5 tuổi Nghiên cứu về cách quản lý, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi để bổ sung, hoàn thiện thông tin về các vấn đề đã điều tra

7.2.4 Phương pháp dự báo

Dựa trên kết quả điều tra cũng như trao đổi, trò chuyện với ban chỉ đạo, cán bộ quản lý phòng giáo dục và đào tạo, các trường mầm non và giáo viên tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; đưa

ra những nhận định, dự báo về việc quản lý hoạt động đánh giá phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi tại huyện, từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập này

7.2.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Trao đổi với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm nhằm tiếp thu ý kiến của họ về tính cần thiết, tầm quan trọng và tính khả thi của các biện pháp đề xuất để có những kết luận chính xác và định hướng vận dụng các biện pháp đó vào trong thực tiễn

7.3 Phương pháp bổ trợ

Để có những nhận xét khách quan về kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê toán học sau:

Trang 14

* Tính số trung bình cộng:

Công thức:

1

n i i

x X

Trong đó: + m là số lượng khách thể trả lời

+ n là số lượng khách thể được nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về “quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo

dục mầm non cho trẻ 5 tuổi”

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm

non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

Chương 3: Biện pháp pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục

mầm non cho trẻ 5 tuổi ở huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ 5 TUỔI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Tại một số nước Châu Âu, đã từ lâu việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo đã được đề cập đến Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:

Theo Koppich, J E (2008), (Reshaping Teacher Policies to Improve Student

Achievement Berkeley, CA: Policy Analysis for California Education Retrieved

10/2/09 from gse.berkeley edu/research/pace/reports/PB.08-3.pdf), ông viết rằng

“Đánh giá có hai chức năng cổ điển chính là cải tiến và trách nhiệm giải trình Đánh giá tốt là loại đánh giá duy trì phát triển chuyên môn tốt” [63] Tuy nhiên, Heneman

và Jerald lại cho rằng: “Thực tiễn đánh giá hiện tại thường thiếu đồng bộ với tiêu

Chuẩn chương trình và nỗ lực phát triển chuyên môn, và không mang lại kết quả hỗ trợ giảng dạy có mục tiêu” [59], [61]

Các hạng mục đánh giá giáo viên của Kim Marshall (Teacher Evaluation Rubics,

Revised May 16) đã đưa ra những lí do và đề nghị cho việc thực hiện đánh giá

Những hạng mục được tổ chức khoảng 6 lĩnh vực bao gồm tất cả các khía cạnh của hiệu quả công việc của đánh giá Các hạng mục được thiết kế và đánh giá giáo viên vào cuối năm, đánh giá họ đang ở vị trí nào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và hướng dẫn chi tiết đối với việc làm thế nào để cải thiện Bài viết đã nêu lên những gợi

ý nhằm hướng dẫn giáo viên và quản lí trường học (hiệu trưởng) thực hiện đánh giá theo các hạng mục trên một cách chính xác nhằm góp phần phát triển chuyên môn của giáo viên [62]

Tác giả Robert E Bartman (Guidelines for Performance-Based Teacher Evaluation,

Missouri Department of Elementary and Secondary Education) có bài viết hướng dẫn đánh giá giáo viên dựa trên hành động [65] Tài liệu này bao gồm triết lí và quy trình của mô hình đánh giá giáo viên dựa trên hành động của The Department of Elementary and Secondary Education Mô hình này giới thiệu công việc của hội đồng

tư vấn tiểu bang để liên kết đánh giá hoạt động với đánh giá tiểu bang Missouri

Trang 16

Show-Me Standard (1994), phát triển chuyên môn cá nhân, tiêu Chuẩn đánh giá giáo viên, cuối cùng là thành công sinh viên Hệ thống đánh giá giáo viên mới này có những đặc điểm sau:

- Cả quá trình phát triển chuyên môn và đánh giá

- Phát triển chuyên môn tự định hướng cho giảng viên

- Tiêu Chuẩn và tiêu chí rõ ràng, hỗ trợ chương trình The Show-Me Standards, hành động sinh viên và đánh giá

- Quy trình rõ ràng đối với đánh giá hoạt động

- Nhấn mạnh vào đào tạo cả giáo viên và nhà quản lí

- Quá trình cộng tác mà cần thiết cho phát triển của một cộng đồng học thuật Những đặc điểm này tạo nên một hệ thống kết nối mà cho phép đưa ra những phán xét tin cậy và giá trị trong xem xét hành động đánh giá [65] Tuy nhiên tài liệu này chỉ mới đưa ra những hạng mục để đánh giá giáo viên dựa vào hành động, chưa

đề cập đến tác động của hệ thống đến phương pháp giảng dạy của giáo viên

Ngoài việc đánh giá giáo viên dựa trên hành động, Henry I.Braun đã khảo sát những mô hình giá trị gia tăng và đưa ra những lời khuyên cho nhà làm chính sách muốn tìm hiểu tiềm năng và hạn chế vốn có khi sử dụng mô hình này để đánh giá Theo Henry I.Braun, đánh giá theo phương pháp định lượng dựa trên phân tích chất lượng học sinh của họ đạt được, kiểu đánh giá như vậy sử dụng một quy trình thống

kê gọi là “Mô hình giá trị gia tăng” (“value-added models”) (VAMs) Mô hình này

đòi hỏi lưu giữ thông tin dữ liệu về phát triển học tập của cá nhân học sinh trong nhiều năm và qua nhiều môn khác nhau nhằm ước lượng các đóng góp của giáo viên đối với sự phát triển đó Mô hình này được nhiều người quan tâm Nó giúp đưa các cuộc thảo luận về vấn đề chất lượng đánh giá đến vị trí đúng đắn là tăng cường học tập cho người học Mức độ phát triển hiện tại của VAMS là nó có thể xác định một nhóm giáo viên có thể đạt được sự phát triển chuyên môn mình đặt ra Sử dụng VAMS không loại bỏ các nhu cầu thu thập các loại thông tin khác cho quá trình đánh giá [60]

Một nghiên cứu khác của những tác giả Daniel Weisberg, Susan Sexton, Jenifer

Mulhern, David Keeling (The Widget Effect - Our National Failure to Acknowledge

Trang 17

and Act on Diffferences in Teacher Effectiveness) và một số tác giả khác đã chỉ ra

một thực tế về việc kiểm tra đánh giá Theo các tác giả, việc đánh giá có những đặc điểm sau:

- Chấp nhận hệ thống đánh giá hành động (performance) toàn diện mà công bằng, chính xác, tin cậy

- Huấn luyện nhà quản lí và những nhà đánh giá khác trong hệ thống đánh giá hoạt động giáo dục

- Hoà hợp hệ thống đánh giá hành động với những hệ thống, chính sách của các đơn vị giáo dục khác

- Chấp nhận chính sách sa thải bằng cách cung cấp lựa chọn quyền lợi thấp hơn đối với giáo viên không đạt hiệu quả để khiến cho những giáo viên này từ bỏ vị trí mà không phải ra quyết định đuổi việc [58]

Những nghiên cứu trên cho thấy việc đánh giá chất lượng giáo dục theo một số

hệ thống không tác động kết quả học tập của sinh viên, cũng như thất bại trong việc giải quyết vấn đề khác biệt về hiệu quả giảng dạy giữa các giáo viên

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Tư tưởng về xây dựng một nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người, nhất là thế hệ trẻ có một cơ hội học tập suốt đời, có điều kiện phát triển toàn diện đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta

đề cập ngày từ những ngày đầu thành lập nước

Qua các kỳ Đại hội của Đảng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo được bổ sung và hoàn thiện

Trong những năm gần đây việc quan tâm cua Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi nói riêng, càng được thể hiện rõ nét như: Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015; Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ kinh phí đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với giáo viên mầm non có thời gian công tác từ năm 1995 nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015

Trang 18

Mục đích của phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là củng cố, mở rộng mạng lưới trường lớp, đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi được học 2 buổi trong ngày, được học chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1 Đồng thời, tuổi mầm non là thang bậc đầu tiên, làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người Đó chính là lý do mà quyền học tập

và phát triển của tre được quan tâm không chỉ của các bậc cha mẹ, của dân tộc, của một quốc gia, mà là mối quan tâm chung của toàn thế giới

Để đảm bảo chất lượng của việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi thì việc đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục là một khâu vô cũng quan trọng không thể thiếu trong quá trình phổ cập giáo dục ở bậc học này Nó vừa là động lực, vừa là nhân

tố nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo

Để đánh giá được hiệu quả quá trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi thì phải thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá Những công trình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá được đề cập đến rất nhiều

Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết với cuốn “Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Nhà xuất bản Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Hà Nô ̣i , 2005), tác giả đã nêu ra được những vấn đề cần thực hiện trong công tác giáo du ̣c mầm non, đă ̣c biê ̣t là kiểm tra đánh giá kết quả giáo du ̣c trong giai đoa ̣n này

Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm với đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phổ cập giáo dục mẫu giáo 5 tuổi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Giáo dục Việt nam năm 2011 cũng đã nêu ra được thực trạng và những giải pháp trong công tác phổ câ ̣p giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi,

góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo du ̣c trẻ trong giai đoa ̣n này

Theo “Báo cáo Tổng kết năm học từ năm học 2002 - 2003 đến năm học 2012

- 2013 của ngành Giáo dục - Đào tạo và của giáo dục mầm non 5 tỉnh TâyNguyên” cũng là báo cáo nói đến công tác quản lý hoa ̣t đô ̣ng đánh giá kết quả phổ câ ̣p giáo

dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Đối với tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thị Tuất, hai tác giả cũng đã đưa

ra được cách thức tổ chức quản lý nhóm trẻ trường mầm non, trong đó có trẻ 5 tuổi qua tác phẩm “Tổ chức quản lý nhóm – lớp trẻ trường mầm non” củ a Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội năm 1996

Trang 19

Theo tác giả Hà Thị Đức, bà đã nghiên cứu cơ sở lý luận thực tiễn và hệ thống các biện pháp đảm bảo tính khách quan trong quá trình kiểm tra đánh giá tri thức học sinh sư phạm (1986) đã nêu lý luận và việc thực hiện các chức năng kiểm tra, đánh giá theo đơn vị kiến thức là phương pháp đánh giá khách quan nhất

Tác giả Trần Kiều (Viện chiến lược và chương trình giáo dục): Chất lượng giáo

dục luôn là vấn đề hàng đầu và luôn được xã hội quan tâm vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước Mọi hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ một chủ thể đều hướng đến mục đích cuối cùng là đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục (Tạp chí giáo dục số 71 - 11/2015) [38]

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Đánh giá, đánh giá kết quả giáo dục

1.2.1.1 Đánh giá

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đánh giá

Theo Từ điển tiếng Việt thì đánh giá là “nhận xét, bình phẩm về giá trị” [54] Theo Wikipedia thì “Đánh giá (evaluation) là sự phán quyết có hệ thống/có phương pháp về giá trị, tính hữu ích, và ý nghĩa của cái gì hay của một người nào đó Đánh giá thường được sử dụng để mô tả đặc điểm và định giá các vấn đề/chủ đề quan

tâm ở một phạm vi rộng,…” Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực thì người ta thường hay

dựng chuyên một thuật ngữ nào đó, mỗi thuật ngữ có thể có nghĩa hơi khác nhau một chút nhưng nghĩa chung là phán quyết/nhận định về giá trị con người, công việc hay

sự vật nào đó Trong tài liệu “Đánh giá sự nghiệp giáo dục công cộng” của Ngô Cương, tác giả cho rằng “Đánh giá là đánh giá giá trị cao thấp nhất định” [dẫn theo 58] Trong

cuốn “Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học, thì “Đánh giá là một quá trình có hệ

thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học (trả lời câu hỏi: tốt như thế nào?)

Đánh giá gắn liền với việc thu thập, sắp xếp và đưa ra phán xét về thông tin theo một cách có phương pháp Đánh giá thì khác với giám sát, giám sát thì gắn với “nhìn, xem” theo dấu vết và có thể liên quan đến các chỉ số thực hiện Đánh giá liên quan đến việc phán xét một cách cẩn thận giá trị, ý nghĩa của hiện tượng Đánh giá rất phức tạp, không có một cách đơn giản mà lại có thể đưa ra những phán xét tốt được

Trang 20

Đánh giá thường liên quan đến phát triển tiêu chí hoặc các chuẩn liên quan đến cả ý nghĩa và danh dự của công việc, con người,

Trong cuốn “Đánh giá trong giáo dục” của Trần Bá Hoành thì kiểm tra, đánh giá phải đi kèm với nhau Việc kiểm tra là cung cấp dữ kiện, thông tin làm cơ sở đánh

giá Theo ông, “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phân đoán về kết

quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh năng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [34]

Đánh giá được xem như toàn bộ quá trình thu thập các số liệu và thông tin cần thiết về một nội dung cụ thể để cung cấp bằng chứng cơ sở cho các nhà hoạch định chương trình có quyết định liên quan đến chương trình, kế hoạch giáo dục Từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, nắm chắc được thông tin tin về hiện trạng, nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục và làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hoạt động giáo dục tiếp theo

Để có thể nhận định, đưa ra phán xét về giá trị của sự vật/con người, người ta cần phải dựa vào những căn cứ nào đó (những căn cứ này do chủ thể đánh giá lựa chọn theo quan điểm riêng của mình) Ở đây, đánh giá về chất lượng không phải là đối tượng đánh giá mà thể hiện mục đích của việc đánh giá là để cải tiến chất lượng Những căn cứ này thường được tổ chức, sắp xếp theo một cách tiếp cận nào đó và được gọi là công cụ để đánh giá, nó có thể có ý nghĩa định tính hoặc định lượng Khi

đã có căn cứ để dựa vào đó mà đánh giá thì người ta cần thu thập thông tin, dữ liệu, bằng chứng về đối tượng cần đánh giá rồi so sánh đối chiếu với căn cứ đã đề ra xem đối tượng đú cú đạt yêu cầu người ta đã đề ra hay không (kết quả của đánh giá)

Như vậy: Đánh giá là quá trình thu thập thông tin một cách hệ thống về thực

trạng của đối tượng được đánh giá (cơ sở giáo dục, chương trình giáo dục, người học) để từ đó đưa ra những nhận định xác thực trên cơ sở các thông tin thu được, làm cơ sở đề xuất những biện pháp cải tiến nhằm nâng cao chất lượng giáo dục 1.2.1.2 Đánh giá kết quả giáo dục

Điều cốt lõi của quá trình giáo dục chính là chiến lược phát triển con người và mối quan hệ ngược lại của nó đối với chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Nếu

Trang 21

thiếu hiểu biết về vấn đề này hoặc hiểu biết nông cạn thì người quản lý sẽ mất phương hướng trong hoạt động của mình, mất khả năng chủ động, sáng tạo trong khâu ra các quyết định quản lý chính xác Nhưng để có những quyết định đúng đắn thì người quản lý phải nắm chắc được tình hình cụ thể trong hoạt động giáo dục và đào tạo Mà để nắm chắc được thì phải thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá Chính

vì vậy, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục là hết sức quan trọng trong công tác quản lý Xem xét quá trình giáo dục không thể tách rời việc nghiên cứu kiểm tra đánh giá, đồng thời kiểm tra, đánh giá cũng không thể tách rời mối liên hệ đồng

bộ với quá trình giáo dục và đào tạo

Đánh giá kết quả giáo dục là một hoạt động tập thể Sự hợp tác này cần thiết trong toàn bộ quá trình đánh giá và bao trùm toàn bộ các hoạt động của chương trình giáo dục, bắt đầu từ lập kế hoạch đánh giá, lựa chọn công cụ và mô hình đánh giá, đến việc thực hiện các giai đoạn trong quá trình đánh giá

Trong hoạt động đánh giá kết quả giáo dục của một đơn vị giáo dục thì giáo viên, người quản lí, cán bộ đánh giá chuyên trách và những người tham gia vào quá trình giáo dục cần hợp tác để xác định những gì cần đánh giá trong chương trình giáo dục

Họ hợp tác để thu thập và sử lí dữ liệu Các kết luận đánh giá không phải do một người, hay nhóm người thực hiện riêng rẽ, và cũng không đánh giá từng bộ phận của chương trình giáo dục Thông thường chương trình giáo dục được đánh giá một cách tổng thể và là quyết định của cả thập thể những người có liên quan

Như vậy: Đánh giá kết quả giáo dục là một quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách có hệ thống về quá trình thực hiện công tác giáo dục so với mục tiêu giáo dục ban đầu đã đề ra để có thể quyết định, chấp thuận, sửa đổi hay loại bỏ chương trình giáo dục đã đề ra Đánh giá kết quả giáo dục nhằm phát hiện xem hoạt động giáo dục đó được thiết kế, phát triển và thực hiện có tạo ra hay có thể tạo ra những sản phẩm mong muốn hay không? Đánh giá giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của quá trình giáo dục trước khi đem ra thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó khi

đã thực hiện qua một thời gian nhất định

Hiện nay, quá trình giáo dục đào tạo không chỉ chủ yếu là cách thức thực hiện như thế nào, mà đánh giá có vai trò to lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đào

Trang 22

tạo Kết quả của kiểm tra, đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động giáo dục và quản

lý giáo dục Nếu kiểm tra, đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vì vậy, đánh giá kết quả giáo dục trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội hiện nay Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu của xã hội

1.2.2 Phổ cập giáo dục, giáo dục mầm non

Như vậy có thể hiểu: “Phổ cập giáo dục là tổ chức việc dạy và việc học nhằm

làm cho toàn thể thành viên trong xã hội, đến một độ tuổi nhất định (thường là độ tuổi bắt đầu chính thức tham gia lao động xã hội) đều có được một trình độ giáo dục nhất định (theo số năm học hoặc theo bậc học)”

1.2.2.2 Giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong Hệ thống giáo dục quốc dân Tầm quan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ đặt nền móng ban đầu cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người

Với chỉ thị 153/CP của Hội đồng Chính phủ ra ngày 12/8/1966 về “Công tác

giáo dục mẫu giáo nhằm giáo dục trẻ bằng cách tổ chức vui chơi mà giáo dục các cháu những đức tính tốt, chăm sóc sức khỏe, tập cho cháu vừa chơi vừa học, chuẩn bị cho các cháu vào trường phổ thông Giáo dục mẫu giáo tốt mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [18], đã xác định rõ vị trí và tầm quan trọng cũng như mục tiêu của bậc giáo

dục mầm non Từ đó đến nay, vị trí của bậc giáo dục mầm non ngày càng được coi trọng và xác định rõ ràng Nó là bậc giáo dục mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người Lứa tuổi mầm non cũng là thời kỳ mà nhân cách bắt đầu được hình thành, tuy chưa hoàn toàn được định hình nhưng đã có cơ sở tương đối ổn định cho việc tiếp tục

Trang 23

hoàn thiện và phát triển Các công trình nghiên cứu về Tâm lý học cho thấy những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm trẻ được hình thành chính trong thời kỳ này và thường ảnh hưởng đến đạo đức mai sau của trẻ

Giáo dục mầm non còn góp phần chuẩn bị cho việc vào trường tiểu học Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ được chuẩn bị về mọi mặt, thể lực, đạo đức, trí tuệ… đặc biệt được chuẩn bị về các kỹ năng, thói quen cần thiết cho hoạt động học tập là loại hoạt động chủ đạo ở trường phổ thông Thực tế đã chứng minh những trẻ được qua trường mẫu giáo thì khi vào lớp một tiếp thu nhanh hơn, có những kỹ năng và

thói quen học tập cao hơn so với những trẻ không qua học mẫu giáo

Như vậy, trong hệ thống các bậc học, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Theo các chuyên gia giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo của trẻ Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy và học bậc mầm non là nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục ngày nay

Nhà nước có trách nhiệm quản lý đầu tư phát triển giáo dục mầm non, tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất đào tạo đội ngũ giáo viên, hỗ trợ và ưu tiên đầu tư các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới nhằm đảm bảo hầu hết trẻ em 5 tuổi được đến lớp để thực hiện chương trình giáo dục 2 buổi/ngày đủ 1 năm học

1.2.3 Phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi

Vấn đề phổ cập giáo dục mầm non ở nước ta là một chủ trương lớn của Đảng, của Nhà nước Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập

Như vậy, Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là: Bảo đảm hầu hết trẻ

em 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/

ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ,

tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1

Trang 24

1.2.4 Đánh giá kết quả giáo dục mầm non

Từ sự phân tích và tìm hiểu về đánh giá kết quả giáo dục và phổ cập giáo dục,

chúng tôi đưa ra nhận định về đánh giá kết quả giáo dục mầm non như sau: “Đánh

giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non là một quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách có hệ thống về quá trình tổ chức giáo dục mầm non nhằm làm cho toàn thể trẻ mầm non trong độ tuổi đều được đến lớp để thực hiện chăm sóc giáo dục 2 buổi/ngày

và đạt mục tiêu giáo dục ban đầu đã đề ra để có thể quyết định, chấp thuận, sửa đổi hay loại bỏ chương trình giáo dục đã đề ra Từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu của quá trình giáo dục trước khi đem ra thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó khi

đã thực hiện qua một thời gian nhất định”

Đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng giáo dục, mà còn có tác dụng định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cũng cấp thông tin kịp thời sẽ giúp quá trình giáo dục nhận thấy những mặt đã đạt được, những mặt chưa đạt được, những mặt còn thiếu sót cần bổ khuyết trong quá trình phổ cập giáo dục… Bên cạnh đó đánh giá kết quả phổ cập giáo dục còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình giáo dục và đào tạo, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn trong quá trình thực hiện phổ cập giáo dục Đánh giá kết quả phổ cập giáo dục sẽ giúp các nhà quản lý có những thông tin “liên hệ ngược ngoài”, từ đó có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Sau khi tìm hiểu về hoa ̣t đô ̣ng đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chúng tôi đưa ra nhận định về quản lý hoa ̣t đô ̣ng đánh giá kết quả phổ câ ̣p

giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi như sau: “Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi là sự tác động có chủ đích của nhà quản lý được thư ̣c hiê ̣n như một quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách có liên tục, có tổ chư ́ c, có hệ thống về viê ̣c phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi nhằm làm cho toàn thể trẻ mầm non 5 tuổi đều được đến lớp để đạt mục tiêu giáo dục ban đầu đã đề ra Từ

Trang 25

đó xác định điểm mạnh, điểm yếu của quá trình giáo dục trước khi đem ra thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó khi đã thực hiện qua một thời gian nhất định”

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi phải có sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng chính quyền địa phương Đặc biệt đối với cán bộ quản lý giáo dục phải có biện pháp để huy động các lực lượng tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và có sự kiểm soát chặt chẽ

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phải xuất phát từ việc xây dựng kế hoạch đánh giá Trong đó xây dựng rõ các tiêu chí kiểm tra, đánh giá cũng như xây dựng các giải pháp đặc thù phù hợp với địa phương

để duy trì và tăng tỷ lệ huy động trẻ đến trường, tiêu chuẩn về trẻ em đạt ở mức cao; quản lý, xây dựng chế độ chính sách đối với trẻ em được thực hiện đầy đủ và kịp thời

Về tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá, có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Quản lý hoạt động đánh giá này cũng phải được thực hiện ngay từ khâu tuyên truyền, xã hội hóa giáo dục Muốn quản lý hoạt động đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phải xuất phát từ thực tiễn, cán bộ quản

lý phải thực hiện tổ chức tuyên truyền phổ biến nội dung kế hoạch phổ cập giáo dục Nâng cao nhận thức cho gia đình và cộng đồng về chủ trương, mục đích, ý nghĩa phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn lực Cán bộ quản lý có thể thực hiện và kiểm tra hoạt động này thông qua việc lồng ghép một số hình thức tuyên truyền như: tuyên truyền qua đài truyền thanh địa phương, qua các hội nghị, thường xuyên trò chuyện, động viên người dân đưa con em đến trường; tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, các bậc phụ huynh và toàn thể xã hội tham gia phổ cập Thực hiện lồng ghép theo một số hình thức này, vừa dễ quản lý

mà vẫn có thể kiểm tra, đánh giá được chất lượng phổ cập giáo dục

Bên cạnh đó, việc rà soát, quy hoạch mạng lưới trường lớp đáp ứng chuẩn về trường mầm non cũng là một cách có thể kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập Bởi trường lớp khang trang, điều kiện học tập tốt dễ thu hút phụ huynh cho con theo học Đặc biệt, ở một số tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, cần chú trọng đến việc quản lý, đầu tư cơ sở vật chất, trường lớp đáp ứng nhu cầu của nhân dân đưa trẻ đến trường lớp

Trang 26

Có những chế độ, chính sách khuyến khích người dân cho trẻ 5 tuổi đi học, xóa các phòng học tạm, tăng cường đầu tư thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và điều kiện học cho trẻ Ngoài ra, quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ

em 5 tuổi đến trường cũng được thực hiện thông qua việc quản lý, kiểm tra, đánh giá năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tham gia phổ cập giáo dục Đảm bảo chất lượng và chế độ, chính sách đối với đội ngũ tham gia phổ cập giáo dục này Sau khi tiến hành thực hiện kế hoạch đánh giá, thì các nhà quản lý phải tiến hành phân tích kết quả đã đạt được để có những điều chỉnh kịp thời, mang lại hiệu quả cao trong công tác phổ cập giáo dục

Như vậy, có thể kết luận: Quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi bao gồm:

- Xây dựng kế hoạch đánh giá

- Tổ chức thực hiện kế hoạch

- Chỉ đạo triển khai kế hoạch kiểm tra đánh giá cả về định lượng và định tính để điều chỉnh, sửa đổi và hoàn thiện kế hoạch

1.3 Một số vấn đề về đánh giá kết quả phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

“Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi” là mô ̣t trong những quy đi ̣nh quan trọng được bổ sung ta ̣i Luâ ̣t sửa đổi bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t Giáo du ̣c, trong đó nhấn mạnh Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non nhằm chuẩn bị tốt cho trẻ em vào lớp 1 đối với tất cả các vùng miền trong cả nước Lần đầu tiên, việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

đã được luật hóa Đây là quy định thể hiện tính ưu việt của chế độ ta và khẳng định thành tựu của quốc gia trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Để đảm bảo tính khả thi của Luật này sau khi được ban hành, Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án triển khai thực hiện quy định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ

em 5 tuổi nhằm tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và trẻ em năm tuổi nói riêng với mục tiêu là đảm bảo hầu hết mọi trẻ em 5 tuổi ở các vùng miền được đến lớp để

Trang 27

thực hiện chương trình giáo dục 2 buổi/ngày, đủ 1 năm học nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý để trẻ sẵn sàng vào lớp 1 ở bậc học tiểu học

Để thực hiện được như vậy, không thể bỏ qua khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục Trong thực tiễn chúng ta cũng thấy rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể bổ qua vấn đề kiểm tra, đánh giá Kiểm tra nhằm nắm bắt, thu thập thông tin, đối chiếu với thực tiễn hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi xem có đúng, đủ theo mục tiêu, yêu cầu của giáo dục hay không Đánh giá nhằm xác định rõ thực chất hiệu quả phổ cập giáo dục đạt hay chưa đạt Chỉ

số của đánh giá cho phép các cấp quản lý giáo dục hoạch định chiến lược tiếp theo, hoặc là những thay đổi trong chương trình

Hiện nay, hầu hết cả nước đã tiến hành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đến trường Tuy nhiên, ở một số địa phương hoạt động phổ cập giáo dục chưa thực sự có hiệu quả Điều đó có thể xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau Vì vậy, việc đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đến trường có vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý phổ cập giáo dục

Hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là một công tác mà trong đó các cấp các ngành, Đảng, Nhà nước và nhân dân có trách nhiệm huy động hầu hết các trẻ em 5 tuổi đến lớp, đến trường để được chăm sóc giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thực hiện công tác này sẽ góp phần nâng cao tinh thần, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội Đẩy mạnh xã hội hóa với trách nhiệm lớn hơn của Nhà nước, của xã hội và gia đình để phát triển giáo dục mầm non Công tác này được thực hiện tốt sẽ góp phần giúp trẻ em 5 tuổi được phát triển tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý để trẻ sẵn sàng vào lớp 1

Đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi được tiến hành thường xuyên, liên tục sẽ tránh được tình trạng các trường mầm non chạy theo thành tích, báo cáo không đúng với sự thật Đồng thời nắm được thực trạng chất lượng quản

lý giáo dục tại địa phương Bên cạnh đó, công tác đánh giá còn góp phần giúp cán bộ quản lý nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện công tác phổ cập, từ

Trang 28

đó có những chỉ đạo kịp thời, nhanh chóng, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương nhằm phát huy những mặt đã làm được, khắc phục những mặt chưa đạt Đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đến trường còn giúp cán bộ quản lý kịp thời điều chỉnh nội dung chương trình, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc đảm bảo đồng bộ, phù hợp, tiên tiến gắn với giáo dục đổi mới phổ thông, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục

Như vậy, kiểm tra đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

là hoạt động quan trọng Nó bao hàm, xâm nhập và có tác dụng tương hỗ qua lại đảm bảo mối liên hệ nghịch thường xuyên và bền vững trong quá trình phổ cập giáo dục

Do đó việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em

5 tuổi là vấn đề then chốt

Để có thể đưa ra được những đánh giá khách quan, chính xác thì việc tiến hành kiểm tra quá trình phổ cập giáo dục thông qua các quyết định quản lý, với những mục tiêu chính là một hoạt động quản lý nhằm đo lường phát hiện những sai lệch, để chấn chỉnh những công việc đang làm cho phù hợp với mục tiêu ban đầu đã đề ra Đánh giá trong quản lý giáo dục là phương thức thu nhận thông tin về tình hình chất lượng, nội dung, tổ chức các hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đến trường

1.3.2 Nội dung đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầm non 5 tuổi

Nội dung kiểm tra hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phải bao hàm đầy đủ các yêu tố về cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ giảng viên, chất lượng giáo dục, giữ sĩ số trẻ em 5 tuổi đến trường cũng như tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Muốn đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục thì các nhà quản lý phải chú trọng đến việc xây dựng các tiêu chí đánh giá cho từng nội dung cụ thể Nội dung đó phải đạt chuẩn, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đáp ứng yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đồng thời xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản để triển khai, hướng dẫn công tác đánh giá kết quả phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên từng địa bàn; tổ chức bồi dưỡng, tập huấn công tác điều tra, tổng hợp kết quả, lập hồ sơ để đề nghị công nhận kết quả phổ cập giáo dục

Trang 29

1.3.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Để kiểm tra đánh giá kết quả phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ cần sử dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá Sử dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá sẽ giúp cán bộ quản lý nắm bắt được tình hình thực hiện tiến độ công việc Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phải được thực hiện trong một thời gian dài Tuy nhiên, nếu chỉ tiến hành đánh giá chất lượng phổ cập vào giai đoạn cuối sẽ không mang lại hiệu quả, chất lượng không đảm bảo Chính vì vậy, để công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đến trường có chất lượng và hiệu quả thì việc kiểm tra đánh giá phải được tiến hành thường xuyên, liên tục

Căn cứ vào kế hoạch thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, có thể sử dụng nhiều phương pháp giáo dục để kiểm tra, đánh giá và chia thành nhiều đợt kiểm tra, đánh giá khác nhau để quản lý:

- Kiểm tra, đánh giá hoạt động phổ cập giáo dục thông qua phiếu khảo sát thực tiễn cho cán bô ̣ quản lý, giáo viên tham gia phổ câ ̣p, phu ̣ huynh có con em 5 tuổi đến trường Trong quá trình kiểm tra, đánh giá có thể thực hiê ̣n vào đầu kỳ để thu thập nắm bắt về tình hình thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi được thực hiện như thế nào Trong quá trình thực hiện gặp những thuận lợi và khó khăn gì để từ đó có những chỉ đạo sát sao, kịp thời, phù hợp với tình hình của địa phương

- Kiểm tra, đánh giá thông qua cán bô ̣ quản lý xuống đi ̣a phương để khảo sát tình

hình phổ cập giáo du ̣c mầm non cho trẻ 5 tuổi Trong quá trình xuống khảo sát ở đi ̣a phương, cán bô ̣ quản lý thu thập thông tin để cải tiến hoạt động đang được thực thi Trong quá trình thực hiện các hoạt động đó, cần thu thập thông tin chi tiết, liên tục, đặc thù để giúp những người quản lý có thể thay đổi, chấp nhận hay loại bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung, kế hoạch trước đó

Nếu chỉ đánh giá một bộ phận của một hoạt động, thì việc đánh giá có thể tiến hành gọn nhẹ, với sự tham gia của những người thực hiện phần đó Còn nếu cần đánh giá toàn bộ kế hoạch thì đánh giá phải được tiến hành chính thức và có hệ thống Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá hoa ̣t đô ̣ng phổ câ ̣p giáo du ̣c cho trẻ 5 tuổi đến trường có thể thông qua phương pháp đàm thoa ̣i, trò chuyê ̣n với cán bô ̣ quản lý các trường mầm non, giáo viên tham gia phổ câ ̣p hay phu ̣ huynh… để nắm được đă ̣c

Trang 30

điểm tình hình, cũng như nguyê ̣n vo ̣ng, mong muốn của các cơ sở trong quá trình phổ

cập; thấy được những thuâ ̣n lợi và khó khăn để có thể khắc phu ̣c

Sau khi thu thập những thông tin về hoạt đô ̣ng kiểm tra kết quả phổ câ ̣p giáo du ̣c mầm non cho trẻ 5 tuổi, cán bộ quản lý có thể sử du ̣ng các phương pháp thống kê số liệu, sử du ̣ng các phương pháp toán ho ̣c… để thấy được kết quả phổ câ ̣p giáo du ̣c mầm non cho trẻ 5 tuổi được thực hiê ̣n như thế nào, từ đó đánh giá kết quả phổ câ ̣p giáo du ̣c

Đánh giá tổng kết nhằm xác định một “bức tranh toàn cảnh” về chất lượng hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đã thực thi, và thường được tiến hành sau khi kế hoạch đó đã được thiết kế hoàn chỉnh và thực hiện xong trong một đơn vị giáo dục Đánh giá tổng kết xác nhận hiệu quả của toàn bộ nội dung hoạt động phổ cập, và cho phép những nhà quản lý rút ra kết luận về mức độ đạt mục tiêu của quá trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Từ đó đánh giá được chất

lượng trong suốt quá trình phổ cập giáo dục

Để thực hiện quá trình kiểm tra, đánh giá như trên đòi hỏi các cấp quản lý cần quản lý chặt chẽ thời gian kiểm tra từng đợt của hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Khi thực hiện phổ cập giáo dục, không nên thả lỏng việc kiểm tra đánh giá dẫn đến việc đánh giá không thực chất Việc kiểm tra cũng có thể được thực hiện bất chợt, không có sự báo trước, như vậy mới có cái nhìn khách quan và đánh

giá thực chất về hoạt động phổ cập của địa phương

1.3.4 Hình thức đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầm non 5 tuổi

Để thực hiện quản lý nội dung đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi phải được thực hiện thông qua nhiều hình thức đánh giá khác nhau, nhiều kênh thông tin khác nhau

Các cấp quản lý cũng như cán bộ quản lý của các trường mầm non có thể đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục thông qua các báo cáo đầu kỳ, giữa kỳ, cuối kỳ, Các báo cáo đó phải thể hiện rõ tình hình thực hiện và kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi kèm theo biểu thống kê tổng hợp trẻ em trong diện phổ cập giáo dục, đội ngũ giáo viên mầm non, cơ sở vật chất và kinh phí cho phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi của từng đơn vị Báo cáo phải được thông qua Ban chỉ

Trang 31

đa ̣o, Trưởng Ban chỉ đa ̣o ký tên, đóng dấu của các trường mầm non; các báo cáo đó phải được đóng thành tập và sắp xếp theo thứ tự để thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu thống kê và đảm bảo tính hê ̣ thống, chính xác

Bên cạnh đó, cũng có thể sử dụng hình thức đánh giá thông qua việc phát phiếu điều tra cho những hộ gia đình có con nằm trong diện phổ cập, trò chuyện, trao đổi và nắm bắt thông tin từ các bậc phụ huynh; phát phiếu điều tra với các trường mầm non, cán bộ quản lý của từng địa phương Từ đó, tổng hợp các phiếu điều tra, so sánh, đối chiếu với các báo cáo của các địa phương để nắm được chất lượng của hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

Quản lý hình thức đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi còn được thực hiện thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thực tế tại các trường Thanh tra, kiểm tra phải bao gồm tất cả các mặt: cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chất lượng giảng dạy, chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ… Công tác thanh tra, kiểm tra này có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào: trước khi các đơn vị báo cáo, hoặc sau khi các đơn vị báo cáo nhằm đối chiếu với sổ theo dõi phổ cập, phiếu điều tra phổ cập với hộ gia đình có đối tượng phổ cập địa phương

1.3.5 Tiêu chí đánh giá

Căn cứ vào kế hoạch, phương pháp và tiến trình thực hiện hoạt động phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, để đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chúng tôi xây dựng các tiêu chí đánh giá, cụ thể như sau:

- Có đủ số lượng và đảm bảo cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non tham gia phổ cập giáo dục mầm non để tổ chức cho trẻ Mầm non được chăm sóc và giáo dục 2 buổi/ ngày tại trường

- Đảm bảo chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non dạy lớp mẫu giáo 5 tuổi đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và chuẩn nghề nghiệp

- Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất về phòng học, trang thiết bị, công trình vệ sinh, nước sạch, thư viện, các điều kiện phục vụ sinh hoạt ăn, ở của học sinh bán trú, nội trú, nhà công vụ… phục vụ cho hoạt động phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi

- Đảm bảo duy trì số lượng trẻ 5 tuổi đến trường từ lúc trẻ nhập học đến khi kết thúc lớp 5 tuổi, đảm bảo không có trẻ nghỉ học giữa chừng

Trang 32

- Có sự phối hợp của các cấp, các ngành liên quan, với các cơ sở giáo dục mầm non trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục Đồng thời có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác phổ cập và đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đến trường

- Thường xuyên đổi mới các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá, có sự phân luồng quản lý các cơ sở giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Các biện pháp này phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, linh hoạt vận dụng các biện pháp đó vào từng cơ sở trường, lớp khi tham gia phổ cập

- Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Trên cơ sở những tiêu chí đã đề ra, cán bộ quản lý sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Từ đó xác định chất lượng và hiệu quả của quá trình phổ cập giáo dục

1.3.6 Công cụ đánh giá

Để tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đến trường, các cấp lãnh đạo, quản lý tiến hành thống kê và cho kết quả cuối cùng về chất lượng phổ cập Để quản lý kết quả đánh giá phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, tùy theo tình hình thực tế mà các địa phương tiến hành quản lý khác nhau Có thể sử dụng một số công cụ đánh giá sau:

- Trang bị phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin quản lý phổ cập giáo dục

- Thiết lập hồ sơ sổ sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại đơn vị quản

lý Việc thiết lập đầy đủ hồ sơ theo quy định và cách thực hiện cụ thể từng loại hồ sơ đó phải được thực hiện một cách khoa học, vì nó sẽ giúp cho việc thực hiện phổ cập một cách chính xác và làm cơ sở cho việc lấy số liệu xây dựng kế hoạch trong từng giai đoạn để xây dựng các chỉ tiêu thực hiện làm cho công tác phổ cập chính xác và hiệu quả cao Trong hồ sơ đó phải có đầy đủ các giấy tờ về: văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; văn bản chỉ đạo của địa phương về công tác phổ cập; kế hoạch phổ cập giáo dục; phiếu điều tra các đơn vị; sổ theo dõi tình hình phổ cập; sổ theo dõi thông tin về trẻ; các báo cáo tình hình và kết quả thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; danh sách trẻ hoàn thành chương trình giáo dục mầm non 5 tuổi; quyết định thành lập đoàn kiểm tra, đánh giá; biên bản kiểm tra, đánh giá; kết quả hoàn thành phổ cập…

Trang 33

- Thiết lập sổ phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non.Trong sổ đó theo dõi tất cả trẻ

em trong độ tuổi từ 0 đến 5 trên địa bàn Sổ này có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý, bởi hàng năm, sau khi tiến hành điều tra, ta phải cập nhật những thông tin điều tra mới nhất vào sổ Việc cập nhật đòi hỏi phải có tính chính xác, và cập nhật trẻ

từ độ tuổi lớn nhất (5 tuổi) đến bé nhất (0 tuổi) Mỗi độ tuổi cập nhật hết thì để trống

1 số dòng để điều chỉnh hoặc ghi bổ sung trẻ chuyển đến chuyển đi khi cần thiết Trong sổ cũng phải cập nhật đầy đủ thông tin về trẻ như: họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, dân tộc, tên cha, mẹ hoặc người đỡ đầu, chương trình học của trẻ… để khi cần liên hệ là có thể liên hệ được chính xác

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cải cách hành chính Tiếp tục tăng cường chỉ đạo các cơ sở giáo dục mầm non đổi mới đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và đánh giá giáo dục mầm non theo hướng phát triển năng lực

GV, đặc biệt là năng lực thực hành tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ Việc đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non cần tránh hình thức và không chạy theo thành tích

Quản lý kết quả đánh giá phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi còn được thực hiện thông qua việc tập trung quản lý chuyên môn, quản lý chất lượng chăm sóc, giáo dục trong các sơ sở giáo dục mầm non Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp trong quản lý giáo dục mầm non Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến giáo dục mầm non theo phân cấp quản lý Đồng thời đổi mới, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục các cấp; nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ của các cơ sở giáo dục mầm non Tăng cường công tác kiểm tra hỗ trợ chuyên môn, kiểm tra thường xuyên và đột

xuất, đặc biệt đối với các trường mầm non ở vùng sâu vùng xa, kinh tế khó khăn,…

1.4 Vấn đề quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

1.4.1 Lập kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, các đơn vị quản lý giáo dục mầm non cần xây dựng kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Kế hoạch đó phải

Trang 34

được xây dựng ngay từ những ngày đầu thực hiện phổ cập giáo dục, bám sát các tiêu chí được xây dựng trong công tác kiểm tra, đánh giá, và phù hợp với tình thực tế của từng địa phương, và đảm bảo được thực hiện xuyên suốt, có sự theo dõi sát sao trong quá trình phổ cập giáo dục

Kế hoạch đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi phải đảm bảo kế hoạch quản lý lịch trình, thời gian kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi của các cơ sở giáo dục mầm non Khi thực hiện kiểm tra, đánh giá bám sát kế hoạch quản lý đó để nắm bắt được tình hình thực hiện hoạt động phổ cập thực tiễn Trong đó cũng có thể xây dựng trước những buổi kiểm tra không nằm trong kế hoạch có sẵn, những buổi kiểm tra đột xuất, không báo trước cho các cơ

sở giáo dục mầm non để nắm rõ tình hình thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại các trường và điểm trường mầm non trên địa bàn Từ đó mới đưa ra được những đánh giá chính xác nhất trong quá trình thực hiện phổ cập giáo dục

1.4.2 Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được phải được triển khai tại các cơ sở giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được thực hiện thông qua một số nội dung kiểm tra như: việc duy trì sĩ số; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ; chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ; cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động phổ cập giáo dục; năng lực giáo viên tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Trong kế hoạch đánh giá phải được thực hiện toàn diện trên mọi mặt, từ việc kiểm tra toàn bộ hoạt động thực hiện phổ cập giáo dục mầm non đến các báo cáo định

kỳ kết quả thực hiện phổ cập giáo dục, cũng như công tác kiểm tra năng lực tổ chức quản lý, thực hiện phổ cập giáo dục

Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, cán bộ quản lý khi tổ chức hoạt động đánh giá cần căn cứ trên tình hình kiểm tra thực tế tại địa phương, đồng thời đảm bảo tính đồng bộ, chính xác, thông suốt trong quá trình phổ cập giáo dục mầm non và nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Trang 35

1.4.3 Chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá

Phổ cập giáo dục là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo nền tảng dân trí vững chắc để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thực hiện thành công một trong ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Song để nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, đỏi hỏi Ban chỉ đạo các cấp, cán bộ quản lý cần phải thực hiện tốt công tác chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá

Vai trò của người cán bộ quản lý giáo dục các cấp đặc biệt là cán bộ quản lý về việc chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non - là người lãnh đạo thực thi, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, xác định phương hướng cho tổ chức đối với phát triển giáo dục mầm non, đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục trong đơn vị Vì vậy, khi chỉ đạo triển khai hoạt động đánh giá cần đảm bảo một số vấn đề sau:

- Huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển mạng lưới trường lớp, nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung đồ dùng, thiết bị dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phục vụ thiết thực công tác phổ cập giáo dục Thực hiện tốt chương trình đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tăng cường đầu tư

từ ngân sách nhà nước cho công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác phổ cập giáo dục Làm tốt công tác tuyên truyền vận động, kịp thời biểu dương người tốt, việc tốt và những địa phương làm tốt công tác phổ cập giáo dục; phối hợp liên ngành, phát huy kết quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ cập giáo dục Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để bảo đảm nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục

Cán bộ quản lý phải là những người đầu đàn trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non, nắm chắc và hiểu sâu sắc mục tiêu, chương trình, kế hoạch cũng như chỉ đạo việc tổ chức quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi hiệu quả, góp phần tích cực trong nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam

Trang 36

Trẻ được tiếp cận với giáo dục mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập

và phát triển của các giai đoạn tiếp theo Chính những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua Chương trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập sau này

1.4.4 Kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ

5 tuổi

Để kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt hiệu quả, đòi hỏi các nhà quản lý ngoài trình độ chuyên môn phải có tầm nhìn xa, trông rộng để đưa định hướng phù hợp việc kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ

5 tuổi được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau như: duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non nhằm đảm bảo phổ cập giáo dục

độ tuổi này bền vững

Hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục cũng có thể được thực hiện thông qua việc tăng cường kiểm tra công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và điều hành công việc Thực hiện linh hoạt các biện pháp kiểm tra đánh giá phải thực hiện linh động phù hợp với đặc điểm kinh tế, vị trí địa lý của từng trường và điểm trường mầm non Có thể sử dụng các biện pháp như: xuống kiểm tra trực tiếp tại trường và điểm trường, thông qua các báo cáo, thông qua phiếu khảo sát, trao đổi, phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh để có được những đánh giá khách quan nhất về chất lượng phổ cập giáo dục cũng như tinh thần, trách nhiệm của các cơ

sở thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Tăng cường hoạt động dự giờ thăm lớp, kiểm tra trình độ chuyên môn giáo viên tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Qua đó đánh giá việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tốt, có chất lượng

sẽ giúp hoạt động phổ cập giáo dục duy trì được sĩ số trẻ 5 tuổi đến trường, đảm bảo phổ cập độ tuổi này bền vững

Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội trong công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tăng

Trang 37

cường mối quan hệ và trách nhiệm giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Tạo ra sự thống nhất về mục tiêu, nội dung cũng như các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả, nâng cao

chất lượng phổ cập giáo dục

Bên cạnh đó, thực hiện kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục đòi hỏi cán bộ quản lý cấp huyện phải kết hợp với cán bộ quản lý tại các trường mầm non, các xã, thôn và giáo viên tham gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Đây

là những lực lượng cốt cán giữ vai trò quyết định trong công tác phổ cập và đánh giá chất lượng phổ cập giáo dục mầm non Muốn vậy, trước hết là cán bộ quản lý phải chủ động trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả phổ cập giáo dục, phải nắm được các lịch trình, kế hoạch kiểm tra, đánh giá Đồng thời phải thường xuyên đổi mới các phương pháp kiểm tra đánh giá, nắm bắt tình hình thực tiễn từng cơ sở giáo dục Từ việc nắm bắt kịp thời những thông tin nhanh nhạy, chính xác khi thực hiện phổ cập giáo dục sẽ giúp cán bộ quản lý có những biện pháp linh hoạt, mềm dẻo áp dụng kiểm tra, đánh giá phù hợp với điều kiện thực tế của các trường và điểm trường mầm non,

từ đó có được những kết quả đánh giá khách quan nhất, chính xác nhất về chất lượng phổ cập giáo dục

1.5 Những yếu tố ảnh hướng đến việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

1.5.1 Yếu tố khách quan

1.5.1.1 Sự phát triển kinh tế xã hội của vùng miền

Prawase Wasi trong tham luận về “Giáo dục cho tương lai” tại Hội nghị khoa học khu vực về Giáo dục tại Băng Cốc (8/1990) cho rằng: Giáo dục không tồn tại trong chân không Nó được quyết định bởi khung cảnh chính trị và văn hoá, tín ngưỡng, học thuyết, kinh tế, trí lực xã hội và những nhân sinh quan chiếm ưu thế Những môi trường quyết định này hiện đang thay đổi nhanh chóng Chúng ta phải ở cái thế hiểu được chúng ta có khả năng thiết kế nền giáo dục như là trọng trường tổng hợp với sự phát triển và tạo ra tương lai lành mạnh hơn Với ý kiến này ông đã nói lên được vai trò cực kỳ quan trọng của công tác giáo dục - đào tạo, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã

Trang 38

hội, văn hóa cho tương lai của mọi quốc gia, mỗi dân tộc Ngược lại nền kinh tế tăng trưởng, xã hội phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục và đào tạo phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng Đây là mối quan hệ biện chứng Trong đó đội ngũ cán

bộ quản lý đang đóng vai trò quyết định trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục và đào tạo [dẫn theo 32]

Chính vì vậy: Điều kiện kinh tế của địa phương và cơ sở vật chất là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Địa phương nào có kinh tế phát triển, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học đảm bảo thì địa phương đó sẽ làm tốt công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Đây là một trong những công tác trọng tâm cho việc nâng cao chất lượng, là điều kiện cho sự

thành công của việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.5.1.2 Sự phát triển của khoa học công nghệ

Ngày nay Khoa học - Công nghệ phát triển như vũ bảo, đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ tay nghề cao, điều này kéo theo cán bộ quản lý giáo dục đào tạo phải nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Để công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt chất lượng và hiệu quả cao trong một xã hội trí thức, người cán bộ quản

lý phổ cập giáo dục mầm non không những phải có những kiến thức cơ bản về phổ cập cũng như hình thành những kỹ năng về lĩnh vực công nghệ thông tin để áp dụng phần mềm trong hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục, vận dụng chúng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo Muốn vậy, trước hết người cán bộ quản lý phổ cập giáo dục mầm non phải có trình độ ngoại ngữ, tin học căn bản để sử dụng tốt các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại làm công cụ quản lý hoạt động đánh giá kết quả phổ cập giáo dục mầm non một cách chuẩn xác, giải quyết các vấn đề trong quản lý một cách linh hoạt, cập nhật các thông tin về phổ cập giáo dục mầm non thường xuyên; đồng thời luôn có tinh thần cầu tiến, học hỏi áp dụng phần mềm công nghệ vào công tác quản lý một cách phù hợp và có hiệu quả trong nâng cao chất lượng quản lý

Trang 39

1.5.1.3 Các cơ chế chính sách quản lý của nhà nước về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Chính sách là tập hợp các chủ trương, các biện pháp khuyến khích các đối tượng phụ thuộc vào chính sách nhằm đạt được mục đích của chủ thể ra chính sách Chính sách là một hiện thực trực tiếp của chính trị.Trên thực tế chính sách được thông qua nhà nước, gắn liền với cơ chế, thể chế, luật pháp hiện hành của Nhà nước Chính sách có vai trò định hướng, Chính sách công là một phương tiện quan trọng, định hướng mọi hoạt động và hành vi của chủ thể tham gia trong hoạt động trong lĩnh vực kinh tế

và xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước Chính vì thế, chính sách

có vai trò kích thích phát triển, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế và xã hội Khác với những công cụ quản lý khác, bản thân mỗi chính sách công khi hướng vào một vấn đề bức xúc đang đặt ra, tự nó chứa đựng nhu cầu giải quyết vấn đề đó làm cho sự vật phát triển lên một bước Đồng thời khi giải quyết vấn đề thì chính sách đó lại tác động đến các vấn đề chính sách khác, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần điều tiết sự mất cân bằng, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo những hành lang pháp lý cho các hoạt động theo mục tiêu kinh tế và xã hội đề ra

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã định hướng cho việc xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch, đề án về phát triển kinh tế xã hội, phát triển triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực… cụ thể hóa trong thực hiện quản lý nhân

sự, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng như chế độ ưu đãi giáo viên, phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, chế độ hỗ trợ lương cho giáo viên hợp đồng theo mức lương quy định… tạo những hành lang pháp lý cho các hoạt động của giáo dục mầm non, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

Thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5 tuổi, trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng ta về giáo dục và phổ cập giáo dục qua các Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Quốc hội, Nhà nước,

Trang 40

Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa trong Luật Giáo dục, trong các Nghị định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Có thể kể đến một số cơ chế chính sách như sau:

- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI đều nhấn mạnh nhiệm vụ “chăm lo phát triển giáo dục mầm non” Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

“Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003 - 2015” với mục tiêu đảm bảo tất cả trẻ em đều hoàn thành một năm giáo dục tiền học đường có chất lượng

để chuẩn bị đi học tiểu học

Ngày 09/2/2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 239/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 Sau Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hai Quyết định quan trọng tạo cơ

sở pháp lý vững chắc để triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là: + Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 Quy định hỗ trợ kinh phí đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với giáo viên mầm non có thời gian công tác từ năm

1995 nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí

+ Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015

- Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 nêu rõ: Nhà nước có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho giáo dục mầm non; hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện kinh

tế xã hội khó khăn; từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, góp phần tích cực, thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục

- Hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Hoàn thiện chính sách thu hút giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện hoạt động phổ cập giáo dục đạt kết quả tốt nhất

Ngày đăng: 03/01/2018, 19:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản ly giáo dục, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản ly giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1997
5. Đặng Quốc Bảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Lương Thị Ngọc Bích (2009), Một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục ở trường Mầm non Quan Hoa, Cầu Giấy - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục ở trường Mầm non Quan Hoa
Tác giả: Lương Thị Ngọc Bích
Năm: 2009
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Đề án Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), 60 năm Giáo dục Mầm non - hình ảnh và những con số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm Giáo dục Mầm non - hình ảnh và những con số
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Một số văn bản về giáo dục mầm non năm 2008, Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý - giáo viên mầm non, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản về giáo dục mầm non năm 2008, Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý - giáo viên mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
14. Nguyễn Hữu Châu (2008), Chất lượng giáo dục những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng giáo dục những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
18. Chính phủ (1966), Chỉ thị 153/CP của Hội đồng Chính phủ ra ngày 12/8/1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 153/CP của Hội đồng Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1966
20. Hồ Ngọc Đại (1991), Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
22. Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn (1996), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
23. Trần Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
24. Nguyễn Bá Dương (1999), Tâm lý học quản ly dành cho người lãnh đạo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản ly dành cho người lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
25. Trần Ngọc Giao (2008), Đổi mới lãnh đạo và quản lý trường học, Kỷ yếu Hội thảo nguồn nhân lực quản lý giáo dục thế kỷ 21, Học viện quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới lãnh đạo và quản lý trường học, Kỷ yếu Hội thảo nguồn nhân lực quản lý giáo dục thế kỷ 21
Tác giả: Trần Ngọc Giao
Năm: 2008
26. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
27. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
28. HaroldKontz (1987), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: HaroldKontz
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1987
29. Nguyễn Vũ Bích Hiền (2012), "Các xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo quan điểm lấy người học làm trung tâm", Tạp chí khoa học, 57, 148-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo quan điểm lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Vũ Bích Hiền
Năm: 2012
31. Nguyễn Văn Hộ (2002), Lý luận dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
32. Nguyễn Văn Hộ (2007), Đổi mới tư duy quản lý Nhà nước về giáo dục trong triển khai thực hiện chiến lược giáo dục 2001-2010, Xu hướng phát triển giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy quản lý Nhà nước về giáo dục trong triển khai thực hiện chiến lược giáo dục 2001-2010
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w