Sự phát triểnkinh tế nhanh của Hàn Quốc được biết đến trong những năm 1960-1970 cũng lànhờ thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm.. Giới thiệu vài nét về Hàn Quốc Sau
Trang 1BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
*********
MÔN: KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: “ LỊCH SỬ KẾ HOẠCH HOÁ KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA HÀN QUỐC VÀ TRUNG QUỐC”
Giảng viên: T.S Dìu Đức Hà
Nhóm : 3
Lớp : KH15 Kinh tế
Trang 2DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 3 – KH15 KINH TẾ
(60) 1 Nguyễn Thị Trang (+)
(54) 2 Nguyễn Phương Thảo (+)
(04) 3 Nguyễn Thị Ngọc Anh
(27) 4 Nguyễn Phạm Huy Hoàng (+)
(41) 5 Nguyễn Thị Thùy Linh (+)
(49) 6 Nguyễn Hữu Sang (+)
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU……… 5
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Các nước xã hội (Liên Xô cũ, Trung Quốc) và các nước có nền kinh tế thịtrường phát triển (Pháp, Nhật Bản, Mỹ, các nước NICs và các nước ASEAN) đềucoi kế hoạch hóa quốc gia là cơ chế tổ chức duy nhất giúp họ vượt qua những trởngại to lớn đối với sự phát triển và duy trì tăng trưởng kinh tế cao Sự phát triểnkinh tế nhanh của Hàn Quốc được biết đến trong những năm 1960-1970 cũng lànhờ thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm Và cũng nhờthực hiện thành công các kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1953 – 1957) và gần đâynhất là ( 2016 – 2020) đã đánh dấu mức nhảy vọt của sự phát triển kinh tế - xãhội ở Trung Quốc
Vì vậy, nhóm chúng tôi xin chọn đề tài: “ Tìm hiểu lịch sử kế hoạch hóacủa Hàn Quốc và Trung Quốc” Từ những thành công trên của các nước bạn đãrút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để áp dụng vào sự đổi mới củanước nhà và tiến đến thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trang 5I Lịch sử kế hoạch hóa ở Hàn Quốc
1.1 Giới thiệu vài nét về Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới thứ hai , Triều Tiên bị chia cắt làm hai miền vớiranh giới là Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào năm 1945: Miền Nam – Đại HànDân Quốc – một đất nước với nguồn tài nguyên nghèo nàn dựa vào nông nghiệp,hầu hết các ngành công nghiệp nặng ở phía Bắc – Cộng hòa Dân chủ Nhân dân.Hai bên đã đối đầu trực tiếp với nhau trong cuộc chiến Triều Tiên năm 1950 vàkéo dài trong 3 năm, làm cho tình hình tồi tệ hơn: cuộc chiến đã phá hủy trực tiếphầu như tất cả năng lực sản xuất và cơ sở hạ tầng xã hội, bao gồm các cơ sở sảnxuất điện, đường sắt và các phương tiện viễn thông Do đó, nền kinh tế Hàn Quốcphụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ nước ngoài để đáp ứng các nhu cầu cơ bản củangười dân, cũng như tài trợ để phục hồi nền kinh tế
Từ đống tro tàn của Chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc được biết đến vớitên gọi “Kỳ tích sông Hàn” Tốc độ tăng trưởng GNP từ năm 1961 đến năm 2000đặt 8,7% mỗi năm Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành) tăng từdưới 100 USD (năm 1960) lên gần 10.000 USD (năm 2000) Tăng trưởng kinh tếcao bền vững biến Hàn Quốc từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trởthành một nước công nghiệp mới năng động; Seoul từ một thành phố đổ nát sauchiến tranh đã hoàn toàn chuyển mình thành một thành phố toàn cầu, một trungtâm kinh doanh và thương mại lớn ở châu Á có hạ tầng công nghệ tiên tiến Đểđạt được những thành tựu to lớn như vậy, không thể phủ nhận vai trò của kếhoạch phát triển kinh tế, một công cụ để Chính phủ Hàn Quốc can thiệp vào nềnkinh tế nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường, đồng thời là công cụ đểhuy động và phân bổ nguồn lực khan hiếm cùng hướng tới mục tiêu trong nhữngthời kỳ nhất định
1.2 Cơ quan lập kế hoạch- Uỷ ban kế hoạch kinh tế
1.2.1 Sự hình thành
Trang 6Khi Tổng thống Park Chung Hee lên nắm quyền vào năm 1961, Hàn Quốc
là một trong những nước nghèo nhất thế giới với gần một nửa dân số sống dướimức nghèo khổ tuyệt đối.Mối quan tâm lớn nhất của Tổng thống Park là xóa đóigiảm nghèo, ông xác định chỉ có thể đạt được mục tiêu đó nhờ vào tăng trưởngkinh tế Với những điều kiện ban đầu không mấy thuận lợi, Tổng thống cho rằng
để phát triển kinh tế thì cần thiết phải có sự can thiệp mạnh mẽ của Chính phủtrong phân bổ nguồn lực, tức là, cần có một kế hoạch phát triển (KHPT) do Chínhphủ định hướng Để lập KHPT và thực hiện kế hoạch hiệu quả, ông bắt đầu cảicách hành chính nhà nước bằng cách thành lập một cơ quan kế hoạch được gọi là
Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) vào năm 1961
1.2.2 Vai trò
Vai trò của EPB tập trung vào lập kế hoạch và lập ngân sách EPB có thểkiểm soát và phối hợp các quyết định của các Bộ khác nhau thông qua vai tròquản lý ngân sách quốc gia Và với công cụ ngân sách, EPB có thể làm cho bản
kế hoạch thực tế hơn; nếu không có sự hỗ trợ tài chính, những kế hoạch tuyệt vờicũng sẽ có thể trở nên vô ích
Ngoài ra, EPB là một đơn vị trung lập: cơ quan này không thực hiện bất kỳ
dự án nào, do vậy nó có thể tách rời với các bên liên quan Với vai trò này, EPB
có thể lên kế hoạch tầm nhìn dài hạn
Thành viên của EPB là những cán bộ công chức chuyên nghiệp.Để đượclàm việc trong EPB, những ứng viên phải trải qua một cuộc thi tuyển công chứccao cấp đặc biệt.Trong số những ứng viên này, người ưu tú nhất sẽ được làm việctại EPB
Với Hàn Quốc, EPB là một nhân tố có đóng góp lớn đối với việc thực hiệnthành công một loạt KHPT kinh tế
1.3 Các kế hoạch phát triển kinh tế lớn của Hàn Quốc
1.3.1 Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962-1966)
Trang 7Hàn Quốc phải đối mặt với nghèo đói và tuyệt vọng sau cuộc nội chiến(1950-1953): hệ thống kinh tế bị tê liệt, thiếu cơ sở hạ tầng công nghiệp, vốn vàcông nghệ Tỷ lệ tiết kiệm nội địa ròng là -2,2%, hoạt động kinh tế chủ yếu dựavào viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc Khi viện trợ nước ngoàigiảm dần thì Hàn Quốc phải phát triển nền kinh tế độc lập.
Hàn Quốc theo đuổi mục tiêu công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu sử dụng lao động giá rẻ Do vậy, trọng tâm chính sách trong kế hoạch này là:(1)
Tăng các nguồn năng lượng như điện, than;(2) Tăng thu nhập khu vực nôngnghiệp và cải thiện sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế;(3) Xây dựng các ngànhcông nghiệp lớn và cơ sở hạ tầng xã hội;(4) Sử dụng các nguồn lực nhàn rỗi, giatăng việc làm;(5) Cải thiện cán cân thanh toán thông qua xúc tiến xuất khẩu;(6)Phát triển công nghệ
Mặc dù cò nhiều thiếu sót, nhưng KHPT kinh tế 5 năm đầu tiên đã cónhững hiệu ứng tích cực: (1) Những nỗ lực và hành động của Chính phủ nhằmđạt được hiệu quả kinh tế đã được đề cập trong bản kế hoạch; (2) Công chứcChính phủ và người dân Hàn Quốc bắt đầu thấy khả quan về sự phát triển của nềnkinh tế; (3) Các công chức Chính phủ tích lũy kiến thức chuyên môn và kinhnghiệm trong lập kế hoạch và hoạch định chính sách; (4)Công chức Chính phủ đãthấy được tầm quan trọng của thu thập, xử lý dữ liệu và các thông tin khác; (5)
Kế hoạch đầu tiên đã đặt nền móng cho xây dựng kế hoạch sau này Trong thời
kỳ kế hoạch, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đã đạt 7,8%/năm, vượt xa mụctiêu ban đầu là 7,1%/năm
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 44%/năm, gấp đôi mục tiêu kếhoạch nhờ vào đẩy mạnh xuất khẩu mạnh các mặt hàng công nghiệp Bên cạnh
đó, các ngành công nghiệp trọng điểm quốc gia đã được xây dựng như than đá,phân bón, năng lượng và xăng dầu
Tốc độ xuất khẩu tăng đáng kể, bình quân tăng 38,6%/năm, trong khi nhậpkhẩu tăng 18,7%/năm trong cùng thời kỳ Tỷ lệ xuất khẩu/GNP là 2,4% (năm
Trang 81962) tăng lên 7,4% (năm 1967) Trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, sản phẩmcông nghiệp tăng mạnh, sản phẩm sơ cấp giảm trong suốt thời kỳ kế hoạch.
1.3.2 Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ hai (1967-1971)
Kế hoạch 5 năm lần thứ hai nhấn mạnh việc thu thập và xử lý dữ liệu; sửdụng mô hình đầu vào - đầu ra để kiểm tra tính nhất quán của kế hoạch tổng thể
và dự báo nhu cầu đầu tư và nhu cầu nhập khẩu của ngành
Trong thời kỳ kế hoạch, Tổng thống Park đã chủ chì các Họp báo cáo xuhướng kinh tế và Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu tổ chức hàng tháng.Hai cuộchọp này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch và tạo ra sự đồngthuận quốc gia về phát triển kinh tế.Các cuộc họp là một không gian cho phépgiao lưu cởi mở giữa Chính phủ và khu vực tư nhân cũng như giữa các quan chứccấp cao và cấp dưới
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 9,7%/năm, cao hơn chỉ tiêu kếhoạch là 7%/năm Trong KHPT 5 năm lần thứ hai, chiến lược phát triển tập trungvào các ngành công nghiệp, đặc biệt là khai thác mỏ và công nghiệp chế biến -chế tạo, kết quả là tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 19,9% (vượt mục tiêu banđầu là 10,7%), trong khi đó tốc độ tăng trưởng dịch vụ là 12,6% và nông – lâm –ngư nghiệp chỉ tăng 1,6%
KHPT kinh tế 5 năm lần thứ hai được đánh giá cao, là một kế hoạch có hệthống hơn so với kế hoạch 5 năm đầu tiên, có sự tham gia của chuyên gia nướcngoài
Chính sách ngoại thương đã chuyển từ thay thế nhập khẩu sang thúc đẩyxuất khẩu.Vào cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ hai, Hàn Quốc đã là mộttrong những nước công nghiệp mới
1.3.3 Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ ba (1972-1976)
Trọng tâm là làm thế nào để xây dựng chính sách nhằm phân bổ có hiệuquả các nguồn lực khan hiếm, phân tích tập trung vào hệ thống chính sách
Trang 9khuyến khích và vai trò của Chính phủ như một chất xúc tác Để thực hiện được
mục tiêu đó, các chính sách lớn nhấn mạnh vào:(1) Tự cung cấp lương thực, thực
phẩm;(2) Cải thiện môi trường sống tại các vùng nông thôn và vùng biển;(3) Cảithiện cán cân thanh toán với mục tiêu xuất khẩu 3,5 tỷ USD;(4) Chuyển dịch cơcấu công nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa dầu;(5) Phát triểnkhoa học - công nghệ và nguồn nhân lực;(6) Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trongnước;(7) Phát huy tối đa nguồn lực;(8) Cải thiện môi trường và nâng cao phúc lợingười dân
Kết quả: Tốc độ tăng trưởng GNP bình quân theo kế hoạch là 8,6%/năm,nhưng tốc độ tăng trưởng thực tế đạt 9,2%/năm Tỷ lệ đầu tư cao và xuất khẩutăng trưởng nhanh chóng mặc dù môi trường quốc tế đầy biến động (khủng hoảngdầu mỏ và suy thoái kinh tế thế giới).Tốc độ tăng trưởng công nghiệp khai thác
mỏ và chế biến – chế tạo bình quân đạt 20%/năm Tỷ trọng công nghiệp khai thác
mỏ và chế biến – chế tạo chiếm 31% vào năm 1976.Năm 1976, Hàn Quốc đã tạmthời tự cung cấp được thực phẩm (lúa gạo).Chính phủ cũng đã nỗ lực rất lớntrong xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội như nhà máy phát điện, viễn thông,đường sắt
và đường cao tốc bằng cách đầu tư tài chính và các khoản vay Cũng tạo ra hệ lụy,
sự mất cân đối giữa các ngành công nghiệp xuất khẩu và công nghiệp đáp ứngnhu cầu trong nước Sự mất cân bằng giữa nông nghiệp và công nghiệp.Thâm hụtcán cân thanh toán do cuộc khủng hoảng dầu 1973-1974; Cuộc khủng hoảng dầu
đã trì hoãn việc thực hiện các dự án công nghiệp nặng
1.3.4 Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ tư (1977-1981)
Các chính sách lớn hướng vào: Huy động vốn đầu tư trong nước; Duy trìcân bằng cán cân thanh toán; Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và tăng khả năngcạnh tranh trong và ngoài nước; Mở rộng cơ hội việc làm và phát triển nguồnnhân lực; Mở rộng phong trào làng mới; Cải thiện đời sống thông qua việc thúcđẩy phát triển xã hội; Tăng đầu tư cho khoa học – công nghệ;Tăng cường quản lýkinh tế và cải thiện thể chế
Trang 10Tốc độ tăng trưởng bình quân dự kiến là 9,2%/năm, tỷ lệ lạm phát khoảng9%/năm Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng thực tế là 5,8%/năm, thấp hơn nhiều somức tăng trưởng mục tiêu và thâm hụt tài khoản vãng lai do cú sốc dầu lần thứhai, lạm phát trong nước, làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu và tăng nghĩa
vụ nợ Năm 1981, kim ngạch xuất khẩu là 20,881 triệu USD trong khi nhập khẩu
là 24,299 triệu USD Tỷ lệ lạm phát tăng lên 11,6% (năm 1978) và 18,8% (năm1979) Với tác động của các cuộc khủng hoảng dầu thứ hai, tỷ lệ lạm phát đã tănglên 38,9% (năm 1980)
Kế hoạch phát triển kinh tế lần thứ tư nhấn mạnh vai trò của cơ chế thịtrường trong việc nâng cao hiệu quả của nền kinh tế thị trường, đa dạng cơ cấukinh tế và các hoạt động kinh doanh trong khu vực tư nhân cũng đã được mởrộng đáng kể.Kế hoạch thứ tư được đánh giá cao hơn nhiều so với kế hoạch trước
đó về các kỹ thuật xây dựng kế hoạch, độ bao phủ và chất lượng của kếhoạch.Tuy nhiên, những thay đổi đột ngột và không thể đoán trước của môitrường bên trong và bên ngoài bao gồm cuộc khủng hoảng dầu thứ hai đã cản trởviệc thực hiện kế hoạch.Chính phủ buộc phải điều chỉnh kế hoạch thông qua cácchính sách ngắn hạn và bất thường để vượt qua khủng hoảng kinh tế
1.3.5 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ năm 1986)
(1982-Năm 1979, thời đại Tổng thống Park đã chấm dứt Chính phủ mới đã xâydựng kế hoạch phát triển mới với tên gọi là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5năm, kế hoạch này không chỉ có nội dung phát triển kinh tế định hướng tăngtrưởng mà còn bao gồm các vấn đề xã hội chung phát sinh trong quá trình pháttriển kinh tế
Trong kế hoạch này, Chính phủ có sự phân biệt rõ ràng giữa vai trò của khuvực tư nhân và Chính phủ Đối với khu vực tư nhân, Chính phủ chỉ hướng dẫn vàchỉ đạo; hạn chế can thiệp trực tiếp; và gián tiếp sử dụng nhiều chính sách ưu đãi
để khuyến khích nỗ lực sáng tạo của khu vực tư nhân Thay vào đó, Chính phủ
Trang 11can thiệp tích cực duy nhất trong lĩnh vực liên quan đến các nhu cầu cơ bản củangười dân như giáo dục, nhà ở và sức khỏe để bổ sung chức năng của thị trường.Đối với phát triển công nghệ và nguồn nhân lực, Chính phủ chuẩn bị một kếhoạch đầu tư chi tiết trong ràng buộc ngân sách.
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ năm mang lại hiệu quả kinh tếcao nhất trong các kế hoạch trước đó (kế hoạch đã giải quyết thâm hụt cán cânthanh toán kinh niên và lạm phát dai dẳng) Tốc độ tăng trưởng bình quân dự kiến
là 7,6%/năm, nhưng tốc độ tăng trưởng thực tế bình quân 9,8%/năm Tốc độ tăngtrưởng công nghiệp khai khoáng và chế tạo trung bình là 11,8%/năm Năm 1986,tổng tiết kiệm quốc gia/GNP đạt 32,6%, vượt tổng mức đầu tư/GNP (29,8%).Thặng dư tài khoản hiện hành là 4,617 triệu USD vào năm 1986 (từ 2,649 triệuUSD năm 1982)
Nền kinh tế Hàn Quốc và kinh tế thế giới bắt đầu có xu hướng đi lên, cácđiều kiện cho kế hoạch được tăng cường rất nhiều.Trong hai năm đầu tiên của kếhoạch, bình ổn giá đã đạt được Năm 1983, kinh tế hồi phục và tốc độ tăng trưởng
đã đạt trên 6% Do tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới đã chậm lại và giádầu đi xuống, nên Chính phủ đã sửa đổi các nội dung của kế hoạch để phù hợpvới sự thay đổi của môi trường bên ngoài.Kế hoạch thứ năm nhằm thúc đẩy chứcnăng của thị trường, để giải quyết vấn đề đa dạng của phát triển kinh tế - xã hội(KT-XH) và đáp ứng nhu cầu thay đổi của người dân Tuy nhiên, Chính phủ đãkhông đạt được mục tiêu tự do hóa, mở cửa
1.3.6 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ sáu 1991)
(1987-Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ sáu được xây dựng dựa trên đánhgiá cẩn thận về việc thực hiện kế hoạch thứ năm và các chính sách lớn đã đượcthực hiện, có tính đến quy mô kinh tế, tăng sự phụ thuộc vào bên ngoài và nhữngthay đổi trong và ngoài nước Chính phủ tiếp tục thực hiện theo một số mục tiêu
và chính sách hiện có; bổ sung và xây dựng những mục tiêu, chính sách mới Kế
Trang 12hoạch thứ sáu đã được chuẩn bị thận trọng thông qua sự đồng thuận quốc gia;bằng chứng là kế hoạch đã tham khảo ý kiến với các chuyên gia trong và ngoàinước, giới học thuật, các Viện nghiên cứu, các phương tiện truyền thông đạichúng và các bên liên quan.
Tốc độ tăng trưởng trung bình dự kiến là 7,3%/năm, nhưng tốc độ tăngtrưởng thực tế là 10,0%/năm Từ năm 1988 đến năm 1991, tiền lương sản xuấttăng 20%/năm trong khi chi phí đơn vị tăng 18%/năm (1988-1989).Tăng trưởngkinh tế giảm do xuất khẩu và sản xuất tăng chậm Suy thoái kinh tế này chủ yếu
là do suy thoái kinh tế toàn cầu và "ba mức thấp" (giá trị của đồng đô la Mỹ thấp,lãi suất thấp và giá dầu thấp) Trong giai đoạn 1988-1990, Chính phủ đã cố gắngkích thích nhu cầu trong nước bằng cách tăng đầu tư cơ sở hạ tầng các khu dân
cư và toàn xã hội Và các chính sách lớn đã thành công trong việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế (tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9%/năm trong giai đoạn 1990-1991), tuy nhiên, nó đã dẫn đến một sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô nghiêm trọngvới lạm phát tăng cao và thâm hụt thương mại lớn
Tóm lại, kế hoạch thứ sáu giải quyết được hầu hết các nhiệm vụ chính sách
cần thiết Nó có thể được coi là một kế hoạch toàn diện Kế hoạch cũng đượcđánh giá là việc lựa chọn mục tiêu và thực hiện chính sách có nhiều hiệu quả hơn
so với kế hoạch trước đó Tuy nhiên, Chính phủ đã gặp khó khăn khi có quánhiều nhiệm vụ đầy tham vọng Vấn đề phát triển kinh tế đã trở nên phức tạp hơn
và giải pháp cho những vấn đề này cũng có xu hướng phức tạp hơn Hơn nữa,nền kinh tế nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, việc xây dựng vàthực hiện chính sách trong kế hoạch sẽ trở nên khó hơn trong tương lai
1.3.7 Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế mới (1993-1997)
Vào tháng 3 năm 1992, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 7(1992-1996) đã được công bố.Điểm nổi bật là Tổng thống mới cho rằng chínhsách tăng trưởng được dẫn dắt bởi Chính phủ là một mô hình cũ Để thích ứng