ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH NGUYỄN THI ̣ THU HƯỜNG NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH NAM Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THI ̣ THU HƯỜNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THI ̣ THU HƯỜNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Chu Hồi
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công
bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Hà Nội, 2017
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - giáo viên hướng dẫn, người đã định hướng và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trong Khoa Các Khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho em kiến thức trong quá trình học tập, tạo nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài luận văn và là hành trang cho em bước tiếp trên con đường nghiên cứu khoa học trong tương lai
Học viên xin chân thành cảm ơn các cán bộ Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng, Ủy ban nhân dân xã Hải Đông, Giao Long, Nghĩa Phúc đã giúp đỡ hiệu quả trong quá trình thu thập thông tin và điều tra thực địa
Xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất song do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức cũng như thời gian nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Học viên rất mong được sự góp ý của Quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BIỂU ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và cộng đồng 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan 5
1.1.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên thế giới 7
1.1.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ven biển ở Việt Nam 10
1.1.4 Thực trạng và tác động biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Nam Định 12
1.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng ven biển Nam Định 23
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên ven biển Nam Định 23
1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn vùng ven biển Nam Định 24
1.2.3 Thực trạng các hê ̣ sinh thái và đa dạng sinh học ven biển Nam Định 25
1.2.4 Tình hình kinh tế - xã hội 3 huyện ven biển Nam Định 26
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2.1 Phạm vi địa lý và điều kiện kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 32
2.2.2 Phạm vi vấn đề 35
2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 35
Trang 62.3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
CHƯƠNG III TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CỘNG ĐỒNG VEN BIỂN NAM ĐỊNH 41
3.1 Thực trạng và tác động của biến đổi khí hậu đến cộng đồng dân cư 41
3.1.1 Các biểu hiện thời tiết cực đoan 41
3.1.2 Nước biển dâng 43
3.1.3 Các tác động đến vùng ven biển 44
3.1.4 Các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến cộng đồng ven biển 46
3.1.5 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến cộng đồng dân cư ven biển 48
3.2 Đánh giá nhu cầu của cộng đồng đối với thích ứng biến đổi khí hậu 49
3.2.1 Lựa chọn các cộng đồng đại diện ở ven biển nghiên cứu 49
3.2.2 Nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu 50
3.2.3 Các nguồn sinh kế chính của cộng đồng ven biển địa phương 52
3.2.4 Mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến các sinh kế chính của cộng đồng 62
CHƯƠNG IV CÁC NỖ LỰC THÍCH ỨNG Ở CẤP CỘNG ĐỒNG 64
4.1 Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Nam Định 64
4.1.1 Khả năng tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu và thiên tai 64
4.1.2 Hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với cộng đồng trong thích ứng 65
4.1.3 Các thực tế thích ứng hiện có ở cấp cộng đồng 65
4.2 Đề xuất một số giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng ven biển Nam Định 69
4.2.1 Tăng cường tuyên truyền biến nhận thức thành hành động để cộng động tự thích ứng và nâng cao năng lực của cộng đồng trong thích ứng với biến đổi khí hậu 69
4.2.2.Phát huy những mô hình hiện có 69
Trang 74.2.3 Xây dựng các sinh kế mới 70
4.2.4 Tăng cường hỗ trợ (pháp lý và kỹ thuật) của Nhà nước và chính quyền địa phương để cộng đồng thích ứng hiệu quả 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
1.Kết luận 73
2 Khuyến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 78
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
CARE Tổ chức cứu trợ quốc tế
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Cơ quan phát triển Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
VQG Vườn quốc gia
VVB Vùng ven biển
WB Ngân hàng thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Trình độ học vấn của chủ hộ và người lại động tại 3 xã nghiên cứu 54Bảng 3.2: Tiêu chí và thang điểm đánh giá nguồn lực sinh kế hộ gia đình 61Bảng 3.3: Bảng phân tích sinh kế của cộng đồng theo mô hình SWOT 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cống Ngô Đồng – Giao Thuỷ 14
Hình 1.2: Một số khu vực ven biển Nam Định sẽ ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới [19] 16
Hình 2.1: Bản đồ hành chính 3 huyện ven biển 32
(Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng), tỉnh Nam Định [19] 32
Hình 3.1: Một đoạn đê tại huyện Giao Thủy bị sạt lở trong cơn bão số 1 (Mirinae) năm 2016 tại huyện Giao Thủy 46
Hình 3.2: Hình ảnh tiêu biểu về bảo vệ môi trường tại xã Hải Đông 51
Hình 3.3: Công cụ sản xuất của các hộ dân xã Giao Long 57
Hình 4.1: Đất làm muối tại xã Hải Đông được chuyển thành ao nuôi tôm 67
Hình 4.2: Du lịch cộng đồng tại xã Nghĩa Phúc 68
Trang 11DANH MỤC BIỂU
Biểu 3.1: Cơ cấu đất trồng lúa bị ảnh hưởng do nhiễm mặn gia tăng 42Biểu 3.2 : Số phiếu được thực hiện tại các xã nghiên cứu 47Biểu 3.3 : Nhận thức của cộng đồng về BĐKH tại 3 xã nghiên cứu 50Biểu 3.4: Nguyên nhân dẫn đến tính dễ bị tổn thương lớn tại 3 xã nghiên cứu 52Biểu 3.5: Trình độ học vấn của cộng đồng tại 3 xã nghiên cứu 55Biểu 3.6: Cơcấu việc làm phân theo giới tính của người trong độ tuổi lao động56Biểu 3.7: Đánh giá tổng hợp nguồn sinh kế hộ gia đình 61
Trang 12MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trường toàn cầu BĐKH thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do những tác động của BĐKH [22]
Chính phủ Việt Nam đã lồng ghép ứng phó với BĐKH vào Luật Bảo vệ Môi trường, vào các chương trình quốc gia, như: Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) của Việt Nam, Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học (ĐDSH) và BĐKH, Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020,…Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được chỉ định là Cơ quan đầu mối Quốc gia về các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện Công ước Khung của Liên hiệp quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto Ngày 03/12/2007, Chính phủ
đã có Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH, kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua tháng 12 năm 2008
Nam Định là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) với đường
bờ biển dài khoảng 72 km và bị chia cắt khá mạnh mẽ bởi các cửa sông lớn như: cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Đáy (sông Đáy), cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ)
và cửa Hà Lạn (sông Sò) Nam Định có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy huyện Giao Thuỷ, nằm ở vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển ĐBSH đã được UNESCO công nhận
Nam Định mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu nhiệt đới của vùng ĐBSH: gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Hàng năm, Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 2- 4 cơn/năm Các hiện tượng thời tiết cực đoan: tăng nhiệt độ; thay đổi lượng mưa; tăng tần xuất, mức độ rét đậm, rét hại,… kết hợp với nước
Trang 13biển dâng (NBD), xâm nhập mặn (XNM) đang gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nước, đảm bảo vệ sinh môi trường; đe dọa an ninh lương thực của tỉnh Các trận bão, lũ dồn dập gây sạt lở tuyến đê sông, bãi bồi dẫn đến mất đất canh tác, đe dọa cuộc sống người dân vùng bãi, ven đê NBD kết hợp bão, lũ là nguyên nhân sạt lở đê biển, bãi bồi ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, sản xuất muối; thiệt hại về người và tài sản của nhân dân các huyện ven biển tỉnh Nam Định
Trước nguy cơ ảnh hưởng và cảnh báo về BĐKH, Nam Định cần phải có các giải pháp, kế hoạch thích ứng với BĐKH nhằm ứng phó với hiểm họa này Triển khai kế hoạch quốc gia, Nam Định đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, tầm nhìn đến 2020
Kế hoạch của tỉnh định hướng đảm bảo khai thác và sử dụng hợp lý và bảo
vệ tài nguyên nước, đất, rừng trên địa bàn tỉnh Nam Định Các dự báo ảnh hưởng của BĐKH đến các cụm công nghiệp (CCN), khu vực đô thị, khu vực nhạy cảm cao về môi trường,…giúp công tác quy hoạch đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh Nam Định trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Khía cạnh các cơ hội từ BĐKH được tính đến sẽ giúp tỉnh chủ động khai thác hiệu quả nhất những tác động tích cực của nó từ đó góp phần giảm thiểu thiệt hại do BĐKH tác động đến KT-XH của tỉnh Kế hoạch cũng huy động sự tham gia của hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Qua đó gián tiếp cung cấp kiến thức, tập trung sự quan tâm của các cán bộ, nhân dân tỉnh Nam Định đối với công tác ứng phó với BĐKH, góp phần tích cực, chủ động thực hiện Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh nói trên
Những năm qua, các ảnh hưởng của BĐKH như áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt, hạn hán, XNM, triều cường, sạt lở đất, dịch bệnh,… đã tác động không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp, nước sạch và vệ sinh môi trường, khai thác và nuôi trồng thủy hải sản và du lịch; tài nguyên ĐDSH và hệ sinh thái; sức khỏe người dân, giao thông và cơ sở hạ tầng,…Điều này đã đặt ra cho tỉnh Nam Định phải đối mặt trước những thách thức rất nghiêm trọng Những ảnh hưởng này đã và
Trang 14sẽ là rào cản đối với tăng trưởng bền vững và mục tiêu trở thành trung tâm vùng nam đồng bằng sông hồng (ĐBSH) của Nam Định
Ứng phó với BĐKH là việc làm cấp bách và có ý nghĩa, trong đó ưu tiên thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng được đánh giá là cách tiếp cận phát huy hiệu quả cao, mang tính bền vững Tuy nhiên, thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cũng không phải dễ dàng, và để thực hiện hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia chủ động của cộng đồng người dân địa phương ven biển Có một thực
tế hiện nay là nguồn lực cho ứng phó với BĐKH tập trung vào nghiên cứu khoa học, xây dựng chính sách, còn rất thiếu cho các dự án thích ứng cụ thể Đặc biệt,
để ứng phó với các hiện tượng thiên tai thường diễn ra như hạn hán, lũ lụt,… thì công cuộc xã hội hóa nguồn lực và huy động sự tham gia của cộng đồng còn gặp không ít khó khăn Tại tỉnh Nam Định, sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực này vì nhiều lý do khác nhau còn khá khiêm tốn, cộng đồng dân cư chưa được tham gia nhiều trong kế hoạch ứng phó với BĐKH của tỉnh, đặc biệt cộng đồng tại các xã ven biển Vì vậy, cần thay đổi cách tiếp cận và giải pháp để tăng cường vai trò và sự tham gia của cộng đồng người dân ven biển trong thích ứng
với BĐKH Trước thực trạng đó, việc “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp thích
ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở vùng ven biển tỉnh Nam Định’
là việc làm thật sự cần thiết Học viên lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ này với
hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc huy động cộng đồng ven biển tham gia thích ứng với BĐKH
Giả thuyết nghiên cứu của đề tài là:
- Phần lớn người dân mới biết mà chưa hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ những vấn đề thuộc bản chất của BĐKH, NBD và các tác động trước mắt và lâu dài đến vùng ven biển và cư dân vùng này Sự hiểu biết của người dân chưa đủ biến thành thái độ, hành vi sống thân thiện với môi trường, thích ứng với BĐKH
- Cần phải giúp các cộng đồng ven biển thay đổi nhận thức, cải thiện khả năng chống chịu với BĐKH thông qua các biện pháp thích ứng cụ thể và đồng
Trang 15bộ Trên cơ sở đó hình thành các cộng đồng ven biển có khả năng thích ứng chủ động (không đối phó bị động) với tác động của BĐKH và NBD
Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu là : Nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH của cộng đồng dân cư vùng ven biển tỉnh Nam Định nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội vùng ven biển, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh Nam Định Mục tiêu cụ thể được xác định là:
- Thay đổi được nhận thức, góp phần cải thiện khả năng thích ứng với BĐKH của cộng đồng dân cư vùng ven biển nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD dựa vào cộng đồng dân cư vùng ven biển nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và cộng đồng
1.1.1 Các khái niệm liên quan
a) Khái niệm về biến đổi khí hậu
BĐKH là sự thay đổi của khí hậu mà trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài [26]
Theo định nghĩa này, BĐKH là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ
ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH [11] Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động,
xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước, và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau [12]
Thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH
Trang 17Trong việc đánh giá tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật, và các HST có thể di cư sang một khu vực mới Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư Để giải thích đầy đủ về tính dễ bị tổn thương do BĐKH, việc đánh giá tác động cần phải tính đến quá trình tất yếu
sẽ xảy ra: thích ứng của các đối tượng tác động Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy
đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng
là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH
Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra
sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực [3]
Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu: Cộng đồng ven biển là một tập thể thống nhất và có tổ chức của người dân ven biển sống chung trong một địa bàn ven biển nhất định, có chung một môi trường tự nhiên, văn hóa và cùng chia
Trang 18d) Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH [12]
1.1.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên thế giới
a) Các biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu đến vùng ven biển
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng – hậu quả trực tiếp của
sự tan băng ở Bắc và Nam cực Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp
do nước biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam, Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin [4]
Nước biển dâng còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm [1] Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền Trong thời gian 20-25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện Tỷ lệ bệnh nhân,
tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng
400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét [22]
Trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD Nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP, còn nếu chúng ta có những ứng phó
Trang 19tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP [25]
Tuy nhiên, BĐKH ở những mức độ nhất định và những khu vực nhất định cũng có những tác động tích cực đó là tạo cơ hội để thúc đẩy các nước đổi mới công nghệ, phát triển các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường Phát triển trồng rừng để hấp thu CO2 giảm phát thải khí nhà kính Ở một số nước
ôn đới, khi nhiệt độ tăng lên sẽ thuận lợi hơn cho phát triển nông nghiệp và năng lượng để sưởi ấm cũng được tiết kiệm hơn
VVB cũng là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất nặng nề về người và tài sản Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD [7]
Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thủy sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất là rừng ngập mặn - môi trường sống của các loài thủy hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương, sẽ bị thu hẹp nhanh chóng Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng biển, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời
Nước biển dâng và nhiệt độ tăng gây ảnh hưởng lớn tới các rạn san hô - HST có tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn hiệu quả chống xói mòn bờ biển San hô là các động vật rất nhạy cảm với các yếu tố sinh thái, nhất là nhiệt độ và chất lượng nước Nhiệt độ nước biển chỉ cần tăng một vài độ, san hô có thể chết hàng loạt Hiện nay đã có khoảng 30 quốc gia báo cáo có nguy cơ bị mất san hô [7]
b) Chương trình thích ứng biến đổi khí hậu
Từ năm 2008 đến năm 2012, Cơ quan Phát triển của Liên hiệp quốc và Quỹ Môi trường toàn cầu (UNDP-GEF) đã triển khai Chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng với số tiền tài trợ là 4,5 triệu USD Có 10 nước tham gia:
Trang 20Samoa và Việt Nam Mỗi nước được tài trợ hơn 50 ngàn USD và có 37 dự án điểm đang được thực hiện, 27 dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị Tổng số 90
dự án đã được thực hiện tới năm 2012
Chương trình phối hợp với nhóm tình nguyện của Liên hiệp quốc nhằm tăng cường nguồn lực từ cộng đồng, thừa nhận những đóng góp từ các tình nguyện viên, và đảm bảo sự tham gia của những nhóm bên ngoài trong chương trình, cũng như hỗ trợ xây dựng nguồn nhân lực cho các cộng tác là những tổ chức phi chính phủ và tổ chức cộng đồng Mặc dù với nhiều hình thức khác nhau, tất cả các dự án thích ứng dựa vào cộng đồng đều nhận thức được nhu cầu của những dự án với nội dung cụ thể, chi tiết là: xác định mức độ tổn thương của địa phương, đúc rút năng lực, kinh nghiệm và kiến thức bản địa, nâng cao năng lực thích ứng của địa phương và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa các bên liên quan trong cộng đồng địa phương
Mặc dù thích ứng dựa vào cộng đồng mới được phát triển gần đây nhưng
đã xuất hiện những thách thức nhất định và một số bài học được đúc kết, cùng với những vấn đề liên quan tới tính sẵn có và mức độ tin cậy của nguồn thông tin và dữ liệu về BĐKH, chất lượng quá trình tham vấn trong thích ứng dựa vào cộng đồng, nhân rộng mô hình, kiểm tra và đánh giá
Các vấn đề chính của các chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng được tóm tắt như sau [24]
Hình thức đặc điểm tham gia bị động Người tham gia được thông báo về
những gì đã, đang và sẽ xảy ra Những thông tin này được cung cấp bởi chính quyền địa phương hay từ những dự án Tuy nhiên, không có sự lắng nghe những
ý kiến phản hồi từ cộng đồng Những thông tin được đem ra chia sẻ thuộc về những chuyên gia bên ngoài
Tham gia bằng cách cung cấp thông tin Người dân tham gia bằng cách trả
lời các câu hỏi được đưa ra bởi các nghiên cứu viên thực địa bằng phương pháp bảng hỏi hay các phương pháp tương tự Người dân địa phương không có cơ hội tham gia vào quá trình tìm ra kết quả, cũng như kiểm chứng tính chính xác
Trang 21Tham gia thông qua thảo luận Người tham gia cùng thảo luận và các nhà
khoa học/điều tra nghe những quan điểm này Các nhà khoa học này xác định các vấn đề và giải pháp, có thể có sự điều chỉnh nhỏ từ những phản hồi của người dân Tuy nhiên, quá trình tham vấn cộng đồng này lại không bao gồm quá trình ra quyết định, và những nhà khoa học này không bắt buộc phải xem xét tới quan điểm của cộng đồng Tham gia với những động cơ về mặt vật chất, mọi người tham gia bằng cách cung cấp nguồn lực (như nhân lực) để đổi lại với thức
ăn, tiền mặt hay các giá trị vật chất tương tự Nhiều nghiên cứu triển khai trên đồng ruộng rơi vào trường hợp này khi người dân nhường đất canh tác cho các nhà khoa học, nhưng họ lại không tham gia vào quá trình triển khai thử nghiệm hay học hỏi Do đó, có thể thấy là, mọi người cũng kết thúc việc tham gia nếu các động cơ vật chất không còn
Tham gia ở chức năng nhất định Người dân tham gia bằng cách lập những
nhóm phù hợp với những yêu cầu đặt ra trước đó của dự án Sự tham gia này không phải ngay từ giai đoạn đầu quá trình lập kế hoạch của dự án mà thường sau khi những quyết định quan trọng đã được thông qua Phương thức này có tính phụ thuộc nhiều vào những đối tượng bên ngoài hơn là chính cộng đồng
Tham gia có tính tương tác Sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu quá
trình xây dựng dự án ở địa phương, nên họ có thể có những quyết định liên quan tới các kế hoạch hành động và thiết lập một tổ chức chính quyền địa phương mới hay tăng cường năng lực cho chính quyền hiện tại Nó có xu hướng liên quan tới phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành – tức là xem xét tới nhiều quan điểm khác nhau, áp dụng quá trình nghiên cứu tổng hợp và có cấu trúc Nhóm tham gia này đại diện cho quyết định của cộng đồng, do đó đảm bảo cộng đồng có tác động trong việc duy trì cơ cấu tổ chức hay thực hiện chính sách
1.1.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ven biển ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia ven biển, khí hậu nhiệt đới, thường xuyên có mưa bão, lũ lụt, lại sở hữu 2 đồng bằng trù phú lớn nhất nước là ĐBSH và ĐBSCL -
Trang 22(80% diện tích ĐBSCL và 30% diện tích ĐBSH có độ cao dưới 2,5m) so với mặt nước biển Việt Nam là nước Đông Nam Á bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi NBD cao Dựa vào kịch bản đáng tin cậy, nếu NBD lên 1m vào năm 2100 sẽ tác động đến 5,3% diện tích đất đai chung; 10,8% dân cư; 10,2% GDP; 10.9% diện tích đô thị; 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% diện tích đất trũng Nếu mực nước biển sẽ dâng cao hơn 1m; sẽ có 1.668 km2 đất thuộc ĐBSH bị ngập, 1.874.011 người bị ảnh hưởng [29]
Trong thời gian qua, các mô hình ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng bước đầu đã mang lại những thành công nhất định Như mô hình trồng và chăm sóc RNM dựa vào cộng đồng: HST rừng ngập mặn là một trong những HST ven biển quan trọng nhất Ngoài việc cung cấp chức năng sinh học, rừng ngập mặn còn đóng vai trò như một hệ thống ngăn ngừa và giảm thiểu những tác động của thiên tai do khả năng chắn sóng, bão, nước triều dâng, giúp ổn định bờ biển, tạo điều kiện cho quá trình bồi tụ trầm tích và chống xói lở Từ năm 2001 đến nay, nhờ nỗ lực phục hồi các HST rừng ngập mặn để giảm nhẹ rủi ro thiên tai, vì mục đích quốc phòng và các mục đích khác, đã khôi phục được khoảng 42% so với những năm trước chiến tranh
Một trong những chương trình trồng rừng ngập mặn thành công ở Việt Nam, phải kể đến chương trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng do Hội chữ thập đỏ thực hiện [5] Chương trình này đã góp phần phục hồi hơn 9.032 ha rừng ngập mặn ở các tỉnh ven biển phía Bắc (khoảng 23,8 % diện tích rừng ngập mặn trên toàn miền Bắc) sau hơn 15 năm triển khai (1994-2010) Chương trình này đã góp phần không nhỏ trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai, nâng cao nhận thức và đem lại nguồn sinh kế bổ trợ cho người dân vùng ven biển
Điển hình tiếp theo là mô hình trồng rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại Hậu Lộc, Thanh Hóa do tổ chức Cứu trợ Quốc tế (CARE) tại Việt Nam thực hiện từ 2006 – 2010 Mô hình giúp cộng đồng quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn
và nâng cao năng lực cho cộng đồng Thành công của mô hình là bài học kinh nghiệm tốt trong việc triển khai cách tiếp cận dựa vào cộng đồng trong công tác
Trang 23trồng, quản lý, bảo vệ và chăm sóc rừng ngập mặn vì mục đích giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH
Mô hình tôn nền các cụm, tuyến dân cư vượt lũ để xây dựng nhà, làm đê bao, bờ bao và hệ thống cống điều tiết lũ ở ĐBSCL Có thể hiểu đê bao là những đường, đê được xây dựng vững chắc cao hơn mực nước lũ thiết kế nào đó sao cho các trận lũ lớn nước không tràn qua Đê bao thường sử dụng để bảo vệ các khu dân cư, các khu công nghiệp tập trung, các khu thị trấn, thị tứ và các vùng chuyên canh trồng cây ăn trái Còn bờ bao là các đường bờ tạm thời với độ cao không vượt quá mực nước lũ tháng tám để khi thu hoạch xong lúa hè thu thì cho nước lũ tràn vào để lấy phù sa, thêm nguồn thủy sản, thau chua rửa phèn và vệ sinh đồng ruộng [2]
Mô hình hầm tránh bão ở các tỉnh miền Trung được thực hiện ở tất cả các vùng của khu vực miền Trung, vùng cát ven biển, vùng gò đồi với cách làm rất sáng tạo Hầm tránh bão được đào sâu khoảng 2m, xung quang chèn những bao cát, bên trên đặt ngang những thanh gỗ và tạo các mái che đậy tránh nước mưa xối vào Ở vùng gò đồi hầm được khoét sâu vào đồi hoặc núi theo hình chữ chi
và tạo các lỗ thông hơi để tránh gió bão quét mạnh
Xây dựng công trình công cộng trên nền đất cao: Rút kinh nghiệm từ tình trạng ngập lụt nhiều lần ở địa phương, các hộ dân và chính quyền nhiều xã ở khu vực miền Trung và ĐBSCL đã tiến hành san lấp, tôn tạo nền đất cao so với bề mặt địa hình xung quanh để xây dựng các công trình công cộng như nhà vệ sinh, giếng nước, trường học, nhằm đảm bảo các sinh hoạt bình thường khi có lũ lụt xảy ra [31]
1.1.4 Thực trạng và tác động biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Nam Định
a) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước
Một trong những ảnh hưởng lớn nhất của BĐKH đến tài nguyên nước vùng ven biển tỉnh Nam Định là việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của XNM BĐKH gây nên tình trạng khô hạn kéo dài, mùa khô dài hơn mùa mưa, kết hợp với sự dâng lên của mực nước biển nên quá trình XNM trong 10 năm trở lại đây diễn ra
Trang 24với chiều hướng xấu đi XNM không chỉ tiến sâu hơn vào trong nội đồng mà thời gian ảnh hưởng cũng kéo dài hơn
Qua khảo sát thực tế tại các xã ven biển huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy, tất cả 60/60 cán bộ cấp xã và huyện được phỏng vấn đều cho rằng những năm gần đây mực nước mặn xâm lấn và dâng lên ngày càng sâu vào trong nội đồng Những năm qua, ở các cửa sông, độ mặn cao, xuất hiện sớm và xâm nhập sâu hơn vào khu vực nội đồng Cụ thể, tại sông Sò, khu vực chân cầu Thức Khóa - Giao Thịnh (Giao Thủy), độ mặn đo được ngày 18/6/2011 là 0,1% Nước sông Hồng tại phà Ngô Đồng – Thị trấn (TT) Ngô Đồng huyện Giao Thủy độ mặn đo được ngày 26/6/2011 là 0,21% Trên sông Vọng - đội 1 xã Bạch Long huyện Giao Thủy, có độ mặn là 1,59% (kết quả đo ngày 28/6/2011) Nước sông Ninh Cơ khu vực bến đò Gót Tràng – TT Thịnh Long đo ngày 14/6/2011 có độ mặn là 0,3% Nước sông Đáy khu vực cách cống Lạch Đáy 300m - xã Nam Điền huyện Hải Hậu đo ngày 17/6/2011 có độ mặn là 0,91% [16]
Mực nước thấp, độ mặn cao hơn, xuất hiện sớm hơn và xâm nhập sâu vào các cửa sông Độ mặn như vậy ảnh hưởng rất lớn cho các công trình đầu mối lấy nước, các cống tưới vùng triều do mực nước trên các triền sông thấp, mặn tiến sâu vào các cửa sông, nên số giờ mở cống lấy nước được ít chỉ đạt 1,5 - 3 giờ/ngày XNM những năm qua trên địa bàn tỉnh Nam Định dẫn tới thay đổi độ sâu nước ngầm sử dụng cho mục đích sinh hoạt Các hộ gia đình khoan giếng tại huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy để khai thác nước ngầm cho mục đích sinh hoạt thì hiện nay phải khoan sâu 100-120m, trong khi đó thời gian trước khoan 80-90m là đã khai thác được nước ngầm để sử dụng
BĐKH có tác động xấu đến sự thay đổi nguồn nước Dự báo đến năm 2025 nguồn nước của Việt Nam sẽ bị giảm đi khoảng 40 tỷ m3 Tổng lượng nước mùa khô đến năm 2025 có thể giảm đi khoảng 13 tỷ m3 [11] Trong khi mực nước biển không ngừng gia tăng Quá trình kết hợp giữa thiếu nước ngọt và NBD sẽ trở thành thách thức đối với tài nguyên nước của Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng trong hiện tại cũng như tương lai
Trang 25Hình 1.1: Cống Ngô Đồng – Giao Thuỷ
đã bị nước mặn tràn qua
b) Tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực nông nghiệp
Các hiện tượng thời tiết cực đoan (rét hại kéo dài, nắng nóng bất thường, hạn hán, mưa bão lớn, úng lụt,…) làm cho hàng chục ngàn ha cây trồng, nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng Cùng với các sự cố về công trình đê điều như sạt lở
bờ bãi, công trình thủy lợi nội đồng cần phải tưới tiêu và nạo vét khơi thông dòng chảy, tình trạng sâu bệnh và dịch bệnh xuất hiện đa dạng rất khó kiểm soát Tình trạng phát triển sản xuất ồ ạt cũng là yếu tố gây thêm ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Những biểu hiện của BĐKH gây ra điển hình như:
- Vụ Xuân năm 2011, 2014 xuất hiện các đợt rét hại kéo dài liên tục, nhiều ngày nhiệt độ xuống thấp dưới 10°C nên đã làm chết 46.600 ha mạ, lúa mới cấy
và cây màu vụ Xuân, ước giá trị thiệt hại khoảng 70 tỷ đồng;
- Năm 2012, bão số 8 (SƠN TINH) đã làm thiệt hại trên 11.000 ha lúa Mùa chưa thu hoạch, 12.900 ha cây vụ Đông mới trồng, hư hỏng công trình đê điều
và thủy lợi, sản xuất và nuôi trồng thủy sản ước thiệt hại trên 100 tỷ đồng
Trang 26- Mưa úng vụ mùa năm 2011, 2012, 2013, 2014 làm ngập úng 59.100 ha lúa và 9.900 ha cây vụ Đông, trong đó mất trắng khoảng 2.100 ha (lúa: 313 ha;
vụ Đông gần 1.800 ha), ước thiệt hại trên 10 tỷ đồng [17]
- Nhiệt độ biến động cũng dẫn đến một số hậu quả: Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật Nhiều bãi ngao vào mùa nắng nóng bị chết do nhiệt độ quá cao Năm 2008, đợt rét đậm kéo dài đã làm chết gần như toàn bộ đàn tôm cá bố
mẹ và đàn thủy sản nuôi qua đông, thiệt hại trên 100 tỷ đồng Năm 2010, đã có gần 100 ha ngao nuôi bị chết do nhiệt độ và độ mặn cao
- Lượng mưa phân bố không đồng đều và không theo quy luật cũng ảnh hưởng rất lớn tới NTTS Môi trường nuôi không đảm bảo dẫn đến năng suất và sản lượng không được như yêu cầu Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng
độ muối giảm đi trong một thời gian dẫn đến sinh vật nước mặn và nước lợ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò, ) bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi Đối với nguồn lợi hải sản và nghề cá, BĐKH gây ra các tác động: NBD làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi Kết quả là các quần xã hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút Nhiệt độ tăng làm cho nguồn thủy, hải sản bị phân tán Các loài
cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn Các loài thực vật nổi - mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi, bị huỷ diệt, làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên Mưa bão trên biển gây khó khăn cho ngư dân tham gia khai thác hải sản, đặc biệt là khai thác hải sản xa bờ
Một vài năm gần đây thường xuất hiện mưa lớn trái mùa trùng vào thời gian canh tác cây vụ Đông, điển hình là trận mưa ngày 28 và 29/10/2014 với lượng mưa bình quân toàn tỉnh là 126mm, cao nhất ở huyện Nghĩa Hưng 210mm
Quá trình XNM do NBD làm giảm khả năng duy trì diện tích đất trồng cây lương thực đặc biệt là cây lúa Đã có khoảng 20.000 ha đất trồng lúa vùng thấp trũng sản xuất lúa thường bị ngập úng trong vụ mùa, năng suất thấp; trên 11.000
ha đất canh tác chân cao sản xuất lúa và rau màu hàng năm vào mùa khô đều bị
Trang 27thiếu nước trầm trọng; có trên 12.000 ha đất canh tác của ba huyện ven biển (Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) bị ảnh hưởng mặn nặng (độ mặn trong đồng phổ biến từ 1,2-3‰) nên việc canh tác lúa rất khó khăn, nhất là trong vụ xuân Năng suất lúa ở các nơi này thường giảm 20-25% so với các nơi khác, trong khi chi phí thuỷ lợi lại cao hơn Từ năm 2011 đến năm 2014 đã có trên 2.000 ha lúa của 3 huyện ven biển bị chết do ảnh hưởng của mặn [17]
Hình 1.2: Một số khu vực ven biển Nam Định sẽ ngập chìm từ 2-4m trong
vòng 100 năm tới [19]
Do ảnh hưởng của BĐKH, những năm gần đây đặc biệt vào thời điểm vụ đông xuân, mực nước và lưu lượng trên các triền sông xuống rất thấp, mặn tiến sâu vào các cửa sông và nồng độ mặn tăng mạnh, số cống và số giờ mở cống lấy nước giảm, mặc dù một số thời điểm mực nước đảm bảo nhưng nước có độ mặn cao nên nhiều cống không thể mở lấy nước Vùng phía nam tỉnh (huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Trường và Giao Thủy) mặn lấn sâu vào các cửa sông, có những điểm sâu vào các cửa sông từ 30 - 40 km trên triền sông Hồng, sông Ninh
Cơ và sông Đáy Hiện tượng xâm nhập mặn có dấu hiệu gia tăng, nhất là vào
Trang 28giai đoạn đổ ải vụ xuân Ngoài ra, hiện tượng XNM còn gây nên tình trạng thay đổi môi trường sinh thái tại khu vực cửa sông, ven biển [20]
Nhu cầu lương thực gia tăng do tăng quy mô dân số, nhưng sản xuất lương thực giảm do nguy cơ mất đất trồng cây lương thực vì mở rộng đô thị và các khu công nghiệp, nguy cơ thiếu nước, nhiễm mặn, gia tăng sâu bệnh, Do đó sản xuất lương thực ở Nam Định có khả năng không đảm bảo an ninh lương thực của tỉnh, nếu không có giải pháp quyết liệt trong việc bảo vệ đất canh tác cây lương thực, đặc biệt là trồng lúa
Thiên tai và những biểu hiện dị thường của thời tiết, khí hậu đã thường xuyên gây bùng phát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; sâu bệnh đối với cây trồng, đặc biệt là cây lúa
- Vụ Xuân 2010 thời tiết ấm, nền nhiệt độ cao, nắng nóng bất thường ở đầu
vụ, không có rét hại, mưa ít; chỉ có 1 đợt rét đậm từ ngày 13 - 20/2, các đợt rét không kéo dài; sang tháng 4, từ 13/4 - 28/4 có 3 đợt không khí lạnh kèm mưa Nhìn chung thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng phát triển và sâu bệnh phát sinh Các đối tượng sâu bệnh hại cây trồng (sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá và bệnh lùn sọc đen) đang ngày càng phát sinh với mật độ cao, có diện phân bố rộng hơn và gây thiệt hại mùa màng ngày càng lớn hơn Mỗi vụ đều có hàng chục ngàn ha lúa bị nhiễm sâu, rầy, chi phí sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hàng năm tới gần 200 tỷ đồng, trong khi năng suất cây trồng vẫn bị suy giảm và ô nhiễm môi trường gia tăng [16]
Tác động của BĐKH đang làm cho mực nước biển tăng lên 2,15mm mỗi năm, làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của rừng ngập mặn tại bãi bồi ở vùng cửa sông khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn huyện Giao Thủy; Cồn Xanh, Cồn Mờ huyện Nghĩa Hưng và VQG Xuân Thủy
Nam Định có hệ thống đê biển dài 91km ở các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, là những khu vực có nguy cơ cao và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi sạt lở Bờ biển tỉnh Nam Định thường xuyên bị xói lở nhất là một phần huyện Giao Thủy và khu vực huyện Hải Hậu Hiện nay chỗ lở mạnh nhất là từ
xã Hải Lý đến xã Hải Triều huyện Hải Hậu, tại những khu vực này có tốc độ lở
Trang 29hàng năm từ 10 - 20m Xã Giao Hải – huyện Giao Thủy bị sạt lở một phần bãi bồi [19] Từ Giao Long đến Quất Lâm sạt lở toàn bộ phần đất bồi, đê trực diện với biển Hiện tượng xói lở bờ biển đã gây ra những hậu quả khá nghiêm trọng
về kinh tế - xã hội như mất đất ở và đất canh tác, ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất, đe dọa phá huỷ các công trình đê kè biển, di dời và tái định cư ổn định cuộc sống nhân dân
c) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến lĩnh vực sản xuất công nghiệp
Trong những năm qua, mặc dù sản xuất công nghiệp trong tỉnh vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá và liên tục nhưng Nam Định cũng không tránh khỏi các tác động của BĐKH Theo các kịch bản BĐKH và NBD được xây dựng cho tỉnh Nam Định đến năm 2030 và những năm tiếp theo [16] thì đây là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định nói chung, hoạt động công nghiệp và thương mại của tỉnh nói riêng
- Ảnh hưởng của nhiệt độ tăng cao làm ảnh hưởng tới môi trường làm việc của người lao động, năng suất và sức khỏe của người lao động giảm, mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm công nghiệp tăng do tăng thêm chi phí
hệ thống thông gió, làm mát Nhiệt độ tăng cao cũng làm thay đổi tiến độ và thời gian sản xuất sản phẩm, làm tăng nguy cơ hư hỏng các sản phẩm, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Nhiệt độ cao cũng làm giảm tuổi thọ của các thiết bị máy móc, động cơ, cũng như các thiết bị liên quan và làm biến dạng sai lệch các chi tiết liên kết
- Mưa lũ làm ảnh hưởng đến các khu vực nhà máy, khu công nghiệp, hạn chế và thu hẹp quỹ đất phát triển công nghiệp, hạn chế quá trình vận chuyển và phân phối hàng hóa Tác động đến nguồn nguyên vật liệu của các ngành công nghiệp và làm giảm năng suất chất lượng sản phẩm
- Ảnh hưởng của mưa kết hợp với triều cường làm cho một số nhà máy đóng tàu sẽ bị ngập úng, sụt lún nhà xưởng nghiêm trọng, tăng độ phá hoại của môi trường và làm hư hỏng máy móc, trang thiết bị trên tàu và nhà xưởng Do
Trang 30vậy, các doanh nghiệp phải đầu tư thêm kinh phí cho việc nâng cốt nhà xưởng, kho chứa nguyên vật liệu của nhà máy
- Ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao không đảm bảo các quy định bắt buộc về sơn không có độc tố dùng cho sơn vỏ tàu
- Ảnh hưởng của NBD làm hạn chế dòng chảy của các cửa sông khi chảy ra biển, làm mực nước ở các sông cũng như vùng hạ lưu được nâng cao, dẫn tới các bến bãi nhà xưởng ngập úng tác động tiêu cực đến nền móng công trình, làm tăng nguy cơ đóng cửa hoặc đình trệ sản xuất của nhà máy
- Ảnh hưởng của nước biển dâng làm diện tích sản xuất bị thu hẹp và hiện tượng xâm nhập mặn tác động đến vùng nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm
d) Tác động của biến đổi khí hậu đến kết cấu hạ tầng
Lũ lụt làm tăng lưu lượng dòng chảy dẫn đến xói mòn và hư hỏng công trình đường bộ Sạt lở đất đắp nền đường dẫn đến việc ngừng lưu thông trên đường bộ cũng như gây ra những rủi ro về con người và xã hội Dòng lũ bùn đá chảy xuống lưu vực sông tăng lên có thể gây thiệt hại đến các công trình cầu và các công trình vượt sông
Sức gió tăng có thể gây hư hại cho kết cấu hạ tầng giao thông như: Làm đổ các biển báo hiệu dọc đường và các cây trồng dọc tuyến gây ra nhiều tai nạn và làm tê liệt hệ thống giao thông Bên cạnh đó BĐKH còn tác động trực tiếp đến chất lượng các công trình giao thông, làm giảm tuổi thọ công trình
Cơ sở hạ tầng VVB những năm qua cũng gánh chịu nhiều thiệt hại do các hiện tượng BĐKH cực đoan gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất
- Bão gây sập đổ nhiều nhà cửa, công trình công cộng
- Sét gây chết người, chập điện, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân
- Mưa to gây ngập úng, hư hỏng đường sá, các công trình công cộng, gây ô nhiễm môi trường
Trang 31e) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến lĩnh vực giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Gây ra tai nạn chấn thương, chết đuối: Bão, lũ thường kèm theo mưa to gió lớn gây đổ nhà, tốc mái, đổ cột điện nên đã gây ra không ít tai nạn chết người
Là điều kiện thuận lợi để phát sinh các bệnh truyền nhiễm: Các số liệu thống kê dịch bệnh những năm qua chỉ ra có mối liên hệ giữa bệnh dịch và sự thay đổi của thời tiết trên địa bàn VVB Thời điểm đông xuân có dịch virut đường hô hấp, dịch cúm A H1N1, thủy đậu, sốt phát ban và đặc biệt là sởi gây hậu quả lớn Mùa hè có dịch bệnh đường tiêu hóa, các bệnh do côn trùng như: sốt xuất huyết, tả, lỵ và thương hàn Sương muối rét đậm, rét hại làm tăng tần xuất mắc các bệnh đường hô hấp thông qua giảm sức đề kháng của cơ thể con người nhất là người già, trẻ nhỏ và người bệnh mắc các bệnh mãn tính khác Bên cạnh đó, BĐKH gây ngập lụt trong thời gian dài, các loại phân bón, thuốc trừ sâu, chất thải từ các nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, các chất thải khác,…bị rửa trôi xuống hồ ao, sông suối trôi nổi khắp nơi gây ô nhiễm môi trường Các công trình cấp nước sạch tập trung bị hư hỏng hoặc do nguồn nước cấp bị ô nhiễm gây khó khăn cho việc xử lý nước, cung cấp nước sạch cho nhân dân
BĐKH tác động đến lĩnh vực giáo dục: các trận bão thường gây đổ, trôi, hư hại các trường học các huyện ven biển Hệ quả, các cơ sở dạy nghề bị ảnh hưởng, giảm chất lượng đào tạo nghề, gián tiếp ảnh hưởng đến sinh kế của các đối tượng và các gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn
h) Biến đổi khí hậu tác động đến lĩnh vực thương mại, du lịch, dịch vụ
Các tác động của BĐKH đến lĩnh vực thương mại không đặc thù, mang tính gián tiếp Hiện tượng bão, lũ và NBD ảnh hưởng đến diện tích đất làm muối các
xã ven biển huyện Hải Hậu kéo theo ảnh hưởng của ngành sản xuất thực phẩm Tình trạng hạn hán dẫn đến sự thiếu điện là nguyên nhân gây hư hại các nguyên liệu, hàng hóa trong lĩnh vực thực phẩm
Tác động của yếu tố BĐKH trong thời gian qua dẫn đến một số dịch bệnh gia súc, gia cầm tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh ảnh hưởng đến tâm lý
Trang 32cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch Ví dụ: Trong cơn bão số
8 năm 2012, một số điểm du lịch như bãi biển Thịnh Long, bãi biển Quất Lâm
đã phá hủy một số tuyến đê kè ven biển và nhiều nhà nghỉ bị tốc mái, hư hỏng Các khu du lịch biển của Nam Định như Thịnh Long, Quất Lâm hàng ngày phải đối mặt với hiện tượng nước biển xâm thực Thị trấn Quất Lâm đã bị nước biển làm sạt lở toàn bộ phần đất bồi, đê trực diện với biển Khu du lịch sinh thái VQG Xuân Thủy là khu du lịch tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ mất đất do NBD và suy giảm ĐDSH Nguyên nhân là mỗi năm, mực nước biển tại khu vực Nam Định tăng lên 2,15 mm [16]
i) Các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu ở Nam Định
Về công tác ban hành văn bản: Căn cứ Quyết định 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH; Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH; Kịch bản BĐKH cho Việt Nam, UBND tỉnh Nam Định đã chỉ đạo xây dựng và ban hành KHHĐ ứng phó với BĐKH của tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2015 tầm nhìn 2020 theo Quyết định số 1721/QĐ-UBND ngày 13/10/2011 [16]
Sau khi có Quyết định 1721/QĐ-UBND UBND tỉnh Nam Định đã ban hành Quyết định số 458/QĐ-UBND ngày 04/4/2012 về việc thành lập Ban chỉ đạo liên ngành ứng phó với BĐKH của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 tầm nhìn
2020 do một Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban và Giám đốc Sở TN&
MT làm phó ban thường trực Đồng thời UBND tỉnh Nam Định đã giao Sở
TN&MT là cơ quan đầu mối để tham mưu tổ chức, thực hiện KHHĐ Sở TN&MT đã triển khai hướng dẫn xây dựng KHHĐ ứng phó với BĐKH giai đoạn 2013-2015 tầm nhìn 2020 tới các sở, ngành và các huyện, thành phố và triển khai tổ chức tập huấn cho cán bộ các sở ban ngành; các huyện thành phố
về xây dựng KHHĐ ứng phó với BĐKH giai đoạn 2013-2015 tầm nhìn 2020 cho đơn vị mình
Trang 33Thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TƯ ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về Chủ động ứng phó với BĐKH, Tăng qường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Tỉnh ủy Nam Định đã ban hành Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 22/7/2013 thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Nam Định cũng ban hành Kế hoạch số 65/KH-UBND ngày 15/10/2013 triển khai thực hiện Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 22/7/2013 của Tỉnh ủy Nam Định
Hiện nay với sự giúp đỡ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thông qua Dự án “Rừng và Đồng bằng”, tỉnh Nam Định đang tiến hành rà soát cập nhật và điều chỉnh KHHĐ ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 tầm nhìn 2025 Đồng thời tỉnh đã ra Quyết định số 2560/QĐ-UBND ngày 27/12/2014 về việc thành lập Tổ công tác để rà soát cập nhật và điều chỉnh KHHĐ ứng phó với BĐKH tỉnh Nam Định do Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) làm tổ trưởng; Chi cục trưởng Chi cục Biển thuộc Sở TN&MT làm tổ phó và các thành viên là cán bộ của các Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, Sở Tài Chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng UBND tỉnh,…
Kết quả thực hiện các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch có liên quan đến ứng phó với BĐKH:
Để thực hiện Quyết định 1721/QĐ-UBND, UBND tỉnh Nam Định đã tích cực chủ động tìm nguồn vốn từ TW, bố trí ngân sách tỉnh đối ứng để thực hiện các dự án ưu tiên đã đề ra trong KHHĐ ứng phó BĐKH như Dự án “Phục hồi tài nguyên HST bị suy thoái vùng ven bờ tỉnh Nam Định ứng phó với BĐKH” - trồng mới 50 ha rừng tại khu vực Cồn Xanh, huyện Nghĩa Hưng UBND tỉnh chỉ đạo hoàn thiện 2 Dự án: Giảm sóng ổn định bãi và trồng RNM bảo vệ nam Cồn Xanh của huyện Nghĩa Hưng và Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 – 2020 với nguồn vốn Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH Bố trí ngân sách tỉnh thực hiện xây dựng đề án “Ứng phó
sự cố tràn dầu và xây dựng bản đồ nhạy cảm đường bờ” và triển khai xây dựng
Trang 34dâng do bão, siêu bão và đề xuất các giải pháp ứng phó” Một số nội dung khác trong các Dự án ưu tiên của KHHĐ ứng phó với BĐKH đã và đang được tích cực triển khai thực hiện như: Tuyên truyền - đào tạo; cung cấp nước sạch; tu bổ nâng cấp đê - kè; quy hoạch tài nguyên nước; hỗ trợ xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas; nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp với tình hình BĐKH,…
1.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng ven biển Nam Định
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên ven biển Nam Định
Nam Định nằm ở phía Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ với dân số khoảng 1.825.771 người và mật độ dân số 1.196 người/km², phân bố ở thành phố Nam Định và 09 huyện Tỉnh Nam Định có 3 huyện ven biển là Giao Thủy, Hải Hậu
và Nghĩa Hưng Nam Định có 4 cửa sông lớn đổ ra biển: Ba Lạt, Đáy, Lạch Giang, Hà Lạn
VVB Nam Định với tổng diện tích khoảng 748 km2, chiếm 44,8% diện tích toàn tỉnh Bờ biển dài 72 km bị chia cắt khá mạnh mẽ bởi các cửa sông lớn
là cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Đáy (sông Đáy), cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Hà Lạn (sông Sò) Vùng đồng bằng ven biển đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển như nuôi trồng, đánh bắt hải sản, đóng tàu, du lịch biển,
Địa hình khá bằng phẳng, thoải dần ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Quá trình hình thành và phát triển địa hình gắn liền với lịch sử hình thành
và phát triển của hệ châu thổ sông Hồng, tuổi khá trẻ tương ứng với quá trình trầm tích châu thổ Có thể chia địa hình VVB Nam Định thành địa hình lục địa (phần trong đê) và địa hình bãi triều (phần ngoài đê);
Địa hình bãi triều còn tiếp cận các địa hình ngầm ven bờ như khu vực biển
ở Văn Lý (Hải Hậu), địa hình tích tụ ngầm không chịu tác động của sóng ở độ sâu trên 6m Bờ biển Nam Định hàng năm lấn ra biển trên 80m ở cửa Lạch Giang, 60m ở cửa Ba Lạt Đây là một đặc trưng khiến diện tích đất đai tự nhiên của Nam Định ngày càng được mở rộng ra biển, trung bình hàng năm khoảng
Trang 35110 ha Tuy nhiên vùng Văn Lý (Hải Hậu), Nghĩa Phúc (Nghĩa Hưng - cửa sông Ninh Cơ) biển lại lấy đi một dải đất rộng 5-50 m/năm [17]
1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn vùng ven biển Nam Định
a) Khí hậu
Đặc điểm khí hậu vùng ven biển tỉnh Nam Định mang tính chất chung của khí hậu ĐBSH, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có thời tiết bốn mùa xuân - hạ - thu - đông tương đối rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24oC, số tháng
có nhiệt độ trung bình lớn hơn 20oC từ 8 - 9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9oC, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27oC, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8 Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80 - 85%, giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều Tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 3), thấp nhất là 81% (tháng 11)
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700 - 1.800 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa
cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng 7, 8, 9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nước sông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1, 2,
có tháng hầu như không có mưa (Hình 2) Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu
hoạch vụ chiêm xuân
Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ
1650-1700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100 - 1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm
Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là
2 2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60 70%, tốc độ gió trung bình 2,4 - 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu
Trang 36-với tần suất 50 - 70%, tốc độ gió trung bình 1,9 - 2,2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi
có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thường xuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng Ngoài ra vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của gió đất (hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam), gió biển (hướng thịnh hành là Đông Nam) Ngoài ra, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 2 - 4 cơn/năm [11]
b) Thuỷ văn
Thủy triều vùng ven biển Nam Định thuộc chế độ nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 - 1,7m, lớn nhất là 3,3m, nhỏ nhất là 0,1m Ảnh hưởng của thủy triều thể hiện rõ nhất ở XNM và NBD ở các khu vực cửa sông, ven biển Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp quá trình thau chua, rửa mặn trên đồng ruộng Thủy triều cũng tác động vào sâu nội địa thông qua hệ thống các cửa sông và kênh mương Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ vùng cửa sông, tạo thành những bãi bồi lớn là Cồn Lu, Cồn Ngạn ở huyện Giao Thuỷ và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ
ở huyện Nghĩa Hưng
1.2.3 Thực trạng các HST và đa dạng sinh học ven biển Nam Định
Tỉnh Nam Định có 2 khu vực đất ngập nước là Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thủy thuộc huyện Giao Thủy và khu vực bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng nằm trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển ĐBSH được UNESCO chính thức công nhận vào năm 2004 VQG Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam Diện tích vùng lõi là 7.100 ha gồm bãi trong Cồn Ngạn, toàn bộ Cồn Lu và Cồn Xanh Vùng đệm của VQG này có tổng diện tích 8.000 ha gồm
960 ha diện tích còn lại của Cồn Ngạn (ranh giới từ phía trong đê biển – đê Vành Lược – đến lạch sông Vọp), 2.764 ha của bãi trong cùng với phần diện tích rộng 4.276 ha của 05 xã thuộc huyện Giao Thủy là: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải
Các loài sinh vật quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ở VQG Xuân Thuỷ tập trung ở các nhóm động vật như cá, bò sát, chim và thú Trong số 155 loài cá đã biết, có 3 loài cá được ghi trong Danh lục đỏ IUCN (2012) và Danh Lục Đỏ Việt
Trang 37Nam (2007) gồm: cá Bống bớp, cá Mòi cờ hoa và cá Mòi cờ chấm Cả 3 loài này đều nằm trong danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/7/2008 của Bộ NN&PTNT Có 19 loài cá trong Danh lục đỏ IUCN (2012), trong đó có loài cá Song điểm gai và cá Nhám, cá Bống trụ dài và cá Bống mấu mắt, 14 loài ở mức ít lo ngại;
Chim: Trong số 222 loài chim của VQG Xuân Thuỷ, có trên 150 loài di cư, khoảng 50 loài chim nước Trong đó, có 14 loài quý, hiếm được ưu tiên bảo tồn:
Bò sát: Trong tổng số các loài bò sát ghi nhận tại VQG Xuân Thuỷ, có 8 loài quý, hiếm và có giá trị bảo tồn (chiếm 26,7 % tổng số loài)
Thủy sản: Đối với Vùng lộng: Là bãi kiếm mồi và sinh sản của nhiều loài tôm cá,…từ Vịnh Bắc Bộ và Đại Dương di chuyển về (nhiều nhất là từ tháng 4 đến tháng 10 dương lịch)
Cá: Có 233 loài thuộc 18 bộ cá với 30 loài cá có giá trị kinh tế, trữ lượng khoảng 157.500 tấn, chiếm 20% tổng trữ lượng cá Vịnh Bắc Bộ
Tôm: 45 loài trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế, trữ lượng ước tính khoảng 3.000 tấn, khả năng cho phép khai thác khoảng 1.000 tấn
Động vật thân mềm: Đã xác định được 20 loài trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế như: mực ống, mực nang, bạch tuộc, trữ lượng khoảng 2.000 tấn, khả năng cho phép khai thác 1.000 tấn
Thảm thực vật và sinh cảnh sống: Qua thống kê VQG Xuân Thủy có 192 loài thuộc 145 chi của 60 họ thực vật có mạch
Động thực vật nổi qua một số đợt khảo sát tại cửa Ba Lạt và ven biển Giao Thủy (2004) đã thống kê được thực vật nổi có 112 loài thuộc 43 chi, 20 họ của 6 ngành tảo lớn; động vật nổi có 55 loài thuộc 40 giống Động vật đáy có tương đối phong phú, đã phát hiện 154 loài [16]
1.2.4 Tình hình kinh tế - xã hội 3 huyện ven biển Nam Định
a) Tình hình kinh tế - xã hội huyện Giao Thủy
Huyện Giao Thủy có chiều dài đường bờ biển là 31 km, toàn huyện có 20
Trang 38thác và nuôi trồng thủy hải sản Đặc biệt, có 6 xã Giao Thiện, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao Hải, Giao An và Giao Long của huyện Giao Thủy có tổng diện tích 1.500 ha nuôi ngao và sản xuất ngao giống với 1.220 đầm, trại, vây Hoạt động nuôi ngao và sản xuất ngao giống tập trung tại 4 khu vực: cồn Thông, cồn Nhà, cồn Nổi và cồn Lu; với lực lượng khoảng gần 5.000 lao động
Nuôi ngao là một hướng phát triển kinh tế thuỷ sản của huyện Giao Thuỷ Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng đó, từ năm 2004, UBND huyện xây dựng Quy hoạch phát triển thuỷ sản đến năm 2010 và ban hành Quy chế quản lý, sử dụng đất có mặt nước ven biển nuôi thả và khai thác nhuyễn thể
Thương hiệu ngao Giao Thủy vốn quen thuộc với người tiêu dùng trong
và ngoài nước, đem lại nhiều trăm tỷ đồng mỗi năm và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động ở địa phương
Những năm qua, nhờ có sự đổi mới về cơ chế quản lý và chính sách kinh
tế của Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, kinh tế huyện Giao Thuỷ ngày một phát triển, duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, giá trị tổng sản phẩm tăng bình quân 10,71%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng giá trị và thu nhập, giảm tỷ trọng nhóm ngành nông – lâm - ngư nghiệp; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng 14%; dịch vụ chiếm 38%; ngành nông – lâm – ngư nghiệp 48% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 11,2 triệu đồng/người/năm
Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp: từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và tăng giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác Tổng sản lượng lương thực bình quân: 101.166 tấn/năm Giá trị sản xuất/ha canh tác đạt 66,7 triệu đồng Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng bình quân 3,5%/năm Cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản, đặc biệt ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng bình quân 15,15%/năm
Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có bước tăng trưởng khá, mức tăng trưởng bình quân 18,91%/năm
Trang 39Sản xuất muối với tổng diện tích muối đạt 482 ha với trên 9.000 lao động tham gia sản xuất, hàng năm cung cấp cho thị trường 42.000 tấn, giá trị tổng thu nhập trên 65 tỷ đồng
Ngành nghề nông thôn : Hiện tại trên địa bàn huyện có 1.325 cơ sở sản xuất và hộ ngành nghề nông thôn, 5 làng nghề, thu hút trên 7.000 lao động tham gia với các cơ sở sản xuất chính là: mây tre giang, móc sợi, thêu ren, sản xuất nấm, chế biến lương thực, thực phẩm, may mặc, nghề mộc, cơ khí, xây dựng Tổng giá trị sản xuất bình quân 5 năm đạt 117,6 tỷ đồng/năm; tỷ lệ tăng bình quân là 13,5%/năm
Các ngành dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2015 đạt 493,6 tỷ đồng, tăng 112% so với năm 2014 Trong đó dịch vụ du lịch tại khu nghỉ mát Quất Lâm đạt doanh thu bình quân trên 40 tỷ đồng/năm Hiện tại đã có 42 khách sạn, nhà nghỉ, 111 kiốt phục vụ du lịch, hàng năm đón trung bình 172.000 lượt
du khách
Kết cấu hạ tầng: Hoàn thành việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý, 100% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia Trên địa bàn huyện hiện có 46,4km tỉnh lộ, 19km huyện lộ, 761km đường trục xã, liên xã, đường thôn xóm được nhựa hoá hoặc bê tông hoá Hiện tại chỉ còn 5% đường thôn xóm chưa được nâng cấp Bưu chính viễn thông thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ Mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn huyện với chất lượng sóng tốt, 100% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc của xã hội
Về điều kiện văn hoá - xã hội:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được quan tâm, giữ vững thành tích đơn vị tiên tiến xuất sắc đứng trong tốp đầu của ngành giáo dục - đào tạo tỉnh Nam Định Phổ cập tiểu học, trung học cơ sở được duy trì và phát triển Học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT các loại hình đạt trên 70% Học sinh tốt nghiệp THPT vào học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đạt trên 80% 100% trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức I (trong đó 17,8% đạt
Trang 40mới bình quân 4.000 lao động/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35% Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015 còn 4,5% [13]
b) Tình hình kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu
Huyện Hải Hậu có tổng diện tích 230,22 km², Huyện có 3 thị trấn: Yên Định (huyện lị), Cồn, Thịnh Long và 32 xã Toàn bộ diện tích huyện Hải Hậu là đồng bằng với khoảng 30 km bờ biển Bờ biển Hải Hậu dài dọc theo thị trấn Thịnh Long và các xã Hải Hòa, Hải Triều, Hải Chính, Hải Lý, Hải Đông Dân số toàn huyện có dân số 256.864 người
- Về tăng trưởng kinh tế:
Nông nghiệp: Trong năm 2015, hoạt động sản xuất của huyện Hải Hậu đạt
sản lượng lúa 129.549 tấn/năm, sản lượng cây lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 519 kg/người Diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện Hải Hậu là 2.442 ha Huyện có 29 trang trại trong đó có 17 trang trại chăn nuôi và 12 trang trại nuôi trồng thủy sản
- Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:
Cơ cấu ngành công nghiệp đa dạng bao gồm: dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí sửa chữa, công nghiệp chế biến lượng thực, hải sản, đang góp phần tạo bước phát triển vững chắc cho ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Huyện Hải Hậu có 319 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân
- Về hệ thống giao thông:
Huyện Hải Hậu có hệ thống giao thông đa dạng, khép kín, là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Trên địa bàn huyện có quốc lộ 21 vừa được nâng cấp đưa vào sử dụng và quốc lộ 37B, 3 tuyến tỉnh lộ 486B, 488, 488C dài trên 39km và các tuyến đường huyện thường xuyên được đầu tư nâng cấp, duy tu bảo dưỡng góp phần bảo đảm an toàn giao thông Hệ thống đường bê tông, đường xá liên xóm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đi lại của nhân dân trong huyện và giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa với bên ngoài
- Về giáo dục và y tế: