Lịch sử hình thành và phát triển hơn hai nghìn năm của triết học và khoa học kinh tếđã cho thấy hai lĩnh vực tri thức ấy luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau mà còn chứng mình rằng tri
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CAO HỌC K26
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC KINH TẾ
Lớp : Cao học Quản trị kinh doanh CH26P Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Ngọc Thông
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Tuyết Nhung
Mã sinh viên : CH260255
HÀ NỘI, ngày 6/11/2017
Trang 2Lịch sử hình thành và phát triển hơn hai nghìn năm của triết học và khoa học kinh tế
đã cho thấy hai lĩnh vực tri thức ấy luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau mà còn chứng mình rằng triết học duy vật biện chứng tìm thấy ở khoa học kinh tế những cơ sở khoa học vững chắc để khái quát nên những nguyên lý cơ bản, quy luật chung nhất của mình Còm khoa học kinh tế lại tìm thấy trong triết học duy vật biện chứng, phương pháp luận đúng đắn, sắc bén để đi sâu vào nghiên cứu giới kinh tế Việc nghiên cứu và nắm vững các mối quan hệ này có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, đặc biệt là trong công tác giảng dạy và nghiên cứu các môn lý luận chính trị nói chung và triết học nói riêng, cũng như trong nghiên cứu giảng dạy các ngành khoa học kinh tế
Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như
vũ bão, cũng như những biến động cách mạng lớn lao làm thay đổi tận gốc rễ bộ mặt của cuộc sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luạn và thực tiễn cấp bách Điều này chỉ được thực hiện trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mac-Lenin Do đó việc nghiên cứu những vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và khoa học cụ thể và vai trò của triết học đối với sự phát triển khoa học kinh
tế có ý nghĩa rất quan trọng
Triết học tác động và khoa học kinh tế, trước tiên là thông qua thế giới quan và phương pháp luận khoa học Như chúng ta đã biết, V.I.Leenin đã nói đến ý nghĩa to lớn của phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác đối với khoa học kinh tế Chủ nghĩa duy vật biện chứng, với tính cách là phương pháp luận của khoa học kinh tế giúp cho việc khái quát và giải thích đúng đắn những thành tựu mới của khoa học trong những điều kiện ngày nay, khi khoa học kinh tế đang cố tìm kiếm lý luận khái quát mới, những tư tưởng mới thì việc chú ý đến những vấn đề phương pháp luận là vô cùng quan trọng Con đường để làm phong phú và phát triển chủ nghĩa duy vật biến chúng chính la ở đây Nếu chúng ta không hiểu điều này thì cũng có nghĩa không hiểu gì về vai trò tích cực của triết học cũng như về con đường phát triển của nó một cách sáng tạo
Ngày nay chúng ta đang sống trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ,
để làm chủ được khoa học kinh tế thì nghiên cứu về chuyên ngành là nhiệm vụ hết sức cần thiết.Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và sự phát triển khoa học kinh tế có mối quanh hệ mật thiết với nhau
Trang 3Như ta biết, mối quan hệ giữa triết học và khoa học kinh tế là mối quan hệ hai chiều, nghĩa là, triết học và khoa học kinh tế đều có tác động biện chứng lẫn nhau Nếu như sự tác động của triết học đến khoa học kinh tế có thể chia thành những giai đoạn và mỗi giai đoạn
có những hình thức nhất định, thì ngược lại, sự tác động của khoa học kinh tế đến sự phát triển của triết học không phải khi nào cũng rõ ràng và có khuynh hướng rõ rệt Từ những lý
do trên nên nhóm tiểu luận của của lớp khoa học kinh tế quyết định chọn chủ đề nghiên cứu
về “Triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế.”
I Triết học
1 Định nghĩa
Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III (TrCN)
- Ở phương Đông:
+ Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “ triết” chính là “ trí”, là cách thức
và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt tới chân lý tối cao + Theo người Ấn Độ: triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với
lẽ phải
- Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp được la tinh hoá là Philôsôphia -nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy Philôsôphia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Tóm lại: Dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý
Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó
Trang 42 Nguồn gốc của triết học
Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định
- Nguồn gốc nhận thức:
+ Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học
+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do
đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá,
hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận
- Nguồn gốc xã hội:
Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học.Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định
Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối
3 Đối tượng của Triết học và Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử
Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên - bao hàm trong
nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học
Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học Triết học chỉ có nhiệm
vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh Triết học tự nhiên
bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện
Trang 5Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học - Khoa học hậu vật lý.Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được
Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)
Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen
Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học
Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất
từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học” Triết học Mác - Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn
bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh
Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan
Trang 6Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới
Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho
sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức
Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):
+Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới
+ Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn
lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người
+ Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan.Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử
II Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế
1 Sự tác động của khoa học kinh tế đối với sự phát triển của triết học
Trước khi triết học và khoa học kinh tế xuất hiện, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức nguyên thủy của loài người dưới hình thức thần thoại.Trong thần thoại bên cạnh niềm tin vào các lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên, thì các vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể.Triết học và thần thoại ra đời như một nỗ lực nhằm giải thích thế giới.Thực chất triết học cũng tìm cách trả lời cho các vấn đề mà trước đó đã được đặt ra trong thần thoại, nhưng bằng một phương thức khác.Triết học là
sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa trên lôgíc, các tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn.Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận.Chúng ta có thể thấy rõ điều này ở Hy Lạp cổ đại.Triết học Hy Lạp cổ đại khi mới hình thành không độc lập với các tri thức khoa học, mà thực chất là đồng nhất với chúng
để hình thành nên môn khoa học tổng hợp Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp đồng
Trang 7thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore, Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu
và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể Trong nền triết học tự nhiên, các khoa học nói chung bị đẩy xuống vị trí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học Triết học
tự nhiên thịnh hành ở phương Tây vào lúc khoa học thực nghiệm chưa phát triển, không
đủ để tìm ra quy luật của các hiện tượng tự nhiên Chính vì vậy mà trên thực tế, triết học
tự nhiên là dòng triết học mang tính tư biện (speculation): Những giải thích của nó về thế giới chủ yếu là dựa trên những phỏng đoán và giả định Nhưng bắt đầu từ thời Phục hưng và đặc biệt là trong các thế kỷ XVII - XVIII, sự phát triển của khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học - khoa học có
sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triết học, thì giờ đây, nó độc lập trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tác động quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tư duy Chính sự thay đổi này đã tạo ra tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng.Chủ nghĩa thực chứng (posistivism) tuyên bố rằng, chỉ có các khoa học cụ thể mới cần thiết, đem lại các tri thức tích cực (positive), còn triết học thì không Chính xác hơn, chủ nghĩa thực chứng thừa nhận trong quá khứ, khi mà các khoa học còn chưa phát triển đầy đủ, thì triết học từng đóng vai trò tích cực là khoa học bao trùm, tổng hợp mọi tri thức, thậm chí là “khoa học của các khoa học” Nhưng khi các khoa học lần lượt xuất hiện và trưởng thành, đem lại một khối lượng tri thức khổng lồ thì triết học dần đánh mất vai trò lịch sử của mình
Số phận của triết học thật trớ trêu, chẳng khác gì King Lear - nhân vật văn học của Shakespeare, người chia toàn bộ vương quốc và tài sản to lớn của mình cho các con đã trưởng thành để rồi trở thành trắng tay và bị đuổi ra đường
Không nghi ngờ gì nữa, kể từ thời kỳ Phục hưng trở đi, ảnh hưởng của khoa học đến triết học càng ngày càng rõ rệt Theo dõi sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng: Cơ học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, địa lý, thiên văn học, lần lượt trở thành các khoa học độc lập Mỗi một khoa học tự xác định cho mình đối tượng nghiên cứu riêng.Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau và trở thành đối tượng của những nghiên cứu độc lập.Việc này là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn phát triển đầu tiên của khoa học, khi
mà nhiệm vụ chủ yếu là phải sưu tập, tích lũy các tài liệu.Nhưng phương pháp được coi
là cần thiết và chính đáng ấy của khoa học tự nhiên cũng đã ảnh hưởng đến và in dấu lên
tư duy triết học đương thời - phương pháp tư duy siêu hình.Mặt khác, trong các khoa học
Trang 8tự nhiên thời bấy giờ, chỉ có cơ học là môn khoa học được coi là đạt đến mức độ hoàn thiện nhất định và vì thế, tư duy cơ học máy móc cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến triết học Chúng ta có thể nói rằng, trong thời kỳ Phục hưng và cận đại, khoa học tự nhiên đã
có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của triết học Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác động lên xu hướng phát triển và tư duy của triết học
Như đã biết, một trong các tiền đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng là trạng thái
và các thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX.Khác với các thế kỷ trước đó, khoa học tự nhiên trong thế kỷ XIX đã không còn là khoa học sưu tập nữa.Những gì nó tích lũy được trong thời kỳ trước đã cho phép nó có thể sắp xếp, tổng hợp lại Và nhiệm vụ này đến lượt nó, khiến người ta phải chú ý nhiều hơn tới những mối liên hệ vốn có của bản thân giới tự nhiên: Sự thống nhất của thế giới tự nhiên, sự vận động và phát triển nội tại của nó Các phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX trong các lĩnh vực vật
lý và sinh vật, như định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết cấu tạo tế bào và thuyết tiến hóa của các loài, đã chứng minh trên những nét cơ bản và đem lại một cái nhìn duy vật biện chứng về thế giới tự nhiên “Nhờ ba phát hiện vĩ đại đó và nhờ các thành tựu khác của khoa học tự nhiên ”, mà giờ đây đã có thể có được “một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên dưới một hình thức gần như có hệ thống” Trước kia việc cung cấp một bức tranh bao quát như vậy là nhiệm vụ của triết học tự nhiên Triết học tự nhiên, như chúng ta đã đề cập trên, là khuynh hướng triết học có từ thời kỳ
cổ đại và tiếp tục phát triển trong nhiều thế kỷ sau đó, khi mà các khoa học tự nhiên còn chưa phát triển Vì vậy, triết học tự nhiên đã thay thế những những mối liên hệ hiện thực, chưa biết bằng những mối liên hệ tưởng tượng, hư ảo, thay những sự kiện còn thiếu bằng những giả định, phỏng đoán, thậm chí gán ghép cho tự nhiên nhiều sự tưởng tượng hư ảo
kỳ quái Khi làm như thế triết học tự nhiên đã có nhiều tư tưởng thiên tài, dự đoán trước được nhiều phát hiện sau này đồng thời cũng đưa ra nhiều điều vô lý, nhưng không thể nào khác được.Ngày nay thì khác.Những thành tựu quan trọng của khoa học tự nhiên đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng chứng minh rằng giới tự nhiên là thống nhất Ngày nay, một bức tranh bao quát về những mối liên hệ không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà còn giữa các lĩnh vực hầu như của toàn bộ giới tự nhiên, được rút ra chủ yếu từ những kết quả nghiên cứu do các khoa học tự nhiên đem lại Trong những điều kiện như vậy, thì một thứ triết học tự nhiên đứng ngoài và đứng trên các khoa học là
Trang 9hoàn toàn không cần thiết Mọi ý định khôi phục triết học tự nhiên của các triết gia không còn phù hợp nữa, thậm chí, theo Ph.Ăngghen, phải coi ý định đó là “những bước thụt lùi”
Tác động của khoa học kinh tế lên sự phát triển của triết học không phải là trực tiếp
và theo đường thẳng, mà làgián tiếp tạo ra bầu không khí tinh thần cho phép hình thành một kiểu tư duy, một cái nhìn tương ứng với trạng thái đạt được của khoa học về thế giới Thông qua những tri thức và phát minh khoa học, các khái niệm, các phạm trù triết học có thêm những nội dung mới Chẳng hạn, thuyết nhật tâm của Copernicus khẳng định rằng, trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ, thì rõ ràng nó đã giáng một đòn chí mạng vào Kitô giáo, mở đầu cho thời kỳ mới của khoa học tách khỏi tôn giáo và thần học Thuyết tiến hóa của Darwin đưa đến kết luận rằng, các loài động vật, thực vật không phải ngẫu nhiên, được sự sáng tạo bởi những lực lượng thần thánh siêu tự nhiên,
mà là kết quả của một quá trình hoàn toàn do các lực lượng tự nhiên chi phối Kết luận
đó là một quan điểm của triết học duy vật.Thuyết tương đối của Einstein một phát minh vạch thời đại.Tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với không gian và thời gian làm cho làm cho thuyết tương đối mang ý nghĩa duy vật sâu sắc
Sự phát triển của khoa học kinh tế nhất định sẽ đưa đến những kết luận triết học chung như là một sự tổng kết lý luận Những kết luận triết học rút ra từ các phát minh của khoa học kinh tế thường do chính các nhà khoa học kinh tế thực hiện Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưa đến những kết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực, phản khoa học Những phát minh khoa học những năm cuối thế kỷ XIX về sóng, về phóng xạ, về điện tử đã khiến không
ít nhà khoa học hoài nghi về khái niệm “vật chất” - nền tảng của chủ nghĩa duy vật; rằng, cần từ bỏ chủ nghĩa duy vật và thay thế chủ nghĩa duy vật bằng “chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
Kết luận triết học được các nhà khoa học kinh tế rút ra từ những kết quả của mình
đa phần mang tính tự phát.Chỉ khi được xem xét trên một nền tảng thế giới quan nhất định, chúng mới thực sự trở thành định hướng tích cực cho sự phát triển khoa học kinh tế
2 Thế giới quan triết học với tư cách cơ sở lý luận cho tư duy đúng đắn về kinh tế
Trang 10Triết học có đối tượng nghiên cứu của mình là mối quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ của con người với nhau trong xã hội, đặc biệt là quan hệ của con người với con người trong sản xuất vật chất Quan hệ của con người với tự nhiên được biểu thị
cô đọng nhất thông qua lực lượng sản xuất Quan hệ của con người với nhau trong xã hội được biểu thị cô đọng, cơ bản nhất thông qua quan hệ sản xuất Có thể nói, đây là hai mối quan hệ cơ bản nhất của con người Do vậy, để phát triển kinh tế thì phải có tư duy
về kinh tế một cách đúng đắn Tư duy về kinh tế muốn đúng đắn phải dựa trên một thế giới quan triết học khoa học.Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin nghiên cứu xã hội với tư cách một chỉnh thể thống nhất hữu cơ với "hạt nhân" của nó là kinh tế Nhưng kinh tế được triết học Mác - Lênin nghiên cứu dưới góc độ lịch sử - cụ thể, tức là dưới những phương thức sản xuất lịch sử - cụ thể.Như chúng ta đã rõ, phương thức sản xuất lại là sự thống nhất hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Như vậy, theo triết học Mác - Lênin, muốn phát triển một phương thức sản xuất thì trước hết phải tập trung vào phát triển lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là sự kết hợp hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất nhất định Từ đây cho thấy, để phát triển kinh tế, trước hết phải tập trung vào phát triển nhân tố người lao động và sau đó là công
cụ lao động Nếu người lao động không được giải phóng, không có sức khoẻ, không có trình độ học vấn, không có kinh nghiệm, kỹ năng lao động, v.v thì dù công cụ lao động
có hiện đại chăng nữa, lực lượng sản xuất cũng không thể phát triển được Ngược lại, nếu người lao động có sức khoẻ, có trình độ, có tay nghề, có kinh nghiệm, kỹ năng lao động, nhưng công cụ lao động thô sơ, lạc hậu thì lực lượng sản xuất cũng không thể phát triển Như vậy, kinh tế cũng không thể phát triển Do đó, muốn phát triển kinh tế phải có được những chính sách phù hợp để giải phóng người lao động nhằm giải phóng sức sản xuất Đồng thời, phải đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm lao động cho họ Không những thế mà còn phải có được những chính sách "lên men" được sự hăng say, tính tích cực, lòng nhiệt tình, sự cần cù, chịu khó, sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và biết phát huy có hiệu quả công cụ lao động hiện có của người lao động Nghĩa là phải tạo được sự kết hợp tối ưu giữa người lao động có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động với công cụ lao động Chỉ có như vậy mới có thể phát huy tối
đa vai trò của lực lượng sản xuất trong phát triển kinh tế.Đồng thời phải có chiến lược