Kết cấu tiểu luận Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, tiểu luận được chia làm 2 phần chính: Phần 1: Triết học – một môn khoa học Phần 2: Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CAO HỌC K26P
BÀI TẬP CÁ NHÂN
Chủ đề: Triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế?
Giáo viên : TS LÊ NGỌC THÔNG
Môn : TRIẾT HỌC
Họ và tên : NGUYỄN QUANG LỊCH
Lớp : CH26P – Cuối tuần
Mã sinh viên : CH260365
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
I – Triết học – một môn khoa học 4
1.Định nghĩa triết học 4
2.Triết học với tư cách là một môn khoa học 4
II – Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh tế 6
1.Quá trình phát triển kinh tế 7
2.Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh tế 8
2.1.Thế giới quan triết học khoa học là cơ sở lý luận cho tư duy đúng đắn về kinh tế 8
2.2.Triết học khoa học là cơ sở phương pháp luận để nhận thức và vận dụng đúng các quy luận kinh tế 10
2.3.Triết học khoa học là cơ sở lý luận cho việc hoạch định đúng đắn nhất các chính sách kinh tế 11
2.4.Thế giới quan triết học khoa học là cơ sở phương pháp luận cho việc hình thành văn hoá kinh doanh đúng đắn, góp phần thúc đẩy văn hoá 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Giới thiệu tổng quan về đề tài
Không phải ngẫu nhiên có người coi triết học như là khoa học của mọi khoa học Cũng không phải ngẫu nhiên trong lịch sử, nhà triết học được gọi là nhà thông thái, nhà hiền triết Bởi triết học là những “công cụ” để giải thích thế giới khách quan làm cho con người có thể hiểu được bản chất của thế giới và có thể nắm vững được những quy luật vận động của nó Trong thực tiễn, con người hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau và với những mục tiêu khác nhau Và triết học đã và đang giúp con người tránh những sai lầm trong nhận thức
và từ đó con người có thể đạt được mục tiêu với hiệu quả tốt nhất Hoạt động kinh tế cũng không phải là một ngoại lệ Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Vai trò của triết học khoa học đối với sự phát triển kinh tế”
2 Nhiệm vụ của tiểu luận
Nhiệm vụ của tiểu luận là phân tích làm rõ khoa học triết học và những vai trò của khoa học triết học đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng, và của nền kinh tế nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là triết học nói chung và triết học Mác – Lenin nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở lý luận, khung lý thuyết của triết học Tác giả sử dụng biện pháp định tính, nghiên cứu tài liệu, tổng hợp – phân tích và xử lý thông tin
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, tiểu luận được chia làm 2 phần chính:
Phần 1: Triết học – một môn khoa học
Phần 2: Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh tế
Trang 4I – Triết học – một môn khoa học
1 Định nghĩa triết học
Theo gốc Hán tự, thuật ngữ “triết” có nghĩa là “trí”, “có trí tuệ”, “sáng suốt”, chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng về vũ trụ và nhân sinh Trong lịch sử triết học trên 2000 năm có nhiều quan điểm về triết học Thứ nhất, quan niệm triết học là lĩnh vực của lý trí, của trí tuệ con người để phân biệt triết học với lĩnh vực niềm tin tôn giáo và lĩnh vực của kinh nghiệm hàng ngày Thứ hai, triết học được hiểu là con đường dẫn con người đi đến chân lý tối cao của vũ trụ và nhân sinh Theo Pytago thì triết học là con đường dẫn đến sự phát triển của trí tuệ Nhìn nhận theo triết học Tây Âu cận đại thì triết học là khoa học của mọi khoa học Chủ nghĩa hiện sinh lại có quan điểm khác cho rằng triết học là sự tự phản tỉnh của nhân sinh Chủ nghĩa biện chứng nhìn nhận triết học là khoa học xây dựng phương pháp sáng tạo cho nhận thức khoa học Nếu phát triển đến trình độ dung lý trí, trí tuệ để tự nhận thức ra mình
và vũ trụ thì triết học là một trình độ tự thức tỉnh của con người về sự tồn tại của chính nó và
sự tồn tại của vũ trụ, nhân sinh Theo quan điểm Mác xít, triết học là hệ thống tri thức ở trình
độ lý luận và ở tầm chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, người ta đều quan niệm triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, nắm bắt được chân lý, hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng Triết học thể hiện khả năng nhận thức, cách thức, phương pháp đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có trình độ khái quát và tư duy trừu tượng cao
Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể nói chung của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Vậy, triết học là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy
2 Triết học với tư cách là một môn khoa học
Trang 5Thời kỳ cổ đại, triết học đã từng được coi là “khoa học của các khoa học” bởi nhiều lý do: triết học và khoa học (đặc biệt là khoa học tự nhiên) có mối quan hệ biện chứng khăng khít; các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học (Talet, Đêmocrit,…) cho rằng triết học có vai trò to lớn đối với khoa học (là cơ sở thế giới quan, cung cấp phương pháp luận cho khoa học phát triển, có khả năng đi trước so với khoa học, dẫn đường cho khoa học phát triển Tuy nhiên, ngày nay, nó được coi là một môn khoa học độc lập Bởi triết học cũng có đối tượng riêng, có phương pháp nghiên cứu; có các vấn đề cơ bản; có các khái niệm và các phạm trù; các quy luật
Theo Ph.Ăngghen: “Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất của sự vân động và phát triển của thế giới; từ tự nhiên, xã hội và cả tư duy” Vậy đối tượng của triết học là tự nhiên, xã hội và tư duy của con người; nhưng triết học không phải là môn khoa học riêng về
tự nhiên hay xã hội mà nó là khoa học chung nhất, nó coi thế giới là một “chỉnh thể thống nhất” của các mặt trên Cũng chính vì thế mà triết học nghiên cứu thế giới bằng một phương pháp của riêng nó Nó xem xét thế giới như là một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó
Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại, được gọi là vấn đề cơ bản của triết học Vấn đề cơ bản của Triết học có hai mặt: mặt thứ nhất: giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Những quan điểm triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hêghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli, Hium…)
Mặt thứ hai: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Tuy có những ý kiến khác nhau về khả năng nhận thức của con người, nhưng đa số các nhà Triết học (trong
đó có cả một số nhà Triết học duy tâm) đều cho rằng: Con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan và cải tạo thế giới Nhờ các giác quan và hoạt động bộ não, con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới khách quan Khả năng nhận thức của
Trang 6con người ngày càng tăng lên Nếu trước đây, cứ 100 năm tri thức của nhân loại mới tăng lên
2 lần, thì riêng thập kỉ 90 ( thế kỉ XX ), tri thức của nhân loại đã tăng gấp 2 lần Bên cạnh đó, con người cũng có thể cải tạo thế giới khách quan Từ khi xuất hiện đến nay, con người không ngừng tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên theo hướng có lợi cho mình như đắp đe chống lũ lụt, đắp đập ngăn sông để tạo hồ thủy lợi, thủy điện, thụ phấn nhân tạo cho cây trồng Với những tiến bộ của khoa học-kĩ thuật hiện nay, khả năng sáng tạo của con người ngày càng lớn
Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái Triết học và các học thuyết về nhận thức của Triết học
Mỗi bộ môn khoa học đều có một hệ thống phạm trù riêng của mình phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu Các phạm trù của phép biện chứng duy vật như: “vật chất”, “ý thức”, “vận động”, “đứng im”, “mâu thuẫn” là những khái niệm chung nhất phản ảnh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất, không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực mà của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và
tư duy Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động biến đổi, đều có mâu thuẫn…nghĩa là đều có những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ được phản ánh trong các phạm trù của triết học Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cảu triết học, trong đó xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiên tượng trong thế giới, nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù
cơ bản: cái chung – cái riêng; bản chất và hiện tượng; nội dung và hình thức; nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực; tất nhiên và ngẫu nhiên Nguyên lý thứ hai là nguyên lý về
sự phát triển, trong đó xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản: quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển; quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển; quy định phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển
Những đặc điểm của triết học khoa học trên cũng chính là nền tảng để khoa học triết học có vai trò rất to lớn đến sự phát triển chung của xã hội ở tất cả mọi mặt
II – Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh tế
Trang 7Triết học là hạt nhân lý luận thế giới quan của con người Thế giới quan triết học như thế nào sẽ quy định quan điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật, đạo đức thế ấy Do vậy, triết học khoa học đúng đắn có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung, của kinh tế nói riêng
Sau hai mươi năm chuyển sang kinh tế thị trường và lấy phát triển kinh tế làm nhiệm
vụ trung tâm, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể và cũng thấy rõ những hạn chế của mình Chúng ta cần có lý luận phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm dân tộc và thời đại hiện nay Có phương pháp luận khoa học trong phát triển kinh tế không những đảm bảo cho phát triển bền vững mà còn tránh được những sai lầm đưa đến thất bại trong công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở một số nước Hai sai lầm điển hình cần tránh: một là, quan quan điểm tả khuynh duy ý chí, dựa vào mong muốn tốt đẹp có tính chất không tưởng của lãnh đạo, thay thế cho xây dựng lý luận phát triển Hai là, quan điểm thực dụng, bị chi phối bởi bệnh "sùng bái GDP" chạy theo tăng trưởng bất cứ giá nào, gây ra ngày càng nhiều những vấn đề xã hội
và tai hoạ về môi trường
1 Quá trình phát triển kinh tế
Nhìn vào lịch sử phát triển kinh tế của loài người có thể nhận thấy: một phương thức sản xuất đã hình thành và khi phát triển đến giới hạn thì sẽ có một phương thức sản xuất tiến
bộ hơn phát sinh từ trong lòng phương thức sản xuất cũ thay thế Đi đôi với chuyển biến về kinh tế thì sớm hay muộn cũng kéo theo sự thay đổi về xã hội, văn hoá và chính trị Đặc biệt lưu ý là những tiến bộ trong phương thức sản xuất, trong xã hội và chính trị được tích hợp lại trong nền văn hoá mới Quá trình lịch sử - tự nhiên như thế đã thể hiện rõ nhất trong lịch sử phát triển của phương Tây Từ thế kỷ XIII bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hoá với các tuyến thương mại đường dài Về mặt xã hội đã ra đời các phường hội, các nhóm xã hội, từ đó hình thành khu vực đô thị của những người tiểu tư sản Bước chuyển vào cuối thế
kỷ XV sang thế kỷ XVI, với những phát minh về công nghệ in và phong trào cải cách tôn giáo của Martin Luther hình thành giáo hội Tin lành năm 1517 Sự phát hiện ra châu Mỹ đã thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế hàng hoá và việc sử dụng rộng rãi chữ số Ảrập ở phương Tây Bước chuyển vào thế kỷ XVIII với những sự kiện lớn của một bước ngoặt: phát minh ra động cơ hơi nước (của James Watt); sự ra đời của cuốn "Của cải của các dân tộc" của Ađam Smith; năm 1809 trường đại học hiện đại đầu tiên ra đời (Đại học Berlin) cùng với nền giáo dục phổ thông Tất cả những tiến bộ ấy đã thúc đẩy cuộc cách mạng kỹ thuật và cách mạng
Trang 8công nghiệp, hình thành nền kinh tế thị trường hiện đại của chủ nghĩa tư bản cùng với xã hội công nghiệp và nền văn minh mới của châu Âu Vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, theo chu kỳ khoảng 200 năm, đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ ba tạo ra bước chuyển từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức
Quá trình lịch sử - tự nhiên trong phát triển kinh tế thị trường còn được phản ánh trong các lý thuyết kinh tế theo từng giai đoạn Tương ứng với giai đoạn tự do cạnh tranh (vào thế
kỳ XVIII, XIX) thì có các lý thuyết tiêu biểu của A.Smith, D.Ricardo và C.Mác Tương ứng với giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền thì có các lý thuyết kinh tế tiêu biểu của Lênin, J.M.Keynes, J.Schumpeter, M.Friedman Ở giai đoạn kinh tế tri thức hiện nay, chưa có lý thuyết kinh tế nào tiêu biểu cho giai đoạn mới, nhưng đã có một số nhận thức mới từng lĩnh vực về con người và xã hội, về nền văn hoá mới, về kiểu tổ chức quản lý mới, về nền chính trị mới, trong đó có tác phẩm nhìn bao quát rộng rãi là của A.Toffler Trước thực tế khá phức tạp hiện nay thì rất cần có một tư tưởng triết học đúng đắn làm nền tảng, dẫn dắt cho kinh tế phát triển
2 Vai trò của triết học đối với sự phát triển kinh tế
2.1 Thế giới quan triết học khoa học là cơ sở lý luận cho tư duy đúng đắn về kinh tế
Triết học có đối tượng nghiên cứu của mình là mối quan hệ của con người với tự nhiên
và quan hệ của con người với nhau trong xã hội, đặc biệt là quan hệ của con người với con người trong sản xuất vật chất Mà quan hệ của con người với tự nhiên được biểu hiện cô đọng nhất thông qua lực lượng sản xuất Suốt chiều dài lịch sử phát triển kinh tế thị trường cho đến nay, hoạt động kinh tế vẫn dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên làm nguyên vật liệu chế tạo sản phẩm Quy mô sản xuất càng lớn thì tài nguyên bị khai thác càng tăng Bên cạnh đó, quan hệ của con người với nhau trong xã hội được biểu thị cô đọng nhất thông qua quan hệ sản xuất Mối quan hệ giữa con người với con người hình thành và phát triển trong quá trình lao động và sản xuất được xã hội hoá dưới hình thức hợp tác, phân công tạo thành
cơ cấu kinh tế - xã hội có tính hệ thống từ sản xuất đến tiêu dùng của xã hội Kết quả lớn nhất mang ý nghĩa lịch sử của quá trình xã hội hoá lao động và sản xuất là tạo ra giá trị thặng
dư - nhân tố chủ yếu phản ánh trình độ phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ giữa con người với con người trong giới hạn của phương thức sản xuất Và vì
có thể nói, đây là hai mối quan hệ cơ bản nhất của con người, nên, để phát triển kinh tế thì
Trang 9phải có tư duy về kinh tế một cách đúng đắn Tư duy về phát triển kinh tế muốn đúng đắn phải dựa trên một thế giới quan triết học khoa học
Chẳng hạn, triết học Mác - Lenin nghiên cứu xã hội với tư cách một chỉnh thể thống nhất hữu cơ với “hạt nhân” của nó là kinh tế Nhưng kinh tế được triết học Mác – Lênin nghiên cứu dưới góc độ lịch sử - cụ thể, tức là dưới những phương thức sản xuất lịch sử - cụ thể Mà phương thức sản xuất lại là sự thống nhất hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong đó lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Vì vậy, theo quan điểm của triết học, muốn phát triển một phương thức sản xuất thì cần tập trung phát triển lực lượng sản xuất Từ đây, chúng ta hiểu rõ ràng rằng, muốn kinh tế phát triển, cần quan tâm đến người lao động và công cụ lao động Người lao động cần được quan tâm đến sức khoẻ, cần được đào tạo năng lực, trình độ lao động cho phù hợp với yêu cầu công việc Bên cạnh đó, công cụ lao động cũng cần được cải tiến, đầu tư hiện đại để có thể đạt được hiệu suất lao động cao nhất Nếu người lao động không được giải phóng, không
có sức khoẻ, không có trình độ thì công cụ có hiện đại cũng không thể phát triển Ngược lại, nếu lao động có sức khoẻ, có trình độ, nhưng công cụ lao động thô sơ, lạc hậu thì lực lượng sản xuất cũng không thể phát triển Vậy, muốn phát triển kinh tế cần có những chính sách, chiến lược phát triển phù hợp về phát triển người lao động nhằm giải phóng sức sản suất tạo
ra hiệu quả sản xuất cao nhất Hơn nữa, trong quá trình hoạt động, sản xuất, việc cần thiết là phải thường xuyên có những chính sách, chế độ động viên, nâng cao sự hăng say, lòng nhiệt tình, kích thích sự sáng tạo và biết phát huy tối đa hiệu quả của công cụ lao động hiện có của người lao động Chẳng hạn, trong lịch sử, vào những năm 1953 – 1956, cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam là chương trình nhằm xoá bỏ văn hoá phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là “bóc lột” “phản quốc” như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào Theo Luật Cải cách ruộng đất thì Cải cách ruộng đất có mục tiêu "thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển, cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc"1 Để giải phóng sức sản xuất, ruộng đất được chia cho nhân dân Do được “tự do” canh tác, được tự do
1
^“H th ng thông tin VBQPPL” ệ ố
Trang 10làm chủ nên người nhân dân đã hăng say, phấn khởi canh tác, tạo ra của cải vật chất gấp nhiều lần Đó là nhu cầu giải phóng con người nhằm giải phóng sức sản xuất Rõ ràng là triết học không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng triết học khoa học, đúng đắn sẽ cung cấp
cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học cho sự phát triển tư duy về kinh tế một cách đúng đắn, khoa học, từ đó phát triển kinh tế
2.2 Triết học khoa học là cơ sở phương pháp luận để nhận thức và vận dụng đúng
các quy luận kinh tế.
Triết học cung cấp cho chủ thể một cơ sở phương pháp luận cho việc nhận thức và trên
cơ sở đó, vận dụng các quy luật kinh tế Đối với triết học Mác – Lênin, trang bị phương pháp
tư duy biện chúng duy vật để giúp con người nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế một cách khách quan và khoa học hơn Tuy quy luật kinh tế phát triển một cách tự nhiên không phụ thuộc mong muốn chủ quan của con người, nhưng nó cũng mang tính xã hội, chỉ tồn tại, vận động và phát triển trên cơ sở các hoạt động kinh tế của con người Con người không thể tạo ra cũng như tuỳ tiện xoá bỏ chúng, nhưng con người là chủ thể hoạt động kinh tế có ý thức, nên thông qua các hoạt động kinh tế, con người có thể tác động để các quy luật kinh tế diễn ra nhanh hay chậm Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế hàng hoá, là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để bán, để trao đổi trên thị trường, nó vận dụng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng của nó: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ,…
Quy luật giá trị là quy luật cơ bản của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sản xuất trao đổi hàng hoá ở đó có quy luật giá trị hoạt động Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên giá trị của nó, tức là dựa trên lao động xã hội cần thiết Đối với sản xuất, khối lượng sản phẩm mà những nhà sản xuất tạo ra phải phù hợp với nhu cầu
và khả năng thanh toán của xã hội Đối với lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, hàng hoá trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lực lượng lao động như nhau Giá cả hàng hoá trên thị trường lên xuống xung quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Phương pháp tư duy biện chứng cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn giá trị hàng hoá, giúp điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá; kích thích sản xuất phát triển; phân hoá và thực hiện sự lựa chọn tự nhiên giữa người sản xuất Điều tiết sản xuất là phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành thông qua sự biến động của giá cả và quan hệ cung cầu trên thị trường, một ngành nào đó có cung tăng vượt cầu làm giá cả hàng