Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học 4 2.Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự III Vai trò của triết học đối với sự phát triển của kh
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN :
ĐỀ TÀI : Triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế
Người thực hiện: Hà Thị Nghị Lớp CH-26P
Giáo viên: TS Lê Ngọc Thông
Hà Nội, 2017
Trang 2MỤC LỤC
II Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học 4
1 Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học 4
2.Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự
III Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế. 9
4 Thế giới quan triết học khoa học - cơ sở phương pháp luận để nhận
thức và vận dụng sáng tạo, đúng đắn các quy luật kinh tế 13
5 Thế giới quan triết học khoa học với tư cách cơ sở phương pháp luận
cho việc hình thành văn hóa kinh doanh đúng đắn để trên cơ sở đó, góp
phần thúc đẩy kinh tế phát triển
14
6 Những giới hạn của chủ nghĩa tư bản và xu thế thời đại hiện nay 15
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trước hết, em xin được gửi lời cảm ơn tới thầy Lê Ngọc Thông đã đưa ra chủ đề rất hay và hướng dẫn chúng em cách làm tiểu luận này
Triết học nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận
Mặc dù em đã cố gắng nhưng chắc chắn không thể không còn những khiếm khuyết Nên em rất mong nhận được ý kiến phê bình, nhận xét của thầy để em hoàn thiện trong phương pháp luận và có thể báo cáo tốt hơn trong các chuyên đề sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2017
Học Viên
Hà Thị Nghị
Trang 4Đề tài: Triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế.
I Khái niệm và nguồn gốc của triết học
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con
người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý,sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận
Trong tiếng Anh, từ "philosophy" (triết học) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại (philosophia), có nghĩa là "tình yêu đối với sự thông thái" Sự ra đời của các thuật ngữ
"triết học" và "triết gia" được gắn với nhà tư tưởng Hy Lạp Pythagoras Một "nhà triết học" được hiểu theo nghĩa tương phản với một "kẻ ngụy biện" Những "kẻ ngụy biện" hay "những người nghĩ mình thông thái" có một vị trí quan trọng trong Hy Lạp cổ điển, được coi như những nhà giáo, thường đi khắp nơi thuyết giảng về triết lý, nghệ thuật hùng biện và các bộ môn khác cho những người có tiền, trong khi các "triết gia" là
"những người yêu thích sự thông thái" và do đó không sử dụng sự thông thái của mình với mục đích chính là kiếm tiền
Tóm lại triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
Nguồn gốc: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có
nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội
o Nguồn gốc nhận thức: Triết học ra đời khi con người đã đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết
lí luận
o Nguồn gốc xã hội: triết học ra đời khi xã hội xuất hiện chế độ chiếm hữu nô
lệ, xã hội có sự phân chia lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước lần lượt
ra đời, làm cho triết học tự nó mang trong mình tính giai cấp sâu sắc, nó công khai tính đảng là phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định
II Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học
1 Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học
Trước khi triết học và khoa học xuất hiện, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức nguyên thủy của loài người dưới hình thức thần thoại Trong thần thoại bên cạnh niềm tin vào các lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên, thì các vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể Triết học và thần thoại ra đời như một nỗ lực nhằm giải thích thế giới Thực chất triết học cũng tìm cách trả lời cho các vấn đề mà trước đó đã được đặt ra trong thần thoại, nhưng bằng một phương thức khác Triết học là
sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa trên lôgíc, các tri thức khoa học và kinh nghiệm
Trang 5thực tiễn Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận Chúng ta có thể thấy rõ điều này ở Hy Lạp cổ đại Triết học Hy Lạp cổ đại khi mới hình thành không độc lập với các tri thức khoa học, mà thực chất là đồng nhất với chúng để hình thành nên môn khoa học tổng hợp Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp đồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore, Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể Trong nền triết học tự nhiên, các khoa học nói chung bị đẩy xuống vị trí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học Triết học tự nhiên thịnh hành ở phương Tây vào lúc khoa học thực nghiệm chưa phát triển, không đủ
để tìm ra quy luật của các hiện tượng tự nhiên Chính vì vậy mà trên thực tế, triết học tự nhiên là dòng triết học mang tính tư biện (speculation): Những giải thích của nó về thế giới chủ yếu là dựa trên những phỏng đoán và giả định Nhưng bắt đầu từ thời Phục hưng
và đặc biệt là trong các thế kỷ XVII - XVIII, sự phát triển của khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học - khoa học có sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triết học, thì giờ đây, nó độc lập trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tác động quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tư duy Chính sự thay đổi này đã tạo ra tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng Chủ nghĩa thực chứng (posistivism) tuyên bố rằng, chỉ có các khoa học cụ thể mới cần thiết, đem lại các tri thức tích cực (positive), còn triết học thì không Chính xác hơn, chủ nghĩa thực chứng thừa nhận trong quá khứ, khi mà các khoa học còn chưa phát triển đầy đủ, thì triết học từng đóng vai trò tích cực là khoa học bao trùm, tổng hợp mọi tri thức, thậm chí là “khoa học của các khoa học” Nhưng khi các khoa học lần lượt xuất hiện và trưởng thành, đem lại một khối lượng tri thức khổng lồ thì triết học dần đánh mất vai trò lịch sử của mình Số phận của triết học thật trớ trêu, chẳng khác gì King Lear - nhân vật văn học của Shakespeare, người chia toàn bộ vương quốc và tài sản to lớn của mình cho các con đã trưởng thành để rồi trở thành trắng tay và bị đuổi ra đường
Không nghi ngờ gì nữa, kể từ thời kỳ Phục hưng trở đi, ảnh hưởng của khoa học đến triết học càng ngày càng rõ rệt Theo dõi sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng: Cơ học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, địa lý, thiên văn học, lần lượt trở thành các khoa học độc lập Mỗi một khoa học tự xác định cho mình đối tượng nghiên cứu riêng Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau và trở thành đối tượng của những nghiên cứu độc lập Việc này là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn phát triển đầu tiên của khoa học, khi mà nhiệm vụ chủ yếu là phải sưu tập, tích lũy các tài liệu Nhưng phương pháp được coi là cần thiết và chính đáng ấy của khoa học tự nhiên cũng đã ảnh hưởng đến và in dấu lên tư duy triết học đương thời - phương pháp tư duy siêu hình Mặt khác, trong các khoa học tự nhiên thời bấy giờ, chỉ có cơ học là môn khoa học được coi là đạt đến mức độ hoàn thiện nhất định và vì thế, tư duy cơ học máy móc cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến triết học Chúng ta có thể nói rằng, trong thời kỳ Phục hưng và cận đại, khoa học tự nhiên đã có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của triết học Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác động lên xu hướng phát triển và tư duy của triết học
Trang 6Như đã biết, một trong các tiền đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng là trạng thái và các thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX Khác với các thế kỷ trước đó, khoa học
tự nhiên trong thế kỷ XIX đã không còn là khoa học sưu tập nữa Những gì nó tích lũy được trong thời kỳ trước đã cho phép nó có thể sắp xếp, tổng hợp lại Và nhiệm vụ này đến lượt nó, khiến người ta phải chú ý nhiều hơn tới những mối liên hệ vốn có của bản thân giới tự nhiên: Sự thống nhất của thế giới tự nhiên, sự vận động và phát triển nội tại của nó Các phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX trong các lĩnh vực vật lý
và sinh vật, như định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết cấu tạo tế bào và thuyết tiến hóa của các loài, đã chứng minh trên những nét cơ bản và đem lại một cái nhìn duy vật biện chứng về thế giới tự nhiên “Nhờ ba phát hiện vĩ đại đó và nhờ các thành tựu khác của khoa học tự nhiên ”, mà giờ đây đã có thể có được “một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên dưới một hình thức gần như có hệ thống” Trước kia việc cung cấp một bức tranh bao quát như vậy là nhiệm vụ của triết học tự nhiên Triết học tự nhiên, như chúng ta đã đề cập trên, là khuynh hướng triết học có từ thời kỳ
cổ đại và tiếp tục phát triển trong nhiều thế kỷ sau đó, khi mà các khoa học tự nhiên còn chưa phát triển Vì vậy, triết học tự nhiên đã thay thế những những mối liên hệ hiện thực, chưa biết bằng những mối liên hệ tưởng tượng, hư ảo, thay những sự kiện còn thiếu bằng những giả định, phỏng đoán, thậm chí gán ghép cho tự nhiên nhiều sự tưởng tượng hư ảo
kỳ quái Khi làm như thế triết học tự nhiên đã có nhiều tư tưởng thiên tài, dự đoán trước được nhiều phát hiện sau này đồng thời cũng đưa ra nhiều điều vô lý, nhưng không thể nào khác được Ngày nay thì khác Những thành tựu quan trọng của khoa học tự nhiên đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng chứng minh rằng giới tự nhiên là thống nhất Ngày nay, một bức tranh bao quát về những mối liên hệ không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà còn giữa các lĩnh vực hầu như của toàn bộ giới tự nhiên, được rút ra chủ yếu từ những kết quả nghiên cứu do các khoa học tự nhiên đem lại Trong những điều kiện như vậy, thì một thứ triết học tự nhiên đứng ngoài và đứng trên các khoa học là hoàn toàn không cần thiết Mọi ý định khôi phục triết học tự nhiên của các triết gia không còn phù hợp nữa, thậm chí, theo Ph.Ăngghen, phải coi ý định đó là “những bước thụt lùi” Tác động của khoa học lên sự phát triển của triết học không phải là trực tiếp và theo đường thẳng, mà là gián tiếp tạo ra bầu không khí tinh thần cho phép hình thành một kiểu
tư duy, một cái nhìn tương ứng với trạng thái đạt được của khoa học về thế giới Thông qua những tri thức và phát minh khoa học, các khái niệm, các phạm trù triết học có thêm những nội dung mới Chẳng hạn, thuyết nhật tâm của Copernicus khẳng định rằng, trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ, thì rõ ràng nó đã giáng một đòn chí mạng vào Kitô giáo, mở đầu cho thời kỳ mới của khoa học tách khỏi tôn giáo và thần học Thuyết tiến hóa của Darwin đưa đến kết luận rằng, các loài động vật, thực vật không phải ngẫu nhiên, được sự sáng tạo bởi những lực lượng thần thánh siêu tự nhiên, mà là kết quả của một quá trình hoàn toàn do các lực lượng tự nhiên chi phối Kết luận đó là một quan điểm của triết học duy vật Thuyết tương đối của Einstein một phát minh vạch thời đại Tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với không gian và thời gian làm cho làm cho thuyết tương đối mang ý nghĩa duy vật sâu sắc
Trang 7Sự phát triển của khoa học tự nhiên nhất định sẽ đưa đến những kết luận triết học chung như là một sự tổng kết lý luận Những kết luận triết học rút ra từ các phát minh của khoa học tự nhiên thường do chính các nhà khoa học tự nhiên thực hiện Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưa đến những kết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực, phản khoa học Những phát minh khoa học những năm cuối thế kỷ XIX về sóng, về phóng xạ, về điện tử đã khiến không ít nhà khoa học hoài nghi về khái niệm “vật chất” - nền tảng của chủ nghĩa duy vật; rằng, cần từ
bỏ chủ nghĩa duy vật và thay thế chủ nghĩa duy vật bằng “chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”.([3])
Kết luận triết học được các nhà khoa học rút ra từ những kết quả của mình đa phần mang tính tự phát Chỉ khi được xem xét trên một nền tảng thế giới quan nhất định, chúng mới thực sự trở thành định hướng tích cực cho sự phát triển khoa học
2 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển khoa học
2.1 Thế giới quan và phương pháp luận
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, tư tưởng khái quát của con người về thế giới (bao gồm cả con người trong thế giới đó), về mối quan hệ giữa con người với thế giới Thế giới quan phản ánh hiện thực bên ngoài gián tiếp qua các nhu cầu, lợi ích, các lý tưởng mang tính cá nhân hay xã hội Tùy thuộc vào tính chất và phương thức biểu hiện
có thể có nhiều loại thế giới quan khác nhau, như: Thần thoại, tôn giáo, khoa học, đạo đức, mỹ thuật, chính trị, triết học Xét về phương thức biểu hiện, triết học là thế giới quan lý luận, là hệ thống các tư tưởng được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nhận thức Xét về tính chất, triết học là sự khái quát chung nhất, mang đặc trưng tư duy tổng hợp
Những quan điểm, tư tưởng khi trở thành niềm tin của con người, sẽ tích cực tham gia vào định hướng thái độ của con người đối với các hiện tượng, các sự kiện quan trọng trong hiện thực và trong đời sống, xác định “chỗ đứng của con người trong thế giới” Đối với triết học, những quan điểm tư tưởng ấy còn giúp hình thành nên các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo con người trong các hoạt động của mình để đạt được mục đích; hay nói cách khác, là chúng thực hiện chức năng phương pháp luận Phương pháp luận triết học, do xuất phát từ những quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới, con người và xã hội, nên cũng là phương pháp luận chung nhất Nó nêu lên những điều kiện chung cần thiết để giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ cụ thể, chứ không phải trực tiếp giải quyết chúng
2.2 Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển khoa học
Chức năng thế giới quan và phương pháp luận chung của triết học đối với khoa học, được hầu hết các nhà khoa học thừa nhận Vấn đề ở chỗ, nếu có ai đó cho rằng, mình không cần đến một quan điểm triết học nào, thì như thế cũng đã là có một quan điểm triết học rồi, song là một quan điểm triết học mơ hồ Đây cũng chính là tư tưởng của Ph.Ăgghen khi ông nói: “Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô
Trang 8lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của triết học” Albert Einstein - một trong những nhà khoa học xuất sắc nhất của thể kỷ XX không ít lần chỉ rõ các khái quát triết học cần dựa trên các kết quả khoa học Max Planck - nhà vật lý, cha đẻ của cơ học lượng
tử đã khẳng định rằng, thế giới quan của người nghiên cứu luôn tham gia vào việc xác định hướng nghiên cứu của người đó
Chức năng thế giới quan - phương pháp luận của triết học đối với các khoa học trước hết là ở vai trò nhận thức của nó, làm gia tăng tri thức mới Sự phân tích, lý giải triết học đối với các dữ liệu khoa học cũng chính là sự nghiên cứu các hiện tượng ở mức độ khái quát chung và sâu sắc hơn Hàng loạt các phạm trù nền tảng của nhận thức được hình thành và phát triển như là các phạm trù của triết học và các khoa học, ví dụ như các phạm trù “vật chất”, “không gian”, “thời gian”, “vận động”, “nguyên nhân”, “lượng”, “chất”, Triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức phổ quát Phát triển song hành cùng các khoa học cụ thể, triết học vạch ra lôgíc của các quá trình nhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học
Chức năng thế giới quan - phương pháp luận của triết học đối với các khoa học là ở sự tổng kết các thành tựu đã đạt được của khoa học và làm sáng tỏ các nguyên lý chung của chúng Tất nhiên, trong mỗi khoa học đều có sự tổng kết, khái quát các tri thức thành các nguyên lý, các quy luật nhất định Nhưng những tổng kết, khái quát trong mỗi khoa học
cụ thể chỉ được giới hạn trong lĩnh vực mà nó nghiên cứu Đặc điểm của khái quát triết học là những khái quát chung nhất, có liên quan đến các hiện tượng và các quá trình của
tự nhiên, xã hội và tinh thần
Triết học là công cụ tổng hợp tri thức Thực tế cho thấy trong sự phát triển của tri thức hiện đại cùng với xu hướng xuất hiện chuyên ngành mới, chuyên sâu là xu hướng ngược lại: Xu hướng liên ngành kết hợp nhiều khoa học thành một hệ thống thống nhất Tính chất tổng hợp, liên ngành của khoa học hiện đại không chỉ thể hiện ở sự kết hợp của các ngành khoa học truyền thống thành các khoa học mới như lý hóa, hóa lý, sinh hóa, sinh tâm lý, sinh vật lý, địa vật lý , mà còn là sự xích lại gần nhau của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học nhân văn Chính xu hướng liên kết này của các khoa học cho phép các nhà nghiên cứu đưa ra một bức tranh khoa học chung về thế giới, tìm kiếm một cơ sở phương pháp luận chung thống nhất, khắc phục tính chất phân tán manh mún của các khoa học chuyên ngành, xác lập cơ sở cho sự hợp tác trong nghiên cứu khoa học Ở đây, triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận kết nối các ngành khoa học, là trung tâm phương pháp luận đem lại khả năng thâm nhập vào các quá trình này một cách chủ động và tích cực
Cuối cùng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và vai trò ngày càng tăng của nó trong đời sống xã hội, mối liên hệ hữu cơ của nó với các nhân tố, điều kiện phát triển xã hội và con người khiến cho vấn đề quản lý khoa học và định hướng giá trị của nó trở nên cần thiết hơn Quản lý và định hướng giá trị khoa học ở đây không phải là quản lý sự sáng tạo khoa học, mà là quản lý các thiết chế khoa học, kế hoạch chương trình phát triển
Trang 9khoa học; ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống Việc quản lý và định hướng ấy chắc chắn không thể không liên quan đến một thế giới quan nói chung, đến những quan điểm triết học nhất định
Mối quan hệ giữa triết học và khoa học có một quá trình phát triển lâu dài Mối quan
hệ ấy không đơn giản, bất biến, mà phức tạp, thay đổi và trở thành một trong những “vấn
đề triết học”, nghĩa là xung quanh nó luôn tồn tại những quan điểm khác nhau Có thể thấy hai quan điểm nổi bật Quan điểm thứ nhất, tuyệt đối hóa vai trò của triết học, hạ thấp, coi thường vai trò của các khoa học Quan điểm thứ hai, tuyệt đối hóa vai trò của các khoa học, hạ thấp hoặc gạt bỏ vai trò của triết học Cả hai quan điểm này thực chất là cực đoan, chúng chỉ phản ánh và tuyệt đối hóa một xu hướng nhất định đã có trong lịch
sử triết học và khoa học mà chúng tôi đã đề cập ở trên Có thể nói, cách tiếp cận như vậy
về mối quan hệ giữa triết học và khoa học là biểu hiện của lối tư duy siêu hình – lối tư duy, mà xét trong những điều kiện nhất định có thể được coi là chính đáng, cần thiết, nhưng xét trong phạm vi phổ quát thì nó bộc lộ những hạn chế nhất định
Sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đem đến một quan điểm mới, tích cực về mối quan hệ giữa triết học và khoa học Mối quan hệ giữa triết học và các khoa học là mối quan hệ biện chứng, thống nhất của các mặt đối lập Tính đặc thù của mối quan hệ này nằm ở chỗ, tùy từng giai đoạn phát triển cụ thể mà mặt này hay mặt kia nổi trội, tác động của mặt này lên mặt kia không phải chỉ theo một hướng duy nhất Các kết luận triết học được rút ra từ khoa học có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực Điều đó phụ thuộc vào lý luận nhận thức của các nhà khoa học được định hướng bởi thế giới quan triết học nào Trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, những phát minh mới của khoa học tự nhiên, như phát hiện ra tia X, hiện tượng phóng xạ, điện tử, đã làm bộc lộ những hạn chế của bức tranh cũ về thế giới vật lý, tạo nên tình thế khủng hoảng Phân tích “cuộc khủng hoảng của vật lý học” ấy, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa duy tâm
đã lợi dụng và xuyên tạc những thành tựu có tính cách mạng nói trên của khoa học tự nhiên; rằng, các nhà khoa học - những người xuất sắc trong các lĩnh vực của mình, nhưng lại bộc lộ các giới hạn nhận thức trong lĩnh vực triết học Họ, vì không nắm vững bản chất của tư duy biện chứng, cho nên đã dao động và tìm đến chủ nghĩa hoài nghi mà bỏ qua vai trò thực chứng trong vật lý học của chủ nghĩa duy vật biện chứng V.I.Lênin khẳng định rằng, trong trường hợp này, chỉ có nắm vững phép biện chứng duy vật mới có thể thoát khỏi “cuộc khủng hoảng vật lý” đó
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại với sự phát triển nhanh chóng của khoa học cũng như những ứng dụng rộng rãi của nó trong thực tiễn đã và đang làm thay đổi sâu sắc đời sống con người, góp phần làm bộc lộ những hạn chế của tư duy siêu hình Con đường duy nhất để khắc phục những giáo điều, những khuôn sáo, trì trệ trong nhận thức và hành động là nắm chắc và vận dụng đúng phép biện chứng duy vật, vì phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng
Trang 10III Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế.
1 Khoa học kinh tế là:
Theo một khái niệm chung nhất, khoa học kinh tế chính là kinh tế học, nó là một bộ
môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung
và cách thức ứng xử của từng tác nhân tham gia vào nền kinh tế nói riêng Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn vị kinh tế phải giải quyết đối với sự lựa chọn Các Nhà Kinh tế cho rằng: Kinh tế học là "khoa học của sự lựa chọn" Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối, và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong thế giới nguồn lực hạn chế Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể và hành vi của các chủ thể kinh tế riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, các hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu tối cao để hướng tới, đó là mục tiêu tối đa hóa các lợi ích kinh tế của họ Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa ích lợi khi tiêu dùng và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa phúc lợi xã hội Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết các bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này
2 Thế giới quan:
là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung quanh, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó
Thế giới quan là nhân tố định hướng cho con người tiếp tục quá trình nhận thức thế giới xunh quanh, cũng như tự nhận thức bản thân mình, và đặc biệt là từ đó con người xác định thái độ, cách thức hoạt động và sinh sống của mình Thế giới quan đúng đắn là tiền
đề hình thành nhân sinh quan tích cực tiến bộ
Thế giới quan triết học khoa học: Sự hình thành, phát triển của triết học không
thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cụ thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện
hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển
Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã làm cho quan điểm “triết học là khoa học của các khoa học” và phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp nữa CN DVBC luôn gắn liền với các thành tựu khoa học hiện đại, nú đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của khoa học hiện đại, nú là thế giới quan và phương pháp luận thật sự khoa học cho các khoa học cụ thể
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang đạt được nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi sâu sắc nhiều mặt của đời sống xã hội, tình hình thế giới đang có nhiều biến động phức tạp thì nắm vững thế giới quan và phương pháp DVBC càng có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, CN DVBC không thể thay thế được các