Vào thời kỳ ấy, lao động đã phát triển đến mức phải phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay, chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước lần lượt ra đời,
Trang 1Đề tài: Triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế.
Lời mở đầu
Triết học là khoa học của mọi thời đại Kể từ khi ra đời, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và đạt được những thành tựu rực rỡ, hệ thống tư tưởng triết học đã đạt được hoàn thiện và phát triển Triết học phản ánh sự phát triển của trí tuệ loài người, thúc đẩy tư duy loài người, là vũ khí lý luận sắc bén cho sự phát triển đó Ngày nay, triết học thực sự trở thành khoa học, vì vậy ý nghĩa là sự phát triển cho đời sống kinh tế xã hội ngày càng rõ nét hơn và được con người hoàn thiện hơn về tư duy lý luận
Trong điều kiện phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển về mặt vật chất của đời sống xã hội, sự phát triển về kính tế cũng không làm giảm đi vai trò thực tế của triết học, mà triết học luôn là ngọn đèn tư tưởng sáng suốt dẫn dắt
sự phát triển đó Đồng thời sự phát triển kinh tế- xã hội cũng tác động trở lại khoa học Trải qua các hình thái phát triển kinh tế khác nhau trong lịch sử loài người, triết học càng chứng minh được vai trò của mình trong việc của mình trong nền kinh tế
Với vai trò to lớn của triết học trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội nói chúng, và nền khoa học kinh tế nói riêng, tiều luận này đưa ra cơ sở lý luận và vai trò của triết học đối với khoa học kinh tế
Nội dung của bài tiểu luận gồm 3 phần:
I Lời mở đầu
II Nội dung
Chương 1: Triết học- một khoa học
1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học
1.1.1 Sự ra đời của triết học
1.1.2 Định nghĩa triết học
1.2 Triết học là một môn khoa học
Trang 21.2.1 Đối tượng của triết học
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.3 Các vấn đề cơ bản của triết học
1.2.4 Hệ thống phạm trù và các quy luật của triết học
Chương 2: Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế
2.1 Cơ sở lý luận: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tình độ phát triển của các lực lượng sản xuất
2.1.1 Lực lượng sản xuất
2.1.2 Quan hệ sản xuất
2.1.3 Quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
2.2 Vai trò của triết học đối với khoa học kinh tế
III Kết luận
Trang 3Ch ương 1: Triết học- một khoa học ng 1: Tri t h c- m t khoa h c ết học- một khoa học ọc- một khoa học ột khoa học ọc- một khoa học
1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học
1.1.1 Sự ra đời của triết học
Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn, nó có nguồn gốc nhận thức
và nguồn gốc xã hội
Về nguồn gốc nhận thức, theo quan điểm của C.mác và Ph.Ăng ghen, lịch sử loài người bắt đầu từ đâu thì tư duy con người bắt nguồn từ đó Song, với tư cách là tri thức lý luận chung nhất, triết học đồng loạt xuất hiện ở cả phương đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ VIII-VI trước Công Nguyên, khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, trong xã hội hình thành chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đã có giai cấp và nhà nước Hệ quả tất yếu của các yếu tố trên là lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, tầng lớp trí thức ra đời Họ có điều kiện nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm thành học thuyết, lý luận Vào thời kỳ này, triết gia đã xuất hiện và triết học được hình thành Có thể kể đến một số các nhà triết học tiêu biểu như Thales ở Hy Lạp, Khổng Tử ở Trung Quốc, Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ Nói cách khác, triết học chỉ ra đời khi con người đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết lý luận
Sự ra đời của triết học gắn liền với nguồn gốc xã hội, tức là sự xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ - xã hội có giai cấp đầu tiên của nhân loại Vào thời kỳ ấy, lao động đã phát triển đến mức phải phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay, chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước lần lượt ra đời, làm cho triết học tự nó mang cho mình tính giai cấp sâu sắc, nó công khai “tính đảng” là phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định Nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Sự phân chia thành hai nguồn gốc như trên chỉ mang tính tương đối
1.1.2 Định nghĩa triết học
Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung sau: “ Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của một chỉnh thể nói chung, của
xã hội loài người của con người trong đời sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nói riêng và thể hiện một cách có hệ thống dưới dạng duy lý
Trang 4Vậy triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về
vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
1.2 Triết học là một môn khoa học
1.2.1 Đối tượng của triết học
Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên - bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học
Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIII, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các
bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học - Khoa học hậu vật lý Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)
Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học
Đầu thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học” Triết học Mác - Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó Triết học Mác
Trang 5xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Có một điều đặc biệt của Triết học đó là: đối với khoa học này, sự khác nhau về phương pháp luận là cơ sở để phân biệt các trường phái triết học ( siêu hình hay biện chứng), thể hiện tính khoa học hay phản động của hệ thống triết học Nguyên nhân của sự việc này xuất phát từ đối tượng của triết học, coi thế giới là một chỉnh thể, nghiên cứu bao trùm thế giới: tự nhiên, xã hội và tư duy
Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình, khác với các nền khoa học khác Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể, và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tổng
kế toàn bộ lịch sử khoa học và lịch sử của bản thân Triết học
1.2.3 Vấn đề cơ bản của triết học
Tất cả các hiện tượng trong vũ trụ chỉ có thể hoặc là hiện tượng vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại bên trong ý thức chúng ta Có thể nói, bất cứ trường phái triết học nào cũng có cái chung đó là đề cập đến và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vấn đề quan hệ giữa vật chất, và y thức, giữa tồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần là những vấn đề cơ bản của triết học Đây là vấn đề cơ sở, nền tảng xuyên suốt mọi học thuyết trong lịch sử triết học, quyết định sự tồn tại của triết học
Trang 6Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi : giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: con người có khả năng nhận thức đc thế giới hay
không?
Tùy thuộc vào lời giải đáp cho câu hỏi thứ nhất, các nhà triết học hình thành hai trường phái đối lập là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức , tinh thần là cái có trước, là cơ sở tồn tại của thế giới tự nhiên, vật chất Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng: vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra;còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Lịch sử triết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, điều đó tạo nên động lực bên trong của sự phát triển lịch sử triết học
Đối việc giải quyết mặt thứ hai, đa số các nhà triết học của hai trường phái đều khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức thế giới Các nhà triết học duy vật tìm cơ sở của sự đồng nhất đó ở vật chất, còn các nhà triết học duy tâm tìm cơ
sở đó ở ý thức, tinh thần
1.2.4 Hệ thống phạm trù và các quy luật của triết học
Mỗi bộ môn khoa học đều có những phạm trù của riêng mình, phản ảnh những mặt, nhưng thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu
Với các khoa học chuyên ngành, các phạm trù chỉ phản ánh mối liên hệ chung trên một lĩnh vực nhất định của hiện thực thuộc phạm vi nghiên cứu của môn khoa học
đó Khác với các khoa học chuyên ngành khác, trong khoa hóc Triết học, cụ thể là phạm trù của phép duy vật biện chứng như vật chất, ý thức, vận động, đứng im, mâu thuấn là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến không phải chỉ ở một lĩnh vực nào đó của hiện thực, mà là toàn bộ thế giới bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy Mọi sự vật hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều quá trình vận động, biến đổi đều có những mặt, những thuộc tính những mỗi liên hệ được phản ánh trong các phạm trù Triết học
Trang 7Triết học duy vật biện chứng ra đời, nó trở thành vũ khí lý luận sắc bén cho giai cấp tiến bộ, nó là kết tinh mọi tinh hoa của tư tưởng nhân loại Vì vậy, có thể coi các quy luật cơ bản của triết học duy vật biện chứng là quy luật của khoa học Triết học Triết học duy vật biện chứng bao gồm 3 quy luật cơ bản sau:
- Quy luật mâu thuẫn: nói lên nguồn gốc của sự vận động, phát triển thế giới
- Quy luật phủ định của phủ định: nói lên con đường tất yếu của sự phát triển Chương 2: Vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế 1.1 Cơ sở lý luận: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tình độ phát
triển của các lực lượng sản xuất
1.1.1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên Trình độ của lực lượng sản xuất , thể hiện trình độ trinh phục tự nhiên của loài người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người
Lực lượng sản xuất bao gồm :
- Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra , trước hết là công cụ lao động
-Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất thói quen lao động , biết sử dụng
tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất
-Tư liệu sản xuất bao gồm : - Đối tượng lao động và Tư liệu lao động :
Đối tượng lao động không phải là toàn bộ giới tự nhiên , mà chỉ có một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất Con người không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao động có sẵn , mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao động
Tư liệu lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao động , chúng dẫn chuyền sự tác động của con người vào đối tượng lao động Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất hợp thành tư liệu sản xuất Đối với mỗi thế hệ mới những
tư liệu lao động do thế hệ trước để lại trở thành điểm xuất phát cho thế hệ tương lai Vì vậy những tư liệu lao động đó là cơ sở sự kế tục của lịch sử Tư liệu lao động
Trang 8chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động , khi chúng kết hợp với đời sống Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu , nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng , khồg thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội
Các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thường xuyên có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong sự phát triển của hệ thống công cụ lao động và trình độ khoa học-kĩ thuật , kĩ năng lao động của con người đóng vai trò quyết định Con người là nhân
tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội Lênin viết : “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân , là người lao động “
Do khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà thành phần con người cấu thành lực lượng sản xuất cũng thay đổi Người lao động trong lực lượng sản xuất không chỉ gồm người lao động chân tay mà còn cả kĩ thuật viên , kĩ sư và cán bộ khoa học phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất
1.1.2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất xã hội là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội : Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng Quan
hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã hội và quan hệ kinh tế tổ chức Quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất của xã hội , nó tồn tại khách quan , độc lập với ý thức của con người Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế xã hội Một kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế
xã hội nhất định
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau :
- Quan hệ giữa người với người đổi việc về tư liệusản xuất
- Quan hệ giữa người với người đổi việc tổ chức quản lý
- Quan hệ giữa người với người đổi việc phân phối sản phẩm lao động
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau , trong đó quan hệ thứ nhất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những mối quan hệ khác Bản chất của bất kỳ quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những tư liệu sản xuất chủ yếu trong
xã hội được giải quyết như thế nào
Trang 9Có hai hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất :
+ Sở hữu tư nhân
+ Sở hữu xã hội
Những hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế hiện thực giữa người với người trong xã hội Đương nhiên để cho tư liệu sản xuất không trở thành “vô chủ” phải có chính sách và cơ chế rõ ràng để xác định chủ thể sở hữu và sử dụng đối với những tư liệu sản xuất nhất định
Trong sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có vai trò quan trọng Những quan này có thể góp phần củng cố quan hệ sở hữu và cũng có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong một
phương thức sản xuất nhất định Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị mỗi hình thái kinh tế xã hội ấy Vì vậy khi nghiên cứu , xem xét tính chất của một hình thái xã hội thì không thể nào nhìn ở trình độ của lực lượng sản xuất mà còn phải xem xét đến tính chất của các quan hệ sản xuất
Quan hệ kinh tế tổ chức xuất hiện trong quá trình tổ chức sản xuất Nó vừa biểu hiện quan hệ giữa người với người , vừa biểu hiện trạng thái tự nhiên kĩ thuật của nền sản xuất Quan hệ kinh tế tổ chức phản ánh trình độ phân công lao động xã hội , chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất Nó do tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất qui định
1.1.3 Quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất , chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người , quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất Đến lượt mình , quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao hơn
Trang 10- Những tác động của lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản xuất quyết định
Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh xảo hơn Cùng với sự phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kĩ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ Lực lượng sản xuất trở thành yếu tố cách mạng nhất Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, có khuynh hướng lạc hậu hơn là sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì hình thức phụ thuộc nội dung, nội dung quyết định hình thức, nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức mới biến đổi theo
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi phù hợp với tính chất và trình độ của của lực lượng sản xuất Sự phù hợp
đó là động lực sản xuất phát triển mạnh mẽ Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới , quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nũa nên buộc phải thay thế bằng mối quan hệ mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Sự hình thành , biến đổi , phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất Nhưng quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựa vào đó để phát triển , nó tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất:Có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất , bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất thì trở thành chướng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Song sự tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời , theo tính chất tất yếu khách quan thì nó sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực