Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân sự làm công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề .... Nghiên cứu cơ sở
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ VĂN TRỌNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HƯỚNG NGHIỆP
DẠY NGHỀ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ VĂN TRỌNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HƯỚNG NGHIỆP
DẠY NGHỀ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Hồng Quang Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện
Đỗ Văn Trọng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 23 (2015 - 2017)
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Phạm Hồng Quang đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương; Các đồng chí trong Ban Giám hiệu, giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên hướng nghiệp dạy nghề Chí Linh tỉnh Hải Dương
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến góp
ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc nghiên cứu của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG NGHIỆP - DẠY NGHỀ 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Các hướng nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 11
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1 Khái niệm quản lý 16
1.2.2 Tư vấn nghề và quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh 19
1.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 22
1.3.1 Mục đích, tầm quan trọng của hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 22
Trang 61.3.2 Nội dung tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường
xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 24 1.3.3 Nguyên tắc, phương pháp, hình thức tư vấn nghề cho học sinh ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 25 1.4 Nội dung quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm
giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 29 1.4.1 Xây dựng mô hình tư vấn vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo
dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 29 1.4.2 Quản lý nội dung chương trình tư vấn nghề cho học sinh ở Trung
tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 30 1.4.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân
sự làm công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 30 1.4.4 Quản lý phát triển hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tư vấn nghề
cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 31 1.4.5 Huy động nguồn lực ngoài trường phục vụ cho hoạt động tư vấn nghề
cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 32 1.4.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả của hoạt động tư vấn nghề cho học sinh
ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 32 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 33 1.5.1 Năng lực quản lý của cán bộ quản lý, năng lực tư vấn nghề của giáo viên 33 1.5.2 Nhu cầu tư vấn của học sinh 33 1.5.3 Hệ thống thông tin về nghề phục vụ hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề 34 1.5.4 Các yếu tố xã hội khác 34
Trang 7Kết luận chương 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG NGHIỆP - DẠY NGHỀ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG 36
2.1 Khái quát về Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh tỉnh Hải Dương 36
2.2 Khái quát về thực trạng 40
2.2.1 Mục đích khảo sát 40
2.2.2 Nội dung khảo sát 41
2.2.3 Đối tượng khảo sát 41
2.2.4 Phương pháp khảo sát 41
2.3 Thực trạng hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh tỉnh Hải Dương 42
2.3.1 Nhận thức về vai trò hoạt động tư vấn nghề tại Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh 42
2.3.2 Thực trạng việc thực hiện nội dung chương trình tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 43
2.3.3 Thực trạng về phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động tư vấn nghề sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 45
2.3.4 Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 48
2.3.5 Đội ngũ tham gia công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 50
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh tỉnh Hải Dương 52
Trang 82.4.1 Thực trạng quản lý xây dựng mô hình tư vấn nghề cho học sinh ở
Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 52
2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung chương tình tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 53
2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên làm công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX-HN-DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 55
2.4.4 Thực trạng quản lý hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 57
2.4.5 Thực trạng quản lý hoạt động huy động nguồn lực ngoài trung tâm phục vụ cho công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 59
2.4.6 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả của công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 61
2.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp, dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 62
Kết luận chương 2 64
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG NGHIỆP - DẠY NGHỀ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 68
Trang 93.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 69
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động TVN cho học sinh 69
3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực TVN cho đội ngũ GV và phụ huynh học sinh 71
3.2.3 Đổi mới hình thức và phương pháp TVN; lồng ghép TVN thông qua các hoạt động thực tế, trải nghiệm nghề nghiệp 73
3.2.4 Tăng cường xã hội hóa công tác TVN, tích cực phối hợp các lực lượng ngoài trung tâm tham gia hoạt động TVN cho HS 76
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động TVN ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 77
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý 79
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80
3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 80
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 81
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ, giáo viên, nhân viên ở Trung tâm
GDTX - HN - DN Chí Linh 37
Bảng 2.2 Quy mô phát triển giáo dục giai đoạn 2013 -2017 39
Bảng 2.3 Số lượng các khối lớp năm học 2016 - 2017 39
Bảng 2.4 Quy mô các lớp liên kết, hướng nghiệp, dạy nghề năm 2016 - 2017 39
Bảng 2.5 Nhận thức về vai trò của hoạt động tư vấn nghề 42
Bảng 2.6 Nội dung chương trình tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 43
Bảng 2.7 Các phương pháp tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, Hải Dương 45
Bảng 2.8 Các hình thức tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh, tỉnh Hải Dương 47
Bảng 2.9 Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 49
Bảng 2.10 Đội ngũ tham gia công tác tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 51
Bảng 2.11 Quản lý mô hình tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 52
Bảng 2.12 Quản lý nội dung chương tình TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 54
Bảng 2.13 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực GV làm công tác TVN cho HS ở Trung tâm GDTX-HN-DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương 56
Bảng 2.14 Quản lý hệ thống thông tin phục vụ hoạt động TVN 58
Bảng 2.15 Quản lý hoạt động huy động nguồn lực ngoài trung tâm phục vụ công tác TVN 60
Trang 12Bảng 2.16 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác TVN 61 Bảng 2.17 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVN cho học sinh 63 Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp quản lý hoạt động
TVN ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 81 Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp quản lý hoạt động
TVN ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, Hải Dương 83
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Những thành tựu kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới cũng đã và đang đặt
ra yêu cầu đối với ngành giáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân và đất nước: về học tập và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng lực cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc
tế trong giai đoạn hiện nay
Nâng cao chất lượng, đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường giáo dục kĩ năng, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đạo đức góp phần hoàn thiện nhân cách người học là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo của nước ta Đây là vấn đề cấp bách không chỉ toàn ngành giáo dục quan tâm
mà cũng là sự quan tâm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục của Đảng
Năm 2013 tiếp tục thực hiện đề án “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập” theo tinh thần của Đảng “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của toàn dân”, toàn dân chăm lo phát triển giáo dục, toàn dân học tập và học tập suốt đời, vì nhu cầu học, làm, sống văn hóa, học chữ, học nghề, học nên người lao động, tri thức tự chủ, năng động sáng tạo,
có lý tưởng độc lập và xã hội chủ nghĩa, bản lĩnh sáng tạo thích ứng với những yêu cầu đổi mới của đất nước
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo đã xác định mục tiêu “Đối với giáo dục phổ thông,
tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ
Trang 14thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ
sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau sau phổ thông có chất lượng”
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng để đẩy mạnh công tác giáo dục, tư vấn nghề và đã đạt được những kết quả bước đầu Công tác tư vấn nghề cho học sinh ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi học sinh phổ thông, đảm bảo mọi học sinh đều được trang bị kiến thức, phương pháp, công cụ và sự hỗ trợ tư vấn cần thiết để có thể xác định định hướng phù hợp cho tương lai Tư vấn, định hướng nghề nghề giúp học sinh trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp lựa chọn cho mình một ngành nghề nhất định Nếu lựa chọn đúng, chọn được ngành nghề phù hợp với bản thân thì các em phát huy được hết năng lực, sở trường của mình cống hiến cho gia đình và xã hội Giáo dục tư vấn nghề tốt ở bậc phổ thông không những giúp các em có sự lựa chọn đúng tương lai ngành nghề, mà còn giúp các em tự điều chỉnh, phấn đấu vươn lên trong học tập Ở mức độ rộng hơn, tư vấn nghề góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội
Đa số học sinh có tâm lý học xong trung học cơ sở phải vào trung học phổ thông và học xong trung học phổ thông phải vào được đại học hoặc cao đẳng, rất ít học sinh có nguyện vọng học nghề Nhiều trường dạy nghề có chất lượng cao, thị trường lao động rất cần và trả lương cao nhưng vẫn thiếu học sinh học nghề Chính điều này đã dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực đã đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo ở nước ta Những ngành nghề có nhu cầu phát triển thì chỉ có ít sinh viên theo học Trong khi đó, rất đông học sinh theo học các ngành có nhu cầu về nhân lực qua đào tạo thấp, nên sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em không xin được việc làm hoặc làm những công việc trái với ngành nghề được đào tạo, gây lãng phí lớn
Trang 15cho gia đình và xã hội Như vậy, mục tiêu tư vấn định hướng nghề nghiệp của giáo dục phổ thông hầu như chưa đạt được Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nội dung công tác tư vấn nghề chưa được thực hiện đầy đủ; thiếu các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục tư vấn nghề đặc biệt là điều kiện giáo viên Giáo viên làm công tác giáo dục tư vấn nghề ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương còn hạn chế về kinh nghiệm, ít được tập huấn, đào tạo chuyên sâu về hoạt động tư vấn nghề, nhiều giáo viên còn là giáo viên hợp đồng
Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương là một đơn vị thực hiện 3 chức năng là: Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, dạy nghề Đối tượng người học ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương có nhiều hạn chế về đầu vào thấp hơn, ý thức tự giác, tinh thần phấn đấu, chưa định hướng đúng nghề nghiệp lựa chọn cho tương lai Vì vậy, Trung tâm luôn đề cao vai trò của hoạt động TVN, đó là một trong những nội dung của quản lý các hoạt động sư phạm
Tuy nhiên, công tác TVN ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương còn bộc lộ những hạn chế nhất định về việc xây dựng kế hoạch, tư vấn hướng nghiệp, quản lý đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, tài chính Bên cạnh đó hoạt động này chưa được quan tâm một cách đúng mức từ phía xã hội
và gia đình Việc thiếu thông tin về ngành, nghề dẫn đến nhiều học sinh lúng túng trong việc chọn trường, chọn ngành học Học sinh chọn nghề sau tốt nghiệp THPT chưa phù hợp với năng lực, xu hướng của bản thân và điều kiện của gia đình Vì vậy, nhiều em không đạt được kết quả, khiến học sinh lãng phí
thời gian, công sức, tiền của mà còn gây nên mất cân bằng xã hội
Từ thực trạng công tác TVN trong các Trung tâm GDTX - HN -DN nói
chung, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN- DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương”
Trang 162 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX – HN – DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương, từ đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý hoạt động TVN ở các trung tâm GDTX - HN - DN trên địa bàn tỉnh Hải Dương
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm
GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong thời gian qua đã được quan tâm đầu tư nhưng chất lượng còn chưa cao Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của trung tâm, đặc điểm tâm lý của HS thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN trên địa bàn tỉnh Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp - dạy nghề
5.2 Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh tỉnh Hải Dương
5.3 Đề xuất các biê ̣n pháp quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Chí Linh tỉnh Hải Dương
Trang 176 Giới hạn nghiên cứu
- 06 CBQL, 30 GV ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương
- 150 HS đang học lớp 12 ở Trung tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp tổng hợp,
hệ thống hoá, phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử: để xác định các khái
niệm và xây dựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Đây là phương pháp cơ bản
nhất trong đề tài để tiến hành lấy ý kiến của các đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra, bảng hỏi nhằm làm rõ thực trạng cần nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát, khảo sát thực tế, thu
thập thông tin góp phần làm rõ thực trạng cần nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn: tiến hành đàm thoại với các đối tượng
nghiên cứu Trên cơ sở đó tổng hợp, so sánh các dữ liệu để làm rõ thực trạng nội dung cần nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội
dung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp toán thống kê: sử dụng một số công thức toán
thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu thực trạng và khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
8 Cấu trúc nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Phụ lục; Danh mục tài liệu tham tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Trang 18Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh
ở Trung tâm GDTX - HN - DN
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động TVN cho học sinh ở Trung
tâm GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm
GDTX - HN - DN Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN -
HƯỚNG NGHIỆP - DẠY NGHỀ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Trên cơ sở những nghiên cứu về TVN trên thế giới, chúng tôi nhận thấy
có ba hướng nghiên cứu chính là: Hướng nghiên cứu lý thuyết, quan điểm tiếp
cận; hướng nghiên cứu thực hành; hướng nghiên cứu về đào tạo các nhà tư vấn nghề
* Hướng nghiên cứu lý thuyết hoạt động tư vấn nghề
Tư vấn hướng nghiệp dựa trên những đặc điểm nhân cách, bao gồm lý
thuyết của Frank Parsons mang tên Nhân cách và yếu tố, lý thuyết của Jonh Holland và lý thuyết nhu cầu của Ann Roes [dẫn theo 20, tr 26 - 64] và K.K
Platonop
Đại diện đầu tiên của trường phái này là F.Parsons (1909), ông cho rằng, nhà tư vấn giúp những cá nhân nhận thức về đặc điểm từng nghề của thế giới nghề, sau đó kết hợp những đặc điểm nhân cách cá nhân với đặc điểm của nghề, từ đó có hành vi lựa chọn được nghề phù hợp E.G Williamson (1939, 1965) tiếp tục lý thuyết của F.Parson và phát triển một thang đo có tên là thang đánh giá nghề nghiệp (Minnesota Occupational Rating Scales) nhằm phục vụ cho việc đo lường Theo các tác giả trên, việc tiến hành làm các trắc nghiệm được coi là một việc làm quan trọng và cơ bản nhất, từ kết quả trắc nghiệm, nhà
tư vấn đưa ra lời khuyên cá nhân nên chọn nghề nào phù hợp
Ann Roe (1956) dựa trên cách tiếp cận nhu cầu của Maslow (1954)
được coi là đại diện tiếp theo của trường phái này Roe nhấn mạnh sự tương tác
giữa con người và môi trường trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp Xuất phát
từ quan điểm của trường phái phân tâm học nên bà cho rằng những kinh
Trang 20nghiệm từ thuở ấu thơ sẽ liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này, và vô thức có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp Việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ giúp mỗi cá nhân thoả mãn nhu cầu của bản thân mình [20, tr55 - 58]
K.K.Platonop (1960) [dẫn theo 9, tr80] với quan niệm về “Tam giác hướng nghiệp” Ba cạnh của hướng nghiệp được xác định là (1) đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội, (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, (3) đặc điểm về nhân cách, tâm sinh lý của cá nhân Khi cá nhân tìm được sự phù hợp cả
ba cạnh của tam giác, khi đó tìm được sự lựa chọn nghề tối ưu
Tóm lại: Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết đặc điểm nhân cách xem nhâm
là một lý thuyết tĩnh, quá trình tư vấn là chỉ dẫn cho cá nhân lựa chọn một nghề dựa trên sự phù hợp giữa đặc điểm nhân cách với yêu cầu công việc Lý thuyết này chưa giải thích về những đặc điểm như: hứng thú, giá trị, năng lực, thành tích cá nhân, tính cách phát triển và thay đổi như thế nào có ảnh hưởng gì đến quá trình học tập…v.v
* Hướng nghiên cứu về thực hành tư vấn nghề
Vào cuối thế kỷ XIX, sang nửa đầu thế kỷ XX là giai đoạn đầu của công tác hướng dẫn nghề, sau đó là tư vấn nghề với sự phát triển của phong trào sử dụng các thang đo - trắc nghiệm Francis Galton người Anh (1974, 1879) đã nghiên cứu về nguồn gốc năng lực con người Wilheim Wundt thành lập một phòng thực nghiệm ở Leizig (Đức) để nghiên cứu về hành vi con người Ở Pháp, Alfred Binet và V.Henri (1986) viết bài báo miêu tả những khái niệm đo lường tâm thần Những nghiên cứu khác nhau về con người xoay quanh sự chú
ý của chúng ta tới điều kiện sống và công việc trong xã hội thay đổi bởi cuộc cách mạng công nghiệp [dẫn theo 19, tr10]
Cùng với việc ứng dụng rộng rãi các công cụ đo lường trong TVN, thì việc thành lập các phòng TVN đã làm cho nó trở thành một dịch vụ xã hội Trong việc ứng dụng TVN vào thực tiễn cuộc sống, nước Mỹ được biết đến
Trang 21như là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này Phòng TVN đầu tiên trên thế giới đã được Frank Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908 Những ý tưởng của F.Parsons trong công tác TVN đến nay vẫn được coi là nguyên tắc trong công tác tư vấn Công việc này cần phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp, một người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người khác, vì tự mỗi người mới biết phải quyết định điều gì tốt nhất cho chính bản thân mình Tiếp đó là Bernard Haldane (1947) đã thành lập công ty
tư vấn chuyên nghiệp với nhiệm vụ là cung cấp dịch vụ tư vấn cho những người đi tìm việc Ý tưởng giúp cá nhân phát huy những điểm mạnh đó là năng lực, năng khiếu, tài năng của bản thân để đạt hiệu quả cao trong quá trình tìm kiếm việc làm [20]
Việc ra đời hàng loạt những tài liệu, ấn phẩm, sách, tạp chí có liên quan đến tư vấn hướng nghiệp là thể hiện sự quan tâm rộng rãi của xã hội đối với lĩnh vực này Những tài liệu hướng dẫn cá nhân những cách thức, kỹ năng để lựa chọn nghề và tìm việc Sách tìm việc lần đầu tiên được xuất bản ở Hoa Kỳ
năm 1936 với tên là khả năng việc làm của bạn: Cách thể hiện và áp dụng
chúng qua một số điểm mạnh của con người, được viết bởi Alphonso William
Rahn.Trong đó Rahn chỉ ra tiến trình tìm việc sáng tạo và Phương pháp tìm
việc sáng tạo được sử dụng cho đến ngày nay Đến năm 1942, Sidney Fine đã
xây dựng những kỹ năng cụ thể dành cho những người xin việc, công việc này
có ý nghĩa rất lớn đối với những người lao động chuyển đổi nghề Sau đó (năm 1967), ông đã tìm ra ba loại kỹ năng cơ bản để trợ giúp cá nhân tìm việc hay một nghề mới, đó là kỹ năng tự nhiên (ai cũng có), những kỹ năng chuyên biệt (giúp cho cá nhân đáp ứng yêu cầu công việc) và kỹ năng thích nghi (là sự điều chỉnh bản thân để đáp ứng những thay đổi của môi trường xã hội) Những kỹ năng này có thể được đào tạo và huấn luyện được [dẫn theo 19, tr53- 68]
TVN đáp ứng việc trợ giúp cá nhân có những công việc phù hợp nhất với khả năng của họ Tại Mỹ, Pháp và các nước phát triển, TVN đã có khung pháp
Trang 22luật quy định hoạt động rõ ràng, đó là một hoạt động bắt buộc phải thực hiện nghiệm túc Ngày nay, công việc này đã trở thành một công việc bắt buộc trong trường phổ thông của nhiều quốc gia trên thế giới Những mô hình thực hành TVN của Mỹ và châu Âu đã ảnh hưởng rộng rãi sang các nước châu Á, châu Á
- Thái Bình Dương và ở những quốc gia này lĩnh vực này ngày càng được quan tâm và phát triển
* Hướng nghiên cứu về đào tạo các nhà TVN
Công tác đào tạo nhà TVN đã được người Mỹ quan tâm ngay từ những năm đầu tiên khi chuyên ngành này ra đời Năm 1907, Jesse Davis đã xây dựng
cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Hoạt động này dần chuyên nghiệp hơn, quyển từ điển về tên nghề đầu tiên ra đời (DOT-the Dictionary Occupational titles) DOT trở nên vô cùng quan trong cho người tìm việc, người thay đổi nghề nghiệp, nhà tư vấn và có cả một danh mục tên nghề mới nhất (thời điểm đó) để chọn [19], [20] Ngày nay, chương trình đào tạo nhà
tư vấn đất nước này thường rất chi tiết và đa dạng tùy theo từng bang và các ngành tư vấn khác nhau Một người muốn trở thành một nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp phải có bằng thạc sĩ, đảm bảo về chương trình lý thuyết
và thời gian thực tập nội trú dưới sự kiểm soát của một nhà tư vấn (tham vấn) học đường có uy tín Hơn nữa, để được chứng nhận là nhà tư vấn, ngoài việc có bằng thạc sĩ còn phải có 3 năm kinh nghiệm làm việc được giám sát ở cơ sở Theo Ủy ban cấp chứng chỉ hành nghề về chương trình đào tạo nhà tư vấn (CACREP, 2009 Standards), những sinh viên muốn trở thành nhân viên tư vấn hướng nghiệp phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thực tiễn cần thiết để trợ giúp một người phát triển kế hoạch nghề nghiệp cuộc đời Họ đáp ứng được những yêu cầu về các mặt kiến thức, kỹ năng và thực tế về cơ sở ngành như các
lý thuyết, đạo đức nghề nghiệp, các chính sách pháp luật; về tư vấn, phòng ngừa và can thiệp; sự đa dạng về văn hóa, xã hội và các mối quan hệ có ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp; đánh giá trong quá trình tư vấn; việc
Trang 23nghiên cứu và đánh giá tổng thể quá trình tư vấn; chương trình xúc tiến quản lý
và thực hiện, cũng như các thông tin về nguồn tài nguyên hữu ích cho sự lựa chọn và thăng tiến trong nghề nghiệp…Nhà tư vấn khi bước đầu thực hiện nghề
sẽ được nhà tuyển dụng đào tạo và trong công việc, họ thường phải tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo, tự nghiên cứu nhằm duy trì được trình độ của mình
và đáp ứng yêu cầu công việc Nhiều nước trên thế giới, nhà tư vấn hướng nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề do nhà nước cấp, phải có trình độ thạc sĩ trở lên và phải trải qua quá trình thực hành nghề tại các trường học/ cơ sở cung cấp dịch vụ Chẳng hạn như ở Pháp, các nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp có trình độ tương đương thạc sĩ chuyên về tư vấn định hướng Họ được đào tạo để có kiến thức và các phẩm chất đáp ứng công việc của họ trong nhà trường như là (1) tham gia giám sát liên tục học sinh và thành công học tập của các em; (2) đảm bảo thông tin
về quy trình định hướng, đào tạo và nghề nghiệp cho học sinh và gia đình; (3) đảm bảo công tác đặc biệt là tham vấn cá nhân cho học sinh và cha mẹ học sinh; (4) với
tư cách là người hỗ trợ, thực hiện công việc đánh giá học sinh; (5) hỗ trợ học sinh thực hiện các dự định học tập và nghề nghiệp; (6) đóng vai trò cố vấn chuyên môn cho hiệu trưởng, các nhà quản lý trong việc xây dựng các kế hoạch giáo dục liên quan đến hướng nghiệp [11]
Tóm lại, sự phát triển của các hướng nghiên cứu lý thuyết, thực hành tư vấn hướng nghiệp và đào tạo các nhà tư vấn hướng nghiệp đã đáp ứng được phần nào yêu cầu của cá nhân và sự phát triển xã hội Một số nước đi đầu trong lĩnh vực này như Mĩ, Pháp… Các nước Châu Á, Châu Á Thái Bình Dương đang trong quá trình phát triển Những quan điểm, lý thuyết và các mô hình tư vấn hướng nghiệp ngày càng phát triển và có ứng dụng rộng rãi
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam các hướng nghiên cứu thường đan xen cả nghiên cứu lý thuyết, thực trạng và nghiên cứu thực hành tư vấn nghề của đội ngũ các chuyên gia Khó có thể phân tách rõ ràng như các hướng nghiên cứu như ở nước ngoài
Trang 24* Hướng nghiên cứu lý thuyết hoạt động tư vấn nghề
Tư vấn nghề được hiểu là việc đối chiếu yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động với hứng thú, khuynh hướng và năng lực của học sinh, rồi cho các em lời khuyên nên chọn nghề nào phù hợp (Đặng Danh Ánh, 2005) Người học sinh phải tìm hiểu, đánh giá đúng các đặc điểm nhân cách của bản thân như:
xu hướng nghề nghiệp (bao gồm nguyện vọng, hứng thú, động cơ), năng lực (khả năng) phù hợp nghề, tính cách Người học sinh phải có nhận thức về thế giới nghề nghiệp, về nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, của đất nước, nhu cầu nhân lực của các ngành nghề trong xã hội, từ đó xác định sự phù hợp nghề [1]
Để giúp cá nhân dễ dàng hiểu mình và lựa chọn được nghề phù hợp, nhóm tác giả Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Phạm Tất Dong [3, tr50], cho
rằng TVN là phải giúp học sinh tìm được “Miền chọn nghề tối ưu” Khi chọn
nghề, học sinh phải trả lời được ba câu hỏi: Tôi thích làm nghề gì? (hứng thú), Tôi có thể làm nghề gì? (năng lực), Tôi cần phải làm nghề gì? (yêu cầu xã hội, thị trường lao động đối với nghề) Đó chính là “Miền chọn nghề tối ưu”
Hứng thú, năng lực của cá nhân là những đặc điểm của nhân cách, đây là những yếu tố cơ bản để chỉ ra sự cần thiết của mỗi cá nhân với yêu cầu của một nghề nào đó Song, để tìm được một nghề phù hợp thật sự, thì chỉ ba yếu tố đó
là chưa đủ, nhà tư vấn cần phải tính đến những đặc điểm khác của nhân cách như lý tưởng, định hướng giá trị, tính cách, nhận thức … của cá nhân, bên cạnh
đó yêu cầu của nghề với tình trạng sức khỏe của cá nhân, điều kiện gia đình… cũng cần được xem xét
Cùng đi sâu tìm hiểu những đặc điểm nhân cách cá nhân trong tư vấn
hướng nghiệp, song Nguyễn Đức Trí (2005) chú ý đến việc xây dựng nhân
cách nghề nghiệp Nhân cách nghề nghiệp bao gồm 4 cấu trúc nhỏ bên trong,
đó là (1) xu hướng nghề nghiệp (2), năng lực nghề nghiệp (3), những đặc điểm
của quá trình nhận thức, tính cách (4), những đặc điểm về khí chất, giới tính, lứa tuổi, bệnh tật là đặc điểm chịu sự chế ước sinh học Bốn cấu trúc trên đóng vai trò quan trong khi hướng dẫn chọn nghề, khi tuyển dụng lao động [16]
Trang 25Một cách tiếp cận mới trong hướng nghiên cứu về đặc điểm nhân cách, nhưng ở góc độ kết hợp Tâm lý học và Giáo dục học, tác giả Trần Khánh Đức
(2010) đã xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp có tính đến vấn đề công
nghệ đào tạo và phân hóa các giai đoạn phát triển nghề trong quá trình vận động và phát triển của nhân cách nghề thích ứng với từng giai đoạn đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục liên tục [5, tr191] Theo tác giả, đây là cách tiếp
cận theo quan điểm nhân cách phát triển và giáo dục suốt đời, do vậy mô hình
nhân cách thích ứng với các giai đoạn: Tiền nghề nghiệp, đào tạo nghề và giai đoạn thích ứng phát triển nghề Quá trình phát triển nhân cách qua các giai
đoạn này là quá trình hoàn thiện dần các đặc trưng cấu trúc nhân cách bằng việc hình thành những đặc trưng mới, bổ sung thêm vào những đặc trưng đã có
hoặc phát triển chúng đến trình độ cao hơn
Tóm lại, hướng nghiên cứu về đặc điểm nhân cách cá nhân được quan tâm ngay từ những năm đầu khi khoa học tư vấn hướng nghiệp ra đời, đến nay vẫn được đông đảo các nhà tư vấn hướng nghiệp trong và ngoài nước tiếp tục nghiên cứu
* Hướng nghiên cứu thực hành tư vấn nghề
Sử dụng các trắc nghiệm tâm lý, bảng kiểm, bảng tự đánh giá cá nhân… như là những công cụ đắc lực cho tư vấn hướng nghiệp đã được các nhà tư vấn hướng nghiệp quan tâm từ lâu Nhà tâm lý học Mĩ F.Parsons đã dùng test và anket để nghiên cứu năng lực học sinh nhằm mục đích hướng nghiệp, F.Galton (Anh) đã dùng test chẩn đoán nhân cách để phục vụ cho việc TVN
Ở Việt Nam, đây không phải là hướng nghiên cứu chính thống, song nó như “mốt”, phong trào trong giai đoạn hiện nay Hầu hết các trang web của Việt Nam về TVN đều có sự hướng dẫn làm các trắc nghiệm để tìm hiểu xem mình có phù hợp với nghề nào trong thế giới nghề nghiệp Trong thực tế công tác, các nhà tư vấn hướng nghiệp cũng nhận thấy các em đều hứng thú với việc được làm các bài trắc nghiệm đánh giá hướng nghiệp để tìm hiểu xem mình là
Trang 26người như thế nào, có điểm mạnh điểm yếu nào và phù hợp với ngành, nghề nào trong thế giới nghề nghiệp
Việc sử dụng trắc nghiệm khách quan có thể giúp người được tư vấn biết được về cơ bản cá nhân có hợp (hay không hợp) với nghề định chọn Kết quả trắc nghiệp là cơ sở khoa học để TVN, góp phần hỗ trợ cho học sinh tự hiểu mình một cách khách quan hơn, từ đó biết chọn học ngành nghề nào cho phù hợp, đồng thời tránh chọn lầm nghề Một số trắc nghiệm được các nhân viên
TVN khuyên dùng là IQ test (chỉ số trí tuệ - Intelligence Quotient), EQ test (đo
chỉ số cảm xúc - Emotion Quotient), AQ test (đo chỉ số vượt khó - Adversity
Quotient), CQ test (đo chỉ số sáng tạo - Creation Quotient) Cùng với các trắc
nghiệm chuyên biệt như: Trắc nghiệm nghiên cứu kiểu nhân cách của H.J.Eysenck, trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của J.C.Raven, trắc nghiệm đánh giá trí tuệ tổng quát của David Wechsler, V.P Zakharov với trắc nghiệm khả năng giao tiếp, M Luscher với phương pháp nghiên cứu nhân cách, A.E.Golomstoc nghiên cứu hứng thú học sinh bằng angket, E.A.Klimop với
“Bản xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá”, John Holland với trắc nghiệm RIASEC
Theo các nhà tư vấn tâm lý, việc sử dụng trắc nghiệm trong tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT được xem như là một công cụ hỗ trợ và tạo tính thuyết phục cao hơn trong công tác hướng nghiệp, giúp các em tìm hiểu và khám phá bản thân một cách kỹ lưỡng hơn Tuy trắc nghiệm có rất nhiều ưu điểm và hiệu quả cao, nhưng cũng không thể coi đó là một nhân tố duy nhất và quan trọng nhất trong TVN cho học sinh Việc TVN còn phải tính đến rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh cá nhân, gia đình, môi trường sống, điểm số học tập trên lớp, điểm chuẩn của các trường đại học…
Ngoài những hướng nghiên cứu tác giả đã tìm hiểu được ở trên, ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác hướng nghiệp
và quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được nhiều nhà
Trang 27nghiên cứu quan tâm dưới góp độ giáo dục học và tâm lý học nghề nghiệp Chẳng hạn như: Từ những năm 80 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và quản lý Những kết quả nghiên cứu của hai nhóm dưới sự chỉ đạo của Phạm Tất Dong và
Đặng Danh Ánh đã tạo cơ sở cho chính phủ ra quyết định số 126 - CP về “Công
tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp
ra trường” ngày 19/03/1981 Ngoài ra, có nhiều các tác giả khác cũng quan tâm
nghiên cứu chuyên sâu về công tác hướng nghiệp, có thể dẫn ra một số tác giả như: Nguyễn Văn Hộ (1998), Nguyễn Bá Dương (1994), Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hồ Văn Thống (2011),… Các nghiên cứu này
đã giải quyết tương đối có hệ thống về lý luận công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Ngoài ra, nghiên cứu về hoạt động tư vấn hướng nghiệp gần đây chúng tôi còn thấy có một số công trình nghiên cứu như: Tác giả Phạm Ngọc Linh nghiên cứu: “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông”, luận án tiến sỹ (2013); Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trường THPT tỉnh Thái Bình”, luận văn thạc sỹ (2014); Tác giả Lê Thị Thu Trà nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội”, luận văn thạc sỹ (2016); Tác giả Nguyễn Ngọc Thảo nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sỹ (2016) v.v Các nghiên cứu trên được tiến hành theo những hướng khác nhau, góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng tôi tiến hành nghiên cứu của mình
Tuy nhiên, nghiên cứu về hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm GDTX - HN - DN trên cả nước chúng tôi chưa tiếp cận được công trình nào Các trung tâm GDTX - HN - DN có những đặc thù riêng khác với công tác TVN ở các trường THPT Do vậy, chúng tôi cho rằng cần phải có những
Trang 28nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn để phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp của bản thân
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội được xuất hiện từ rất sớm, đúng như
K.Mác đã nói: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà
tiến hành trên một quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [10; tr 24]
Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một trong 3 nhân
tố của sự phát triển xã hội: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Quản lý là
sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động
để phát triển sản xuất xã hội Việc kết hợp đó tốt thì xã hội phát triển, ngược lại kết hợp không tốt thì xã hội sẽ trì trệ, sự phát triển sẽ bị chậm lại
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản
lý, theo những cách tiếp cận khác nhau
Có thể điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau:
- Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”
thì xem xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá
nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của
tổ chức” [14; tr 52]
Theo Harol Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lý”
đã được dịch ra tiếng Việt Nam của nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
năm 1992 thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức”9
Trang 29Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin: “Quản lý xã hội một cách
khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống xã hội Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” Theo C.Mác: “Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội”10 Theo F.W.Taylor -
người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong tổng bộ phận của nó, nêu ra
hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động Ông cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và
làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định
hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”6
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”15
Với cách hiểu quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của con người thì có thể định nghĩa: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường biến động
Từ những quan niệm trên chúng tôi thấy, ở những góc độ khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, quan niệm này phụ thuộc vào cái nhìn
Trang 30chủ quan và tính mục đích hoạt động của hệ thống Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học,
xí nghiệp…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào trong thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tuy có các cách tiếp nhận khác nhau nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung đó là:
- Quản lý là các hoạt động để đảm bảo mục đích chung là hoàn thành công việc qua nỗ lực của các cá thể trong tổ chức Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể
- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật, hợp thời điểm và có hiệu quả của quản lý nhưng cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định hướng đến mục tiêu đó là đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của các cá thể nhằm đạt được mục đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức để đạt được mục đích chung
- Hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm 2 phân hệ là: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (người quản lý và người bị quản lý) Tác động quản lý là tác động có định hướng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ thống ổn định phát triển và đạt được mục tiêu đã định
- Mục tiêu cuối của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉ
Trang 31giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn trong mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức mình
Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao
động Đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đặt
ra trong điều kiện biến động của môi trường Xã hội ngày càng phát triển các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp, tinh vi thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng và quyết định để tổ chức hướng tới đích bằng con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Với bản chất là một khoa học và nghệ thuật trong việc điều khiển và phối hợp sự nỗ lực của con người vì mục tiêu chung Trong xã hội hiện đại, tính khoa học và nghệ thuật của quản lý được đề cao
Vì vậy chúng tôi quan niệm: “Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển
đối tượng quản lý thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”
Quá trình này có thể được mô tả bằng sơ đồ đơn giản sau đây:
Hình 1.1: Mô hình về quản lý 1.2.2 Tư vấn nghề và quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh
Trang 32hướng nghề và tuyển chọn nghề (Hình 1.2) Người lựa chọn nghề nhiều khi chưa thật hiểu biết về mình, cũng có thể do ảnh hưởng của dư luận xã hội hoặc thiếu cái nhìn thực tế về nhu cầu của thị trường lao động mà co những quyết định lựa chọn nghề thiếu chín chắn, chính xác là những nguyên nhân gây ra sự chán nghề, xin đổi nghề hoặc bỏ nghề Nhờ có công tác tư vấn nghề, đối tượng được tư vấn có sự định hướng đúng đắn hơn hoặc sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn để theo đổi một nghề nào đó Thực chất của tư vấn nghề là căn cứ vào biện pháp chuyên môn cung cấp cho đối tượng được tư vấn những lời khuyên về chọn nghề sát hợp và có cơ sở khoa học, giúp họ chọn được những nghề mình yêu thích, thực sự phù hợp với mình, để lập thân, lập nghiệp, cống hiến tài năng, trí tuệ của mình Đồng thời có sự tiến bộ trong nghề nghiệp và trụ vững trong cuộc đời
Hình 1.2 Vị trí của tư vấn nghề trong hướng nghiệp
Tư vấn nghề thực hiện các nhiệm vụ như: Chẩn đoán những thuộc tính
và phẩm chất quan trọng về mặt nghề nghiệp; Đối chiếu cấu trúc tâm lý của
Định hướng nghề nghiệp
Các nghề và yêu
cầu của chúng
Thị trường lao động
Tư vấn nghề Phẩm chất, Năng lực, Tuyển chọn nghề
hoàn cảnh cá nhân
Trang 33nhân cách và của hoạt động nghề nghiệp; Xác định con đường tiếp tục phát triển nhân cách…v.v
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về TVN, trong đề tài này
chúng tôi sử dụng khái niệm TVN của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền: “TVN
là một hoạt động thông tin nhằm cung cấp cho đối tượng tư vấn về một hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện để hiểu biết cặn kẽ Trên cơ sở đối chiếu với năng lực, hứng thú của cá nhân, nhu cầu của xã hội để từ đó giúp cho đối tượng tư vấn có sự lựa chọn nghề một cách phù hợp” [7]
* Quản lý hoạt động tư vấn nghề cho học sinh:
Về bản chất, TVN là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một học sinh hay của một nhóm học sinh muốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh
Trong thực tế chúng ta thường thấy xuất hiện các cụm từ có liên quan tới hoạt động TV như: TV học đường, TV hôn nhân và gia đình, TV việc làm Đồng thời cũng tồn tại những tổ chức dịch vụ TV hiện có mặt tại thành phố, các khu công nghiệp, các tổ chức thanh niên, phụ nữ, quân đội như: Trung tâm
TV và xúc tiến việc làm, Trung tâm TV hôn nhân và gia đình
Như vậy TVN cũng được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về nghề và hoạt động nghề, lĩnh vực nghề riêng biệt
TVN là một hoạt động giữa chủ thể TV với đối tượng TV, trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một lĩnh vực hoạt động nào đó Chủ thể TV là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyển tải thông tin nghề có khả năng ứng xử với đối tượng TV (để thỏa mãn những nhu cầu đối tượng ở mức độ cần thiết) Do tính phức hợp về nhu cầu của đối tượng TV, chủ thể TV cũng theo đó mà có thành phần xuất xứ đa dạng: đó có thể là những chuyên gia xã hội học, tâm lý học, y học, những chuyên gia về thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa, mỹ thuật
Trang 34Đối tượng TV có thể là bất cứ học sinh nào, nhóm học sinh, cha mẹ học sinh nào nếu có nhu cầu TV
Mối quan hệ giữa chủ thể TV và đối tượng TV là mối quan hệ tác động qua lại, trong đó chủ thể TV ở vị trí tạo nên tác động nhờ việc chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng TV ở vị trí của những người được tác động tiếp nhận những thông tin từ chủ thể TV
Kết quả cuối cùng của TV có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng
có thể là sự thay đổi quyết định lớn của cuộc đời Song, nếu thông tin thiếu hoàn thiện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn tới đối tượng
TV có những nhận thức hoặc việc làm vô bổ - sự tác động diễn ra theo chiều hướng xấu kém hiệu quả Từ sự phân tích trên có thể hiểu:
Hoạt động TVN cho học sinh thực chất là một hoạt động nhằm cung cấp thông tin cặn kẽ về một nghề nghiệp cho học sinh So sánh, đối chiếu với năng lực, hứng thú của từng học sinh với nhu cầu nghề nghiệp của xã hội để từ
đó giúp cho học sinh có sự lựa chọn nghề một cách phù hợp
Trên cơ sở những khái niệm công cụ trên chúng tôi cho rằng: Quản lý
hoạt động TVN cho học sinh là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý hoạt động TVN tới khách thể tư vấn nghề, giáo viên, cán bộ
tư vấn, học sinh nhằm giúp học sinh đối chiếu với năng lực, hứng thú của cá nhân, nhu cầu của xã hội để từ đó lựa chọn nghề một cách phù hợp
1.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
1.3.1 Mục đích, tầm quan trọng của hoạt động tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
Theo tác giả Phạm Tất Dong, một trong những mục đích chính của công tác hướng nghiệp (trong đó có tư vấn nghề) là điều chỉnh ý hướng chọn nghề của các thế hệ học sinh cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh tế
Vì thế, từ lâu, trong công tác hướng nghiệp, nhà giáo dục luôn đòi hỏi thanh
Trang 35niên phải trả lời được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà
xã hội đang cần phát triển hay không?” Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu niên phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của hoạt động tư vấn nghề nghiệp
Bên cạnh đó, xu hướng nghề được biểu hiện ở nhiều mặt, vì vậy, tác động của công tác hướng nghiệp nói chung, tư vấn nghề nói riêng làm thay đổi các mặt biểu hiện của xu hướng nghề cũng cho thấy vai trò của công tác này trong việc điều chỉnh xu hướng nghề của học sinh
Tư vấn nghề cho học sinh ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh hiểu nghề sâu sắc và lựa chọn nghề phù hợp Nói cách khác, tư vấn nghề như là hình thức giúp các em nhận thức và định hướng lựa chọn nghề nghiệp
TVN là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Kinh nghiệm trong và ngoài nước cho thấy, sự chọn nghề một cách tự phát của học sinh thường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và ngành nghề trong
xã hội Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt Kết quả cuối cùng cần đạt được là mỗi học sinh phải tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản xuất lên trên những nguyện vọng của cá nhân mình… Quá trình hướng nghiệp trong nhà trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp chung chung, mà phải hướng học sinh đi vào nghề nghiệp cụ thể
Theo P.A.Savin, “Tư vấn nghề thực hiện chức năng liên kết giúp học
sinh đối chiếu hứng thú, sở thích và những khả năng vốn có của mình với nhu cầu của nền kinh tế quốc dân” [dẫn theo 17, tr.65]
Trang 36Dựa trên cơ sở nghiên cứu nhân cách và những kiến thức về nhu cầu nền kinh tế quốc dân, TVN giúp cho học sinh nhận biết những đặc điểm tâm sinh lý vốn có của bản thân và những nhu cầu của xã hội trong lựa chọn nghề TVN không “cướp đi” cơ hội tự lựa chọn nghề của học sinh, hay như cách nói của tác giả E.A.Klimov, TVN không được coi là những ảnh hưởng tiêu cực đến tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh, mà hoạt động này giúp các em, đặc biệt là học sinh cuối cấp biết điều chỉnh xu hướng nghề phù hợp với đặc điểm của bản thân và định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, từ đó các em
tự tin xác định và lựa chọn nghề
Thông qua TVN, học sinh được cung cấp những nguồn thông tin hữu ích
để từ đó có thể định hướng chính xác hơn về nghề và điều chỉnh xu hướng nghề một cách phù hợp Trên thực tế, những thông tin ảnh hưởng đến học sinh có thể đến từ nhiều nguồn khác bên ngoài nhà trường, như: phương tiện truyền thông (internet, truyền hình, đài phát thanh, sách báo…), người thân trong gia đình (đặc biệt là cha mẹ), bạn bè, chuyên viên tư vấn hướng nghiệp ở các trung tâm
tư vấn, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp… Tuy nhiên, với vai trò chủ đạo trong công tác TVN, những nguồn thông tin đến từ nhà trường (từ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, giáo viên hướng nghiệp…) phải mang lại cho học sinh sự hiểu biết về nghề nhiều nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hướng cũng như điều chỉnh xu hướng chọn nghề của các em
1.3.2 Nội dung tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
Nội dung TVN cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề hiện nay bao gồm:
* Giới thiệu cho học sinh về các vấn đề sau:
- Thế giới nghề nghiệp: các kiểu nghề, loại nghề, nhóm nghề hiện có ở các địa phương, giới thiệu về đặc điểm lao động của từng nghề, mục đích lao động, đặc điểm đối tượng lao động, công cụ lao động, sản phẩm lao động,
Trang 37những yêu cầu của nghề và những phẩm chất, năng lực cần có của người lao động, những trường hợp chống chỉ định nghề v.v
- Hệ thống các trường lớp đào tạo nghề của Trung ương cũng như địa phương, hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề
- Sự phù hợp nghề và cách thức tự xác định nghề của bản thân theo ba chỉ số cơ bản: Hứng thú với nghề; có năng lực làm việc với nghề; đặc điểm tâm sinh lý phù hợp với tính chất, đặc điểm nội dung của hoạt động nghề nghiệp
* Tìm hiểu nguyện vọng, khuynh hướng, hứng thú, kế hoạch nghề nghiệp của học sinh theo các chỉ số: hào hứng khi có sự tiếp xúc với nghề, thích học và học tốt những môn liên quan đến nghề mình thích
* Đo đạc các chỉ số tâm, sinh lý trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến nghề định chọn
* Theo dõi các bước đường phát triển, sự phù hợp nghề của học sinh qua quá trình hoạt động lao động, qua kết quả học tập ở nhà trường
* Cho lời khuyên về chọn nghề cũng như phương hướng tiếp tục bồi dưỡng khi ra trường
1.3.3 Nguyên tắc, phương pháp, hình thức tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
1.3.3.1 Nguyên tắc tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
* Đảm bảo lợi ích của học sinh: Trong quá trình TVN cho học sinh, giáo
viên luôn coi học sinh là trọng tâm, đặc biệt là với các cá nhân học sinh, bởi vì
có những khó khăn các em không thể nói ra với mọi người Do đó, giáo viên cần phải bảo mật thông tin cho các em học sinh đó Bên cạnh đó, mỗi nhóm, mỗi cá nhân đều có mục tiêu nhất định nhưng mục tiêu chung của họ đều giống nhau là làm sao chọn được nghề nghiệp phù hợp nhất Như vậy, trong quá trình
tư vấn nghề chủ thể tư vấn luôn hướng tới điều đó để thực hiện quá trình tư vấn một cách tốt nhất
Trang 38* Tôn trọng và hợp tác với học sinh: Đây là nguyên tắc cơ bản trong giao
tiếp và làm việc Do vậy, ở bất kỳ tình huống nào, giai đoạn giao tiếp nào chủ thể tư vấn cũng phải tôn trọng học sinh, tôn trọng những ý kiến, suy nghĩ của các
em trong quá trình lựa chọn nghề, cũng như trong quá trình trao đổi với chủ thể
tư vấn Chủ thể tư vấn phải hiểu rằng, mỗi học sinh đều có những lý do, hoàn cảnh, điều kiện riêng khi các em đưa ra những nhận định, suy nghĩ của bản thân
Vì vậy, bất kỳ một ý kiến nào của các em, chủ thể tư vấn cũng cần tôn trọng các
em để quá trình tư vấn nghề diễn ra một cách thoải mái và hiệu quả
* Linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình tư vấn: Trong khi thực hiện các
bước, các giai đoạn của quá trình tư vấn, không nhất thiết chúng ta phải theo thời gian cố định và những nội dung cố định, mà ở đây chủ thể tư vấn cần phải linh hoạt tùy thuộc vào khả năng của học sinh Trong từng nội dung nếu như học sinh
đã đạt được mức độ cao ở nội dung nào thì chủ thể tư vấn có thể bỏ qua bước đó
và chuyển sang bước tiếp theo Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các bước nếu như cần thiết phải quay lại bước trước, chủ thể tư vấn vẫn phải quay trở lại để thực hiện nó Tức là, chủ thể tư vấn có thể quay lại bất kỳ bước nào nếu thấy cần thiết Trong quá trình tư vấn có thể tư vấn nhóm trước, cá nhân sau hoặc ngược lại, hoặc cũng có thể tư vấn song song cả cá nhân và nhóm
1.3.3.2 Các hình thức, phương pháp tư vấn nghề cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề
a - Hình thức tư vấn nghề:
Đối tượng của hoạt động TVN ở các trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề là học sinh THPT, các em chưa có kinh nghiệm chọn nghề, chưa từng lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nào Do vậy hoạt động tư vấn nghề phải có những hình thức tư vấn cho phù hợp Mặt khác hoạt động TVN đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, nhiều lần và có quá trình nhất định thì mới có thể làm thay đổi, cải biến nhận thức hoặc mới có đủ thời gian,
độ chín trong nhận thức
Trang 39Thông thường hoạt động TVN cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề được tổ chức dưới hai hình thức cơ bản:
- Thứ nhất, tư vấn nghề trực tiếp tại chỗ, hình thức được thực hiện ngay
tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Ở hình thức này các trung tâm có thể mời trực tiếp các chuyên gia tại các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề, doanh nghiệp… về tại trung tâm để tư vấn trực tiếp cho toàn thể học sinh và các cá nhân học sinh riêng lẻ Bên cạnh đó, Giám đốc Trung tâm cũng chỉ đạo đoàn thanh niên tổ chức hoạt động thực hiện nhiệm vụ tư vấn nghề cho học sinh Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và
xã hội để tư vấn nghề cho học sinh
- Thứ hai, tư vấn nghề gián tiếp, hình thức này được thực hiện thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng tại trung tâm như: bảng tin (dán thông tin,
áp phích giới thiệu về ngành nghề của một số trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; thông tin về điểm sàn, điểm chuẩn…), đài phát thanh, báo chí, điện thoại, mạng internet…v.v
b - Phương pháp tư vấn nghề:
Bên cạnh các hình thức tư vấn nghề ở trên, các phương pháp tư vấn nghề cho học sinh ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề cũng được áp dụng đa dạng, phong phú, thường xuyên có sự đổi mới, cho phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh và sự biến đổi của các lĩnh vực của đời sống xã hội Các phương pháp tư vấn nghề được sử dụng phổ biến như:
b1 Phương pháp Test (trắc nghiệm)
Trong tư vấn nghề, có thể sử dụng những trắc nghiệm thông dụng sau:
- Nhóm test trí tuệ: Gồm test Raven, test Wechsler, test Binet - Simon, test của Salfret (Mỹ) nhằm đánh giá sự phát triển trí tuệ học sinh các lứa tuổi
- Nhóm test đo các rối loạn về sắc giác: Gồm test Ishihara (Nhật Bản), test Rabkin (Liên Xô) hoặc phương pháp chọn mầu của Homlmgrim
Trang 40- Nhóm test đo tính tập trung, bền vững, khối lượng và sự di chuyển của chú ý Gồm test đo tính tập trung chú ý; test đo tính bền vững chú ý (theo Riss); test đo tính bền vững của chú ý (theo Buordon); test đo tính bền vững chú ý khi lao động trí óc (theo E.kraepelin), test đo khả năng di chuyển chú ý (Bảng số đỏ
và đen của I.H.Shultz)
- Nhóm test đo trí tưởng tượng và năng lực tưởng tượng không gian
- Nhóm tesr đo tư duy kĩ thuật (tư duy thao tác, tư duy không gian…)
- Nhóm test đo vận động, phối hợp vận động
- Nhóm test đo hứng thú nghề nghiệp (Trắc nghiệm A E Gôlômstoc 78 câu hỏi)
- Nhóm test đo khí chất, tính cách bằng trắc nghiệm H.J.Eysenck hoặc trắc nghiệm của John Holland)
- Nhóm test đo các loại năng lực cá nhân
- Nhóm test đo các phẩm chất nhân cách
- Nhóm test đo khả năng giao tiếp
b2 Sử dụng dụng cụ, máy móc
Ở nhiều nước, trong công tác tư vấn, người ta đã sử dụng những máy móc phức tạp, tinh vi để chẩn đoán những phẩm chất tâm lí cần thiết cho những nghề phức tạp như phi công, thợ lặn, kĩ sư thiết kế, kĩ sư thi công, kĩ sư công nghệ… Ở nước ta, có thể sử dụng những máy móc đơn giản, tự chế cho công tác này, như dụng cụ đo độ rung của tay, thời gian phản ứng, sức bền bỉ, dẻo dai cơ, thời gian phản xạ… các dụng cụ đo nhân trắc (thước đo Martin, thước cuộn Lufkin…)
b3 Phương pháp điều tra
Mục đích nhằm làm bộc lộ nguyện vọng, khuynh hướng, hứng thú nghề nghiệp, khả năng học tập của HS… Cán bộ tư vấn thường đề ra cho HS và phụ huynh một hệ thống các câu hỏi, ghi kết quả, xử lí, có sử dụng toán thống kê Phương pháp này thường áp dụng cho một số đông đối tượng cần điều tra