Hệ thống các từ ngữ xưng hô không chỉ được sử dụng trong giao tiếp đời sống hàng ngày mà còn được các nhà văn, nhà thơ sử dụng hết sức tinh tế trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là ngô
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THANH VÂN
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THANH VÂN
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Hảo
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luâ ̣n văn “Từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng”
là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả của đề tài là trung thực và chưa đươ ̣c công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào
Nội dung của luâ ̣n văn có sử du ̣ng tài liê ̣u, thông tin đươ ̣c đăng tải trên các tác phẩm, ta ̣p chí, các trang web theo danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo
củ a luâ ̣n văn
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chi ̣u trách nhiê ̣m
Ta ́ c giả luâ ̣n văn
Dương Thanh Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phạm Văn Hảo về sự hướng dẫn tâ ̣n tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiê ̣m của thầy trong toàn bô ̣ quá trình em hoàn thành luâ ̣n văn
Em xin trân trọng cảm ơn sự ta ̣o điều kiê ̣n giúp đỡ của Ban chủ nhiê ̣m Khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo Phòng đào tạo Trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiê ̣n đề tài luâ ̣n văn này Xin được cảm ơn những thầy cô đã trực tiếp giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ khóa
2015 - 2017
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, ba ̣n bè, người thân đã đô ̣ng viên và giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luâ ̣n văn
Ta ́ c giả luâ ̣n văn Dương Thanh Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc luận văn 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề xưng hô 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tác phẩm Vi Hồng 7
1.2 Cơ sở lý luận 10
1.2.1 Giới thuyết về phạm trù xưng hô 10
1.2.2 Lý thuyết giao tiếp 28
1.2.3 Lý thuyết hội thoại 33
1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Vi Hồng 37
1.3.1 Cuộc đời nhà văn Vi Hồng 37
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng 38
Tiểu kết chương 1: 40
Trang 6Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG VĂN XUÔI
VI HỒNG 42
2.1 Từ ngữ xưng hô qua ngôn ngữ đối thoại của nhân vật 42
2.1.1 Thống kê hệ thống từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng 42
2.1.2 Từ ngữ xưng hô xét về các vai giao tiếp 54
2.2 Từ xưng hô qua ngôn ngữ trần thuật của tác giả 56
2.2.1 Từ “lão” 57
2.2.2 Từ “hắn” 61
2.2.3 Từ “mụ” 63
2.2.4 Từ “chàng”, “nàng” 65
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 73
3.1 Dùng từ xưng hô thể hiện văn hóa dân tộc Tày 73
3.1.1 Văn hóa gắn bó tự nhiên, sùng bái thần linh 74
3.1.2 Văn hóa cộng đồng, làng bản 81
3.2 Dùng từ xưng hô thể hiện bản chất con người miền núi 86
3.2.1 Dùng từ xưng hô thể hiện tính cách chân thật, hiền lành, chất phác, ngay thẳng 87
3.2.2 Dùng từ xưng hô thể hiện tâm hồn lãng mạn, bay bổng 90
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Từ ngữ xưng hô phân loại theo nhóm 43
Bảng 2.2 Đặc điểm cấu tạo của đại từ nhân xưng 45
Bảng 2.3 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ thân tộc 46
Bảng 2.4 Cấu tạo của nhóm từ ngữ chỉ tên riêng 48
Bảng 2.5 Cấu tạo của từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp 50
Bảng 2.6 Vai giao tiếp trong từ ngữ xưng hô 54
Bảng 2.7 Từ ngữ xưng gọi xét về vai giao tiếp trong các tác phẩm 55
Trang 8mà nó còn thể hiện chiến lược và hiệu quả giao tiếp Xưng hô đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy giao tiếp phát triển Ngược lại, xưng hô không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả không mong muốn trong giao tiếp Qua cách sử dụng từ xưng
hô người ta có thể biết được tình cảm, thái độ, mối quan hệ, trình độ học vấn của các nhân vật tham gia giao tiếp Có thể nói, xưng hô là yếu tố đầu tiên mà các vai giao tiếp cần phải lựa chọn để xác lập vị trí của mình Dựa vào xưng hô
mà quan hệ giữa các vai giao tiếp được thiết lập
Tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ xưng hô lớn và tùy thuộc vào đối tượng giao tiếp cũng như hoàn cảnh giao tiếp mà người Việt sử dụng những từ ngữ xưng hô khác nhau nhằm thực hiện những mục đích giao tiếp riêng Các từ ngữ này đóng góp lớn vào vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc và tạo nên đặc trưng tâm lý - văn hóa Việt
1.2 Hệ thống các từ ngữ xưng hô không chỉ được sử dụng trong giao tiếp đời sống hàng ngày mà còn được các nhà văn, nhà thơ sử dụng hết sức tinh
tế trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là ngôn ngữ đối thoại trong văn xuôi Dưới ngòi bút tài hoa, khéo léo của người nghệ sĩ, các lớp từ ngữ xưng hô trong các truyện ngắn, tiểu thuyết đa dạng và phong phú, qua đó thể hiện những cảm xúc hết sức thú vị Đồng thời những từ ngữ này trở thành những tín hiệu chuyên trở những mạch nguồn cảm xúc và thái độ của nhà văn đối với các nhân vật trong tác phẩm Một trong những nhà văn sử dụng hệ thống từ ngữ xưng hô
Trang 9hay và mang sắc thái địa phương sâu sắc nhất trong các sáng tác văn xuôi Việt Nam thời kì hiện đại chính là nhà văn Vi Hồng
1.3 Vi Hồng được biết đến là nhà văn viết về dân tộc và miền núi Với
số lượng các tác phẩm đồ sộ, đăc biệt là về tiểu thuyết, chưa có nhà văn dân tộc thiểu số nào vượt qua được ông Điểm nổi bật trong các tác phẩm của Vi Hồng
là cái nhìn hiện thực và con người miền núi luôn ở thế lưỡng cực với hai tuyến thiện, ác mang tính dân gian Tác phẩm của Vi Hồng không chỉ được khẳng định được vị thế ở trong nước mà giá trị của nó còn vượt ra ngoài biên giới
quốc gia (tác phẩm Vãi Đàng của Vi Hồng được dịch ra tiếng Nga in trong
Tuyển tập chọn lọc 6 nhà văn châu Á được ấn hành tại Liên Xô cũ) Tính từ tác
phẩm đầu tay năm 1959 đến lúc nhà văn qua đời năm 1997, Vi Hồng đã sáng tác được một số lượng tác phẩm không nhỏ Ông đã cho xuất bản 15 cuốn tiểu thuyết, 4 tập truyện vừa, 1 tập truyện ngắn, 7 cuốn sách nghiên cứu và sưu tầm văn học dân gian, gần 30 công trình nghiên cứu khoa học về sli lượn, dân ca, nghi lễ người Tày, Nùng Việt Bắc
Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công và nét đặc sắc trong văn xuôi Vi Hồng chính là cách sử dụng từ ngữ xưng hô một cách mới mẻ, phong phú, tinh tế và phù hợp với tư tưởng chủ đề của từng tác phẩm Các nhân vật của ông thường đối thoại với nhau bằng ngôn ngữ của thơ ca Đó là hình thức
“nói với nhau theo đường ong bay hoa nở”, theo lối nói “trai thanh gái nụ”
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày
Vì vậy, việc tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng vừa có ý nghĩa khoa học lại vừa có ý nghĩa thực tiễn Khảo sát, thống kê các từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng sẽ cung cấp, bổ sung thêm cái nhìn
cụ thể, chi tiết về hệ thống từ xưng hô trong văn hóa Tày - Nùng nói riêng và
hệ thống từ xưng hô tiếng Việt nói chung Đồng thời trên cơ sở phân tích có hệ thống các từ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng một lần nữa khẳng định được tài năng của nhà văn trong cách sử dụng linh hoạt, sáng tạo ngôn ngữ dân tộc Mặt
Trang 10khác, tìm hiểu cách sử dụng lớp từ ngữ này sẽ góp phần quan trọng trong công việc giảng dạy, nghiên cứu tác phẩm Vi Hồng hiệu quả và sâu sắc hơn Đó là
những lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài “Từ ngữ xưng hô trong văn
xuôi Vi Hồng” làm công trình nghiên cứu khoa học tốt nghiệp của mình
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận chung được sử dụng để nghiên cứu các
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các từ ngữ xưng hô, cách sử dụng và hiệu quả của chúng trong các tác phẩm văn xuôi của Vi Hồng
Phạm vi khảo sát tư liệu là 6 tiểu thuyết, 4 truyện ngắn, 1 truyện vừa và 2 truyện dài sau:
Trang 11- “Đất bằng” (1980), Tiểu thuyết, Nxb Tác phẩm mới (bao gồm 2 tiểu
thuyết: đất bằng và Vãi Đàng)
- “Người trong ống” (1990), Tiểu thuyết, Nxb Lao động
- “Dòng sông nước mắt” (1993), Tiểu thuyết, Nxb Hội văn học nghệ
thuật Bắc Thái
- “Tháng năm biết nói “(1993), Tiểu thuyết, Nxb Văn hóa dân tộc
- “Mùa hoa Bioóc loỏng” (1997), Tiểu thuyết, Nxb Thanh niên
- “Béc - Kha - Cải” (1988), Truyện ngắn (trích trong Vi Hồng tác phẩm
và dư luận, Nxb Đại học Thái Nguyên (2015)
- “Nghĩ sủi bọt đá” (1991), Truyện ngắn, (trích trong Vi Hồng tác phẩm
và dư luận, Nxb Đại học Thái Nguyên (2015)
-“Sự tích hang cứu tôi với” (1992), Truyện ngắn, (trích trong Vi Hồng
tác phẩm và dư luận, Nxb Đại học Thái Nguyên (2015)
- “Cọn nước Eng Nhàn” (1971), Truyện ngắn (trích trong Vi Hồng tác
phẩm và dư luận, Nxb Đại học Thái Nguyên (2015)
- “ Người làm mồi bẫy hổ” (1990), Truyện dài, Nxb Kim Đồng, Hà Nội
- “Đường về với mẹ chữ” (1998), Nxb Kim Đồng, Hà Nội (bao gồm truyện dài “Đường về với mẹ chữ” và truyện vừa - “Thách đố”)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê, phân loại các từ xưng hô
trong các tác phẩm khảo sát
- Phương pháp hệ thống: Xâu chuỗi các lớp từ xưng hô có cùng giá trị
ngữ nghĩa ngữ dụng, từ đó khái quát lại vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống hơn
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: thấy được cái hay, cái độc đáo của
lớp từ xưng hô trong tác phẩm văn học dưới ánh sáng của dụng học
- Thủ pháp so sánh: So sánh giá trị ngữ nghĩa ngữ dụng của các đại từ
nhân xưng và lớp từ xưng hô trong tiếng Việt với các từ này trong tác phẩm của
Vi Hồng
Trang 126 Đóng góp của luận văn
Khảo sát, miêu tả lớp từ xưng hô, luận văn đưa ra một góc nhìn có tính
hệ thống trong nghiên cứu sáng tác Vi Hồng Đó là nghiên cứu các từ ngữ xưng
hô và cách xưng hô trên phương diện hệ thống hóa Hướng nghiên cứu này, sẽ góp phần quan trọng trong việc tiếp cận văn xuôi Vi Hồng trên bình diện ngôn ngữ học
Luận văn đã khai thác các giá trị ngữ nghĩa ngữ dụng của các lớp từ xưng hô trong một số tác phẩm của Vi Hồng dưới ánh sáng của dụng học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng
Chương 3: Hiệu quả sử dụng từ ngữ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề xưng hô
Xưng hô từ lâu đã là vấn đề khá thú vị và thu hút được nhiều sự quan tâm của giới ngôn ngữ học Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã bước đầu tìm hiểu một số công trình, bài viết về từ xưng hô của một số tác giả Cụ thể là
công trình của Nguyễn Văn Chiến với “Từ xưng hô trong tiếng Việt”, Việt
Nam những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Trường
ĐHNN Hà Nội (1993); Hoàng Thị Châu với “Vài đề nghị về chuẩn hóa cách
xưng hô trong xã giao”, Tạp chí Ngôn Ngữ và đời sống, số 3(1995) Tác giả
Bùi Minh Yến với những công trình đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ: “Xưng hô
giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3(1990);
“Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số
3 (1993); “Xưng hô giữa ông bà và cháu trong gia đình người Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 (1994) Tác giả Phạm Ngọc Thưởng với công trình: “Về đại từ
nhân xưng ngôi thứ 3”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10 (1994); “Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Tày- Nùng”, Tạp chí Dân tộc học, số
1(1995) Tác giả Phạm Văn Tình với “Nhân xem bảy sắc cầu vồng bàn thêm về
cách xưng hô trong nhà trường”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (1997);
Phạm Văn Hảo với “Từ xưng gọi trong phương ngữ Bắc”, Tạp chí Ngôn ngữ
và đời sống, số 1 và số 2 (2011) Đặc biệt, đã có các công trình luận văn, luận
án nghiên cứu về xưng hô: Lê Thanh Kim với “Từ xưng hô và cách xưng hô
trong các phương ngữ tiếng Việt từ góc nhìn của lý thuyết xã hội ngôn ngữ học”, Luận án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội (2000); Phạm Ngọc Thưởng
với “Cách xưng hô trong tiếng Nùng”, Luận án tiến sĩ, trường Đại học Sư phạm
Trang 14Hà Nội; Bùi minh Yến với “Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã
hội của người Việt”, Luận án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội
Điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi nhận thây rằng, các tác giả tập trung nghiên cứu từ xưng hô dưới góc nhìn đa chiều Có thể thấy rằng, ở những công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến từ xưng hô và tập trung phát triển theo ba hướng:
Thứ nhất: bàn về xưng hô ở góc độ lí luận chung về ngữ pháp học
Thứ hai: bàn về xưng hô được sử dụng trong các phạm vi: gia đình và ngoài xã hội
Thứ ba: Từ xưng hô được nghiên cứu từ góc độ đối chiếu
Tuy nhiên, theo khảo sát ban đầu của chúng tôi thì hướng nghiên cứu từ xưng hô trong các tác phẩm văn học - một hướng tiếp cận mang tính trường hợp
về từ xưng hô chưa được quan tâm, nghiên cứu nhiều Gần đây, một số công trình đã tập trung vào nghiên cứu từ xưng hô trong văn học: Trần Ngọc Mi
(2009) với “Từ xưng hô trong tác phẩm Nam Cao”; Vũ Thị Lệ Tuyết (2012) với
“Từ ngữ xưng gọi trong thơ Tố Hữu” Song, theo chúng tôi được biết, đến nay
vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về từ xưng hô trong văn xuôi Vi Hồng
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tác phẩm Vi Hồng
Vi Hồng là nhà văn tiêu biểu, đã có những đóng góp không nhỏ vào nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung và nền văn học dân tộc thiểu số nói riêng Với sự nghiệp văn chương dày dặn so với nhiều nhà văn dân tộc thiểu số nên sáng tác của Vi Hồng đã trở thành nguồn đề tài phong phú, hấp dẫn cho giới nghiên cứu phê bình văn học Đánh giá về tiểu thuyết Vi Hồng, Tác giả Dương
Thuấn trong bài “ Nhìn lại văn học dân tộc Tày”, Tạp chí nghiên cứu văn học
số 5 - 2006, nhận định: Vi Hồng là “Tác giả đáng chú ý nhất trong nền văn học
Việt Nam hiện đại” Đã có không ít công trình nghiên cứu khoa học về tác
phẩm của Vi Hồng trên phương diện nội dung và nghệ thuật cũng như những đóng góp của ông trong nền văn học dân tộc
Trang 15Về nội dung:
Hình ảnh con người miền núi chính là phương diện được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu nhất trong tiểu thuyết của Vi Hồng Trong luận văn thạc sĩ
Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng (2003), Hoàng Văn Huyên đã chỉ ra
ba đặc điểm cơ bản của con người miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng là: con người giàu sức sống bền bỉ và mạnh mẽ; con người thật thà, bộc trực và khẳng khái; con người giàu khát vọng về tình yêu tự do và chung thuỷ Trong
luận văn thạc sĩ Đặc điểm tiểu thuyết Vi Hồng (2011), Thiều Thị Phương Nga
đã chỉ ra năm đặc điểm của con người miền núi, đó là: con người với số phận bi kịch, con người lí tưởng - con người tận thiện, con người xấu xa - con người tận ác, con người bản năng và con người tha hóa
Yếu tố thiên nhiên và các giá trị văn hóa trong tiểu thuyết của Vi Hồng
cũng đã được một số tác giả đề cập đến Trong bài viết Ảnh hưởng của văn hóa
dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng, tác giả Hoàng Thị Minh
Phương đã chỉ ra thiên nhiên trong tiểu thuyết của Vi Hồng là bức tranh đa
dạng vừa mang vẻ đẹp hoang sơ vừa mang nét bí hiểm Hai tác giả Trần Thị
Ngọc Anh, Nguyễn Thị Vân Anh trong Biểu tượng về thiên nhiên như một diễn
ngôn về văn hóa Tày trong tiểu thuyết Vi Hồng đã chỉ ra sự gắn bó mật thiết
giữa con người và thiên nhiên trong tác phẩm Vi Hồng Trong Tìm hiểu sự
nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng, tác giả Phạm Mạnh Hùng đã chỉ ra sự
trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương của Vi Hồng
Về nghệ thuật:
Nghệ thuật xây dựng nhân vật là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt Nhà văn Hồ Thủy Giang đã nhận xét Vi Hồng khi khắc họa nhân vật ít đề cập đến sự phức tạp của tâm lí mà nghiêng về khắc họa những nét đẹp
thuần khiết của tâm hồn Trong bài giới thiệu tác phẩm “Người trong ống”, tác
giả Nguyễn Long đưa ra nhận xét về cách xây dựng nhân vật chính diện và phản diện trong tiểu thuyết Vi Hồng
Trang 16Về phương diện ngôn ngữ Tác giả Nông Thị Huyền Trang trong Đặc
điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng đã chỉ ra một số lớp từ ngữ thể hiện đặc
điểm văn xuôi Vi Hồng và các phương thức sử dụng ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng
Về lời văn nghệ thuật, tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền trong “Lời văn nghệ
thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng” đã nhấn mạnh một số phương diện tổ chức
lời văn nghệ thuật TS Ngô Thu Thủy trường ĐHSP Thái Nguyên trong
“Giọng điệu trần thuật trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của Vi Hồng” đã đưa
ra một số nhận xét về giọng điệu trong tiểu thuyết Vi Hồng
Ngoài ra, khi tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có một số công trình đã đi
vào nghiên cứu một số phương diện cụ thể trong sáng tác Vi Hồng đó là: Tính
dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng, Luận văn thạc sĩ của Hoàng Văn Huyên
(2003); Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng, Luận văn thạc sĩ của
Ma Thị Ngọc Bích (2004); Bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ tác phẩm Vi Hồng của tác giả Phạm Mạnh Hùng (2006); Giọng điệu trần thuật trong một số tiểu
thuyết của Vi Hồng của Ngô Thu Thuỷ (2006); Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng, Luận văn thạc sĩ của Nông Thị Huyền Trang (2012)
Một số công trình nghiên cứu về đóng góp của Vi Hồng trong thành tựu
chung của văn học dân tộc thiểu số như: Tác giả Lâm Tiến với Văn học các dân
tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995), NXB Văn hoá dân tộc; Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng, số 13 - 14 (2007), báo Văn nghệ Thái Nguyên; tác
giả Dương Thuấn với Nhìn lại văn học Tày (2006) tạp chí nghiên cứu văn học
số 5; tác giả Phong Lê với Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam (1998), NXB Văn hoá dân tộc; các tác giả Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng với Bản sắc
văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam,
NXB Đại học Thái Nguyên
Một số công trình nghiên cứu về toàn bộ sáng tác của Vi Hồng như: Kỉ
yếu hội thảo Nhà Văn Vi Hồng, Hội VHNT Thái Nguyên & Khoa Ngữ văn
Trang 17ĐHSP Thái Nguyên đồng tổ chức (2006); Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà
văn Vi Hồng, đề tài nghiên cứu KH cấp bộ của Phạm Mạnh Hùng (2006); Vi Hồng tác phẩm và dư luận (2015), Nxb Đại học Thái Nguyên
Nhìn lại một cách tổng quát, chúng tôi nhận thấy các công trình, bài báo nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Vi Hồng được tập trung khá rõ ở những phương diện khác nhau như: nghiên cứu về giá trị nội dung, về tính dân tộc trong tác phẩm; nghiên cứu về một số phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Vi Hồng Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa thấy có một công trình nghiên
cứu nào đề cập một cách cụ thể và chuyên biệt về Từ ngữ xưng hô trong văn
xuôi Vi Hồng Công trình này mong muốn đóng góp thêm một tiếng nói vào
quá trình nghiên cứu, khám phá sáng tác của nhà văn Vi Hồng
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Giới thuyết về phạm trù xưng hô
1.2.1.1 Khái niệm xưng hô
Xưng hô là một bộ phận của lời nói, là yếu tố không thể thiếu trong đối thoại trực tiếp Xưng hô như là một nghi thức giao tiếp quan trọng xác lập quan
hệ và vị thế xã hội trong giao tiếp giữa người nói với người nghe cùng với người được nói tới Trong giao tiếp, người nói dùng xưng hô như một phương tiện để tự thể hiện mình, để tác động đến người nghe và gián tiếp đạt được mục đích giao tiếp
Xưng hô không chỉ gắn liền mà còn chi phối và bị chi phối các nhân tố khi giao tiếp: người nói, người nghe, đối tượng được nói đến, hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp
Xưng hô là thuật ngữ chỉ việc tự gọi mình (xưng) và gọi người khác (hô) khi giao tiếp Xưng hô là một bộ phận của ngôn ngữ học xã hội, là sự tương tác của vai xã hội với vai giao tiếp, phản chiếu các mối quan hệ đa chiều từ gia đình đến xã hội của các cá nhân trong cộng đồng giao tiếp Đối với giao tiếp tiếng Việt, xưng hô giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Bản thân xưng hô
Trang 18không chỉ tường minh hóa các vai xã hội của người Việt, làm cho các hình thức xưng hô trở nên đa dạng và buộc người giao tiếp phải lựa chọn để thể hiện vai giao tiếp mà xưng hô còn thể hiện ý đồ, mục đích giao tiếp
Trong hệ thống ngôn ngữ, từ ngữ xưng hô được xem là một bộ phận khá phong phú và phức tạp Ngoài việc là đối tượng chính của ngữ pháp tiếng Việt,
từ xưng hô còn được nghiên cứu từ góc độ của hai phân môn: Ngữ dụng học và phong cách học tiếng Việt
Từ góc độ Ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Xưng hô là hành vi
chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với lời nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [5; 264]
Từ góc độ Phong cách học, Cù Đình Tú cho rằng: “Ngoài các đại từ
nhân xưng và các đại từ chỉ quan hệ họ hàng thân tộc thì còn lấy cả tiếng đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng cả cách nói trống không để xưng hô” [50; 166] Và cuối cùng ông đưa ra nhận xét:
“Trong tiếng Việt, từ xưng hô, cách xưng hô, và mô hình xưng hô là phương tiện biểu cảm, là phương tiện phong cách” [50; 168]
Theo Bùi Minh Yến: “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành
vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, đảm bảo hiệu lực hành vi” [50; 17]
Tác giả Phạm Ngọc Thưởng đã bóc tách nghĩa và xác định nhiệm vụ của
từng yếu tố trong khái niệm xưng hô như sau: “Xưng là hành động người nói
dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1) Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi 2)” [47; 12]
Trang 19Đại từ điển tiếng Việt đã định nghĩa xưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong thư từ” [54; 1880]
Từ điển tiếng Việt thì định nghĩa xưng hô là: “Tự xưng và gọi người khác
là ai đó với nhau nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai bên” [41; 1872]
Từ những định nghĩa trên, ta thấy có sự phong phú trong cách định nghĩa khái niệm xưng hô Tất nhiên, để thực hiện hành động xưng hô người nói cần phải có phương tiện để xưng hô và phương tiện ở đây chính là từ ngữ xưng hô
Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Nở đã định nghĩa: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao
tiếp” [35; 53]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Ngọc Điệp cho rằng: “Từ
xưng hô là những từ dùng để xưng gọi, với tư cách ngôi, một yếu tố có liên quan đến nhân tố giao tiếp Từ xưng hô dùng để chiếu vật và giao tiếp” [46; 30]
Từ những định nghĩa trên, chúng tôi đưa ra quan niệm: Từ xưng hô là
những từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi tham gia giao tiếp
Vấn đề xưng hô là câu chuyện không chỉ có ý nghĩa ngôn ngữ đơn thuần
mà nó còn là vấn đề văn hóa ứng xử của con người trong quá trình tiếp xúc với nhau Trong giao tiếp, các từ ngữ xưng hô vừa phải phù hợp với lĩnh vực của người tham gia giao tiếp vừa thể hiện vị thế xã hội, mức độ thân sơ, tính văn minh lịch sự của người nói với người tham gia hội thoại Chính vì vậy, trong một cuộc giao tiếp, từ xưng hô không cố định bất biến mà biến đổi linh hoạt tùy vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.2.1.2 Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt
a Phân chia theo từ loại
Từ xưng hô là một bộ phận trong hệ thống từ loại tiếng Việt, nên có thể thấy rằng phân chia từ xưng hô theo từ loại là cách phổ biến nhất được đông đảo các nhà Việt Ngữ sử dụng Tuy nhiên các tác giả lại có sự nghiên cứu tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau theo từng phân môn khác nhau:
Trang 20*Quan điểm của Ngữ pháp học
Các tác giả của Ngữ pháp học truyền thống thường đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô và chia thành hai nhóm: Đại từ xưng hô chuyên dụng và đại
từ xưng hô lâm thời
Theo tác giả Lê Biên, nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng được chia thành
ba ngôi: ngôi thứ nhất (người nói), ngôi thứ hai (người nghe), ngôi thứ ba (người, vật được nói tới) Trong mỗi ngôi tác giả lại chia theo tiêu chí số: số ít,
số nhiều, ngôi gộp hỗn số và các biến thể của nó Sự phân chia này được tóm tắt qua bảng sau đây:
Ngôi thứ
nhất (người
nói)
tao tôi
tớ mình
ta
ta mình chúng ta
chúng mình
chúng tao chúng tôi chúng tớ chúng mình chúng ta
tau (tao) tui (tôi) (1) (tôi) = choa, min, qua (2)
Ngôi thứ hai
(người nghe)
mày bay (mi)
chúng mày chúng bay
mi (mày) bây (bay) (1) mày : Bậu (2)
y thị
chúng nó
họ chúng
(nó) = va, nghi (2)
(1) : Biến thể ngữ âm
(2) : Biến thể từ vựng (phương ngữ)
Theo tác giả Lê Biên, nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng là các đại từ
xưng hô gốc, đích thực và nó có số lượng khá ít Các đại từ như: tao, ta, mày,
nó, hắn chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự (suồng sã, thô
tục, khinh thường, thân mật)
Trang 21Theo quan điểm của Ngữ pháp học, nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng
có những đặc điểm sau:
- Những từ tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tớ là những từ chuyên dùng làm
lời “xưng” của người nói
- Những từ mày, bay, cậu (tớ - cậu), (tao - mày) là những từ chuyên
dùng cho người nghe (gọi hô)
- Có những từ vừa dùng gộp cả lời nói (xưng) và người nghe (hô) như:
ta, chúng ta, chúng mình
- Đại từ “mình” có thể chỉ người nói, là đại từ nhân xưng Có thể chỉ
người nghe, cũng có thể chỉ người đã được nói đến trước đó ở trong câu, tức là
tự xưng của ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3
- Đại từ “nó” chỉ ngôi thứ ba, số ít, trung tính
- Đại từ “tôi” dùng để xưng trong giao tiếp xã hội, chỉ ngôi thứ nhất,
trung tính
Nhóm từ xưng hô lâm thời thì mỗi tác giả lại có cách những cách phân chia khác nhau Hai tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh và tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì
các từ xưng hô lâm thời bao gồm các danh từ thân tộc như: ông, bà, cha, mẹ,
anh, em, cô, bác Tác giả Đinh Văn Đức thì cho rằng từ xưng hô lâm thời còn
bao gồm cả những đại từ chỉ định như: đây, đấy, kia, kìa
Tác giả Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại đã gọi nhóm từ xưng
hô lâm thời là những “yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô” [4; 123]
Bao gồm:
- Những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: tôi, tớ, mình, hoặc
còn mang dấu ấn danh từ khá rõ: chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta
- Những danh từ lâm thời đảm nhận chức năng như đại từ, đó là những
danh từ chỉ những người thuộc quan hệ gia tộc, thân thuộc như: cụ, ông, bà,
cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô, dì, mợ, thím, anh, chị, em, con, cháu Những từ
như: trai, gái, ruột, họ không được sử dụng xưng hô trong gia đình và ngoài
Trang 22xã hội Hai yếu tố “nội, ngoại” chỉ được dùng trong xưng hô của phương ngữ
Nam bộ như một cách nói tắt
- Những từ: dâu, rể, vợ, chồng cũng không được dùng làm từ ngữ xưng hô
- Các danh từ: bạn, đồng chí: tính từ danh hóa: lão
- Các từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: giáo sư, tiến sĩ, đại tướng
- Các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: bác sĩ, tổ trưởng, chủ nhiệm
- Các tên riêng của người: Hằng, Nga, Hồng
- Các từ ngữ chỉ nơi chốn: ấy, đây, đấy, đằng ấy chẳng hạn: “này, đây
nói cho mà biết đấy mà không trả không xong đâu”
- Một số từ có nguồn gốc vay mượn: từ gốc Hán: Y, thị, chúng (là các từ
đã Việt hóa), huynh, đệ, đại ca (danh từ); Từ gốc Pháp: moa (moi), toa (toi)
Trong Ngữ học trẻ 2007, tác giả Nguyễn Minh Hoạt cho rằng khái niệm
“ngôi” theo ngữ pháp học của hai nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời “không xác định như các đại từ nhân xưng của tiếng Anh,
tiếng Pháp mà ngôi của các từ này chỉ xác định trong ngữ cảnh” [22; 197] Do
đó việc đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô là không thỏa đáng
*Quan điểm của Ngữ dụng học
Đỗ Hữu Châu là tác giả tiêu biểu đại diện cho quan điểm này Theo ông:
“Để xưng hô, ngoài các đại từ, các ngôn ngữ còn có thể dùng các từ thuộc từ
loại khác như tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, các từ chỉ quan hệ thân tộc, các từ chỉ không gian như đây, đấy, ấy, đằng này, thậm chí cả sự trống vắng từ xưng hô ) [5; 266] Cụ thể như sau:
- Đại từ nhân xưng: “Các đại từ nhân xưng tiếng Việt không có sự phân
chia rạch ròi về ngôi như trong tiếng Anh, gồm các đại từ: tôi, tớ, tao, tui, qua, mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi) choa chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị, va, chúng nó, nhau” [5; 266]
Theo Đỗ Hữu Châu, nhóm đại từ này có các đặc điểm sau:
Trang 23+ Đại từ nhân xưng phân chia theo ngôi mà chúng biểu đạt, nhưng để biểu đạt ngôi không nhất thiết bao giờ cũng phải dùng đại từ
+ Nghĩa chiếu vật của các đại từ (và các từ khác) chỉ ngôi thứ ba phải có mặt trong tiền ngôn cảnh
+ Trong các từ xưng hô của tiếng Việt có những từ chuyên ngôi và kiêm
ngôi Từ chuyên ngôi là những từ chỉ được dùng cho một ngôi: tôi, tớ, mày Từ kiêm ngôi là từ dùng được cho nhiều ngôi: Mình, ta
+ Có sự phân biệt đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp gồm một nhóm người, kể cả người nghe lấy người nói làm trung tâm Từ xưng hô không bao gộp gồm một nhóm người với người nói là trung tâm không kể
người nghe “Chúng ta” là đại từ bao gộp, “chúng tôi” là đại từ không bao gộp, “chúng mình” vừa là đại từ bao gộp vừa là đại từ không bao gộp
+ Các đại từ xưng hô thực sự tiếng Việt, kể cả những đại từ ngôi thứ ba
khác với các từ xưng hô lấy từ các từ thân tộc như: cha, mẹ, ông, bà, anh, em
ở chỗ chúng không mang nét nghĩa chỉ gia đình, họ tộc Chúng lập thành từng cặp tự xưng và đối xưng Cụ thể như sau:
tớ (cậu)
tao (tui) mày (mi)
ta mình
ta ngươi
chúng tao chúng mày, chúng bay, bay, bọn bay
choa (bầy choa) bay, chúng bay, bọn bay
Ngoài ra còn một vài cặp khác nữa Tất cả những cặp này đều mang nét nghĩa hoặc khinh thị, hoặc thân tình Chính những nét nghĩa kèm theo này khiến cho tiếng Việt không có cặp đại từ xưng hô thực sự trung tính chỉ vai như
trong tiếng Anh (I- You) Đại từ “Tôi” trong tiếng Việt vốn được xem là trung
tính nhưng lại không lập thành cặp với bất kì đại từ ngôi thứ hai nào khác
Ngược lại, “tôi” lại lập thành cặp với tất cả các từ thân tộc dùng để xưng hô
Trang 24(tôi - anh, tôi - chị, tôi - ông ), nó luôn luôn là một đại từ đối thoại, trong khi
“mình”, “ta” có thể dùng trong độc thoại Trong một cặp đại từ, đại từ ngôi thứ
nhất khống chế đại từ ngôi thứ hai và ngược lại
+ Các đại từ xưng hô tiếng Việt không phân định về tuổi tác, về giới tính Ngoài hai nét nghĩa thân tình và khinh thị đi kèm với nghĩa vai, đại từ xưng hô
còn có sự đối lập về số: choa, bay và các đại từ có hình vị: chúng, bọn, bầy,
(bi) đều có nghĩa số nhiều, còn lại là số ít
+ Đại từ xưng hô chính thức tiếng Việt chỉ được dùng ngoài xã hội trong ngữ vực cực thân tình hoặc xung đột, một ngữ vực chưa được đưa vào bảng xếp loại các ngữ vực
- Các từ chỉ quan hệ thân tộc: “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt
là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyết thống, nội ngoại
xa gần với nhau” [5; 274] Trong “Đại cương ngôn ngữ học”, Đỗ Hữu Châu
chia đại từ thân tộc trong tiếng Việt thành ba nhóm: thứ nhất là nhóm gồm
những từ như: u, bầm, bủ, tía, ba, má ; thứ hai là nhóm gồm các từ như: anh,
chị, em, chú, bác, cha, mẹ, cháu, con ; thứ ba là nhóm gồm các từ như: anh
họ, ông nội, chị họ, dâu, rể
ra hai cách sử dụng từ thân tộc để xưng hô, đó là xưng hô trong gia đình, họ tộc
và xưng hô ngoài xã hội
“Các từ thân tộc khi dùng thay cho đại từ xưng hô có thể dùng để xưng hô giữa những người trong gia đình, họ tộc và giữa những người ngoài
xã hội” [5; 281]
Trang 25 Xưng hô trong gia đình họ tộc: Theo Đỗ Hữu Châu, có hai cách xưng
hô bằng từ thân tộc: xưng hô theo chỉ xuất chủ quan và xưng hô theo chỉ xuất khách quan
Khi xưng hô theo chỉ xuất chủ quan, ngôi thứ nhất tự đồng nhất mình với
Ego “Ego cũng tức là điểm mốc, là trung tâm định vị của các từ thân tộc” [5; 277]
Xưng hô theo chỉ xuất khách quan còn được gọi là xưng hô thay ngôi lối nói này thường chỉ được dùng trong ngữ vực cực thân tình và hoàn toàn trong không khí gia đình, không có sự có mặt của những người ngoài gia đình, họ hàng
Có thể nói, từ “tôi” trong xưng hô gia đình, họ tộc là sự xã hội hóa xưng
hô gia đình, họ tộc
thân tộc để xưng hô với người ngoài gia đình, họ tộc, đó là: Xưng hô thân tộc hóa và xưng hô phi thân tộc hóa
Xưng hô thân tộc hóa tức là cách người nói mượn một quan hệ thân tộc nào đó, tự đặt mình và người tiếp thoại của mình vào rồi dùng các từ thân tộc tương ứng mà tự xưng vào đối xưng
Cách xưng hô thân tộc hóa thường chỉ được dùng khi giữa người nói và người tiếp thoại có sự chênh lệch về tuổi tác và vị thế xã hội
Xưng hô phi thân tộc hóa nghĩa là người nói không đặt mình với người tiếp thoại của mình vào một quan hệ thân tộc nào cả, tự xưng và đối xưng như những người ngoài xã hội với nhau Đối với ngôi thứ nhất, khi xưng hô phi
thân tộc hóa với người ngoài thường tự xưng “tôi” và đối xưng bằng các từ thân tộc khác như: cụ, ông, bà, bác, cô, anh, chị, em, con
Theo Đỗ Hữu Châu: “Bốn danh từ thân tộc: anh, chị, ông, bà là lõi xưng
hô của các từ thân tộc, chúng là những yếu tố để tạo ra các biểu thức xưng hô khác, ngoại trừ biểu thức xưng hô dùng đại từ xưng hô” [8; 78]
Trang 26- Tên riêng: trước đây, ở Việt Nam có nhiều loại tên: tên hèm (tên cúng
cơm), tên húy, tên thụy, tên tự, tên hiệu, tên tục Với những người theo đạo Thiên chúa còn có tên thánh, các Phật tổ thường có pháp danh
Theo Đỗ Hữu Châu, hiện nay xưng hô trong đời thường thường được dùng là các tên chính hay còn gọi là tên khai sinh Ngoài ra còn có cách xưng
hô bằng tiểu danh để gọi các trẻ khi còn nhỏ (cu, cò, hĩm, tí, cún ) Tên chính
phổ biến là một âm tiết, nhiều người có tên chính hai âm tiết Đàn bà khi chưa
có con được gọi bằng tên chồng Khi có con, bố và mẹ thường được gọi bằng tên của con đầu lòng Tuy nhiên cả hai cách gọi bằng tên chồng và tên con ngày nay không phổ biến nữa
Tên chính có thể dùng độc lập một mình để tự xưng đối xưng và tha xưng Người Việt ta có tục kiêng kị gọi tên tục Trước đây với những trường hợp xung đột dữ dội, người ta mới lôi tên tục ra mà chửi Ngày nay, đối xưng
và tha xưng người có vị thế xã hội cao trong xã hội hoặc trong gia đình, họ tộc chỉ bằng tên riêng là vô lễ với người đó
Cách xưng hô tên riêng có thể kết hợp với những yếu tố khác
Từ thân tộc + tên riêng
Từ thân tộc + từ chức danh, nghề nghiệp + tên riêng
- Từ chỉ người theo chức danh, nghề nghiệp
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ chức danh, nghề nghiệp lập thành bốn kết cấu
sau đây để xưng hô:
Thứ nhất: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng một mình;
Thứ hai: Từ chức danh nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ
“ngài” từ “quan” ở trước;
Thứ ba: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng với tên riêng ở sau;
Thứ tư: Từ chức danh nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ
“ngài” từ “quan” ở trước và tên riêng ở sau” [5; 300]
Cũng theo tác giả thì cả bốn kết cấu trên đều có thể được dùng để tha xưng với các sắc thái biểu cảm, trong những thoại trường, trong ngữ vực và
Trang 27quan hệ liên cá nhân khác nhau Đáng chú ý là việc dùng các kết cấu từ chức danh, nghề nghiệp để đối xưng
Kết cấu thứ nhất được dùng rất có hạn Trước đây, kết cấu này hầu như
không bao giờ được dùng một mình để đối xưng (trừ trường hợp “bá tước”,
“nam tước”) hiện nay kết cấu từ chức danh, nghề nghiệp một mình đã được
dùng để đối xưng: Bộ trưởng, chủ tịch, bác sĩ
Kết cấu thứ hai được dùng khá phổ biến và bắt buộc trước cách mạng tháng Tám Đây là những kết cấu đối xưng và tha xưng dùng cả trong gia đình,
thân tộc và ngoài xã hội: Anh Cu Bưởi, Bà phán, ông lớn, anh kiểm lâm
Kết cấu thứ ba và kết cấu thứ tư trước đây và hiện nay đều không được dùng để đối xưng, chủ yếu chỉ được dùng để tha xưng Chúng cũng được dùng
để thưa hoặc giới thiệu những người có vị thế xã hội cao: chủ tịch nước Nguyễn
Văn A, bộ trưởng bộ giáo dục Trần Văn B
- Bán đại từ: tên gọi này được Đỗ Hữu Châu tạm dùng để chỉ những từ
xưng hô tiếng Việt không phải là từ thân tộc, cũng không phải là các đại từ
thực sự
Theo tác giả, có ba nhóm đại từ:
+ Thứ nhất là các từ như: ngài, người, trẫm, khanh, thiếp, chàng, nàng Ngày nay, từ “ngài” được dùng kết hợp với chức danh hoặc tên riêng để
đối xưng hoặc tha xưng trong lĩnh vực quy thức, nhất là đối với người nước
ngoài “Người” dùng để tha xưng với các thần tượng “Tiên sinh” ngày nay không được dùng để đối xưng và tha xưng nữa “Trẫm, khanh” là từ vua tự
xưng và đối xưng với quan lại
+ Thứ hai là những tổ hợp từ Hán Việt như: ngu đệ, hiền huynh
Trong nhóm này có những từ được dùng để tự xưng theo nguyên tắc tự hạ:
ngu đệ, ngu huynh, hạ quan, hạ dân có những từ chuyên dùng để đối xưng theo
nguyên tắc hô tôn: hiền đệ, hiền huynh hoặc chuyên dùng để tha xưng cũng theo nguyên tắc hô tôn: lệnh huynh, lệnh đệ Tất cả nhóm từ thứ hai này chỉ dùng
trong văn viết, không được dùng trong giao tiếp miệng đời thường
Trang 28+ Thứ ba là những từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp có từ chỉ
xuất không gian ở sau để tự xưng: (đây, thằng này, con này), để tha xưng: (đấy, đằng ấy) Những bán đại từ này được dùng trong ngữ vực thân tình
hoặc xung đột
Các bán đại từ bị đánh dấu chặt chẽ về ngôi, không có hiện tượng kiêm
ngôi “Lệnh huynh, lệnh tỉ” bao giờ cũng dùng để nói tới anh hoặc chị của
người tiếp thoại
*Quan điểm của Phong cách học
Quan điểm của các nhà Phong cách học khá giống với quan điểm của các nhà Ngữ dụng học, nhưng có khác với quan điểm của các nhà Ngữ pháp học Các nhà Phong cách học không đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô như các nhà Ngữ pháp học, nhưng phạm vi nghiên cứu về các từ loại khác nhau được dùng để xưng hô thì khá ít so với các nhà Ngữ dụng học
Tác giả Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt đã cho rằng: “Bên cạnh các đại từ nhân xưng: tôi, tao, ta, chúng tôi, chúng ta,
chúng tao, chúng ông, chúng anh, chúng chị (ngôi 1), mày, bay, chúng mày, chúng bay (ngôi 2), nó, hắn, y, va, nghỉ, chúng nó (ngôi 3), tiếng Việt còn lấy tất
cả các từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc dùng làm từ xưng hô như: cụ, ông, bà, cha, chú, cụ, bác, thím, cô, dì, cậu, mợ, anh, em, chị, cháu ” [50; 166]
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt cũng có những nhận xét khá giống với Cù Đình Tú Tác giả viết: “Bên cạnh các đại từ nhân
xưng (tôi, tao, mày, nó/ hắn ) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đình huyết tộc (ông, bà, cha, mẹ, con, cháu ) để xưng hô” [31; 170]
Đinh Trọng Lạc đã sắp xếp các đại từ xưng hô như sau:
Trang 29Ngoài các đại từ xưng hô, các từ chỉ quan hệ họ hàng, thân tộc Hai tác giả Cù Đình Tú và Đinh Trọng Lạc còn cho rằng các từ chỉ chức tước của cá
nhân, tiếng đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị), tên riêng, những từ trống (người ta, đây, đấy, đằng ấy ) và cách nói trống không zero còn được dùng để
xưng hô
b Phân chia theo phạm vi sử dụng
Theo tác giả Lê Biên: “Có thể chia những từ xưng hô tiếng Việt thành
hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau: Những từ xưng hô dùng trong gia đình thân tộc và những từ xưng hô dùng ngoài xã hội” [4; 127]
- Những từ xưng hô dùng trong gia tộc, thân tộc
Theo Lê Biên, trong quan hệ gia tộc, thân tộc: “chủ yếu dùng các danh
từ thân thuộc, rất ít dùng đại từ xưng hô gốc, theo một tôn ti chặt chẽ, tương đôi ổn định” [4; 127]
Giống như các khuôn hình sẵn có, ràng buộc mọi người phải chấp nhận tuân theo, các từ xưng hô cũng phản ánh các quan hệ: thứ bậc (trên/ dưới), tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội Trong đó quan hệ thứ bậc quyết định và chi phối các quan hệ khác Tác giả cho rằng cái tôn ti trật tự trên ra trên, dưới ra dưới chi phối cách ứng xử xưng hô Cho dù người đó có địa vị cao trong xã hội thì
“nhập gia phải tùy tục” Do đó, những đại từ xưng hô đích thực (tao, mày, nó) chỉ thể hiện quan hệ một chiều: tao (trên), nó, mày (dưới) chỉ dùng nói về những người ở bề dưới, “tôi” chỉ những người ở bậc trên được dùng để xưng
với những người ở bậc dưới
Cũng theo tác giả, trong phạm vi thân tộc, các từ: ông, bà, bố, mẹ, chú,
bác, cô, anh, em, chị, con, cháu được dùng với ý nghĩa gốc, cơ bản của chúng
để xưng và hô với những người trong gia tộc
- Những từ xưng hô dùng ngoài xã hội
Việc sử dụng từ xưng hô ngoài xã hội thể hiện thái độ ứng xử giữa những người không có quan hệ huyết thống, gia tộc là rất phức tạp, đa dạng và
Trang 30phong phú Cho nên, theo Lê Biên “Cả hai lớp từ, đại từ xưng hô gốc và các từ
lâm thời làm đại từ xưng hô đều được sử dụng để bộc lộ một vị thế ứng xử xã hội nhất định” [4; 128]
Những từ xưng hô lâm thời như: ông, bà, bố, con, chị, em nguyên là
những danh từ chỉ quan hệ gia tộc, thân thuộc, dùng với nghĩa mở rộng để xưng hô trong giao tiếp ngoài xã hội với những người vốn không có quan hệ
họ hàng, thân thuộc gì với mình Những từ này, Lê Biên cho rằng trong giao
tiếp xã hội đều đã chuyển nghĩa, tức là không dùng nghĩa gốc cơ bản “Một số
từ có nội dung ý nghĩa khác xa nghĩa gốc ban đầu: ông, bà, anh, chị, em, cháu và có thể biểu lộ những sắc thái biểu cảm khác nhau: lịch sự trang trọng, thân mật suồng sã, thô tục ” [4; 129] Ngoài ra có một số từ có phạm
vi sử dụng thu hẹp lại, chẳng hạn như: hai từ “cha, con” dùng trong nhà thờ, nghi lễ Thiên chúa giáo; các từ “bố, mẹ, con” có thể dùng chỉ quan hệ thân mật giữa những người không cùng huyết thống hay các từ “thầy, cô, con, em”
dùng trong nhà trường
Theo tác giả Lê Biên: “Trừ những nghi thức lời nói, các dùng từ xưng hô
trong giao tiếp xã hội, như một cách ứng xử xưng “khiêm”, hô “tôn” nên rất linh hoạt, rất đa dạng” [4; 130,131] Ông cho rằng từ xưng hô dùng ngoài xã
hội còn có hiện tượng “gọi thay ngôi” và “xu hướng nâng bậc phân vai” Đó là một biểu hiện văn hóa của người Việt: chú trọng đề cao “vai” xã hội của đối tượng xưng hô theo tuổi tác và chức năng gia đình Chẳng hạn như trong gia
đình, con cái gọi cha mẹ là “ông, bà” khi người gọi đã có con và gọi thay con, cha mẹ gọi con hay vợ chồng gọi nhau theo kiểu: “Bố cái Hoa” hoặc “mẹ
Thảo” Đáng chú ý, theo quan niệm của Lê Biên thì cách xưng hô ngoài xã hội
tồn tại hai hình thức: xưng hô tương ứng, chính xác và xưng hô tương ứng không chính xác điều này được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Trang 31Ngôi 2
Anh (chị)
Cô (cậu)
Bác (chú)
Ông (bà)
về phạm vi sử dụng cũng như những nguyên tắc chi phối các dùng từ xưng hô trong tiếng Việt
1.2.1.3 Đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt
Từ trước đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt Trong đó nổi bật là những công trình nghiên cứu của các tác giả: Đỗ Hữu Châu, Phan Hồng Liên, Trương Thị Diễm, Lê Biên, Đinh Trọng Lạc
Theo Đỗ Hữu Châu: “Vì phải thể hiện quan hệ liên cá nhân cho nên các
ngôn ngữ mới có nhiều từ xưng hô và việc dùng từ xưng hô trở nên rắc rối” [8;
78] Ở đây, Đỗ Hữu Châu đề cập đến vai trò quan trọng của quan hệ liên cá nhân đã chi phối, sản sinh ra các từ xưng hô và điều đó làm cho hệ thống từ xưng hô phong phú, phức tạp
Trang 32Theo tác giả Phan Hồng Liên trong Để tiếng Việt ngày càng trong sáng
đã đưa ra nhận định: “Người Việt không chỉ sử dụng một nhóm từ xưng hô là
danh từ thân tộc mà sử dụng tất cả các nhóm từ xưng hô nhưng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể, tạo ra cho hệ thống từ xưng hô Việt Nam một diện mạo hết sức phong phú, mới mẻ” [32; 46]
Trong Ngữ học trẻ 2002, tác giả Trương Thị Diễm nhận định: “Cách sử
dụng từ xưng hô luôn luôn thay đổi theo sự thay đổi của xã hội Hệ thống ngôn ngữ nói chung và hệ thống từ xưng hô nói riêng luôn là hệ thống động và mở
Sự thay đổi về lượng của các yếu tố trong hệ thống xưng hô tất yếu kéo theo sự thay đổi về chất - cấu trúc của hệ thống” [12; 33] Theo tác giả sự phong phú
đa dạng của từ xưng hô do tính chất động và mở của hệ thống lớp từ này
Theo tác giả Lê Biên: “Các từ xưng hô phản ánh trực tiếp các mối quan
hệ gia đình thân thuộc và tính chất quan hệ xã hội; phản ánh trình độ nhận thức, thái độ tình cảm của người nói với người nghe, thậm chí còn có thể bộc lộ nhân cách con người” [4; 126] Theo tác giả, sự phong phú đa dạng của từ
xưng hô ngoài việc thể hiện ở hệ thống từ, còn được bộc lộ qua tác dụng, ý nghĩa của nó
Trong Phong cách học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Màu sắc biểu
cảm tu từ cực kì phong phú trong hệ thống đại từ nhân xưng và từ xưng hô phản ánh ý thức cộng đồng, ý thức huyết thống của dân tộc Việt Nam” [31; 175]
Từ những ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể rút ra được đặc điểm của
từ xưng hô trong tiếng Việt như sau:
Thứ nhất, từ xưng hô trong tiếng Việt có số lượng lớn, là một hệ thống
“động” và “mở”, không hạn chế và luôn biến đổi Ngoài các từ có chức năng
xưng hô thực thụ như các đại từ nhân xưng (tôi, ta, mình, nó ), trong tiếng
Việt còn có một số lượng lớn các từ ngữ xưng gọi khác như các danh từ thân
tộc (ông, bà, bác, bá, con, cháu ); từ chỉ chức vụ nghề nghiệp (anh bác sĩ, chú
phó phòng ); họ và tên riêng (Nguyễn Trường An, Bác Ngô ) và các từ ngữ
xưng gọi lâm thời khác (bông hoa út, con vàng con ngọc )
Trang 33Thứ hai, trong giao tiếp hàng ngày, các danh từ dùng làm đại từ xưng hô được dùng nhiều hơn, phổ biến hơn các đại từ xưng hô đích thực Đặc biệt, các danh từ thân tộc không chỉ dùng để xưng hô trong gia đình mà còn giao tiếp với
xã hội Vì vậy có thể nói: “Xưng hô trong xã hội Việt Nam mang tính gia đình
hóa cao” [32; 146] Đó là sự lấn át của các từ ngữ xưng gọi vốn xuất xứ từ các
danh từ chỉ thân tộc họ hàng Các danh từ thân tộc như: Anh, em, ông, bà, con,
cháu được dùng để xưng gọi trong gia đình, mối quan hệ huyết thống, hôn
nhân nhưng đồng thời cũng được vận dụng để biểu thị mối quan hệ giao tiếp ngoài xã hội Nguyên nhân của hiện tượng này là do trong giao tiếp người Việt luôn có thiên hướng lấy gia đình làm nơi khởi phát cho cộng đồng Trong phạm
vi gia tộc, các danh từ thân tộc được dùng với ý nghĩa chính xác của chúng để xưng và hô Nhưng trong giao tiếp xã hội, chúng có sự chuyển biến ý nghĩa rất mạnh mẽ
Thứ ba, từ xưng hô trong tiếng Việt mang tính tình thái cao, rất đậm sắc thái biểu cảm Dù là giao tiếp trong phạm vi gia đình hay ngoài xã hội thì người Việt thường bộc lộ trực tiếp quan hệ của người nói với người nghe với hiện thực khách quan Các từ xưng hô tiếng Việt rất ít khi mang sắc thái trung hòa
Số lượng các biểu thị sắc thái trung hòa rất ít Từ “tôi” là đại từ nhân xưng
tương đối trung hòa về thái độ biểu cảm, tuy nhiên trong đối thoại tạo thành các
cặp đối xưng với các từ khác (tôi - anh, tôi - ngài, tôi - cô) vẫn phần nào thể
hiện sắc thái biểu cảm Trong khi đó, số lượng các từ biểu thị nghĩa tình thái lại
khá nhiều: thân mật suồng sã (mày, tao, tớ, cậu ), trịnh thượng, ngạo mạn (ta,
ta đây ), lịch sự, trang trọng (ngài, vị ), mỉa mai, châm biếm, khinh thường (mụ, lão, thằng )
Thứ tư, từ xưng hô trong tiếng Việt có hiện tượng kiêm ngôi Nghĩa là không có tính thuần nhất về cách sử dụng, cùng một từ xưng hô nhưng khi
tham gia giao tiếp có thể tham gia vào các vai khác nhau (ta, mình )
Trang 34Thứ năm, hệ thống từ xưng hô tiếng Việt có hiện tượng đồng âm, đồng
nghĩa (tôi - tui, mẹ - má - bầm - bủ ) nên khi giao tiếp cần am hiểu cũng như
vận dụng linh hoạt vào cuộc thoại
Thứ sáu, các từ ngữ xưng gọi trong tiếng Việt được sử dụng trong giao tiếp thường mang đậm dấu ấn văn hóa vùng miền, văn hóa dân tộc Chính điều
đó làm cho lớp từ xưng hô trong tiếng Việt có những nét khác biệt cơ bản với những ngôn ngữ khác Trong các ngôn ngữ châu Âu, đại từ nhân xưng chiếm vị trí vô cùng quan trọng, là yếu tố trung tâm và ít mang sắc thái biểu cảm Ở tiếng Việt, đại từ nhân xưng chiếm một vị trí không đáng kể trong hệ thống các
từ xưng gọi, không phải là yếu tố trung tâm và khi sử dụng thường gắn với một tình thái nhất định Ở các ngôn ngữ châu Âu, ít có hiện tượng các danh từ thân tộc được chuyển sang làm từ xưng gọi Trong tiếng Việt thì hiện tượng này diễn ra phổ biến, trong cơ quan, công sở thay vì gọi theo chức vụ, nghề nghiệp,
người Việt vẫn thiên về sử dụng các từ thân tộc (anh, chị, em, cô, chú ) để thể
hiện sự gần gũi thân thiện
Thứ bảy, so sánh hoạt động của “xưng” và “hô” trong xưng hô tiếng Việt thì ta thấy từ “hô” kém linh hoạt hơn từ “xưng” Trong thực tế giao tiếp, một từ “xưng” thường cặp đôi với nhiều từ “hô” Ví dụ từ “em” có thể cặp với nhiều từ tạo thành các cặp xưng hô: em - anh, em - bô, em - mẹ, em - ông, em -
sếp, em - thầy Ngoài ra ta thấy rằng các từ “hô” thuộc nhóm chức danh, chức
vụ rất ít khi dùng ở vị trí “xưng”
Tóm lại, xưng hô là hành động ngôn ngữ có ý định, niềm tin, mục đích và chiến thuật Từ xưng hô phản ánh mối quan hệ gia đình, thân thuộc và các mối quan hệ ngoài xã hội Xưng hô phản ánh trình độ nhận thức, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe và đồng thời giúp bộc lộ tính cách con người
Việc sử dụng từ xưng hô trong tiếng Việt chịu sự chi phối từ nhiều nhân
tố như: nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, tình huống giao tiếp Bên cạnh
đó yếu tố xã hội như phong tục tập quán, văn hóa xã hội cũng tạo nên đặc điểm riêng cho xưng hô trong từng vùng miền nói riêng và cho tiếng Việt nói chung
Trang 351.2.2 Lý thuyết giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm giao tiếp
Theo Các Mác thì: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” và
sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp Nghĩa là các mối quan hệ xã hội này được biểu hiện rõ nhất trong giao tiếp Chính vì vậy, giao tiếp không chỉ là một hoạt động xã hội cơ bản mang tính tất yếu và đặc trưng mà nó còn đánh dấu sự phát triển vượt bậc của loài người Con người có thể giao tiếp thông qua rất nhiều các phương tiện khác nhau: âm thanh, ánh sáng, cử chỉ Trong các phương tiện đó thì ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và mang lại hiệu quả cao nhất Qua đó, con người có thể bày tỏ và trao đổi về tư tưởng nhận thức, thái độ tình cảm Có lẽ vì thế đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ về vấn đề giao tiếp
Tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là một hiện
tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể khác không phải là xã hội ” [3; 17]
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin
(bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động ) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định và một tình huống nhất định, bằng một
hệ thống tín hiệu nhất định” [8; 8]
Tác giả Nguyễn Như Ý đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Giao tiếp là sự
thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [54; 101]
Thực tế có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp Trong đề tài này, chúng tôi đồng tình với cách định nghĩa của Đỗ Hữu Châu Theo cách hiểu này, chúng ta thấy được vai trò quan trọng của giao tiếp đối với đời sống của
Trang 36con người Giao tiếp chính là điều kiện tồn tại và là nhu cầu đặc trưng sớm nhất
ở con người
1.2.2.2 Các nhân tố cấu thành hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp được cấu thành bởi rất nhiều yếu tố Theo GS Đỗ Hữu Châu, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ đáng chú ý là sự có mặt của các nhân
tố giao tiếp sau: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Trong khuôn khổ phạm vi
đề tài này, chúng tôi chỉ xin trình bày nhân tố ngữ cảnh giao tiếp trong việc ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng từ xưng hô của tác giả Vi Hồng
Ngữ cảnh giao tiếp là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Nó là một tổng thể được hợp lại bởi những yếu tố: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp)
a Nhân vật giao tiếp
Như chúng ta đã biết, để một cuộc hội thoại được diễn ra, yếu tố quan
trọng và mang tính bắt buộc đó là phải có các nhân vật giao tiếp Trong Đại
cương ngôn ngữ học tập 2, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ
để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ.” [8; 15]
Nhân vật giao tiếp chính là linh hồn của cuộc hội thoại, là một nhân tố quan trọng có thể thúc đẩy và kết thúc cuộc thoại Giữa các nhân vật giao tiếp
có hai quan hệ chính: vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
*Vai giao tiếp
Khi tham gia giao tiếp các hoàn cảnh khác nhau, mỗi cá nhân lại đóng một vai trò khác nhau tạo thành một bộ vai cho mình trong hệ thống giao tiếp chung Cùng một đối tượng nhưng khi tham gia vào các cuộc giao tiếp khác nhau thì hình thành các vai giao tiếp khác nhau: khi đi mua đồ thì là khách hàng, khi đi xem ca nhạc là khán giả, khi thi đấu thể thao là vận động viên, khi
ở nhà là con đối với bố mẹ, là em đối với anh Có thể nói rằng, sự phong phú
Trang 37trong các vai giao tiếp góp phần tạo nên sự đa dạng trong cách xưng gọi của mỗi cá nhân
Theo Đỗ Hữu Châu: “Vai giao tiếp là cương vị xã hội của cá nhân nào
đó giữ trong một hệ thống các quan hệ xã hội và được hình thành trong quá trình xã hội hóa cá nhân” [8; 30]
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật thường có sự phân vai khá rõ ràng: vai phát tức là vai nói (viết), vai nhận tức là vai nghe (đọc) Khi giao tiếp trực tiếp, hai vai này thường luân chuyển, đổi vai cho nhau việc đổi vai không chỉ
thúc đẩy giao tiếp mà còn kết thúc quá trình giao tiếp: “Trong quá trình giao
tiếp, người đọc có thể đóng vai trò tích cực hay tiêu cực Người nhận tích cực khi anh ta luôn thay đổi vai trò người nhận - người phát, khi giao tiếp diễn ra ở hai chiều Người nhận tiêu cực khi anh ta luôn giữ vai trò người nhận trong suốt quá trình giao tiếp, nghĩa là khi giao tiếp chỉ diễn ra một chiều” [8; 43]
Để tiến hành giao tiếp, mỗi thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao tiếp của mình, tức là phải nhận thức được một cách đầy đủ về đối tượng tham gia giao tiếp, về chính bản thân mình và quan hệ giữa mình với đối tượng giao tiếp đó (về mức độ thân sơ, vị thế trến/ dưới, trình độ văn hóa, tuổi tác, địa vị ) để có thể lựa chọn những từ ngữ xưng hô thích hợp Nhờ việc xác định được đúng vị thế giao tiếp, các vai giao tiếp có thể xây dựng được chiến lược, động cơ, mục đích giao tiếp để có thể đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp
*Quan hệ liên cá nhân
Theo Đỗ Hữu Châu: “Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong
tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau”
[8; 17]
Khi tham gia hội thoại, các nhân vật giao tiếp phải có một mối quan hệ qua lại nhất định, đó được gọi là quan hệ liên cá nhân Mối quan hệ này thực chất rất đa dạng và phức tạp, nhưng nó diễn tiến theo hai kiểu quan hệ chính: quan hệ quyền uy (vị thế xã hội) và quan hệ khoảng cách (thân cận)
Trang 38Quan hệ quyền uy là quan hệ trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh Quan
hệ này tạo thành các vị thế xếp theo trục dọc Dựa vào đặc trưng về yếu tố quyền lực và giàu nghèo tạo thành ba kiểu quan hệ quyền uy đó là: quan hệ ngang vai, quan hệ trên vai và quan hệ dưới vai
Quan hệ khoảng cách là quan hệ thân - sơ giữa các nhân vật giao tiếp Quan hệ liên kết được đặc trưng bởi yếu tố cận kề gần gũi
Có thể thấy rõ sự khác biệt của quan hệ quyền uy và quan hệ liên kết quả bảng so sánh sau:
Là quan hệ ứng xử giữa các cá nhân thể hiện thái độ, tình cảm của các vai giao tiếp
Cơ sở xác lập
Dựa vào tuổi tác, nghề nghiệp, chức quyền, thứ bậc
Dựa vào mức độ hiểu biết lẫn nhau, thân thiện với nhau
Đối xứng, có thể tạo sự thân tình hoặc xa lạ theo mức độ khác nhau Qua thương lượng
có thể thay đổi khoảng cách
Yếu tố đặc trưng
Đặc trưng bởi yếu tố quyền lực và tạo ra khoảng cách giữa hai bên giao tiếp
Đặc trưng bằng yếu tố cận kề, gần gũi theo mức độ tình cảm
và luôn hướng đến sự đồng đẳng, thân mật
Biểu hiện Quan hệ nơi công sở, cơ
quan, nghi thức
Quan hệ bạn bè, đối tác, trong gia đình
[xem thêm 8; 17-18]
Trang 39Theo mức độ tình cảm thì quan hệ quyền uy luôn tạo ra khoảng cách còn quan hệ liên kết lại luôn có xu hướng tới một sự gần gũi, đồng đẳng Trong thực tế giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ thân thiết hoặc xa lạ Mức độ thân cận thường tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những nhân vật tham gia giao tiếp
Quan hệ liên cá nhân chi phối toàn bộ quá trình giao tiếp, nội dung và hình thức của diễn ngôn Bởi vậy, xưng hô chịu áp lực mạnh mẽ từ quan hệ này Bằng việc sử dụng các từ ngữ xưng hô mà vai nghe biết được vai nói xác định quan hệ
vị thế và quan hệ xã hội với mình như thế nào Với sự phong phú của từ xưng hô trong tiếng Việt, việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ xưng hô được coi như là một chiến lược quan trọng trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Đối với môi trường cơ quan, công sở thì nghi thức giao tiếp như một lẽ bắt buộc mà mọi người phải tuân theo Do đó, quan hệ quyền uy ở đây được xác lập vững vàng, ổn định, rất ít khi thay đổi Giữa cấp trên và cấp dưới, thủ trưởng và nhân viên đã có những từ xưng hô giúp định vị thứ bậc rõ ràng không thể có sự đổi ngôi, trừ khi có các vấn đề tình cảm riêng, mục đích riêng chi phối giao tiếp
Có thể thấy rằng, trong đời sống thường ngày, quan hệ thân sơ và quan
hệ quyền uy đồng thời được biểu hiện Những từ ngữ biểu hiện hai kiểu quan
hệ này được các nhân vật lựa chọn sử dụng tạo ra không khí vừa tôn ghiêm vừa thân mật Chẳng hạn: người con gọi bố mẹ bằng ông bà và xưng con
b Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoặt động giao tiếp của con người Đó là hiện thực khách quan mà chúng ta đang sống với tất cả những nhân tố xã hội - ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn
và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử ; phong tục tập quán; trình độ học vấn; kinh nghiệm xã hội; thói quen sử dụng ngôn ngữ; phạm vi giao tiếp (công sở, gia đình, lãnh thổ riêng ); đề tài, chủ đề hay hình thức giao tiếp
Trang 40Trong hoàn cảnh giao tiếp bao giờ người ta cũng đặc biệt chú ý đến sự tồn tại của tính quy thức trong giao tiếp thông qua sự diễn đạt ngôn ngữ của các vai giao tiếp
Tính quy thức có thể hiểu là những yêu cầu, những quy tắc, những nghi lễ trong những hoàn cảnh giao tiếp hẹp (không gian, thời gian cụ thể để cuộc giao tiếp diễn ra như trong các nghi lễ ngoại giao, tôn giáo, trong công sở, nhà trường ) Các nghi thức này mang tính quy phạm có chuẩn mực riêng mà các thành viên tham gia giao tiếp ngầm hiểu và tôn trọng thực hiện
Ngược lại, tính phi quy thức là những hành vi giao tiếp, nơi diễn ra những hoạt động giao tiếp mà không chịu ảnh hưởng chi phối của bất cứ quy tắc, nghi lễ nào Các vai giao tiếp được tự do, thoải mái bộc lộ theo cách của riêng nó
Tính quy thức/ phi quy thức của hoàn cảnh giao tiếp ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn và sử dụng các từ xưng hô Đối với những người có vị thế ngang bằng nhau như bạn bè, từ ngữ xưng hô được sử dụng ít tính quy thức hơn Ngược lại đối với những người ở vị thế không ngang bằng thì vai giao tiếp (đặc biệt là vai thấp hơn) thường có lối xưng hô quy thức, chuẩn mực, “xưng khiêm
hô tôn”
Đối với các đại từ thực thụ trong tiếng Việt (trừ đại từ tôi) phần lớn ít có tính quy thức Các danh từ thân tộc (ông, bà, cô, chú, anh, chị ) đang chiếm ưu thế trong các giao tiếp xã hội cùng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp (giáo
sư, thầy giáo, bác sĩ ) mang tính quy thức cao trong hoạt động giao tiếp trong khi đó danh từ chỉ tên riêng lại mang tính chất trung gian và thường phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xác định tính quy thức/ phi quy thức
1.2.3 Lý thuyết hội thoại
1.2.3.1 Khái niệm hội thoại
Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, hội thoại là một trong những vấn đề được rất nhiều các nhà ngôn ngữ học quan tâm Các nhà Việt ngữ học dưới nhiều góc độ nghiên cứu và đã đưa ra những định nghĩa về hội thoại