SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thực hiện cảicách giáo dục, do vậy việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa được triểnkhai đại trà bắt đầu từ lớp 6 đến nay vẫn tiếp tục được thực hiện
Đối với môn Ngữ văn việc đổi mới được thực hiện dựa trên nguyên tắc tíchhợp 3 phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn Có nghĩa là 3 phân môn đượcbiên soạn trong một quyển sách với cơ cấu theo từng bài có đầy đủ cả 3 phầnVăn, Tiếng Việt, Tập làm văn Cấu trúc đó cho thấy sự nhấn mạnh những điểmđồng quy về kiến thức, kĩ năng giữa 3 phân môn để thực hiện quan điểm tíchhợp trong tổ chức nội dung dạy học và xác định phương pháp dạy học cho từng
bài Yếu tố đồng quy này chính là ngôn ngữ trong văn bản của mỗi bài học.
Để đảm bảo nguyên tắc tích hợp, việc xây dựng chương trình lấy kiểu vănbản làm cơ sở, sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9 đưa vào 6 kiểu vănbản khác nhau chứ không xây dựng chương trình theo tiến trình lịch sử văn họcnhư trước Song việc đổi mới vẫn không phủ nhận vai trò của những bài dạy tácphẩm văn học của phân môn Văn
Phần văn bản là tiết mở đầu của một tuần học (4 tiết) với lớp 6, 7, 8 và (5 tiết)
với lớp 9 để định hướng nội dung tích hợp 3 phân môn trong bài Tuy vậy phânmôn văn học theo tinh thần tích hợp như trên vẫn phải đảm bảo đúng đặc trưng,phải dạy đúng phương pháp của từng thể loại
Về mặt phương pháp ta thấy việc xây dựng sách giáo khoa Ngữ văn THCStheo nguyên tắc tích hợp kết hợp với đổi mới phương pháp dạy học nên học sinhđược học với tinh thần tự học sáng tạo: từ chỗ làm quen, tập dượt, làm theo đến
tự phát hiện, khám phá, sáng tạo dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của giáo viên Giáoviên cần loại bỏ hoàn toàn phương pháp dạy học cũ tức là làm cho học sinh thụđộng, bắt chước, hoặc dập khuôn theo mẫu sẵn có Việc dạy học theo phươngpháp mới phải đạt được đến đích là: “ Học để biết học để suy nghĩ, rèn luyện tríthông minh và tối đa hóa việc chuyển tải kiến thức ” Cụ thể, học qua hành, tăngcường cho học sinh thực hành giao tiếp và luyện tập ngôn ngữ bằng nhiều hìnhthức phong phú và thích hợp Học sinh THCS được học Ngữ văn trên quan điểmcủa lí thuyết giao tiếp, do vậy về phương pháp dạy học phải cố gắng dần dần đểphương pháp đàm thoại, trao đổi theo nhóm và một số kĩ thuật, phương phápdạy học tích cực trở thành quen thuộc trong mỗi giờ học Theo tinh thần đó, họcsinh là người chủ động nêu vấn đề, thảo luận, trao đổi với nhau để rút ra kết luận
về những hiện tượng ngôn ngữ dưới sự hướng dẫn của giáo viên Mặt khác giáoviên khi giảng dạy cũng cần chú ý vai trò to lớn của môn Ngữ văn với việc pháttriển toàn diện mọi phẩm chất và năng lực của học sinh THCS Điều này cónghĩa là phải chú trọng tới giá trị và hiệu quả giáo dục của từng ngữ liệu, từngvăn bản, từng thế mạnh của các cách diễn đạt thể hiện tư tưởng, tình cảm trongkhi rèn 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
Trang 2Bên cạnh đó, trong qúa trình nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi, để bồi dưỡngchuyên môn giảng dạy Ngữ văn theo phương pháp mới, tôi thấy chương trình vàsách giáo khoa Ngữ văn mới có nhiều điểm thú vị song cũng không ít nhữngđiểm khó Để giáo viên thực hiện được yêu cầu dạy học một cách linh hoạt, sángtạo, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh là một vấn đề không đơn giản.Những trăn trở, suy nghĩ đó là lí do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài : “Đổi mới phương
pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6 ”
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi muốn cùng đồngnghiệp bàn đôi điều về đổi mới phương pháp dạy truyện truyền thuyết trongSGK Ngữ văn 6 để cùng nhau tháo gỡ dần những khó khăn khi thực hiện đổimới chương trình và SGK Ngữ văn THCS, đồng thời đây cũng là những kinhnghiệm nhỏ mà bản thân tôi đúc kết, tích lũy được trong quá trình dạy học
2 Tên sáng kiến: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN TRUYỀN THUYẾT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 6
3 Lĩnh vực áp dụng sang kiến:
- Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ Vănlớp 6
- Đối tượng: Học sinh lớp 6
4 Ngày sang kiến áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
5 Mô tả bản chất của sáng kiến:
5 1 Về nội dung của sáng kiến:
5 1 1 Về thực trạng nghiên cứu
Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bịnhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã mang lại hiệu quả tốt Mặc dù vậyvẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ
Bản thân tôi qua nghiên cứu tìm hiểu về truyện dân gian và những kinhnghiệm tích lũy được trong một số năm giảng dạy môn Ngữ văn 6 theo phươngpháp đổi mới, tôi đã rút ra cho mình được một số bài học quý báu khi giảng dạytruyện truyền thuyết trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 theo phương pháp đổi mớiđạt kết quả tốt
Từ những kinh nghiệm của bản thân xin được trao đổi với các thầy cô,mong là sẽ giúp ích được cho các thầy, cô giáo; đặc biệt là các thầy cô dạy mônNgữ văn ở bậc THCS trong nhà trường và các trường bạn trong huyện và các huyệnlân cận
Để đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết thì trước hết ngườigiáo viên phải nắm vững: thời điểm ra đời, khái niệm, đặc trưng thể loại truyền
thuyết …mà chúng ta sẽ đi nghiên cứu ở mục : “Nội dung nghiên cứu” để từ
đó có những giải pháp mới hữu hiệu trong công tác giảng dạy của mình.
5 1 2 Về nội dung nghiên cứu
Trang 3*Nghiên cứu chung về truyện truyền thuyết
+Thời điểm ra đời của truyền thuyết
- Truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại anh hùng
Việt Nam, thời đại mà những yếu tố xã hội – lịch sử của nó mang đặc trưng
chung của thời đại anh hùng trong lịch sử nhân loại: Đó là thời kỳ con người bứt
ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên Thời kỳ được
đánh dấu bằng những chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu sắc, nên
cũng được gọi là thời kỳ của “thanh kiếm sắt, cái cày và cái rìu bằng sắt” Ở
Việt Nam, nó được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kì tiền sử, sự khởi đầucủa thời kì sơ sử, với sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời
kì văn hoá kim khí mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn
- Việc sử dụng công cụ kim loại được coi như một cuộc cách mạng kỹ
thuật Đồ đồng cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, thể hiệntrình độ cao về kỹ thuật chế tác và năng khiếu thẩm mỹ dồi dào của chủ nhân nónhư những chiếc rìu, lưỡi cày đồng, xẻng, cuốc đồng, dao gặt… Công cụ sảnxuất vô cùng phong phú và tiến bộ đó dẫn đến thành quả lao động được nângcao, đời sống con người được cải thiện Bên cạnh nhu cầu ăn, ở, người ta đã cónhu cầu thẩm mĩ, không chỉ là ăn no mặc ấm mà còn là ăn ngon, mặc đẹp, vàsinh hoạt tiện lợi Con người đã phần nào khám phá một số bí ẩn của thiên nhiên
để phục vụ cộng đồng: sản xuất một số cây trồng theo mùa vụ, tìm ra một sốgiống cây quý, nhiều giống lúa nước và chế biến một số món ăn từ gạo…
- Nhu cầu mở rộng thêm các vùng định cư và sản xuất, khai thác thêm các
thị trường mới để trao đổi sản phẩm, khám phá đất hoang… ngày càng dâng cao
trong cộng đồng Chiến tranh giữa các bộ tộc xảy ra liên miên nhằm xâm lấn
đất đai, mở rộng địa bàn, thôn tính lẫn nhau (dẫn đến sự hình thành nhà nướcđầu tiên) Các bộ lạc có xu hướng: hoặc là thâu tóm lẫn nhau hoặc đoàn kết đểchống lại các bộ lạc lớn mạnh khác
- Hoàn cảnh đó đó tạo nên một Không khí hào hùng cho thời đại mà Ăngnghen nhận xét là: “thời đại mà mỗi thành viên nam giới của bộ lạc đến tuổi
thành niên đều là những chiến binh…” Các thành viên trong cộng đồng có điều
kiện bộc lộ phẩm chất anh hùng của mình, ý thức về lịch sử, dân tộc, chủ quyềnlãnh thổ được nuôi dưỡng Xuất hiện các cá nhân anh hùng và tập thể anh hùng
Và truyền thuyết ra đời nhằm tôn vinh sức mạnh, phẩm chất người anh hùng
của mình, cộng đồng của mình
Tóm lại: Thời đại truyền thuyết: Đó là bước tiến vọt từ đồ đá sang đồ
đồng- sắt, từ hái lượm săn bắt sang trồng trọt lúa nước và định cư nông nghiệp,
từ lối sống thô sơ đến sự ra đời của “nghề khéo” và “của ngon vật lạ”, từ mẫu
hệ sang phụ quyền, từ bộ lạc sang liên minh bộ tộc và nhà nước phôi thai, tóm lại từ dã man sang văn minh, ở trên vùng châu thổ sông Hồng Và nếu như
thần thoại ra đời từ nhu cầu nhận thức của người nguyên thuỷ thì truyền thuyết
ra đời từ nhu cầu tôn vinh, nhu cầu được tự hào về những chiến công vĩ đại cả
về làm ăn, cả về chiến đấu của con người thời đại anh hùng
Trang 4+ Khái niệm về truyền thuyết
- Từ điển Tiếng Việt (H 1992 Tr 1034): “Truyền thuyết là truyện dângian truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan về lịch sử, thườngmang yếu tố thần kì ”
- Từ điển thuật ngữ văn học (GD 1996 Tr 249): “Truyền thuyết là mộtthể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhânvật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đến một thời kì, một bộ tộc, mộtdân tộc, một quốc gia hay một địa phương”
+Những biểu hiện của truyền thuyết: Ở Việt Nam, truyền thuyết hình
thành từ thời Hùng Vương dựng nước và phát triển liên tục qua các giai đoạnlịch sử của dân tộc Truyền thuyết Việt Nam thường tồn tại theo chuỗi:
- Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang: mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh
của người Văn Lang Các truyền thuyết tiêu biểu của thời kỳ này là Lạc Long
Quân- Âu Cơ, Sơn Tinh- Thủy Tinh, Thánh Gióng, Bánh chưng- bánh giầy, Thánh Hùng Linh Công, Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám .
- Thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc: Nước Âu Lạc của An Dương Vương
tồn tại khoảng 50 năm (257 TCN- 208 TCN) Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207 TCN- 938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộcViệt Nam Truyền thuyết tiêu biểu của thời Âu Lạc là truyện An Dương Vương,kết cấu gồm hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiếnbại Các truyền thuyết phản ánh các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược
thời kỳ Bắc thuộc là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí .
- Thời kỳ phong kiến tự chủ: Từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 15, giai cấp phong
kiến Việt Nam xây dựng một quốc gia thống nhất, củng cố nền độc lập dân tộc
Từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 19 là sự suy sụp của các triều đại phong kiến Các
truyền thuyết của thời kỳ này gồm các nhóm sau đây:
Anh hùng chống ngoại xâm: Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi Danh nhân văn hóa: Chu Văn An, Trạng Trình .
Lịch sử địa danh: Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành .
Anh hùng nông dân: Chàng Lía, Quận He, Ba Vành .
Anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ: Hầu Tạo, Lê Văn Khôi .
* Đặc trưng thể loại truyện truyền thuyết
Nội dung chủ yếu của truyện truyền thuyết là các sự kiện lịch sử, nhân vật
lịch sử Những sự thật lịch sử ở đây đã được lí tưởng hóa, nghĩa là được nhàonặn, biến hóa, bổ sung theo cách nhìn nhận, đánh giá của nhân dân, được nhângửi gắm tâm tư, nguyện vọng vào đó Cụ thể:
Truyền thuyết họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang - Âu Lạc
Trang 5- Truyền thuyết thời Hồng Bàng: thể hiện niềm tự hào của nhân dân về tổ
tiên, giống nòi, về nguồn gốc các dân tộc người Truyền thuyết là sự thể hiện sựtrưởng thành về ý thức con người Đó là ý thức về quốc gia, dân tộc đồng thờivới nó là ý thức cội nguồn Khi xã hội càng phát triển, con người đã đạt đượcnhững thành tựu nhất định thì họ càng có ý thức về bản thân mình, muốn tôđiểm cho nguồn gốc, phẩm chất của mình Truyền thuyết ra đời để chuyển tảinội dung đó
- Truyền thuyết thời Văn Lang - Âu Lạc:
Những anh hùng dựng nước như: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương ,
Sơn Tinh Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ phản ánh quá trình liên minh
bộ lạc của những người vùng núi và vùng sông nước, miền xuôi và miền ngược,của những người thờ vật tổ là rắn và bộ lạc thờ chim làm vật tổ Đó là mối dâyliên kết đầu tiên, là tiền đề để hình thành dân tộc Việt Tiếp sau đó, những chiếncông diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh của Lạc Long Quân thể hiện quá trìnhchinh phục thiên nhiên, mở mang bờ cõi của ông cha ta (vùng biển, vùng đầmlầy và vùng rừng núi)
+ Truyện Hùng Vương chọn đất đóng đô, Thành Phong Châu, Con Voi bấtnghĩa, Vua Hùng dạy dân trồng lúa, Vua Hùng đi săn …đề cao hình tượngVua Hùng là người có công dựng nước, biết cách trị nước giúp dân
+ Hình tượng những người con trai, con gái, con rể cùng góp công dựngnước, mở mang bãi bờ, cai trị dân chúng: Con gái Tiên Dung, con rể ChửĐồng Tử dạy dân làm ăn, mở mang bờ cõi; con gái Ngọc Hoa, con rể Sơn Tinhdạy dân trồng lúa, dệt vải, hát múa… Đặc biệt Sơn Tinh đã lập nên chiến công
to lớn, chiến thắng lực lượng tự nhiên để mở mang địa bàn sinh tụ
Những sự kiện đó là quá khứ vẻ vang gắn với niềm tự hào về nòi giống vàdân tộc, đề cao ý thức về dòng dõi, nguồn gốc “con Lạc cháu Hồng” cao quý
Dễ dàng nhận thấy chủ đề xuyên suốt các truyền thuyết này là suy tôn các vuaHùng và ca ngợi công lao dựng nước, an dân của các vị trong suốt buổi bìnhminh của lịch sử dân tộc
Những anh hùng giữ nước: Thánh Gióng, An Dương Vương…Họ là những
người có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc, có khí pháchhiên ngang, kiên cường, bất khuất, vừa anh dũng vừa mưu trí, có tài dẹp giặc chỉtrong nháy mắt Bên cạnh sức khoẻ vô song, những nhân vật này lập được chiếncông nhờ sự phù trợ của các vật thiêng: An Dương Vương có nỏ thần, được sứThanh Giang giúp sức, Thánh Gióng có ngựa sắt, roi sắt… Nhưng những vậtthiêng này không hàm chứa năng lượng của tự nhiên như trong thần thoại mà nó
là kết tinh của sức mạnh tập thể Thánh Gióng được sự giúp sức của người thợrèn sắt, đoàn trẻ trăn trâu cầm bông lau (làng Hội Xá), người cầm vồ (LàngTrung Mầu), người tạc tượng (tại Làng Mã, Gióng quay ngựa nhìn đất nước, VuĐiền gặp Gióng và tạc tượng Gióng) Như vậy, người anh hùng Gióng là kếttinh của mọi khả năng anh hùng trong thực tiễn: quần chúng, công cụ sản phẩm,
vũ khí và địa thế non sông (theo Cao Huy Đỉnh) Một số nhân vật anh hùng sáng
Trang 6tạo kĩ thuật, xây dựng giỏi, chiến đấu giỏi lại trung thực như Thần Rùa, Ông Nỏ(Cao Lỗ), Ông Nồi là đại diện cho trí tuệ cho tinh thần dũng cảm bất khuất củatập thể nhân dân, được nhân dân dành cho niềm ngưỡng mộ cao quý trongnhững truyền thuyết về riêng họ.
Người anh hùng vừa là tổng số vừa là một tổng hợp của các lực lượng.
Những chiến công và thành tựu của nhân dân hàng nghìn người trong hàngnghìn năm được gắn cho một người, trong một thời gian ngắn thì tất yếu người
đó sức mạnh tầm vóc to lớn, kì vĩ, ngang tầm với thần thánh Truyền thuyết thời
kì này có tính chất hoành tráng, gần gũi với sử thi, anh hùng ca
- Những nhân vật anh hùng văn hoá cũng chiếm một số lượng lớn trongkho tàng truyền thuyết Đó là những người có công khai sáng, phát minh ranhững giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của nhân dân, những người anh hùngkhai phá vùng đất mới, những vị thần tổ nghề… Qua đó, nhân dân bày tỏ lòngbiết ơn, trân trọng của mình đối với thành tựu văn hoá, những kết quả lao động
và sáng tạo
Truyền thuyết thời Bắc thuộc
- Đề tài chính của truyền thuyết giai đoạn này là chống xâm lược Nhân vậttiêu biểu của truyền thuyết là những anh hùng cứu nước: Bà Trưng, Bà Triệu,Phùng Hưng, Triệu Việt Vương… Tất cả tạo thành một dòng chảy dồi dào,mạnh mẽ, minh chứng cho một điều hết sức thiêng liêng: Dẫu đất nước bị thôntính, song phong trào giải phóng dân tộc chưa bao giờ vơi cạn
- Trước hết, đây là những cá nhân anh hùng bởi đó là những con ngườithật Những anh hùng đẹp một cách toàn diện, kì vĩ phi thường về tướng mạo vàtài năng Nhân vật thường được gắn với những nguồn gốc cao quý, sự ra đời kì
lạ hoặc có một “điểm tướng tinh nào đó”: Hai Bà Trưng là cháu ngoại vuaHùng; Đinh Thị Phật Nguyệt theo Hai Bà Trưng đánh giặc, lập nhiều chiếncông, vốn trước kia mẹ của nàng mơ thấy có vị thần xưng là Triều Đò Đài bancho bà chiếc kim thoa mà sinh hạ nàng Sau này, khi đánh nhau với giặc ĐôngHán, chống đỡ không nổi, nàng một mình chạy đến bờ sông, có phù kiều nổi lênđón nàng biến mất…
- Nhưng những cá nhân anh hùng này gắn bó mật thiết với tập thể và đặtquyền lợi của dân tộc, quốc gia lên trên hết: Bà Trưng đặt nợ nước lên trên thùnhà, hành động đầu tiên của bà trước khi lên đường diệt giặc cứu nước là cởi bỏkhăn tang để ba quân khỏi xúc động về cái chết của chồng bà; nàng XuânNương dẫu đang có mang đứa con đầu lòng vẫn thắt khăn, quấn bụng oai dũng
ra trận tiền trả thù cho nước nhà, cho người chồng yêu quý…
- Ở giai đoạn này, môtíp sức mạnh đó được biến thành môtíp truyền sức
mạnh Không chỉ có người anh hùng xông pha giữa trận tiền mà còn có nhiều cá
nhân anh hùng khác, nhiều người con kiên cường khác, cũng dũng cảm như thế,cũng vô song như thế, như cùng một bầu mẹ mà ra Do đó, xuất hiện những
truyền thuyết như Nàng Vú Thúng, Truyện Nàng trăm sắc, Truyện bà áo the,
Trang 7Truyện may áo chồng bằng hơi thở ấm… Như vậy, người anh hùng vừa đại diện
cho tập thể, vừa hoà tan vào tập thể
Truyền thuyết thời phong kiến tự chủ
- Thời phong kiến độc lập, truyền thuyết tập trung ca ngợi các nhân vật giữyên đất nước trong thời kỳ độc lập: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, DươngVân Nga… đến những anh hùng chống ngoại xâm Lý Thường Kiệt, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Lê Lai… Tất cả nêu lên ý chí giữ gìn độc lập và tinh thần quyếttâm chống giặc của mọi người dân Việt Nam Người anh hùng, vị vua anh minhbao giờ cũng hội tụ đầy đủ ba phẩm chất: trí, dũng, nhân (Lê Lợi xướng nghĩa)
Kéo theo đó là những cuộc hội ngộ của vua dũng tướng tài, tạo nên một sức
mạnh vô cùng vững chắc Lê Lai sẵn mình chết thay cho chủ Phải có nhữngngười như Lê Lai mới dám quả cảm hi sinh thay cho Lê Lợi nhưng cũng phảithấy rằng, chỉ có những người như Lê Lợi mới quy tụ được những người như LêLai Hay như câu chuyện giữa Quốc công Trần Hưng Đạo và Thượng tướngTrần Quang Khải, con vua Thái Tông, do có mối bất hoà, nên nhiều lúc haingười ở bên nhau mà nói năng không được tự nhiên, tâm tình không được cởi
mở Nhân biết Quang Khải là người sợ nước, lười tắm, một hôm Trần Hưng Đạo
rủ Quang Khải ra sông tắm mát Hưng Đạo tự tay kỳ cọ cho Quang Khải, tắm
xong vui vẻ hỏi: Thế nào, Thượng tướng có thấy nhẹ mình không? Quang Khải hiểu ý, đã xúc động nói: Nhẹ mình lắm! Thật là vì nước mới được thế này! Từ
đó, hai người sống với nhau rất hoà hợp, cùng nhau thật sự gắn bó, một lòng một
dạ chung lo việc diệt giặc cứu nước
Truyền thuyết thời kì cận hiện đại
Chế độ phong kiến bước vào chặng đường suy yếu, tàn tạ, hàng loạt cáccuộc khởi nghĩa nông dân xuất hiện và truyền thuyết nhanh chóng nắm lấy đề tàinày Truyền thuyết đề cập đến những người anh hùng xuất thân từ tầng lớp dướiđáy xã hội: Quận He, Chàng Hía, vua Heo, cố Bu…
- Qua đó, các nhân vật anh hùng muốn thể hiện một lý tưởng: muốn thayđổi xã hội, thiết lập một xã hội tự do, bình đẳng Đó không chỉ là hành động, làước mơ của một cá nhân mà là của một tầng lớp nhân dân
- Mặc dù vậy, nhân dân cũng đồng thời lý giải nguyên nhân thất bại củacuộc khởi nghĩa: Nhân dân phê phán tính chất phiêu lưu, mạo hiểm chủ quankhinh địch của những thủ lĩnh nông dân; phê phán tư tưởng trung quân, hiếu đạo
mù quáng Những người anh hùng nông dân ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởngNho gia về Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa: Hầu Tạo phải ra hàng nếu không mẹông bị giết, ông còn làm tròn chữ hiếu mặc dù phải vứt bỏ chữ trung… Ngườianh hùng nông dân còn nhiều tính xấu như tham tiền, tham sắc: Chàng Lía giếtchết tên chủ khảo trường thi nhưng lại lấy vợ lẽ của hắn…
Nhân vật trong truyện truyền thuyết bao gồm cả người và thần Nhiều vị
thần đó được nhân hóa: vị thì sinh ra người (Lạc Long Quân, Âu Cơ), vị thì docon người sinh ra (Thánh Gióng), vị thì lấy con người (Sơn Tinh)…
Sự kiện trong truyền thuyết là sự kiện lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử.
Trang 8Các yếu tố nghệ thuật thường chứa nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo.
Những chi tiết được nhân dân “chắp đôi cánh của sức tưởng tượng” đó, đã tụđiểm cho hiện thực, thay đổi hiện thực cho phù hợp với quan niệm và lí tưởngcủa dân gian
5 2 Xây dựng giải pháp áp dụng vào quá trình dạy học
5 2 1 Công việc chuẩn bị cho hoạt động
* Phần việc của thầy
Nhằm thực hiện được nguyên tắc chung đồng thời cũng là nhiệm vụ trọngtâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa ngữ văn 6: giáo viên – học sinhthực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viênđóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều đượchoạt động , đều được bộc lộ mình và phát triển, tôi luôn đề cao công việc củangười thầy là thiết kế giáo án, dự kiến phương pháp, biện pháp, hình thức tổchức dạy- học Nó tạo ra vị thế chủ động,tự tin cho người thầy
Tôi bắt đầu cho mình từ việc xác định mục tiêu cần đặt ra cho tiết học vềnội dung, phương pháp, hình thức tổ chức Những kiến thức cần huy động phục
vụ cho nội dung của bài và tích hợp với các kiểu thức khác hay kiến thức thuộc
bộ môn khác, hệ thống câu hỏi với từng cấp độ, dạng loại, số lượng: các phươngtiện dạy học, tư liệu tranh ảnh, băng hình, các hoạt động bổ trợ sau tiết học
Ví dụ: Khi soạn bài “Con Rồng cháu Tiên”– Truyền thuyết về các vua
Hùng , tôi đã chuẩn bị đọc kĩ tư liệu :
- Hướng dẫn học văn học dân gian ( dùng cho học sinh lớp 6) Nhà xuất bảngiáo dục Hà Nội 1998- Tác giả Đỗ Bình Trị
- Những đặc điểm thi pháp các thi pháp các thể loại văn học dân gian- Tácgiả Đỗ Bình Trị – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội- 2000
- Một số bài giảng văn cấp 2: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội – 1992
- Phân tích tác phẩm văn học dân gian- Sở Giáo dục An Giang 1988
- Lịch sử Việt Nam tập 1 Nhà xuất bản Đại học Trung học chuyên nghiệp
Hà Nội 1983
- Các tập truyện truyền thuyết chọn lọc Việt Nam và Thế giới: Nhà xuấtbản văn học
- Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1992- 1996, 1997- 2000
- Theo hướng dẫn sách giáo viên:
Hoạt động 1: Giáo viên cho học sinh đọc truyện, kể, phân đoạn.
Hoạt động 2 : Giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời, thảo luận các câu hỏi
trong phần đọc - hiểu văn bản để cung cấp các ý:
a- Kì lạ, lớn lao đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng
b- Sự nghiệp mở nước
Trang 9Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh học phần ghi nhớ.
Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh phần luyện tập.
- > Dựa vào sự chuẩn bị trên tôi thiết kế giáo án thực hiện như sau:
Hoạt động 1:
Khởi động: Cho học sinh vào bài bằng việc quan sát một bức tranh đẹp, kì
ảo được phóng to về Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng một trăm con lên rừngxuống biển
+ Dự kiến phương pháp: Qui nạp
+ Hình thức thảo luận nhóm tiến hành ở việc cảm thụ chi tiết kì ảo hoangđường tiêu biểu: Âu Cơ sinh bọc trăm trứng
Đọc lần hai, đọc chậm để nắm nội dung, bố cục truyện
Đọc lần ba, xử lí thông tin (làm miệng)
+ Xác định các nhân vật trong truyện: nhân vật chính là ai?
+ Các sự việc mở đầu – phát triển- kết thúc truyện là gì?
+ Ý nghĩa của truyện
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật, chi tiết cốt truyện
Trang 10+ Bước 2; Yêu cầu trả lời câu hỏi ở phần đọc- hiểu văn bản của sách giáo khoa.Điều thuận lợi cho việc chuẩn bị của trò là Bộ Giáo dục biên soạn sách bàitập, vở bài tập ngữ văn 6 rất cụ thể, nhiều dạng bài chia nhỏ các chi tiết các câuhỏi để học sinh trả lời hợp với tư duy của các em mới từ cấp tiểu học lên, ngạikhi đứng trước một câu hỏi quá dài Giáo viên nên tận dụng thuận lợi này giúphọc sinh soạn chu đáo, có kết quả, hứng thú cao Muốn vậy giáo viên không nênqua loa đại khái, cần bố trí thời gian hợp lí hướng dẫn cho học sinh, đồng thời cókiểm tra linh hoạt khi dạy bài mới.
Các câu hỏi bổ sung rất cần thiết song phải phù hợp, thiết thực, tránh quá tải
Ví dụ: Bài “ Con Rồng cháu Tiên” có bốn câu hỏi phần đọc- hiểu văn bản (Sách giáo khoa) được cụ thể hơn trong vở bài tập như sau (xin dẫn giải sơ lược):
*Vận dụng:
Bài tập 1( thuộc dạng phát hiện)
Em hãy tìm chi tiết trong truyện thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ vềnguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ:
Hình tượng Về nguồn gốc Về hình dạng
Lạc Long Quân
Âu Cơ
Bài tập 2 (thuộc dạng cảm thụ)
Việc kết duyên giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ; chuyện Âu Cơ sinh nở có
gì kì lạ? Lạc Long Quân chia con như thế nào và để làm gì?
Theo em truyện này người Việt là con cháu của ai?
a- Việc kết duyên giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ kì lạ ở: …
b- Chuyện Âu Cơ sinh nở kì lạ ở: …
c- Lạc Long Quân giải thích lí do, cách chia con và mục đích chia con :
- Lí do chia con
- Cách chia con
- Mục đích của việc chia con
d- Theo truyện này người Việt Nam là con cháu của: …
Bài tập 3 (Thuộc dạng bài trắc nghiệm thông qua việc phát hiện và cảm
nhận văn bản)
Em hiểu thế nào là chi tiết tưởng tượng, kì ảo? Hãy nói rõ vai trò của chitiết này trong truyện?
Đưa ra các ý kiến yêu cầu đánh dấu đúng sai
Bài tập 4 (Thuộc dạng bài thảo luận):