ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LỤC MẠNH PHƯƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LỤC MẠNH PHƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LỤC MẠNH PHƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện
Lục Mạnh Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 23B (2015 - 2017)
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang; Các đồng chí trong Ban Giám hiệu, giáo viên trường THPT Vị Xuyên, trường THPT Việt Lâm đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cám ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến góp
ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa 10
1.2.4 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc 13
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 14
1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trung học phổ thông 14
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trung học phổ thông 14
1.3.2 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông 16
Trang 61.3.3 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung
học phổ thông 18
1.3.4 Phương pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông 21
1.3.5 Con đường giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông 23
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường trung học phổ thông 30
1.4.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 30
1.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 31
1.4.3 Chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 33
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 34
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông 35
1.5.1 Yếu tố chủ quan 35
1.5.2 Yếu tố khách quan 37
Kết luận chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG 40
2.1 Khái quát chung về tình hình giáo dục ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vị Xuyên 40
2.1.1 Về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của các trường trung học phổ thông ở huyện Vị Xuyên 40
2.1.2 Về quy mô trường lớp và cơ cấu thành phần dân tộc của các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 41
Trang 72.1.3 Về chất lượng giáo dục của các trường trung học phổ thông huyện
Vị Xuyên trong 2 năm học 2015-2016, 2016-2017 41
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 42
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 42
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Phương pháp khảo sát 43
2.2.4 Khách thể khảo sát 43
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu khảo sát 43
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 44
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 44
2.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về mục đích, ý nghĩa giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông 46
2.3.3 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 48
2.3.4 Phương pháp giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 51
2.3.5 Các con đường giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 53
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 54
2.4.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 54
Trang 82.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
học sinh 57
2.4.3 Chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 60
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 62
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 64
2.5.1 Về mặt mạnh 66
2.5.2 Về hạn chế 66
2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại 66
Kết luận chương 2 68
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VỊ XUYÊN 69
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 69
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 69
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 69
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 69
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, hiệu quả 70
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 70
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 71
3.2.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 71
Trang 93.2.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo đa dạng hóa các con đường giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học huyện Vị Xuyên, tỉnh
Hà Giang 73
3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng phát triển môi trường sư phạm lành mạnh nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 76
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 79
3.2.6 Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 82
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 85
3.3.1 Mục đích của khảo nghiệm 85
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 85
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 85
3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 10GDBSVHDT : Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
GDNGLL : Giáo dục ngoài giờ lên lớp
GD-TT : Giáo dục - thể thao
HĐTNST : Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị
Xuyên năm học 2016-2017 41 Bảng 2.2a Năm học 2015-2016 41 Bảng 2.2b Năm học 2016-2017 42 Bảng 2.3 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về khái niệm
BSVHDT 44 Bảng 2.4 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về mục đích, ý
nghĩa giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông 47 Bảng 2.5 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở các
trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 49 Bảng 2.6 Thực trạng các phương pháp giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh
các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 51 Bảng 2.7 Thực trạng các con đường giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 53 Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 55 Bảng 2.9 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện giáo dục bản sắc văn hóa
dân tộc cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện
Vị Xuyên 57 Bảng 2.10 Thực trạng việc chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục giáo dục
bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 60 Bảng 2.11 Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Vị Xuyên 62
Trang 12Bảng 2.12 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục bản
sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường trung học huyện
Vị Xuyên 64 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp 86 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 88
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị truyền thống của các dân tộc là những vấn đề căn bản và cốt lõi, nền tảng nhất để làm nên nét riêng của mỗi dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa các dân tộc Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (tháng 01 năm 2016) Đảng ta nhấn mạnh quan điểm, khẳng định đường lối phát triển văn hóa trong sự nghiệp xây dựng xã hội phát triển bền vững ở Việt Nam: “Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học” [41] Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của
xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo
vệ Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Khẳng định vai trò của văn hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc, tương lai đất nước: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [38], với mục đích “Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi sinh hoạt và
quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp” [38]
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 về công tác dân tộc, trong đó khẳng định: “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc” [6] Về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa, nghị định cũng đã nhấn mạnh: “Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết Các DTTS có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật” [6]
Học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đa số là con
em đồng bào dân tộc tiểu số, số học sinh sinh sống ở vùng sâu, vùng xa ra thị
Trang 14trấn trọ học chiếm đến 30% Khi đi học, sống cuộc sống trọ học xa gia đình, phải tự lập các em có cơ hội mở rộng, giao tiếp và tiếp xúc với nhiều vấn đề của cuộc sống xã hội nên có sự hòa nhập, giao thoa Nhiều học sinh đã có những ảnh hưởng tích cực trở nên mạnh dạn, chủ động, tự tin và có được những thành công trong học tập, cuộc sống, nhưng vẫn giữ được những nét riêng của truyền thống văn hóa, dân tộc mình Tuy nhiên, bên cạnh đó có những học sinh lại tự ti về truyền thống văn hóa của dân tộc mình như việc ngại
sử dụng trang phục, ngại giao tiếp bằng tiếng nói dân tộc mình, thích trang phục thời trang hiện đại nên không còn yêu thích và quý trọng truyền thống văn hóa của dân tộc mình, thậm chí muốn rũ bỏ để tiếp cận văn hóa hiện đại
Các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang ngoài nhiệm vụ thực hiện các nội dung giảng dạy và giáo dục theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cho học sinh lứa tuổi THPT các dân tộc trong huyện, tỉnh Bên cạnh việc thực hiện các nội dung giáo dục theo chương trình quy định, các trường còn thực hiện nhiệm vụ chính trị là “đào tạo nguồn nhân lực và nguồn cán bộ cho địa phương” Ngoài việc truyền thụ kiến thức văn hóa cho học sinh các trường luôn quan tâm đến công tác giáo dục bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc, khơi gợi lòng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc, giúp các em phát triển tình yêu đối với quê hương, đất nước, coi đây
là một nội dung quan trọng góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Tuy nhiên, việc giáo dục bảo tồn bản sắc văn hoá trong các nhà trường THPT trên địa bàn huyện Vị Xuyên hiện nay còn tồn tại những hạn chế nhất định chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn địa phương
Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ quản lý
giáo dục của mình
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT các trường THPT huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình quản lý giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục bản sắc văn hóa dân
tộc cho học sinh trường THPT
4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bản sắc
văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa
dân tộc cho cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang trong thời gian qua đã được quan tâm thực hiện tuy nhiên hiệu quả chưa cao, điều này do nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý HĐGDBSVHDT cho học sinh theo hướng phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, đa dạng hóa các hình thức giáo dục, phối hợp kết hợp các lực lượng tham gia vào hoạt động giáo dục một cách phù hợp và khả thi thì
sẽ nâng cao chất lượng giáo dục BSVHDT cho học sinh, góp phần thực hiện có
Trang 16hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập hiện nay
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý HĐGDBSVHDT trong ngôn ngữ, trang phục, văn hóa ẩm thực và các trò chơi dân gian dân tộc đối với học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
6.2 Giới hạn về khách thể điều tra
Đề tài tiến hành điều tra khảo sát trên 06 CBQL cấp trường; 54 GV, 200 học sinh của 02 trường THPT: trường THPT Việt Lâm và trường THPT Vị Xuyên thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
6.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ 10/2016 đến 8/2017
Số liệu khảo sát lấy từ năm học 2015 - 2016
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, văn bản của Bộ GD&ĐT, nghiên cứu tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra thực trạng trong công tác giáo dục BSVHDT cho học sinh Lấy
ý kiến của giáo viên và học sinh để thu thập thông tin nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động ngoại khóa trên sân trường, hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm, để từ đó điều chỉnh nội dung, phương pháp GDBSVHDT cho phù hợp với học sinh
Trang 177.2.3 Phương pháp đàm thoại
Trực tiếp trò chuyện với giáo viên, học sinh để tìm hiểu nhận về vai trò,
ý nghĩa của việc giáo dục BSVHDT cho học sinh, cách thức tổ chức hoạt động giáo dục
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Gặp trực tiếp các nhà QLGD và những giáo viên có kinh nghiệm xin ý kiến, trao đổi về vấn đề giáo dục BSVHDT và khảo nghiệm mức độ cấp thiết
và tính khả thi của các biện pháp mà đề tài đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng công thức toán thống kê để xử lý số liệu (số lượng, tỉ lệ %, điểm TB) đã thu được và rút ra từ các số liệu nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường THPT huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
Gần đây một số công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc đã xuất hiện:
Theo A.T Mugi, cho rằng: “Bản sắc văn hóa không thể được xem xét như một sự co lại và đóng cụ lại của những giá trị bất biến” [41]; Theo Nich Gi-oa-kin,
thì: “Bản sắc văn hóa không phải là quá trình qua đó người ta tồn tại mà quá trình qua đó mà người ta trở thành”; Còn theo cách tiếp cận của tác giả Liu Zhongmin ở hai tầng diện tâm lý và hành vi “Bản sắc văn hóa” mà Trần Ngọc Thêm đã khái quát lại: sự đa dạng về văn hóa là một hiện tượng phổ biến cũng là quy luật phát
triển của mỗi quốc gia Ông Lý Quang Diệu cho rằng: “Trong vấn đề văn hóa và phát triển thì việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc vẫn là vấn đề lớn của thế giới đặc biệt là các nước châu Á Nếu quốc gia nào không duy trì được bản sắc của mình thì nước đó sẽ đánh mất khả năng tồn tại của mình” [13]
Văn hoá là một dòng chảy không ngừng Bản sắc dân tộc trong văn hoá cũng không đứng yên mãi mãi Như vậy, vấn đề giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành mối quan tâm của của tất cả các nước trên thế giới Chính vì
Trang 19thế phải kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá, truyền thống dân tộc để bảo vệ và phát huy nó trong điều kiện mới, nghĩa là làm cho bản sắc văn hoá dân tộc trong văn hoá mang tính thời đại
1.1.2 Ở Việt Nam
Trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc anh em đã cùng tồn tại và phát triển, mỗi một dân tộc đều có những nét văn hóa riêng Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử Đảng ta luôn chú trọng đến nhiệm vụ duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những mục tiêu cơ bản mà cách
mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” [23] Chủ trương trên thể hiện rõ ràng
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hoá dân tộc Người cho
rằng: “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu”[23] Người
đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu
tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Đây là quan điểm bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc có chọn lọc của Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong công cuộc hội nhập đất nước hiện nay
Đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những năm tiến hành hội nhập khu vực và quốc tế gần đây đã có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài với
Trang 20nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Tác giả Phạm Hồng Quang đã biên soạn cuốn
sách (Phạm, 2002) [27]; Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
cho học sinh trường PTDT Nội trú THCS&THPT Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh;
Trần Ngọc Thêm, với tác phẩm: "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”[34] ; Tác phẩm "Bản sắc văn hóa Việt Nam" của Phan Ngọc [23]; Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá" [20]; Tác giả Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" [36]; Với quan điểm dân tộc học, Phan Hữu Dật có tác phẩm
"Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" [15]; "Các dân tộc Hà Giang" [36]; "Việt Nam văn hóa và giáo dục”[35]
Các công trình nghiên cứu trên đây cũng đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc duy trì, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập hiện nay nhưng lại nghiên cứu ở góc
độ văn hóa Luận văn thạc sỹ của tác giả Lý Thị Thủy - 2014, cũng đã đề cập
đến vấn đề quản lí hoạt động giáo dục BSVH dân tộc song mới đề cập ở hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Theo Phạm Viết Vượng (2001), “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
và phù hợp với quy luật khách quan” [42]
Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) cho rằng “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [9]
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho
tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra [38]
Trang 21Hay nói một cách khác: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng QL như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn
hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội
Từ sự khái quát trên quản lý bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý (có thể một hoặc nhiều người)
- Đối tượng bị quản lý (có thể một hoặc nhiều người, sự vật, sự việc )
- Mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả lao động
- Chủ thể tiến hành các tác động quản lý bằng các công cụ quản lý và các phương pháp quản lý
- Quản lý về cơ bản là tác động lên con người, sự vật để điều hành các hoạt động có lợi cho tổ chức và đạt được những mục tiêu tổ chức đặt ra Để quản lý tốt trước hết cần hiểu sâu sắc về con người, sự vật với tư cách là đối tượng của quản lý, sau đó phải được đào tạo huấn luyện cách thức tác động đến con người, sự vật; Quản lý là tìm cách, biết cách ràng buộc một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người, trên cơ sở đó khích lệ con người đem hết năng lực thực hiện công việc được giao
- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới; Đó chính là thực hiện các chức năng của QL
- Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển
- Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gian tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực của
cá nhân, tổ chức theo mục tiêu đã đặt ra
Trang 22Nói một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Như vậy bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích có kế hoạch của lực lượng quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của quản lý
Chức năng kế hoạch hóa:
Là soạn thảo và thông qua được những quyết định về chủ trương quản lý quan trọng Trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp với thực tiễn của cơ sở
để đưa ra những phương hướng kế hoạch cho sát hợp và có tính khả thi cao
Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức tuyển lựa sắp xếp bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức
Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng tích cực hăng hái, chủ động theo sự phân công và kế hoạch đã định
Chức năng kiểm tra đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản
lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá đúng đắn
Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đề ra
1.2.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa
* Văn hóa
Cho đến nay khái niệm về văn hóa vẫn còn nhiều quan niệm trái ngược, khác nhau về nội hàm của khái niệm “Văn hoá”
Trang 23Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá nhóm họp tại Venise năm 1970 do UNESCO tổ chức đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”[38]
Trong Đại bách khoa toàn thư của Liên Xô văn hóa được định nghĩa:
“Văn hoá là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người, biểu hiện ra trong các kiểu và các hình thái tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra Văn hoá có thể được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể (ví dụ: văn hoá Ai Cập cổ đại, văn hoá Maya, văn hoá Trung Quốc…) Theo nghĩa hẹp, văn hoá chỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con người"
Ngay tại nước ta cũng có nhiều định nghĩa về văn hóa khác nhau, trong
số đó có một số định nghĩa được nhiều người quan tâm, sử dụng như:
Vào năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và mặc, các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"[19]
Theo Trần Ngọc Thêm - Năm 1995, trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá
Việt Nam đã định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội" [34]
Còn theo Tác giả Phan Ngọc (1998) định nghĩa: “Văn hoá là mối quan
hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế
Trang 24giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái
mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác” [23]
Tựu chung lại, Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người
Theo tác giả Trần Văn Bính thì bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng
và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc
đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển và tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện khác nhau giữa tộc người này với tộc người kia, dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa nhìn một cách tổng thể của bất kì dân tộc nào, đều gắn bó với lịch sử hình thành và phát triển của chính dân tộc đó [4]
Nhà thơ Tố Hữu cũng khẳng định: “Trong đồng bào các dân tộc thiểu số, BSVH biểu hiện đậm đà nhiều mặt Dân tộc nào cũng có tinh thần dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu, tính chân thật, lòng thương người mến khách Ở
Trang 25nhà sàn, ăn cơm nếp, uống rượu ngô Đội mũ, khăn, áo, quần nhiều màu sắc, đàn hát, nhảy múa đông người,… Những đức tính và nét sinh hoạt đó thường nổi bật trong đời sống của đồng bào ở miền núi” [9]
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm không dễ để xác định, bởi vì BSVH dân tộc có nhiều khái niệm nội hàm khác nhau, song chúng ta có thể
khẳng định rằng: “BSVH dân tộc là hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ
và lối sống của dân tộc tạo thành những đặc trưng tiêu biểu tiến bộ, riêng biệt, không thể pha trộn nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác BSVH dân tộc biểu hiện cho sự sáng tạo, sức sống và phát triển của dân tộc đó” Trong
khuôn khổ của luận văn, BSVH dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt của các dân tộc thiểu số
1.2.4 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc
Theo nghĩa rộng, giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc là một quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đối tượng giáo dục tích cực, chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ thống giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, tinh hoa của dân tộc và nhân loại đồng thời gạt bỏ những giá trị thói quen, tập tục lạc hậu, lỗi thời để những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn
Bên cạnh việc giáo dục đạo đức, hình thành những phẩm chất tốt đẹp của con người, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, giáo dục ý chí độc lập
tự cường cho các em HS,… thì giáo dục BSVHDT là một nội dung quan trọng trong GDHS ở nhà trường THPT hiện nay Trong giáo dục BSVHDT cần giúp
HS nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về những giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong nền văn hóa Việt Nam, hiểu biết về những nét văn hóa của các dân tộc khác nhau trong cộng đồng, có thái độ tôn trọng và ý thức bảo tồn những nét văn hóa độc đáo đó cũng như hình thành các hành vi ứng xử đúng mực đối với những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc anh em khác nhau cùng chung sống trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta
Trang 261.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
Giáo dục BSVHDT là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất, năng lực, tri thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, ứng xử, lối sống, ngôn ngữ,… của một dân tộc hướng tới sự phát triển toàn diện của người học trong đời sống văn hóa xã hội của chính dân tộc đó Chính vì vậy, quan tâm đến việc giáo dục BSVHDT là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc ở các nhà trường không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà giáo dục
cho cả cộng đồng
Như vậy, từ tổng quan trên có thể hiểu: Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của Hiệu trưởng lên GV, HS, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp học sinh có những hiểu biết về truyền thống văn hóa dân tộc, biết giữ gìn,
phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp
1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trung học phổ thông
- Giáo dục BSVHDT là góp phần phát triển bền vững nhân cách cho các
em học sinh Chính vì thế, trong điều kiện hiện nay, để “bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong giới trẻ, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, đạo đức, năng lực trí tuệ và bản lĩnh văn hóa của con người Việt Nam” và hình thành mẫu hình người thanh niên của thời kỳ mới: vừa biết giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của các DTTS, vừa biết làm giàu văn hóa dân tộc bằng những giá trị, những tinh hoa văn hóa nhân loại, là hiện thân tiêu biểu của các giá trị văn hóa Việt Nam,…tham gia tích cực và có hiệu quả việc giữ gìn và
Trang 27phát huy BSVHDT, để làm được điều đó cần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống và BSVHDT, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho thanh niên Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên thông qua việc đẩy mạnh các phong trào thi đua Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi để thế
hệ trẻ, học sinh học tập, rèn luyện
- Giáo dục văn hóa dân tộc là cách để bảo tồn và phát triển truyền thống
và bản sắc văn hóa dân tộc Con đường để BSVHDT được bảo tồn và phát triển tốt nhất là thông qua giáo dục Trong trường THPT, giáo dục BSVHDT là nhằm giúp học sinh nhận thức được giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, có ý thức về dân tộc, về những giá trị tinh thần và vật chất của dân tộc,
về lịch sử, về xã hội, các kinh nghiệm trong cuộc sống; hình thành ở học sinh những tình cảm tốt đẹp về VHDT, có tình yêu thương gắn bó với cộng đồng, có
ý thức trách nhiệm với sự phát triển của quê hương, biết tôn trọng, yêu quý, giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống của dân tộc; Hình thành nhân cách con người mới có trí thức và năng lực chuyên môn, đáp ứng công cuộc phát triển - kinh tế xã hội ở các dân tộc miền núi Cho nên giáo dục cho học sinh trong trường THPT không thể chỉ quan tâm đến giáo dục kiến thức, kỹ năng của các môn học mà bỏ qua hoặc coi nhẹ phần giáo dục BSVHDT
- Giáo dục BSVHDT còn có tầm quan trọng đặc biệt ở chỗ giúp cho học sinh nhận thức được rằng, BSVH không phải là một khái niệm của hằng số bất biến, mà trong quá trình vận động của lịch sử xã hội và cộng đồng, có những giá trị truyền thống không phù hợp với quy luật của sự phát triển sẽ bị gạt bỏ,
tự tiêu vong và đương nhiên, sẽ có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa Từ đó các em có nhận thức chủ động trong việc loại bỏ những yếu tố văn hóa không phù hợp, còn lạc hậu, để tiếp nhận những tri thức và hành động văn hóa mới phù hợp, tránh tư tưởng bảo thủ, máy móc trong lối sống, cách sống và trong sinh hoạt của hình thức văn hóa cổ hủ, lạc hậu từ quá khứ
Trang 28- Giáo dục bản sắc VHDT để hình thành và củng cố những hiểu biết, điều chỉnh hành vi ứng xử với bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng, nâng cao ý thức, trách nhiệm cá nhân của học sinh về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc VHDT Việt Nam nói chung
Lứa tuổi học sinh THPT có sự tiếp thu nhanh về văn hóa nhưng kinh nghiệm sống còn ít, chưa có chọn lọc cho nên các em chịu ảnh hưởng rất lớn về văn hóa từ môi trường sống Do vậy, giáo dục bản sắc VHDT giúp các em làm chủ được bản thân, sống tích cực, lành mạnh và tiếp thu văn hóa có chọn lọc
- Giáo dục bản sắc VHDT cho cá nhân HS để góp phần hình thành văn hóa lành mạnh trong cộng đồng, xã hội
Giáo dục bản sắc VHDT giúp các em có ý thức duy trì, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đặc biệt, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay, trước những hậu quả của đô thị hóa, trước những nguy cơ suy thoái văn hóa truyền thống dân tộc, Giáo dục bản sắc VHDT giúp xã hội đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa, hình thành văn hóa lành mạnh cho nhà trường, xã hội và
cả cộng đồng Không chỉ có vậy, giáo dục bản sắc VHDT trong giai đoạn hiện nay là một trong những nội dung quan trọng và bức thiết của nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Phổ thông nói riêng
1.3.2 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Học sinh bước vào trường THPT đã ổn định hơn về mặt tâm lý và thể chất, không có những khủng hoảng nghiêm trọng ở những giai đoạn trước đó Tuy nhiên, ở giai đoạn này nhiều nét tâm lý mới được hình thành và phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển nhân cách nói chung của các em: tâm lý muốn khẳng định mình, khát vọng thành đạt kéo theo ý thức về lựa chọn nghề nghiệp, nỗ lực phấn đấu để đạt mục tiêu
- Về thể chất: tuổi HS THPT là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt
cơ thể, sự phát triển về mặt thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Tuy nhiên tính dễ bị kích thích không phải là nguyên nhân
Trang 29sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà còn do cách sống ở độ tuổi này như: (hút thuốc
lá, không giữ điều độ trong sinh hoạt, học tập, lao động và vui chơi,…)
Nhìn chung lứa tuổi THPT có sức khỏe, có sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Sự phát triển về thể chất của lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn trong cuộc sống
- Về tâm lý:
+ Nhận thức: phần lớn các em đều ngoan, biết nghe lời khuyên bảo dạy
dỗ của thầy cô và người lớn tuổi Chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất, ham thích các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động tập thể khác
Ở một số học sinh tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu yếu, trình độ giác ngộ, nhận thức về xã hội còn thấp Một số có thái độ coi thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa hoa lãng phí, đua đòi theo bạn bè,…
+ Tình cảm: học sinh THPT là lứa tuổi mộng mơ, khát khao sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái hình thức bên ngoài, có mới nới cũ Lứa tuổi rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng dễ bi quan, chán nản khi gặp thất bại
Đây là lứa tuổi đang phát triển về tài năng tiếp thu cái mới nhanh, thông minh sáng tạo, nhưng cũng rất dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo, ít chịu học hỏi đến nơi, đến chốn, thích hướng về tương lai, ít chú ý hiện tại và dễ quên quá khứ,
Với đặc điểm đối tượng như trên đã cho thấy các em học sinh khi hòa nhập với cuộc sống tập thể còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, nhiều mặt chưa có mục tiêu phấn đấu, đó chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến động lực học tập, rèn luyện của các em Vì vậy, người giáo viên ngoài việc truyền giảng dạy kiến thức còn phải đáp ứng được các năng lực khác như: có vốn hiểu biết về tâm lí, ngôn ngữ, phong tục, tập quán đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi địa phương các em sinh sống, biết khơi dậy cho các em lòng tự hào
Trang 30dân tộc và hướng phấn đấu đúng đắn Giáo dục cho các em tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Đặc biệt việc giúp các em khắc phục, sửa chữa những phong tục tập quán, thói quen lạc hậu là điều gặp nhiều khó khăn Điều đó đặt ra cho công tác quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường THPT phải phù hợp vùng miền với công tác quản lý
và giáo dục của nhà trường
1.3.3 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông
Với nội dung của nền giáo dục hiện nay, chúng ta đang hướng tới là nền giáo dục theo 4 trụ cột giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để chung sống
và học để khẳng định mình” thì việc GDBS VHDT cần gắn với những hoạt động thực tế, những nhiệm vụ cụ thể trong cuộc sống hàng ngày để HS có cơ hội tìm hiểu, hiểu biết và vận dụng, chính các em là trung tâm của quá trình hoạt động Giáo dục BS VHDT các em được tham gia vào hoạt động, các em là chủ thể, là trung tâm của quá trình giáo dục Và từ đó, HS sẽ rút ra được những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn một cách chủ động và hiệu quả nhất
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay chưa có ban hành nội dung và quy định chương trình riêng biệt về lĩnh hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Nội dung này mới chỉ được đề cập trong các văn bản hướng dẫn dạy tích hợp vào nội dung các môn học, lồng ghép vào các hoạt động Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài và thực tiễn đối tượng giáo dục của các trường THPT, của địa phương luận văn đề cập một số nội dung sau:
* Giáo dục các chuẩn mực về truyền thống văn hóa dân tộc
Các chuẩn mực về truyền thống văn hóa dân tộc là những quy tắc sống, những kinh nghiệm xã hội được hình thành, đúc rút từ lâu đời được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói đến truyền thống là đề cập đến những quy tắc, thói quen tốt đẹp cần giữ gìn, phát huy như: truyền thống cách mạng, truyền
Trang 31thống dân tộc, truyền thống gia đình, truyền thống địa phương, đơn vị, Việc giáo dục truyền thống cho học sinh qua các tiết học là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của thầy cô giáo tới các em học sinh để hình thành cho các em
ý thức, tình cảm, niềm tin, niềm tự hào với những quy tắc, thói quen tốt đẹp, những giá trị chuẩn mực của thế hệ đi trước, từ đó tạo lập cho học sinh thói quen, hành vi ứng xử theo các chuẩn mực truyền thống văn hóa của dân tộc
Giáo dục những giá trị truyền thống vưn hóa tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, của địa phương, đơn vị không phải là nhiệm vụ của riêng ai, của mỗi một thầy cô phụ trách bộ môn nào mà là sự huy động của tập thể cán
bộ giáo viên nhà trường nhằm tạo nên hiệu quả trong việc lồng ghép giáo dục đạo đức nhân cách, những truyền thống văn hóa tốt đẹp cho học sinh
* Giáo dục ý thức thái độ đối với các chuẩn mực truyền thống văn hóa dân tộc:
Trong bối cảnh hội nhập, những mặt trái do cơ chế thị trường là không nhỏ, lối sống thực dụng, quay lưng lại với các giá trị truyền thống dân tộc, tôn thờ đồng tiền, nghiện hút, cờ bạc, mại dâm Chỉ có thể hạn chế, đẩy lùi hiện tượng này trên cơ sở tạo ra tổng hợp lực trên mọi lĩnh vực, trong đó việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phong phú lành mạnh đóng một vai trò quan trọng Bằng nhiều hình thức đa dạng như luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới đất nước, năng động, sáng tạo, có chí tiến thủ, kiên trì vượt khó, vươn lên trong học tập và cuộc sống, có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống nhân ái, khoan dung của ông cha, bài trừ các tệ nạn mê tín, dị đoan, văn hóa phẩm độc hại, đẩy mạnh tuyên truyền những nét đặc trưng của văn hóa dân tộc, của các vùng, miền, đa dạng hóa các hoạt động
lễ hội Tổ chức cuộc vận động “Tuổi trẻ sống đẹp”, “ Sống làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật” xây dựng nếp sống văn hóa cơ sở, đẩy mạnh các hoạt động thể thao…
Trang 32Giáo dục thẩm mỹ bằng tấm gương người tốt, việc tốt là sáng kiến đầu tiên của Hồ Chí Minh Giá trị văn hóa của dân tộc được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể trong từng con người, từng hành vi của họ Bởi vì người tốt, việc tốt cũng là người đẹp, việc đẹp, đó là những con người sống phù hợp với đạo đức và thẩm mỹ Người tốt, việc tốt hiện nay là những người có ý chí vươn lên trong mọi lĩnh vực, là làm giàu bằng tài năng, ý chí trong kinh doanh, là phát minh sáng chế trong khoa học, là nhanh hơn cao hơn trong thể thao, là xả thân vì nghĩa lớn trong phòng chống tội phạm… Mọi người tốt, việc tốt có các giá trị thẩm mỹ khác nhau nhưng đều hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp
* Giáo dục kỹ năng, hành vi thực hiện các chuẩn mực văn hóa truyền thống dân tộc
Học sinh THPT là lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ Phát huy vai trò của các em trong giáo dục kỹ năng, hành vi thực hiện các chuẩn mực văn hóa truyền thống dân tộc là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành Đó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân Trước hết phải hình thành cho học sinh nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, rèn luyện cho học sinh Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của học sinh
về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luyện các chuẩn mực văn hóa
Mỗi em học sinh phải xác định rõ trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ
và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng,
Trang 33lợi mình hại người Giới trẻ học sinh cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện kỹ năng, hành
vi cho học sinh trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ học sinh vừa "hồng", vừa "chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu
1.3.4 Phương pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông
Phương pháp giáo dục bản sắc VHDT rất phong phú, đa dạng Nhà giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt cho phù hợp với mục đích đối tượng và tình huống cụ thể Người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật giáo dục, đòi hỏi nhà giáo dục cần có năng lực sư phạm để biết cách phối hợp vận dụng các phương pháp giáo dục cho phù hợp với đối tượng HS Giáo dục bản sắc VHDT là một bộ phận của một quá trình giáo dục tổng thể Giáo dục bản sắc VHDT có thể thông qua khai thác nội dung các môn học có ưu thế như môn Giáo dục công dân, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý Nhưng theo định hướng đổi mới chương trình năm 2018, việc giáo dục bản sắc VHDT cho HS được thực hiện theo cách tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HS được hoạt động tập thể, trải nghiệm trong quá trình học tập Dưới đây là một số phương pháp giáo dục bản sắc VHDT qua sử dụng các phương pháp và các kĩ thuật tích cực:
- Phương pháp giảng giải:
Giảng giải là phương pháp dạy học thông dụng nhất, nhưng không phải lúc nào cũng là hiệu quả nhất Giảng viên dùng lời nói kết hợp với các phương tiện nghe nhìn như: Bảng - phấn, video/film, máy tính, máy chiếu… để giảng giảng cho người học nghe, phát hiện và hiểu các khái niệm, hiện tượng, qui luật, nguyên lý của các quá trình
Trang 34- Phương pháp hợp tác theo nhóm:
Đây là phương pháp mà giáo viên tổ chức cho HS cùng trao đổi thảo luận để đưa ra suy nghĩ, quan điểm, quyết định và giải quyết một vấn đề trong những nhóm nhỏ để HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS chia sẻ kinh nghiệm và họp tác để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ được giao Hơn nữa, chính cách thức tổ chức giáo dục này cũng tạo cơ hội để HS giao tiếp, chia sẻ quan điểm, chấp nhận sự khác biệt trong quan điểm của mình và của các bạn Qua đó hình thành cách ứng xử có văn hóa với các bạn và với thầy cô
- Nghiên cứu trường hợp, tình huống: là phương pháp giáo viên đưa học sinh vào tình huống có tính thực tiễn, HS tự giác nghiên cứu tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của một tình huống đặt ra,
- Phương pháp tổ chức trò chơi: Đây là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề/thể nghiệm hành động Trò chơi gồm nhiều loại Trò chơi có thể được điều chỉnh theo nội dung bài học và được sử dụng khi ôn tập Trò chơi
có thể được sử dụng bởi cá nhân, trong nhóm hay với cả lớp
- Phương pháp thi đua: Là phương pháp có nhiều ưu điểm và lợi thế thông qua các phong trào thi đua trong năm học, thông qua điểm thi đua cần động viên, biểu dương, khen thưởng kịp thời Tuy nhiên, phương pháp này không còn hiệu quả khi mà các đợt thi đua kết thúc
- Phương pháp giao việc: Là phương pháp lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đa dạng với những công việc cụ thể, với những nghĩa vụ xã hội nhất định Qua đó, học sinh sẽ có điều kiện để thể hiện những kinh nghiệm vốn có của mình hình thành được những hành vi phù hợp với công việc được giao, thu nhận kiến thức phù hợp
- Phương pháp nêu gương: Minh họa bằng những tấm gương người tốt việc tốt để nêu gương, phương pháp này có sức lan tỏa rất mạnh mẽ trong cá nhân và tập thể nhóm và lớp
Trang 35Để giáo dục bản sắc VHDT cho HS có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức quan trọng Công tác giáo dục chỉ đạt kết quả tốt khi có sự tác động của các lực lượng giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội
Quá trình giáo dục bản sắc VHDT bao giờ cũng mang tính cụ thể, phụ thuộc vào từng cá nhân, người được giáo dục phải thông qua những tình huống giáo dục riêng biệt, cụ thể nhất định Quá trình giáo dục mang tính biện chứng,
đó là quá trình biến động và phát triển không ngừng về nội dung và con dường, tính chất sao cho phù hợp với đối tượng giáo dục là những con người đang phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi
Cũng như các nội dung giáo dục khác, việc giáo dục bản sắc VHDT cũng cần các nhà giáo dục cần phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, nắm vững hoàn cảnh sống cụ thể của từng HS để có sự tác động thích hợp
1.3.5 Con đường giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông
1.3.5.1 Tích hợp nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thông qua giảng
dạy các môn học chiếm ưu thế
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng ở nhiều cơ sở giáo dục trong những năm gần đây Qua việc tích hợp của GV trong giờ dạy, học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và lôgic Qua đó, học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình Trong chương trình giáo dục phổ thông có nhiều môn có thể tích hợp các nội dung giáo dục bản sắc VHDT như môn Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lí, môn giáo dục công dân, Giáo dục bản sắc VHDT thông qua việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc vào bài học của các môn học một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài học, làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn Tận dụng cơ hội để Giáo dục bản sắc VHDT trên cơ sở đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính lôgic nội dung không làm quá tải về kiến thức và tăng thời gian thực hiện bài học
Trang 36Phương thức tích hợp giáo dục bản sắc VHDT thể hiện ở ba mức độ:
- Tích hợp toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
- Tích hợp bộ phận: Một phần bài học có mục tiêu và nội dung GDBSVHDT
- Tích hợp liên hệ: Liên hệ thực tiễn về GDBSVHDT vào bài học một cách lôgic
VD: Các môn học có thể xác định các nội dung cần tích hợp theo bảng sau:
Nội dung giáo dục BSVHDT
Mức độ tích hợp
- Kiến thức
- Kĩ năng
- Thái độ, hành vi
1.3.4.2 Tổ chức hoạt động ngoại khóa gắn với môn học có ưu thế
Thông qua việc tổ chức ngoại khóa bộ môn có thể giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh THPT với các hình thức như:
Với bộ môn văn học có thể tổ chức ngoại khóa với chủ đề: thi tìm hiểu văn hóa, trình diễn trang phục DT, thi văn nghệ, dân ca các dân tộc, múa khèn Mông,… qua đó làm cho các em HS thêm tự tin, thêm yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào về dân tộc mình
Với bộ môn Lịch sử GDBSVHDT thể hiện thông qua truyền thống yêu nước đấu tranh bất khuất trong dựng nước và giữ nước của DT Việt Nam anh hùng, truyền thống nhân đạo sâu sắc và rất nhiều những truyền thống, giá trị cao đẹp khác của dân tộc Việt Nam Với bộ môn lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng trong giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam Điều
đó có nghĩa là muốn giữ gìn và phát huy được những truyền thống hào hùng đó thì
Trang 37trước tiên phải nắm và hiểu rõ được lịch sử của DT mình, môn học lịch sử có vai trò quan trọng trong vấn đề này
Với bộ môn giáo dục công dân giáo dục BSVHDT thể hiện thông qua việc giáo dục kiến thức, kỹ năng, thái độ hướng học sinh vươn tới những giá trị
cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước Đó là những giá trị tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong sự hòa nhập với tinh hoa văn hóa các dân tộc khác, thể hiện được sự thống nhất giữa tính truyền thống và tính hiện đại Nội dung môn GDCD phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, thực tiễn của học sinh, gắn liền với những sự kiện trong đời sống pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương, của đất nước Có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa giáo dục bản sắc VHDT gắn với địa phương như tìm hiểu về truyền thống lịch sử, văn hóa, truyền thống,…
1.3.4.3 Kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội ở địa phương
Để giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh một cách toàn diện thì cần có
sự phối hợp của các lực lượng Trước hết gia đình là “cái nôi văn hóa” đầu tiên
và quan trọng nhất Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội là nơi kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc đối với mỗi cá nhân Trình độ văn hóa, quan điểm sống của từng thành viên trong gia đình đặc biệt là của cha mẹ đều tác động và gây ảnh hưởng đến giáo dục truyền thống văn hóa cho các em
- Môi trường giáo dục gia đình:
Nếu như ngày xưa, “gia phong, gia giáo, gia lễ” là những quy chuẩn chủ yếu để tạo dựng một gia đình, trong đó “gia phong” là lề thói mà các thành viên trong gia đình phải noi theo, là bản sắc văn hoá của một gia đình; “gia lễ” là những quy định chặt chẽ về cách ăn, nét ở của mỗi thành viên trong gia đình từ lời nói, cách ăn mặc đến cử chỉ, điệu bộ và cách ứng xử giữa các thành viên
Trang 38trong gia đình và xã hội; “gia giáo” là cách giáo dục các thành viên trong gia đình, trong đó nội dung chủ yếu là giáo dục về đạo đức, phẩm chất và lối sống
Ngày nay, do nhịp sống của xã hội phát triển và cơ chế thị trường đang quấn hút các thành viên trong gia đình vào vòng xoáy của cơn lốc kiếm tiền, làm giàu mà sao lãng vai trò chia sẻ, quan tâm, chăm sóc và giáo dục con cái; phó mặc vai trò đó cho nhà trường và xã hội, hoặc có chăng cũng chỉ quan tâm đến kết quả học tập về mặt kiến thức ở trường, ở lớp chứ chưa thực sự quan tấm giáo dục đạo đức, lối sống Điều đó cũng dễ dàng lý giải rằng tại sao những năm gần đây nhiều vấn đề bức xúc, tiêu cực đã và đang nảy sinh và lan rộng trong quan hệ xã hội, cộng đồng và gia đình mà chúng ta không thể kiểm soát nổi, đó là do hệ quả của sự lãng quên hoặc từ bỏ nhiều giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình
Cần nhận thức rõ rằng, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình có ý nghĩa rất quan trong trong việc bảo vệ các thành viên trong gia đình tránh được các tệ nạn xã hội và nhiều vấn đề tiêu cực khác nãy sinh trong cuộc sống, là nền tảng để thể hệ trẻ trong gia đình xác định được đầu là giá trị đích thực, văn minh, tiến bộ trong xã hội hiện đại cần phải được tiếp thu, học hỏi và đâu là những vấn đề tiêu cực, lai căng đi ngược với xu thế văn minh, tiến bộ; là cơ sở để thế hệ trẻ xây dựng nhân cách mới, hợp với xu thế hiện đại, nhưng cũng không có nghĩa là quay lưng hoàn toàn với quá khứ, mà quá khứ sẽ được chắt lọc, mài rũa, đổi thay cho phù hợp với điều kiện mới, tiến bộ và văn minh hơn
Luôn tạo được môi trường sống trong gia đình lành mạnh, một không một không gian văn hóa gia đình ấm cúng, tràn đầy tính truyền thống, các thành viên trong gia đình luôn yêu thương, đùm bọc, chia sẻ lẫn nhau, hy sinh cho nhau, chứ không phai là sự so đo, ganh tỵ, không đặt lợi ích cá nhân, mục đích kinh tế, tiền bạc trên các mối quan hệ, ứng xử trong gia đình Điều này có
ý nghĩa hết sức quan trọng, làm cho các thành viên trong gia đình ý thức được
Trang 39rằng việc tiếp thu các giá trị văn hóa truyền thông trong gia đình đó không chỉ
là nghĩa vụ của mỗi người mà còn là nhu cầu cần thiết của cuộc sống
- Nhà trường được coi là môi trường giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống văn hóa dân tộc có tổ chức, có kế hoạch, phương pháp, được sự hướng dẫn, điều khiển có bài bản của các thầy cô giáo hướng đến các em HS người DTTS Trong những năm gần đây nội dung giáo dục bản sắc VHDT đã được tích hợp và lồng ghép giáo dục trong nhiều môn học ở nhà trường Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những nội dung chưa được chú ý tương xứng với tầm quan trọng của nó Vì vậy, để nhà trường trở thành một cơ sở giữ gìn và giáo dục có hiệu quả truyền thống văn hóa, thì nhất thiết phải đẩy mạnh các hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống phù hợp với tâm lý, tình cảm của từng lứa tuổi; thông qua các hoạt động ngoại khoá, các hội thi, hội diễn văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống; đẩy mạnh hơn nữa các phong trào hướng về cội nguồn, đền ơn đáp nghĩa,… nhằm tạo môi trường thuận lợi để các em tự hấp thụ, tự hiểu và tự nguyện tham gia từ đó đi đến ham thích các hoạt động tìm hiểu các giá trị truyền thống
- Các lực lượng xã hội ở địa phương như Đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, tổ chức văn hóa xã hội của địa phương…có ý nghĩa to lớn trong việc truyền bá cũng như gây ảnh hưởng tích cực đến quá trình hình thành bản sắc văn hóa dân tộc cho các em HS Ví dụ tổ chức các chương trình kể chuyện của các bác cựu chiến binh, tổ chức cho HS tham quan các di tích lịch
sử, các làng nghề truyền thống, Đoàn thanh niên thường xuyên xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch và tổ chức tuyên truyền các ngày lễ lớn phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, giải trí trong các dịp lễ, tết Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao được xây dựng, phát triển sâu rộng Qua hội thi, liên hoan đã góp phần giới thiệu, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân.,…Nhằm mục đích khơi gợi lòng tự hào dân tộc, yêu quê hương đất nước
Trang 40Giáo dục BSVHDT cho HS cần có sự phối hợp đồng thời của các lực lượng trong và ngoài nhà trường thì mới có đạt được hiệu quả cao Nếu thiếu một trong các lực lượng giáo dục nói trên chắc chắn việc giáo dục BSVHDT cho học sinh gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” làm cho các em mất định hướng trong nhận thức và hành vi
Để xây dựng con người mới, nền văn hóa mới “ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thì việc giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong gia đình, nhà trường và các lực lượng khác là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng Đó không chỉ là vai trò của gia đình, nhà trường mà là của cả cộng đồng và toàn xã hội
1.3.4.4 Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trung học phổ thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý - xã hội ; giúp học sinh tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này
Hoạt động trải nghiệm là các HĐGD thực tiễn được song hành với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông HĐTN là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học gắn với các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, HĐTN là các HĐGD có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời từ đó các em biết quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh Thông qua việc tham gia vào các HĐTN, các em học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả