1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng và giải pháp về chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số

28 602 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 248 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản và chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Trong một quốc gia đa dân tộc, đây là một vấn đề sống còn. Một chính sách dân tộc đúng đắn phải phản ánh được cơ cấu dân tộc, vị trí, vai trò của mỗi dân tộc, quan hệ giữa các dân tộc; thực trạng phát triển kinh tế xã hội của các dân tộc từ đó có các giải pháp thích hợp để phát triển; đảm bảo bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng phát triển của các dân tộc.Ở nước ta, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc càng trở nên quan trọng. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản trong sự nghiệp cách mạng. Do đó, ngay sau khi giành độc lập, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập ngay Nha Dân tộc thiểu số để theo dõi, quản lý các vấn đề dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

Chính sách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản và chiến lược của

Đảng và Nhà nước ta Trong một quốc gia đa dân tộc, đây là một vấn đề sốngcòn Một chính sách dân tộc đúng đắn phải phản ánh được cơ cấu dân tộc, vị trí,vai trò của mỗi dân tộc, quan hệ giữa các dân tộc; thực trạng phát triển kinh tế -

xã hội của các dân tộc từ đó có các giải pháp thích hợp để phát triển; đảm bảobình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng phát triển của các dân tộc

Ở nước ta, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc càng trở nên quan trọng.Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định dân tộc là một trong những vấn

đề cơ bản trong sự nghiệp cách mạng Do đó, ngay sau khi giành độc lập, Chínhphủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập ngay Nha Dân tộc thiểu số

để theo dõi, quản lý các vấn đề dân tộc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Đảng ta luôn coi vấn

đề dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước

ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng vàgiúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đườnglối, quan điểm về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vịtrí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Các dân tộc trong đại giađình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùngtiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng

và bảo vệ tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số Tăng cường kiểm tra, giámsát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và

Nhà nước ở các cấp” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011,tr.244-245)

Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằmgiúp đỡ đồng bào các dân tộc, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, xóa bỏ dầnnhững hủ tục, thành kiến lạc hậu Do vậy, nội dung của chính sách dân tộc là gắnliền với từng lĩnh vực của đời sống xã hội Chính sách phát triển kinh tế - xã hộivùng dân tộc thiểu số chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách dân tộc ởnước ta và là một bộ phận trọng yếu trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhànước ta hiện nay

Tại việc quán triệt và thực hiện các chính sách về phát triển kinh tế - xãhội vùng dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy vậy, trongviệc thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế Thực tế chính sách dân tộc của

Trang 2

chưa phản ánh đầy đủ những thực tế, yêu cầu bức xúc trong quá trình chuyển đổitoàn bộ nền kinh tế - xã hội từ mô hình tập trung, quan liêu, bao cấp sang môhình kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền Một

số mục tiêu, kế hoạch đề ra như xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, rút ngắnkhoảng cách phát triển giữa các dân tộc… đều chưa được thực hiện hiệu quả

Với những yêu cầu cấp thiết của Đảng và Nhà nước ta về các chính sáchphát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số cả nước nói chung vàtrên địa bàn nói riêng còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở thực trạng và giải pháp” làm tiểu luận cuối khóa.

2 Mục đích - yêu cầu

- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộcthiểu số ở giai đoạn hiện nay

Đề ra các giải pháp thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế

-xã hội vùng dân tộc thiểu số ở giai đoạn 2015 - 2020

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là đồng bào các dân tộc thiểu số

- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bàodân tộc thiểu số ở giai đoạn 2010 - 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phương pháp phân tích, tổnghợp, thống kê, so sánh

5 Kết cấu của đề tài

Chương I Cơ sở lý luận về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

Chương II Thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hộivùng dân tộc thiểu số ở huyện Phước Sơn giai đoạn 2010 - 2014

Chương III Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thựchiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở huyện PhướcSơn, giai đoạn 2015 - 2020

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc được thể hiện tập trung

ở Cương lĩnh nổi tiếng là “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được

Trang 3

quyền tự quyết, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” (V.I Lênin; Toàn tập,NXB Tiến bộ, Mastxcơva, 1980, t.25, tr.375).

Bình đẳng dân tộc là nguyên tắc rất quan trọng của cương lĩnh Đây là một

sự bình đẳng thật sự, bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực:kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục,… Lênin đã phân tích rằng: “Người nàokhông thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bìnhđẳng giữa các ngôn ngữ, người đó không phải là người mácxit, thậm chí khôngphải là người dân chủ nữa” (V.I.Lênin; Toàn tập, NXB Tiến bộ, Maxcơva, 1980,tr136)

Quyền tự quyết của dân tộc là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương

lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc Theo Lênin: Quyền dân tộc tự quyết, nghĩa làquyền phân lập và thành lập quốc gia dân tộc riêng biệt (V.I.Lênin; Toàn tập,NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.27,tr.331-333) Nhưng quyền tự quyết không

có nghĩa là nhất thiết tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện Khẩu hiệu “Cácdân tộc có quyền tự quyết không phải là để các dân tộc tách ra, mà chính là đểcác dân tộc xích lại với nhau Sức mạnh ở khẩu hiệu đó là ở chổ nó gạt bỏ tất cảmọi cơ sở nghi ngờ về mưu đồ thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác vànhằm chuẩn bị cho các dân tộc tiến đến sự liên minh tự nguyện vào một quốc gia

Xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều dân tộc” (V.I.Lênin; Toàn tập, NXB Tiến bộ,Mátxcơva, 1980, t.27,tr.331-333)

Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại là nguyên tắc thứ ba trong

cương lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc Đây là sự liên minh quốc tế trong cuộcđấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, vì sự giải phóng dân tộc và

xã hội Lênin đã viết: “Chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa quốc tế vô sản đó

là hai khẩu hiệu đối lập và thích ứng với hai mặt trận giai cấp lớn trong thế giới

tư bản chủ nghĩa và biểu thị hai chính sách trong vấn đề dân tộc” (V.I.Lênin;Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.27,tr.157) Chủ nghĩa quốc tế vô sản

là ngọn cờ của nhân dân lao động thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bứcdân tộc

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là biểu hiện tập trung của sự vậndụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, với những nội dung:

Chỉ có cách mạng vô sản mới là con đường giải phóng triệt để dân tộc, tưtưởng này được nhận thức trên hai phương diện đối ngoại và đối nội Vấn đề dântộc trên phương diện đối ngoại, khi nước ta là một nước thuộc địa nữa phongkiến thì vấn đề dân tộc là vấn đề giành lại độc lập tự do cho cả dân tộc đa số vàdân tộc thiểu số trong quốc gia Việt Nam thống nhất, làm cho các dân tộc từ thânphận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước

Vấn đề dân tộc trên phương diện đối nội, nước ta là một quốc gia đa dântộc, giải quyết vấn đề dân tộc ở đây là xác định đường lối, chính sách để đưa các

Trang 4

dân tộc tiến lên xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnhphúc, trong một xã hội bình đẳng, công bằng, dân chủ và văn minh.

Các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc Đoàn kết để đấu tranh chống kẻ thù, giữ vững nền độc lậpchung của Tổ quốc Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các dân tộc thiểu

số còn ở trình độ chậm phát triển để cùng nhau tiến bộ

Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít ngườiđược hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, văn hoá, giáo dục

Đảng và Nhà nước chú trọng chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đàotạo, bồi dưỡng, đề bạt đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số (DTTS) miền núiđáp ứng nhu cầu xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội vàmuốn thế toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

là phải: Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít ngườiđược hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, văn hoá, giáo dục(Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tập 11,trang 137)

3 Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam

về chính sách dân tộc.

Chính sách dân tộc là một hệ thống những quan điểm chính trị của mộtgiai cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước để giải quyết vấn đề dân tộc và mốiquan hệ giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chính sách dântộc là cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc, tác độngtrực tiếp đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống

xã hội

Những nguyên tắc trong chính sách dân tộc được thể hiện trong các kỳĐại hội của Đảng Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định: “Trong việc phát triểnkinh tế, xã hội ở những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủchính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên

tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật.H.1987, tr 97).

Chính sách dân tộc được tiếp tục cụ thể hóa theo tinh thần của Đại hộiĐảng lần thứ VII (1991) và VIII (1996) Đến đại hội lần thứ IX của Đảng, mộtvăn kiện quan trọng của việc thực hiện chính sách dân tộc là Nghị quyết Hộinghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX về công tác dân tộc Nghị quyết này chỉ rõnăm nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài là phát triển kinh tế - xã hội vùng dântộc thiểu số (DTTS) Tinh thần chủ đạo của Đại hội Đảng lần thứ X (2006), lầnthứ XI (2011) là tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trungương lần thứ bảy khóa IX về công tác dân tộc, nhằm thực hiện hóa mục tiêu:

“Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ

Trang 5

nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Sự thật.H.2011, tr 51).

Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trên ba nguyêntắc cơ bản: Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Các nộidung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hợp thành mộtthể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Có bình đẳngthì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triểnthì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc

Với Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (khóa VI) về công tác dân tộc, Đảng

ta đã khẳng định: Phát triển kinh tế - xã hội là nội dung cấp thiết của chính sáchdân tộc, bởi vì: chỉ khi thực hiện tốt việc phát triển kinh tế - xã hội mới có tiền

đề vật chất cho việc thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết và tiến bộ xã hội; phát triểnkinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở miền núi mới giải quyết được các vấn đềbức xúc đang đặt ra; phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở miền núimới có cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa mới Từ khi có Nghị quyết 22 của

Bộ Chính trị (khóa VI) đến nay, với tư duy mới về chính sách dân tộc, nhiềuchương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội đã được thực hiện và tạo rabước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS; trong đó,

có vùng DTTS ở tỉnh Quảng Nam

Các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ như:

- Nghị quyết 15-NQ/TW, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 nêurõ: Ðẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chươngtrình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng các chính sách giảmnghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu sốthuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn,vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xãhội so với bình quân cả nước

- Nghị quyết 76/2014/QH13 chỉ rõ: Ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng

và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộcthiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặcbiệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo

- Nghị quyết 80/NQ-CP đã chỉ đạo: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâmcủa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từngbước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi,vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 vàgiai đoạn tiếp theo, bao gồm các Đề án/Dự án giảm nghèo; hệ thống tiêu chíđánh giá công tác giảm nghèo quốc gia

- Nghị quyết 30a/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với

62 huyện nghèo, mục đích của Nghị quyết là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về

Trang 6

đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộccác huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khuvực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuấthàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hộinông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môitrường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN

1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống vùng DTTS ở , tỉnh Quảng Nam.

1.1 Điều kiện tự nhiên

Phước Sơn là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam

Kỳ 120 km; phía Bắc giáp huyện Nam Giang, phía Đông Bắc giáp huyện Nông

Trang 7

Sơn; phía Đông giáp huyện Hiệp Đức, phía Nam giáp huyện Nam Trà My, phíaTây giáp huyện Đăkglei, tỉnh Kon Tum Huyện có diện tích tự nhiên 114.479ha; toàn huyện có 11 xã và 01 thị trấn, với 66 thôn (khối), được phân ra 03 vùnglà:

+ Vùng cao gồm 05 xã: Phước Chánh, Phước Công, Phước Kim, PhướcThành, Phước Lộc

+ Vùng Trung gồm 03 xã: Phước Đức, Phước Năng, Phước Mỹ và thị trấnKhâm Đức

+ Vùng thấp gồm 03 xã: Phước Hòa, Phước Hiệp và Phước Xuân

1.2 Dân số - Dân tộc

Dân số toàn huyện có 24.590 người, gồm 16 thành phần dân tộc sinh sống;trong đó chủ yếu là người Gié Triêng chiếm 62,2%, dân tộc Kinh chiếm 31,5%,còn lại 6,3% là các dân tộc thiểu số khác gồm: Ca dong, Giẻ, Tày, Nùng, Pa cô,

Cơ tu, Sán dìu, Vân kiều, Mường, Thái, Cor, Hrê, Ve, Ba na

1.3 Kinh tế - Xã hội

+ Tốc độ tăng trưởng bình quân: 21%

+ Thu nhập bình quân đầu người: 3,9 triệu đồng/năm

+ Tỷ trọng NN - CN - DV: 33,05% - 23,71% - 43,23%

(Số liệu thống kê cuối năm 2008)

Tính đến cuối năm 2008, toàn huyện còn 2.557 hộ nghèo theo chuẩn quốcgia (11.709 nhân khẩu), chiếm tỷ lệ 52.2% so với tổng dân số toàn huyện Trong

đó hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 2.257 hộ (10.323 khẩu)

1.4 Thực trạng về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất vùng DTTS.

Kết cấu hạ tầng của huyện thời gian qua đã được đầu tư xây dựng khámạnh, song do nguồn lực có hạn nên hệ thống hạ tầng vẫn chưa đồng bộ, chưađáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện

a) Xây dựng:

- Những năm qua ngành xây dựng của huyện đã đạt được những thành tựuđáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Bằng nhiều nguồnvốn trong giai đoạn 2010-2015 huyện đã tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấpsửa chữa trên 263 công trình với tổng số vốn đầu tư phần huyện quản lý 657,7 tỷđồng Ngoài ra các doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư trên 200 tỷ đồng cho việcxây dựng các khách sạn, nhà hàng, cơ sở sản xuất góp phần đổi thay diện mạocủa huyện, nhất là tại địa bàn thị trấn Khâm Đức

- Sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng gắn liền với sự pháttriển chung của toàn nền kinh tế và phụ thuộc nhiều vào khả năng cũng như quy

mô đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Nhìn chung vốn đầu tư củaNhà nước đã góp phần bình ổn và tạo điều kiện phát triển kinh tế huyện, các dự

án xây dựng cơ sở hạ tầng theo các chương trình 134, 135 và Nghị quyết 30a củaChính phủ đã được triển khai hàng năm góp phần làm tăng tỷ trọng ngành côngnghiệp và xây dựng bình quân 16,6%/năm

Trang 8

+ Quốc lộ 14 E dài 80 km kết nối với Tam Kỳ và đi qua địa bàn xã PhướcHiệp, Phước Hòa, Phước Xuân của huyện Phước Sơn, chiều dài 27 km, tiếp giápvới đường Hồ Chí Minh tại ngã ba Play Lao Mưng

Đối với các tuyến đường huyện còn lại, nhất là tuyến đường đi các xãvùng cao, mặt đường còn hẹp, nền đường yếu, khó khăn cho việc đi lại, giaothương Các tuyến đường này hiện đang được đầu tư, nâng cấp để đáp ứng yêucầu phát triển trong tương lai

c) Thủy lợi:

- Được sự quan tâm đầu tư, trong những năm qua thông qua chương trìnhđịnh canh định cư, chương trình 135, Nghị Quyết 30a, … nhiều công trình thủylợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đã được xây dựng và đưa vào sử dụng.Đến nay tổng số công trình thủy lợi trên địa bàn huyện có khoảng 90 công trình,chủ yếu là hệ thống đập dâng và kênh dẫn nước quy mô nhỏ, đáp ứng tưới tiêucho khoảng 60% diện tích lúa nước

- Bên cạnh đó, công trình thủy lợi Hồ chứa Nước Zút do Sở Nông nghiệp

& PTNT làm chủ đầu tư với tổng kinh phí hơn 27 tỷ đồng đã góp phần tưới tiêu

ổn định cho gần 120 ha lúa nước tại xã Phước Năng và có khả năng phát triểnnuôi trồng thủy sản rất tốt, bước đầu huyện đã thả 100.000 con cá giống để xãquản lý, nuôi dưỡng, phục vụ cho nhu cầu đánh bắt, cải thiện bữa ăn cho nhândân trong vùng

- Ngoài ra, hàng năm huyện cung cấp cho nhân dân các xã hàng ngàn mét ốngnhưa HDPE để bà con tự làm thuỷ lợi, tưới những diện tích nhỏ lẻ ở những vùngkhó khăn nhằm tiến tới ổn định sản xuất và an ninh lương thực cho toàn huyện

d) Điện sinh hoạt:

Lưới điện quốc gia đã đến 11/12 xã, thị trấn, tỷ lệ hộ được sử dụng điệnđạt trên 90%, hiện chỉ còn xã Phước Lộc chưa có lưới điện quốc gia Do điềukiện sinh sống phân tán, địa hình chia cắt nên việc đưa lưới điện sinh hoạt về hộgia đình gặp nhiều khó khăn, chất lượng chưa tốt, thường hay xảy ra sự cố mấtđiện, nhất là vào mùa mưa bão

đ) Cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất Nông Lâm Ngư nghiệp trong vùng

Trang 9

Công tác tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được chútrọng; thường xuyên mở các lớp hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, xây dựng môhình sản xuất cây, con giống mới, các mô hình nông - lâm kết hợp.

- Nhìn chung, việc ứng dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sảnxuất nông, lâm nghiệp đã từng bước được nâng lên nhưng vẫn còn nhiều hạnchế, sản xuất vẫn mang tính tự phát, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôitrong những năm qua còn thấp; hiệu quả đầu tư chưa cao

1.5 Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội trên địa bàn huyện

a) Y tế:

Ngành Y tế huyện những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể,các chương trình phòng bệnh, phòng dịch và chăm sóc sức khoẻ ban đầu đượcthực hiện tốt, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Cácchương trình y tế quốc gia, các chính sách của Nhà nước, các dự án hỗ trợ khám,chữa bệnh cho đồng bào nghèo, đồng bào dân tộc ít người và gia đình chính sáchđạt kết quả khá tốt

b) Giáo dục - Đào tạo:

Trong giai đoạn vừa qua, lĩnh vực giáo dục và đào tạo của huyện được chú

ý và có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng Toàn huyện có7.011 học sinh tăng 8% so với năm 2005, tỷ lệ học sinh đến trường đạt 98%,ngành học mầm non được mở rộng đến 12 xã, thị trấn Cơ sở vật chất phục vụcho dạy và học được tăng cường; trong 05 năm đã xây mới được 138 phòng họckiên cố và xây dựng hoàn thành trường PTDT nội trú của huyện

c) Văn hóa - Thể thao:

Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, thông tin được củng cố, tạo môitrường sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong nhân dân, đảm bảo giữ gìn trật tự anninh, nếp sống kỷ cương, bài trừ các tệ nạn xã hội, phát huy truyền thống vănhóa của dân tộc Hiện có đến 85% các khu dân cư, tổ dân phố được phủ sóngtruyền hình, hệ thống phát thanh không dây đến 8/12 xã, thị trấn

1.6 Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hiệu quả đầu tư của các Chương trình, dự án thời gian qua trên địa bàn huyện

Trong 5 năm qua, trên địa bàn huyện đã được triển khai nhiều chươngtrình, dự án, chính sách của Trung ương, như Chương trình 135 giai đoạn II,Chương trình 134, Nghị quyết 30a, Chương trình giảm nghèo, Quyết định33/2007/QĐ-TTg, Quyết định 102/2009/QĐ-TTg, Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về, hỗ trợ xóa nhà tạm cho đồngbào dân tộc thiểu số

Trong 5 năm qua, đồng bào các dân tộc thiểu số huyện thi đua thực hiệncác chương trình xoá đói giảm nghèo, giúp nhau phát triển sản xuất, thúc đẩykinh tế - xã hội phát triển, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thốngchính trị vững mạnh; tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn

Trang 10

dân tộc, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, góp phần nâng cao đờisống vật chất và tinh thần trong nhân dân thể hiện trên một số lĩnh vực như sau:

Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước Tốc độ

tăng trưởng GDP bình quân mỗi năm từ 7 8%; giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng từ 4-5%; thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệu đồng/năm, tăng

-3 triệu đồng so với năm 2009 Tỷ lệ nghèo giảm bình quân gần 5%/năm (hiệnnay còn 51,71%)

- Trên lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực;diện tích canh tác, năng suất cây trồng và con vật nuôi tăng dần Đồng bào đã tậptrung khai hoang, cải tạo đồng ruộng, mở rộng diện tích ruộng nước; kết quảtrong 05 năm đã khai hoang 61,58 ha, phục hóa 9,23 ha, đưa diện tích gieo trồnglúa nước toàn huyện lên 803,5 ha, tăng 56,5 ha so với năm 2009; nhiều côngtrình thuỷ lợi vừa và nhỏ được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện để nông dân sảnxuất mỗi năm 2 vụ lúa nước; năng suất tăng từ 38 tạ/ha lên 40,5 tạ/ha Sản lượnglương thực có hạt đạt 4.997 tấn Nhiều mô hình sản xuất mới được đưa vào ứngdụng đạt hiệu quả cao, tiêu biểu trong phong trào này là đồng bào các dân tộc xãPhước Xuân, Phước Chánh,….Về chăn nuôi có bước phát triển, tổng đàn gia súcphát triển từ 13.412 con lên 16.828 con, đàn gia cầm từ 40.000 con lên 50.000con Nhiều hộ dân tộc thiểu số đã mạnh dạn vay vốn đầu tư hàng trăm triệu đồngphát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế như chịHoàng Thị Chung ở thôn 5, xã Phước Đức, anh Hồ Văn Dem ở thôn 3, xã PhướcChánh, A Bốt thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân,…Công tác trồng rừng có nhiềutiến bộ, diện tích rừng trồng mỗi năm từ 350 - 400 ha rừng các loại, nâng tỷ lệche phủ rừng từ 62% nâng lên 63%

- Về xây dựng cơ bản đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu bằngnhiều nguồn vốn; tổng vốn đầu tư trong 5 năm qua trên 1.000 tỷ đồng với 354công trình đầu tư Các công trình xây dựng hoàn thành đã phát huy hiệu quả.Đặc biệt là các tuyến đường giao thông đường vùng cao: Phước Chánh - PhướcKim - Phước Thành, Phước Thành - Phước Lộc, Phước Mỹ - Phước Công,Phước Công - Phước Lộc đã hoàn thành tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnkinh tế xã hội; đến nay hơn 82 km đường liên xã đã được thâm nhập nhựa, đi lạithuận lợi đến các xã trong 4 mùa, có 60/85 km đường liên thôn đã được bê tônghóa Có 100% trường học, trạm y tế xã được kiên cố hóa; trên 32 công trình thủylợi, hồ chứa nước phục vụ tưới tiêu 2 vụ cho 70% diện tích ruộng lúa nước; 95%thôn, cụm dân cư có công trình nước sinh hoạt, 93% số hộ được sử dụng điệnlưới quốc gia Trụ sở làm việc tiếp tục được đầu tư xây dựng ngày càng khangtrang, hiện có 12/12 xã, thị trấn có trụ sở làm việc kiên cố; 11/12 xã, thị trấn cótrạm truyền thanh không dây; 12/12 xã, thị trấn có điện thoại cố định và đượcphủ sóng mạng điện thoại di động Hầu hết các công trình đầu tư đều phát huyđược hiệu quả sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất và sinh hoạt, gópphần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Trang 11

Ngoài nguồn vốn ngân sách Nhà nước được đầu tư trên địa bàn huyện; cácdoanh nghiệp như: Nhà máy Thủy điện ĐăkMi 4 với công suất 208 MW, sảnlượng điện hàng năm đạt trên 600 triệu KWh, nộp ngân sách nhà nước 90 tỷđồng/năm Các doanh nghiệp được cấp phép khai thác vàng, đặc biệt là Công tyTNHH Vàng Phước Sơn mỗi năm đạt sản lượng khoảng 1.000 kg vàng, năm

2013 nộp ngân sách nhà nước trên 291 tỷ đồng, góp phần giải quyết việc làm vàxóa đói giảm nghèo

- Công tác giáo dục và đào tạo có bước phát triển đáng kể, nhận thức vềgiáo dục trong đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng nâng lên Mạng lướitrường lớp được mở rộng ở 12/12 xã, thị trấn và 66/66 thôn, với trên 200 phònghọc được xây dựng kiên cố; không còn trường học tạm bợ tranh tre, vách nứa.Toàn huyện có 7.178 học sinh (trong đó học sinh người dân tộc thiểu số là 5.024em); tỷ lệ ra lớp hàng năm đạt khá: Mẫu giáo 76,5%, Tiểu học đạt 100%, Trunghọc cơ sở đạt 98,6%, Trung học phổ thông đạt trên 96%; tỷ lệ học sinh đỗ đạihọc, cao đẳng hằng năm đạt trung bình 25% Đội ngũ giáo viên đã được bổ sungthêm, đã chuẩn hóa 100% về chuyên môn; tổng số cán bộ CNVC các cấp là 667người (trong đó: giáo viên người DTTS 167 người, chiếm tỷ lệ 25%) Công tácphổ cập giáo dục tiểu học, THCS được duy trì và giữ vững, phổ cập giáo dụcmần non 5 tuổi đạt 12/12 xã, thị trấn Công tác xây dựng trường đạt chuẩn Quốcgia được tập trung chỉ đạo, trong 5 năm qua đã có thêm 02 trường được côngnhận trường chuẩn quốc gia, nâng số trường đạt chuẩn lên 06/27 trường Đã cóhàng trăm học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ratrường trở về phục vụ quê hương, có em đi học ở Nhật góp phần làm rạng rỡtruyền thống của quê hương Phước Sơn

- Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân ngày càng được chútrọng, hiện nay có 12/12 xã, thị trấn có trạm y tế và 66/66 thôn đều có nhân viên

y tế thôn bản; toàn huyện hiện có 24 bác sỹ (trong đó bác sỹ người DTTS là 12người), bình quân 1.000 dân có 01 bác sỹ Công tác khám chữa bệnh tại bệnhviện được quan tâm chỉ đạo; giải quyết tốt các trường hợp cấp cứu nội khoa vàngoại sản, chưa có sai sót về chuyên môn; bình quân khám bệnh 55.000 lượtngười/năm; các chính sách y tế đối với người nghèo được triển khai thực hiệntốt Các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện, công tác y tế dựphòng được quan tâm, dịch bệnh và các bệnh truyền nhiễm được ngăn chặnkhông để lây lan ở diện rộng Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến nay

còn 19,95% (giảm 2,5% so với năm 2009) Công tác dân số KHHGĐ có nhiều

tiến bộ, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm đáng kể

- Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở tiếp tụcđược duy trì và phát triển Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TD-TT, truyềnthanh - truyền hình đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân Đời sống tinh thần củađồng bào các dân tộc được cải thiện rõ rệt, các tập tục lạc hậu dần được xoá bỏ;công tác bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của các đồng bàoDTTS được quan tâm hơn và đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức,

Trang 12

đời sống văn hóa của cộng đồng người Gié Triêng thông qua các lễ hội truyềnthống, các hoạt động văn hóa, xây dựng thôn văn hóa; hoàn thành đề án khôiphục tên thôn theo truyền thống; xây dựng 66/66 nhà làng truyền thống, tạo điềukiện thuận lợi cho người dân nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần góp phần pháttriển kinh tế, giảm nghèo của huyện nhà.

- Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và các chính sách xãhội luôn được quan tâm chỉ đạo; trong 5 năm qua, đã có 128 thanh niên ngườidân tộc thiểu số đi lao động ở Malayxia và Hàn Quốc; Nhà máy Thủy điệnĐăkMi 4 và Công ty TNHH Vàng Phước Sơn đã giải quyết việc làm cho hơn

450 lao động của huyện (lao động người dân tộc thiểu số trên 300 người); gópphần xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân gần 5%/năm; cụ thể xãPhước Đức giảm 7,74%/ năm; xã Phước Kim giảm 6,22%/ năm; xã Phước Xuângiảm 5,90%/ năm; xã Phước Chánh giảm 5,65%/ năm; có 4 xã giảm từ 4,00 đến4,90%/năm; có 3 xã giảm từ 2,75/năm đến 3,98%/ năm

Phong trào xoá nhà tạm, xây dựng nhà tình thương, nhà đại đoàn kết chocác đối tượng được triển khai rộng khắp và đạt kết quả; đã xây dựng được 35ngôi nhà đại đoàn kết và 65 nhà tình thương cho các đối tượng nghèo tình nghĩavới tổng kinh phí trên 02 tỷ đồng

Huy động quỹ đền ơn đáp nghĩa tặng 160 sổ tiết kiệm cho các gia đìnhchính sách với tổng số tiền 56 triệu đồng; cấp 720 tấn gạo cứu trợ cho các xã, thịtrấn; trợ cấp thường xuyên cho 443 đối tượng, với kinh phí 576 triệu đồng/tháng;bảo trợ xã hội cho 753 đối tượng, với số tiền 150 triệu đồng/tháng; cấp 15.420thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách xã hội

Hội chữ thập đỏ và các tổ chức xã hội khác đã huy động khoảng 3 tỷ đồng

và số lượng lớn chăn màn, áo quần, dụng cụ sản xuất để cứu trợ xã hội và cáchoạt động từ thiện khác Xây dựng hoàn thành Trung tâm Dạy nghề với kinh phítrên 18 tỷ đồng, bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả

- Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân đượccủng cố tăng cường, thường xuyên tổ chức các hoạt động tuần tra, truy quét làmtrong sạch địa bàn Hàng năm đều hoàn thành 100% các chỉ tiêu huấn luyện,diễn tập và tuyển quân

Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được tập trung chỉ đạo kiênquyết, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững Công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân cónhiều tiến bộ, công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được giải quyết đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật

- Về công tác xây dựng Đảng được quan tâm chú trọng; trong 5 năm qua,

đã tăng 03 tổ chức cơ sở đảng, nâng tổng số thôn có chi bộ độc lập lên 57 thôn,khối; toàn huyện có 1.425 đảng viên, trong đó người dân tộc thiểu số là 805 đảngviên, chiếm tỷ lệ 56,5%

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nâng

cao chất lượng hệ thống chính trị ở huyện và cơ sở đạt được những kết quả quan

Trang 13

trọng Công tác quy hoạch đào tạo, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ ổn định; đặcbiệt từ khi có Nghị quyết 13-NQ/TU của Tỉnh uỷ, các cấp uỷ, chính quyền từhuyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện; đến nay, đội ngũcán bộ người dân tộc thiểu số được bố trí đều khắp trong các cơ quan Đảng,Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở huyện Tổng số cán bộ công chức, viênchức và người lao động toàn huyện 1.782 người (Cán bộ là người dân tộc thiểu

số 629 người, chiếm tỷ lệ 35,3%) Trong đó: Khối Đảng, Mặt trận đoàn thể 18người; khối chính quyền có 42 người; cán bộ cơ sở, thị trấn 339 người; các cơquan ngành dọc 14 người và lực lượng vũ trang 44 người

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu sốluôn được quan tâm; qua 5 năm đã đào tạo và cử đi học lý luận chính trị trên 150cán bộ DTTS; cử đi đào tạo chuyên môn 103 trường hợp; bồi dưỡng về chuyênmôn nghiệp vụ, kiến thức kỹ năng cho trên 200 lượt cán bộ DTTS; đào tạo lớp

bổ túc văn hóa THPT cho 44 cán bộ công chức cấp xã là người DTTS Bên cạnhtập trung đào tạo, hàng năm tiếp tục xem xét, lựa chọn số học sinh tốt nghiệpphổ thông trung học tham gia các lớp cử tuyển theo đúng quy định, đảm bảo sốlượng được phân bổ; trong 5 năm qua, đã xét cử tuyển 156 học sinh con em cácdân tộc thiểu số, trong đó: Đại học 70 em, cao đẳng 48 em và trung cấp CN 46

em và đã có 110 em tốt nghiệp ra trường được bố trí công tác

- Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể: Thường xuyên đổi mới về nội

dung, phương thức hoạt động theo hướng bám sát cơ sở, sát dân; thường xuyênvận động tuyên truyền, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quảphong trào, hành động cách mạng ở địa phương thu hút được đông đảo hội, đoàn

viên tham gia như: Cuộc vận động "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá

ở khu dân cư"; cuộc vận động "ngày vì người nghèo" của Mặt trận; phong trào

“Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế giỏi, nuôi con khỏe, dạy con ngoan” của Hội

LHPN, Thông qua các phong trào đã phát huy được tinh thần đoàn kết, khơidậy truyền thống cách mạng, ý thức cộng đồng trong các tầng lớp nhân dân; gópphần thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước

2 Kết quả thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiếu số trên địa bàn huyện

Trong những năm qua (2010 - 2014), được sự quan tâm của Đảng và Nhànước, các chính sách ưu đãi đối với đồng bào dân tộc thiểu số được tập trung chỉđạo triển khai trên địa bàn huyện, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội vùng đặcbiệt khó khăn phát triển, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo từng bướcphát triển kinh tế - xã hội bền vững; góp phần thay đổi cơ bản bộ mặt nôngthôn miền núi, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên xoáđói giảm nghèo Cụ thể từng chương trình, dự án như sau:

- Về thực hiện Nghị Quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ: Trong 5 nămqua, đã đạt được những kết quả khả quan Trên lĩnh vực đầu tư phát triển, ngân

Trang 14

sách Trung ương đã hỗ trợ trên 150 tỷ đồng, xây dựng được 76 công trình điện,đường, trường, trạm…phục vụ sản xuất và dân sinh Nguồn vốn sự nghiệp cũngtăng dần hàng năm; tổng nguồn vốn hỗ trợ sản xuất 28,8 tỷ đồng; qua đó đã cấp

hỗ trợ cho nhân dân nhiều loại cây trồng, con vật nuôi, vật tư sản xuất như: 59,5tấn lúa giống, 500.000 cây Keo, 350.000 cây Bời lời, 30.000 cây chuối Tiêuhồng, 15.000 cây Cao su, 650 con bò giống, 317 con heo giống, 4.000 con giacầm, 100.000 con cá giống, 70 tấn phân bón các loại và 33.000 m ống nước làmthủy lợi nhỏ; có 8.593 lượt hộ được hưởng lợi Ngoài ra hỗ trợ trực tiếp số tiền

859 triệu cho 859 hộ làm chuồng trại chăn nuôi và công trình vệ sinh Công tácgiao khoán quản lý bảo vệ rừng được quan tâm triển khai, đã giao khoán cho hộ,nhóm hộ theo Nghị quyết 30a/NQ-CP là 15.388 ha rừng/611 hộ, nhân dân đãđược hưởng lợi về giá trị giao khoán trên 3 tỷ đồng/năm; giao khoán theo Nghịđịnh số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trườngrừng 22.025 ha/932 hộ, với số tiền 1,46 tỷ đồng, đã góp phần bảo vệ được diệntích rừng và thu nhập ổn định cho nhân dân

- Về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: Trong thờigian qua, tập trung triển khai công tác lập các quy hoạch; đến nay đã hoàn thành

đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 11 xã Đã tập trung đầu tư cho 2

xã điểm Phước Năng và Phước Chánh xây dựng các công trình giao thông nôngthôn, chợ trung tâm, đường nội đồng phục vụ sản xuất, sửa chữa nâng cấp côngtrình thủy lợi, nước sinh hoạt, hỗ trợ cây, con giống, công cụ sản xuất…từngbước chỉnh trang các điểm dân cư và khuyến khích nhân dân tập trung sản xuất,tăng thu nhập Tổng kinh phí đầu tư cho Chương trình 19,6 tỷ đồng, trong đó:Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 13,7 tỷ đồng, vốn sự nghiệp 5,9 tỷ đồng; đến nay xãPhước Năng, Phước Đức, Phước Kim, Phước Công đạt 6 tiêu chí, Phước Chánhđạt 7 tiêu chí, các xã khác từ 4-5 tiêu chí

- Về chính sách xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, hộ người có công với cáchmạng theo Quyết định 167, Quyết định 22 của Chính phủ triển khai thực hiện cóhiệu quả; đã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 978 hộ, với tổng kinh phí hỗ trợ là29,087 tỷ đồng (trong đó hộ nghèo 862 nhà; hộ người có công 116 nhà) Việc hỗtrợ về nhà ở cho hộ nghèo, người có công với cách mạng trong những năm qua

đã giúp người dân có nhà ở ổn định, an toàn trong mùa mưa bão, từng bước nângcao mức sống, góp phần giảm nghèo bền vững

- Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo theo Quyếtđịnh số 102/2009/QĐ-TTg: Đã hỗ trợ cho 16.804 lượt hộ/70.565 khẩu, với tổngkinh phí 6,7 tỷ đồng; hình thức hỗ trợ muối tinh I ốt, các loại hạt giống cây trồngnhư: Giống Lúa, Đậu đen, Ngô lai, Đậu phụng và cấp bằng tiền mặt, giúp ngườidân đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế gia đình góp phần thực hiện xóađói giảm nghèo

- Về thực hiện chính sách cho học sinh, sinh viên: Thực hiện Quyết định85/2010/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân

Ngày đăng: 02/01/2018, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w