YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI YẾU tố THÚC đẩy đầu tư TRỰC TIẾP RA nước NGOÀI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Đề tài:
YẾU TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA
NƯỚC NGOÀI
Hà Nội, 2015
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐTRNN 1
1.1 Các khái niệm 1
1.1.1 Đầu tư 1
1.1.2 Đầu tư nước ngoài 1
1.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 1
1.2 Đặc điểm của FDI 2
1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 2
1.4 Các nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI của nước đi đầu tư 2
1.4.1 Chính sách của nước đi đầu tư: 3
1.4.2 Tiềm lực kinh tế, KHCN và chính sách xã hội 4
1.4.3 Chi phí sản xuất 5
1.4.4 Mở rộng thị trường 5
CHƯƠNG 2: YẾU TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ CỦA 3 NƯỚC TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, VIỆT NAM 8
2.1 Chính sách của nước đi đầu tư 8
2.1.1 Sự bảo hộ của Nhà nước 8
2.1.2 Chính sách tài chính-tiền tệ 10
2.1.3 Chính sách quản lí ngoại hối: 11
2.1.4 Chính sách hỗ trợ xúc tiến đầu tư và thúc đẩy ngoại giao, hợp tác quốc tế 12
2.2 Tiềm lực kinh tế, khoa học-công nghệ 13
2.2.1 Tiềm lực kinh tế: 13
2.2.2 R&D: 18
2.3 Chi phí sản xuất: 20
Trang 32.4 Hoạt động mở rộng thị trường: 23
2.4.1 Hoạt động mở rộng thị trường của Trung Quốc 23
2.4.2 Hoạt động mở rộng thị trường của Hàn Quốc 27
2.4.3 Hoạt động mở rộng thị trường của Việt Nam 30
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 33
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt:
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Trang 51 Hình 2 Mô hình lý thuyết của Robert Aliber (1970)
2 Hình 2.1 Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc (2000-2013)
3 Hình 2.2 Dự trữ ngoại hối của Hàn Quốc (2000-2014)
4 Hình 2.3: 20 quốc gia, khu vực có đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất giai đoạn 2012-2013
5 Hình 2.4 Tổng đầu tư của Trung Quốc vào các nước và khu vực trên thế giới, tính đến tháng 1/2015
6 Hình 2.5 Tỉ trọng xuất khẩu của Trung Quốc trong tổng xuất khẩu thế giới
7 Hình 2.6 Nhập khẩu của châu Phi với một số nước và khu vực ởchâu Á (1990-2004, tỷ USD)
8 Hình 2.7 Nhập khẩu của châu Phi với một số nước và khu vực ở châu Á (2007, %)
9 Hình 2.8 Khối lượng thương mại giữa Trung Quốc và khu vực châu Phi (1995-2010, %)
10 Hình 2.9 Ba nước nhận được đầu tư lớn nhất từ Hàn Quốc năm 2009
11 Hình 2.10 Cơ cấu vốn đầu tư của DN Hàn Quốc tại Việt Nam phân theo lĩnh vực ( Đơn vị: %)
12 Hình 2.11 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Hàn Quốc và Việt Nam giai đoạn 2007-2014 (Đơn vị: Tỷ USD)
13 Hình 2.12 Lượng vồn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (Đơn vị: Tỷ USD)
14 Hình 2.13 Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (Đơn vị: %)
15 Hình 2.14 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Lào giai đoạn 2007-2014 (Đơn vị: Tỷ USD)
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài là
xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới Đó không chỉ là đặc quyền củacác nước có nền kinh tế phát triển mà ngay cả các nước có nền kinh tế đang
và kém phát triển thì việc đầu tư ra nước ngoài cũng đã phát triển mạnh mẽ.Đầu tư nước ngoài đã thể hiện vai trò quan trọng chiến lược phát triển kinh
tế đất nước nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng, góp phần tích cực bổsung nguồn vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, mở mang thị trường, tiếp thukinh nghiệm quản lý tiên tiến, tạo nhiều việc làm cho xã hội, thúc đẩy dịchchuyển cơ cấu kinh tế theo hướng chức năng hoá, hiện đại hoá
Thực tiễn thế giới đã chứng minh rằng một nước mà dòng đầu tư ranước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường vàtăng cơ hội đầu tư kinh doanh và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước
Hoạt động này đã xuất hiện ở các nước phát triển từ rất lâu nhưng đốivới các nước đang phát triển và kém phát triển thì đầu tư trực tiếp ra nướcngoài mới xuất hiện trong vài thập kỷ trở lại đây Việt Nam cũng không phải
là một ngoại lệ, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chỉ thực sự pháttriển trong những năm gần đây và đang có xu hướng gia tăng trong thời giantới
Tuy nhiên đầu tư nước ngoài của Việt Nam vẫn còn có những yếukém và chưa thực sự phát huy hết năng lực của nó Phải chăng nguyên nhâncủa vấn đề này là do chúng ta chưa thúc đẩy một cách mạnh mẽ đầu tư ranước ngoài Để thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài trước hết chúng ta cần nắm rõyếu tố thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài Vậy yếu tố thúc đẩy đầu tư ra nướcngoài của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung là gì? Bài nghiêncứu của nhóm sẽ trả lời câu hỏi nêu trên thông qua việc nghiên cứu việc đầu
tư ra nước ngoài của 3 quốc gia Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐTRNN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
1.1.2 Đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lí…từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu
Có nhiều hình thức đầu tư ra nước ngoài, tuy nhiên nếu xét theo tính chất quản lý thì hoạt động ĐTNN gồm 2 loại: Đầu tư trực tiếp và đầu tư giántiếp Trong phạm vi chuyên đề sẽ nghiên cứu chủ yếu là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp
Theo Luật đầu tư Việt Nam 2005: “ĐTRNN là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lí hoạt động đầu tư.”
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận Nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư,
do đó họ trực tiếp chịu trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại trong quyết định đầu tư của mình Trong quá trình hợp tác đầu tư, quyền lợi của các bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ mỗi bên đầu tư vào dự án
1.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài
đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
Trang 8đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cảnhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
1.2 Đặc điểm của FDI
Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình đưa
ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Hình thức này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có những ràng buộc chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài tự mình điều hành một phần hoặc toàn
bộ công việc củ dự án đầu tư
Thứ ba, nước nhận đầu tư có thể tiếp cận được với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư không chỉ là vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể được bổ sung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được của chủ đầu tư nướcngoài
1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Các nhà cũng cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương
Khai thác chuyên gia, nguồn lao động và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa nhằm khai thác khả năng công nghệ và trình độ của chuyên gia, tận dụng nguồn lao động dồi dào và rẻ ở các nước được đầu tư
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đã quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú
1.4 Các nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI của nước đi đầu tư
Trong quá trình tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài, các nhà đầu tư luôn so sánh mức độ hấp dẫn và rủi ro giữa các yếu tố của môi trường đầu tư
ở nước ngoài với các yếu tố của môi trường kinh doanh và chiến lược phát triển của nước họ Họ chỉ quyết định đầu tư ra nước ngoài nếu xét thấy đầu
Trang 9tư ở nước ngoài có hiệu quả hơn đầu tư ở trong nước Vậy môi trường kinh doanh ở nước đi đầu tư bao gồm những yếu tố gì và tác động của chúng như thế nào đối với thúc đẩy dòng vốn đầu tư ra nước ngoài ? Dưới đây chúng ta
sẽ phân tích vấn đề này:
1.4.1 Chính sách của nước đi đầu tư:
1.4.1.1 Sự bảo hộ của Nhà nước
Các hiệp định tránh đánh thuế hai lần (double taxation treaties-DTTs)giữa nước đầu tư với nước ngoài cũng tạo ra các hấp dẫn về tài chính để các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài Bởi vì, hiệp định tránh đánh thuế hai lần cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải nộp một lần thuế ở nước nhận đầu tư, nhờ đó họ giảm bớt được chi phí đầu tư và tăng lợi nhuận Đây
là biện pháp quan trọng khuyến khích đầu tư nước ngoài giữa các nước thamgia đầu tư
Chính sách bảo hiểm vốn đầu tư cho các nhà đầu tư của họ ở nước ngoài cũng là yếu tố tác động mạnh đến thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài Vì đầu tư ra nước ngoài, nhất là vào các thị trường mới , thường có độ mạo hiểm cao hơn đầu tư ở trong nước nên các nhà đầu tư rất cần chính phủ bảo hiểm vốn đầu tư cho họ
Các chính sách về xuất nhập khẩu: các chính sách này có ảnh hưởngđến đầu tư ra nước ngoài ở chỗ: các ưu đãi khuyến khích xuất khẩu trong cáchiệp định thương mại song phương và đa phương của nước đầu tư sẽ tạo cơ hội cho hàng hóa của các công ty ở nước này thâm nhập vào thị trường nướcngoài dễ dàng Vì thế, động lực đầu tư ra nước ngoài để vượt qua các rào cản thương mại bị giảm xuống Đối với nhập khẩu cũng vậy, nếu nước đầu
tư giảm các rào cản nhập hàng hóa từ nước ngoài, nhất là từ các nước đang phát triển thì sẽ thúc đẩy công ty của họ đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế, tìm kiếm các nguồn
nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ, sau đó nhập khẩu hàng thành phẩm về nước
1.4.1.2 Chính sách tài chính-tiền tệ
Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ sang nới lỏng hay ngược lại hoặc hỗn hợp sẽ tác động mạnh đến lãi suất thực tế, qua đó làm tăng hoặc giảm khả năng tạo lợi nhuận của các nhà đầu tư
Thay đổi chính sách tài chính-tiền tệ còn ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát, qua đó tác động gián tiếp làm giảm đầu tư nước ngoài Khi lạm phát cao sẽ làm đồng tiền nội địa bị mất giá và khi đó cùng một đơn vị tiền tệ của
Trang 10bản địa sẽ mua được ít hơn các dịch vụ đầu tư ở nước ngoài Tình hình ngược lại khi đồng tiền của nước đầu tư lên giá so với các ngoại tế khác.
1.4.1.3 Chính sách quản lý ngoại hối
Các chính sách nới lỏng hay thắt chặt quản lý ngoại hối ở nước đầu tư
có tác động mạnh đối với đầu tư ra nước ngoài Nếu nới lỏng quản lý ngoại hối theo hướng tự do hóa thị trường vốn thì các nhà đầu tư được quyền tự dochuyển vốn ra nước ngoài Ngược lại họ phải tuân thủ các quy chế giới hạn chuyển vốn ra khỏi quốc gia
1.4.1.4 Chính sách hỗ trợ xúc tiến đầu tư và thúc đẩy ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Các chương trình xúc tiến đầu tư và các tổ chức hỗ trợ đầu tư hải ngoại Chẳng hạn như các tổ chức xúc tiến và các tổ chức hỗ trợ đầu tư hải ngoại OPIC (Mỹ), MITI, JAIDO, JICA (Nhật Bản), KFW (Đức), FMO (Hà Lan), SWEDFUND, NDF (Thụy Điển)… Phần lớn ODA của họ được sử dụng cho các hoạt động này
Việc cung cấp đầy đủ , thường xuyên các thông tin về môi trường đầu
tư nước ngoài và các chính sách đối ngoại của chính phủ nước đầu tư cho các nhà đầu tư sẽ tác động rất lớn đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Đặc biệt, đối với chính sách đối ngoại của các nước lớn có ảnh hưởng không chỉ đối với đầu tư ra nước ngoài của một nước mà còn có tầm ảnh hưởng đến tất cả các nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu
Tăng cường các hoạt động ngoại giao, thúc đẩy giao lưu văn hóa quốc tế ODA cho các nước đang phát triển cũng tác động mạnh đến dòng vốn đầu tư nước ngoài của nước đầu tư Hiện tượng này được biểu hiện rất
rõ trong các chuyến công tác ra nước ngoài của các Nhà lãnh đạo nước đầu
tư thường có nhiều nhà doanh nghiệp đi cùng và trong các điều khoản cũng cấp ODA cũng thường có nhiều quyền ưu tiên cho các nhà đầu tư của nước cung cấp ODA
1.4.2 Tiềm lực kinh tế, KHCN và chính sách xã hội
Tiềm lực kinh tế và khoa học-công nghệ của nước đi đầu tư có tác độngmạnh đến lực đẩy đầu tư ra nước ngoài Sự tác động này được triển khai chủyếu trong các khía cạnh về khả năng tích lũy của nền kinh tế, trợ cấp phúc lợi xã hội, trình độ R&D và khả năng cung cấp công nghệ
1.4.2.1 Một nền kinh tế có khả năng tích lũy nội địa cao, dự trữ ngoại
tệ lớn thì lúc đó sẽ có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài để khai thác hiệu quả của nguồn vốn “dư thừa này” Bởi vậy, mức độ tích lũy của nền kinh tế có
Trang 11vai trò như tăng hay giảm áp lực đẩy dòng vốn đầu tư ra nước ngoài.
Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi
dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận
1.4.2.2 Trình độ R&D công nghệ là một lợi thế quan trọng của nước đi
đầu tư Một nước có trình độ R&D công nghệ cao thường tạo ra công nghệ nguồn và có vai trò quyết định giá cả trong thị trường công nghệ quốc tế Các công nghệ nguồn sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh độc quyền và cần sản xuất với quy mô lớn Đây là những yếu tố quyết định các TNCs đầu tư ra nước ngoài
1.4.2.3 Trợ cấp phúc lợi xã hội ở đây, chủ yếu là trợ cấp thất nghiệp
nhằm giảm được làn sóng phản đối chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài
1.4.3 Chi phí sản xuất
Ở đây chúng ta đề cập về chi phí nguyên vật liệu đầu vào và lực lượng lao động Khi giá nguyên vật liệu và lực lượng lao động trong nước cao hơn so với bên ngoài, các nhà đầu tư muốn đầu tư sản xuất sang nước khác để tận dụng được giá nguyên vật liệu rẻ, giá lao động rẻ Đó cũng là những lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia Stephen H Hymes
(1960, công bố năm 1976), John H Dunning (1981), Rugman A A (1987)
và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại
về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điềukiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nóitrên
1.4.4 Mở rộng thị trường
1.4.4.1 Các khái niệm về mở rộng thị trường:
Trong kinh doanh tất cả chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ được sản phẩm Thực tế là những sản phẩm và dịch vụ đã đạt được thành công và hiệu quả trên thị trường thì giờ đây không có gì để đảm bảo rằng chúng ta sẽ tiếp tục đạt được thành công và hiệu quả hơn nữa Bởi không có một hệ thống thị trường nào tồn tại vĩnh viễn và do đó việc tiến hành xem xét lại những chínhsách, sản phẩm, hoạt động quảng cáo, khuyếch trương là cần thiết Thị
Trang 12trường thay đổi, nhu cầu của khách hàng biến động và những hoạt động cạnh tranh sẽ đem lại những trở ngại lớn đối với những tiến bộ mà doanh nghiệp đã đạt được Sự phát triển không tự dưng mà có, nó bắt nguồn từ việctăng chất lượng sản phẩm và áp dụng những chiến lược bán hàng một cách
có hiệu quả trong cạnh tranh Mở rộng thị trường là hoạt động phát triển đến
“ nhu cầu tối thiểu ” bằng cách tấn công vào các khách hàng không đầy đủ, tức là những người không mua tất cả sản phẩm của doanh nghiệp cũng như của người cạnh tranh Biết được biến động của thị trường và chu kỳ sống cóhạn của hầu hết các sản phẩm là điều cốt tử đảm bảo cho sự phát triển trước mắt cũng như triển vọng lâu dài Kế hoạch mở rộng phải được vạch ra một cách thận trọng để tránh đầu tư quá mức vào thiết bị và nhân lực, những yếu
tố này sẽ đè nặng lên công ty khi thị trường suy thoái Và hoạt động mở rộngthị trường của doanh nghiệp là cần thiết và thích hợp
Mở rộng thị trường là hoạt động phát triển đến “ nhu cầu tối thiểu ” bằng cách tấn công vào các khách hàng không đầy đủ, tức là những người không mua tất cả sản phẩm của doanh nghiệp cũng như của người cạnh tranh Biết được biến động của thị trường và chu kỳ sống có hạn của hầu hếtcác sản phẩm là điều cốt tử đảm bảo cho sự phát triển trước mắt cũng như triển vọng lâu dài Kế hoạch mở rộng phải được vạch ra một cách thận trọng
để tránh đầu tư quá mức vào thiết bị và nhân lực, những yếu tố này sẽ đè nặng lên công ty khi thị trường suy thoái Và hoạt động mở rộng thị trường của doanh nghiệp là cần thiết và thích hợp
1.4.4.2.
1.4.4.3 Các khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp
Ansoff đã đưa ra một khung tiêu chuẩn rất hiệu dụng để phát hiện những cơ hội tăng trưởng chiều sâu gọi là lưới mở rộng sản phẩm hay thị trường Theo Ansoff có 3 chiến lược tăng trưởng theo chiều sâu
Chiến lược sâm nhập thị trường: dành thêm thị phần bằng những sản phẩm hiện có trênthị trường hiện tại
Chiến lược phát triển thị trường: tìm kiếm những thị trường mới mà nhu cầu của nhữngthị trường đó có thể đáp ứng được những sản phẩm hiện
có của doanh nghiệp
Chiến lược phát triển sản phẩm: phát triển những sản phẩm mới mà những thị trường hiện tại có khả năng quan tâm
Trang 13Bảng 1: Ba chiến lược tăng trưởng theo chiểu sâu: Lưới mở rộng sản phẩm /thị trường của Ansoff
Hình 2.1 Mô hình lý thuyết của Robert Aliber (1970)
Ghi chú: OQ- lượng sản phẩm ; OP – giá sản phẩm đó
C- hàm chi phí bình quân phát sinh khi nhà đầu tư nước ngoài sản xuất tại nước chủ nhà
ACD- chi phí sản xuất trung bình tại nước chủ nhà
ACF- tổng chi phí sản xuất của công ty nước ngoài khi sản xuất tại nước chủ nhà=ACD + C
MM là hàm giá nhập khẩu sau thuế
M’M’ là hàm giá nhập khẩu sau thuế tại mức thuế mới
Trang 14 Theo mô hình lý thuyết của Aliber thì có 3 cách để thâm nhập
thị trường Một là xuất khẩu, hai là licensing, và 3 là đầu tư trực tiếp Như
vậy đầu tư trực tiếp là một trong 3 cách hiệu quả nhất để thâm nhập thị
trường đặc biệt là khi thuế quan cao và có nhiều hàng rào thuế quan
Khi một doanh nghiệp muốn thúc đẩy hoạt động mở rộng thị
trường quốc tế thì đồng nghĩa với đó là thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài
CHƯƠNG 2: YẾU TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI CỦA 3 NƯỚC TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, VIỆT NAM
Để hiểu kĩ hơn về những lý thuyết đã đề cập ở trên, sau đây chúng ta
sẽ cùng tìm hiểu về môi trường đầu tư của 3 nước cụ thể, lấy Việt Nam,
Trung Quốc, Hàn Quốc làm tiêu biểu
2.1 Chính sách của nước đi đầu tư
2.1.1 Sự bảo hộ của Nhà nước
Trung
Quốc
Đơn giản hóa
Thực hiện các ưu đãi
về thuế đối với các doanh nghiệp đầu tư
ở nước ngoài , trong
đó có cả việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
Miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu ; miễn thuế nhập khẩu dự án đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn
ưu tiên trong 5 năm
Về thuế thu nhập doanh nghiệp: trước đây mức thuế phổ biến là 25%, 20%, 15% và 10% Ngoài ra còn có thuế chuyển lợi nhuận về nước với mức 3%, 5%, 7% Theo quy định tại thông tư số 97/2002/TT-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 24/10/2002, mức thuế thống nhất với doanh nghiệp trong nước là 28%, đồng thời bỏ thuế chuyển lợi nhuận
về nước
Trang 15Nhận xét:
Thuế là công cụ tài chính số 1 có tác động đến khả năng tạo lợi nhuận của dự án đầu tư, do thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, đến khả năng sinh lời của đồng vốn và đến khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp
Nhìn chung chính phủ 3 nước đều tạo chính sách thuế thuận lợi để thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài Tuy nhiên nếu chỉ nhìn sơ bộ trên lý thuyết
có thể thấy rằng Việt Nam là nước có chính sách thuế hấp dẫn nhất, tạo điều kiện tối đa có thể cho đầu tư quốc tế nói chung và đầu tư ra nước ngoài nói riêng Sở dĩ Việt Nam cần thực hiện chính sách ưu đãi về thuế như vậy vì việc đầu tư ra nước ngoài của các Doanh nghiệp Việt nam còn ít và quy mô còn nhỏ hơn so với Hàn Quốc và Trung Quốc Một số ít các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thể kể đến như Viettel, Wrap and roll, phở24 Thế nhưng trên thực tế, trong thời gian qua, những lý thuyết chính sáchthuế này áp dụng đối với các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
dù có vẻ hấp dẫn nhưng lại chưa thật sự khuyến khích, nếu như không muốnnói là kém ưu đãi hơn so với các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Ví dụ: đối với máy móc, thiết bị, bộ phận rời được xuất khẩu ra nước ngoài để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại nước ngoài, khi thanh lý hoặc kết thúc dự án đầu tư và được nhập khẩu trở lại vào VN, được miễn thuế nhập khẩu và thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT Quy định như vậy không có gì là khuyến khích hơn, bởi lẽ, các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào VN bằng máy móc thiết bị cũng được miễn thuế nhập khẩu hay đơn cử như chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp , theo quy định thông tư số 97/2002/TT-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 24/10/2002 thì mức thuế suất để tính và kê khai đối với các khoản thu nhập từ nước ngoài là mức thuế suất cơ bản của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (28%), tức là không có gì khác đối với doanh nghiệp trong nước ở mức bình
thường ngoài việc áp dụng mức thuế cơ bản ra thì Nhà nước không quy định trường hợp khuyến khích hay đặc biệt khuyến khích Trong khi đó, các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp FDI cũng có mức thuế suất cơ bản là 28%, nhưng nhà nước áp dụng một loạt các chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi với các mức khác nhau như 10%, 15%, 20% cộng với khoảng thời gian miễn thuế và giảm thuế (từ 2-4 năm ) khi đầu tư mới ở các khu
Trang 16vực khác nhau Như vậy, ở một chừng mực nhất định, có thể kết luận, các
doanh nghiệp VN đầu tư ra nước ngoài đã bất lợi hơn so với DN trong nước
Đối với Trung Quốc và Hàn Quốc các chính sách thuế được xây dựng
khoa học hơn, hoàn thiện hơn, nhất quán hơn Vì vậy tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp dễ nắm bắt và thực hiện hơn Ở Việt Nam do thể chế chính
sách chưa hoàn chỉnh, lý thuyết đi chậm so vs thưc tế nên chưa phát huy
được mạnh mẽ sự phát triển của hoạt động đầu tư ra nước ngoài
nghiệp “đi ra nước ngoài” các
khoản vay ưu đãi…chỉ riêng
ngân hàng xuất nhập khẩu TQ
tính đến tháng 8/2002 đã dành
280 tỷ nhân dân tệ cho các
khoản vay ĐTRNN
-việc TQ điều tiết kinh tế
vĩ mô, giữ cho kinh tế trong
nước ổn định, lành mạnh cũng là
sự hỗ trợ quan trọng cho các
doanh nghiệp đầu tư ra nước
ngoài
- phát huy đầy đủ vai trò
hỗ trợ của tiền tệ đối với đầu tư
như hỗ trợ những khoản vay tín
dụng, hỗ trợ bảo hiểm, hỗ trợ về
vốn cho các doanh nghiệp đầu tư
ra nước ngoài
Ở Hàn Quốc, chính phủ luôn có sự ưu đãi đặc biệt
về vốn và luôn khuyến khích các doanh nghiệp vươn ra hoạt động ở nướcngoài:
- nới lỏng các hạn chế về vốn đầu tư ra nướcngoài đối với các công ty
- các biện pháp cácchính sách đều tập trung
mở rộng khả năng đầu tư
ở các nước chưa có quan
hệ ngoại giao
- bãi bỏ các điều luật và điều lệ gây hạn chế đầu tư ra nước ngoài trước đây
-Trong điều kiện tiền Việt Nam đồng chưa được chuyển đổi tự do, Nhà nước đã áp dụng chính sách bảo đảm ngoại
tệ tùy theo khả năng sẵn
có ngoại tệ cho một số dự
án đầu tư đặc biệt quan trọng được Thủ tướng chính phủ quy định
- Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài chủ yếu vay của ngân hàng đầu tư nước ngoài, tỷ lệ vốn tự có và vốn vay theoquy định là 2/1 Trên thực
tế tỷ lệ này thường là 1/2
Trang 17Nhận xét:
Chính sách tài chính – tiền tệ: các chính sách tài chính và tiền tệ được
đưa ra của các nước cũng hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp Trong đó
có thể nhận thấy Chính phủ Hàn Quốc và Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm
đến vấn đề này Trung Quốc thực hiện rất nhiều chính sách để tạo điều kiện
tốt nhất cho các Doanh nghiệp đi ra nước ngoài phục vụ cho mục tiêu bành
trướng thế giới của mình
2.1.3 Chính sách quản lí ngoại hối:
- Các cơ quan chức
năng liên quan như Tổng
cục Ngoại hối quốc gia tiếp
tục đẩy mạnh việc nới lỏng
thủ tục quản lý ngoại hối
đối với các doanh nghiệp
đầu tư ra nước ngoài
- Giữ thị trường
ngoại hối ổn định Xác
định và duy trì quy mô
ngoại hối hợp lý, duy trì sự
ổn định cho tỷ giá của
đồng Nhân dân tệ
Nhờ áp dụng hệ thống quản lý vốn đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ các công ty hoạt động trong các ngành công nghiệp tiêu biểu mà năm 1986, Hàn Quốc đã ở trong tình trạng dư thừa ngoại tệ, các công ty HQ được khuyến khích đầu tư
ra nước ngoài mạnh mẽ dỡ
bỏ tất cả ràng buộc về vốn đầu tư và các quyết định khác đối với công ty HQ đầu tư ra nước ngoài
-Nới lỏng, tiến tới tự
do hóa trong quản lý ngoại hối
- Tập trung vào mục tiêu khuyến khích xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại
tệ, thu hút nhiều vốn nước ngoài, luồng ngoại tệ tiết kiệm trong dân, gia tăng dựtrữ ngoại hối quốc gia
Nhận xét:
Chính sách quản lý ngoại hối: chính phủ 3 nước đều nới lỏng quản lý
ngoại hối Tăng cường, khuyến khích tích lũy ngoại hối để điều tiết nền
kinh tế khi cần thiết Nổi trội hơn trong 3 nước khi thực hiện chính sách này
là Hàn Quốc với việc dỡ bỏ tất cả ràng buộc về vốn đầu tư Điều này tạo
điều kiện hết sức cho các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài
Đối với Việt Nam: cùng với công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế
năm 1986, cơ chế quản lý ngoại hối của VN ngày càng được hoàn thiện
Trang 18nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Nhưng cơ
chế quản lý ngoại hối của VN còn khá cứng nhắc, thiên về quản lý hành
chính khiến cho doanh nghiệp VN gặp nhiều khó khăn trong việc có đủ
ngoại tệ để thực hiện đầu tư ra nước ngoài, cũng như còn gặp nhiều vướng
mắc trong khâu chuyển ngoại tệ ra nước ngoài và ngược lại… trong khi Việt
Nam còn thiếu ngoại tệ và gặp đủ khó khăn để đầu tư ra nước ngoài thì cũng
cùng năm đó (1986) nhờ những chính sách quản lý ngoại hối thành công
Hàn Quốc đã ở trong tình trạng dư thừa ngoại tệ, các công ty HQ được
khuyến khích đầu tư ra nước ngoài mạnh mẽ Sự thành công và đi trước của
Trung Quốc và Hàn Quốc là bài học kinh nghiệm đáng giá cho Việt Nam có
những bước cải cách thích hợp hơn nữa
2.1.4 Chính sách hỗ trợ xúc tiến đầu tư và thúc đẩy ngoại giao, hợp tác
hướng dẫn đầu tư
ra nước ngoài của
đầu tư song
phương hoặc đa
phương
- Cơ quan
xúc tiến đầu tư
của Trung Quốc
Chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa,hợp tác khu vực và tiến tới toàn cầu hóa
đã là động lực thúc đẩy nguồn vốn đầu
tư của Hàn Quốc ở nước ngoài ngày càng tăng Vào cuốinhững năm 1980, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốctăng lên đột ngột, đạt 1,2 tỷ USD (1988) và xấp xỉ 2,9
tỷ USD vào năm 1995
-cơ quan xúc tiến đầu tư của Hàn
-Nhằm khuyến khích các hoạt động xúc tiến đầu tư, ngày 14/01/2014 Thủ tướng Chínhphủ vừa ban hành Quyết định số 03/QĐ-TTg
về Quy chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động xúc tiến đầu tư
- Trong khuôn khổ hợp tác kinh tế với các nước ASEAN, Việt Nam đã ký kết hiệp định khung thành lập khu vực đầu tư ASEAN (AIA) vào tháng 10 năm 1998 Ý tưởng thành lập khu vực AIA rất phù hợp với xu hướng vận động của luồng vốn FDI và nguyện vọng của các nước ASEAN
- Hiện nay, Việt Nam là thành viên của một số tổ chức quốc tế: ASEAN, ASEM, APEC, WTO, và chuẩn bị đàm phán hiệp địnhTPP cũng là những thuận lợi để Việt Nam
mở rộng hoạt động đối ngoại với các nước trên thế giới
- Việt Nam đã tích cực ký kết các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần Cho đến nay, sau
Trang 19Quốc: Kotra hơn 10 năm kiên trì và tích cực đàm phán, VN
đã ký kết được 43 hiệp định
- Hiện Việt Nam chưa có cơ quan xúc tiến đầu tư chính thức
Nhận xét:
Chính sách hỗ trợ xúc tiến đầu tư và thúc đẩy ngoại giao, hợp tác quốc
tế: các nước đều quan tâm việc xúc tiến đầu tư, tăng cường quan hệ ngoại
giao Từ việc đặt quan hệ ngoại giao tốt đã đặt nền tảng cho đầu tư được
thuận lợi
Nhìn chung, trong tất cả các chính sách thuế, chính sách ngoại hối,
chính sách xúc tiến đầu tư cả 3 nước đều chú trọng, quan tâm ưu đãi tối đa
để thúc đẩy đầu tư nói chung và đầu tư ra nước ngoài nói riêng Tuy nhiên,
Việt Nam vẫn còn đi sau và thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài chậm hơn và còn
kém khuyến khích hơn so với Trung Quốc và Hàn Quốc từ kết quả thực tế
Như vậy, VN cần học hỏi thêm từ thành công và kinh nghiệm của 2 nước
TQ, HQ để xây dựng hoàn thiện chính sách thuận lợi hơn nữa và áp dụng lý
thuyết ra thực tế triệt để hơn nữa.Với những chính sách thuận lợi như vậy,
trong thời gian tới, đầu tư ra nước ngoài của các quốc gia này sẽ ngày càng
Theo Tổng cục thống kê GSO, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2014 xếp thứ 55, tính theo giá hiện hành đạt 3.937.856 tỷ đồng, tương đương 184 tỷ USD GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028 USD, tương đương 169 USD/tháng
Trang 20Theo xếp hạng của IMF năm 2014 nền kinh tế của Hàn Quốc đứng thứ 12, GDP là 1.449 tỷ USD, dự kiến lên đến 1.561 tỷ USD trong năm 2015 (tăng trưởng 7,7%)
Năm 2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 5,9%, cao hơn năm 2013 (5,42%), đưaViệt Nam trở thành nước có tốc
độ tăng trưởng GDP cao thứ 2 trên thế giới (sau Trung Quốc)
dự trữ ngoại tệ, xếp sau Trung Quốc, Nhật Bản, Thụy
Sĩ, Nga, vùng lãnh thổ Đài Loan và Brazil
Theo BOK, tính tới cuối tháng 1/2014, dự trữ ngoại tệ tại Hàn quốc đã đạt
kỷ lục 348,39 tỷ USD, tăng 1,93 tỷ USD so với tháng trước đó
Tính đến cuối tháng 11/2014 dự trữ ngoại hối của Việt Nam thặng dư hơn 35 tỷ USD (tương ứng hơn 3,1 tháng nhập khẩu) Đây là dự trữ ròng, tức là nguồn ngoại tệ có thể sử dụng bất cứ lúc nào Còn dự trữ ngoại hối tiềm năng của Việt Nam là khoảng 45 tỷ USD
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện ở mức cao không những phục vụ tốt cho nền kinh
tế mà còn tạo ra vị thế và tiềm