1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM

32 380 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 745 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM TÁC ĐỘNG của FDI tới LIÊN kết NGÀNH CÔNG NGHIỆP ô tô VIỆT NAM

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐỀ TÀI:

TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI LIÊN KẾT NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM

Hà Nội, 2015

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG i

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT NGÀNH 2

1.1 Khái niệm liên kết ngành 2

1.2 Đặc điểm, vai trò của liên kết ngành 2

1.2.1 Đặc điểm của Liên kết ngành 2

1.2.2 Vai trò của liên kết ngành 3

1.3 Hệ số liên kết nhóm ngành 4

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN LIÊN KẾT NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM 5

2.1 Tình hình ĐTNN vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 5

2.1.1 Khái quát về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay 5

2.1.2 Thực trạng thu hút FDI vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 8

2.2 Liên kết ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 10

2.3 So sánh liên kết ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và Trung Quốc 12

CHƯƠNG 3: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA FDI TỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM 16

3.1 Thành tựu 16

3.2 Hạn chế 21

KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

i

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

(chưa viết)

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT NGÀNH

1.1 Khái niệm liên kết ngành

Liên kết giữa các ngành được biểu hiện chủ yếu thông qua tỷ trọng giá trị hànghóa (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực tiếp từ các công tynội địa trong tổng giá trị trao đổi của các công ty nước ngoài ở nước chủ nhà Việchình thành các liên kết này là cơ sở quan trọng để chuyển giao công nghệ, phát triểnnguồn nhân lực và thúc đẩy xuất nhập khẩu của nước chủ nhà

1.2 Đặc điểm, vai trò của liên kết ngành

1.2.1 Đặc điểm của Liên kết ngành

Thứ nhất, các TNCs ở các nước chủ nhà sẽ hình thành những liên kết với các công ty nội địa thông qua các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ.

Thực tế, một số lĩnh vực của VN đã thực hiện liên kết ngành và tham gia vàochuỗi giá trị toàn cầu nhưng chủ yếu do nhu cầu bắt buộc của thị trường Chẳng hạnngành dệt may, da giày tham gia phần gia công, chế biến nguyên vật liệu được thựchiện trong nước đạt được 20-30 %, phần thực hiện ở nước ngoài tới 70 - 80% do nhậpkhẩu nguyên vật liệu Tương tự, ngành ôtô, lắp ráp trong nước đạt khoảng 5 – 10%trong khi phần thực hiện nước ngoài tới tới 90 – 95% do phải nhập linh kiện, máymóc Hay như ngành điện – điện tử, phần gia công, lắp ráp, chế tạo trong nước khoảng

20 – 40% phần còn lại là nhập khẩu nguyên liệu chiếm 60 – 80%

Thứ hai, mức độ và hiệu quả của liên kết ngành phụ thuộc quan trọng vào điều kiện của nước chủ nhà Các TNCs mở rộng liên kết với các công ty nội địa ở những

nước có điều kiện phát triển tốt Trong khi đó, những nước ít chú trọng đến khuyếnkhích tỷ lệ nội địa hóa cao hoặc khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ của các công

ty nội địa còn hạn chế thì ít tạo được mối liên kết giữa các công ty nước ngoài với cáccông ty trong nước

Thứ ba, các công ty nước ngoài thường chú trọng đến trao đổi trong nội bộ giữa các chi nhánh của họ ở các nước để khai thác lợi thế so sánh của mình, trong đó nhất là thực hiện giá chuyển giao Các công ty nước ngoài sẽ xem xét xem giá trị hàng

hóa trao đổi trực tiếp giữa các công ty nước ngoài với các công ty nội địa cao hay thấp

và biến động như thế nào để đánh giá khả năng và quyết định lựa chọn liên kết vớicông ty đó

Trang 6

1.2.2 Vai trò của liên kết ngành

Thứ nhất, giúp các doanh nghiệp có cơ hội tăng năng suất Họ có khả năng tiếp

cận các yếu tố đầu vào, thông tin, công nghệ, nguồn nhân lực và nhà cung cấp dễ dànghơn, có được các hỗ trợ tốt hơn do mức độ tập trung quy mô của một lĩnh vực, nhậnđược sự hỗ trợ tốt hơn từ phía chính phủ và thụ hưởng các dịch vụ công do hiệu quảtập trung của nhu cầu

Thứ hai, thúc đẩy quá trình sáng tạo và đổi mới Ngoài việc thúc ép các doanh

nghiệp phải gia tăng năng suất, sức ép cạnh tranh trong cụm buộc họ phải đổi mới liêntục Sức ép cạnh tranh do các khách hàng muốn có sự lựa chọn các nhà cung cấp tốthơn trong cụm cũng làm cho các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến Mức độ tập trungcao trong một khu vực khiến cho các hoạt động học hỏi của các doanh nghiệp diễn ranhanh hơn, càng tạo sức ép cho các thay đổi Thêm vào đó, với việc liên kết và traođổi với các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học trong khu vực, các doanh nghiệp sẽ

có cơ hội hơn để tiếp cận những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ

Thứ ba, tác động quan trọng đến việc hình thành các doanh nghiệp mới trong ngành hoặc trong các ngành có liên quan Sự tập trung cao và sự gia tăng nhu cầu đầu

vào, đầu ra của các doanh nghiệp hiện có luôn tạo ra những cơ hội cho các doanhnghiệp mới thành lập Các doanh nghiệp có xu hướng chọn các nhà cung cấp trongngành để hạn chế rủi ro cũng như tăng cường khả năng kiểm soát đầu vào Mức độ tậptrung các doanh nghiệp sẽ dẫn đến sự gia tăng các nhu cầu về dịch vụ, các sản phẩmtrung gian, thông tin, Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp mới tham gia vào thịtrường Thực tiễn thế giới cho thấy, việc phát triển một mạng lưới liên kết ngành hữuhiệu sẽ tạo điều kiện giúp tăng năng lực cạnh tranh Điển hình là sự gần kề về địa lýtạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô, giúp giảm giá thành sản phẩm, tăng cường liên kết,chia sẻ 3 thông tin và các nguồn lực khác

Thứ tư, việc phát triển mạng lưới liên kết ngành cũng giúp nâng cao trình độ công nghệ trong nước, phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội khác Trên thực tế, qua kiểm chứng, sự lớn mạnh của liên kết ngành thường kéo

theo sự gia tăng và phát triển của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong hoạt động công nghiệp hỗ trợ sẽ có cơ

Trang 7

Mặt khác, công nghiệp hỗ trợ cũng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển côngnghiệp bởi quá trình phát triển liên kết ngành thực sự sẽ phải dựa vào sự phát triển củanhóm ngành công nghiệp hỗ trợ Liên kết ngành sẽ dễ dàng chinh phục được những thịtrường mà các DNNVV không thể thâm nhập nếu hoạt động riêng lẻ.

Thứ năm, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực cho nước chủ nhà, bằng các chương trình đào tạo nhân lực từ các doanh nghiệp nước ngoài mang lại Bên

cạnh đó, còn làm tăng xuất nhập khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho nước chủ nhà

Trang 8

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN LIÊN KẾT NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM

2.1 Tình hình ĐTNN vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 2.1.1 Khái quát về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay

* Vị trí của ngành ô tô Việt Nam so với thế giới và khu vực 

Hiện nay, công xưởng sản xuất ô tô của thể giới vẫn nằm trên 3 khu vực truyềnthống với nền công nghiệp ô tô được ra đời từ rất sớm là Bắc Mĩ, Tây Âu và Đông Á.Trong khi Tây Âu với nhà sản xuất lớn nhất là Đức là nơi đầu tiên đưa ô tô vào sảnxuất hàng loạt ngay từ những năm cuối thế kỉ 19, Hoa Kì là nơi chứng kiến ngànhcông nghiệp ô tô lên ngôi với những mẫu xe bình dân giá rẻ của Ford từ năm 1910.Trong khi đó, các quốc gia Đông Á mà đi đầu là Nhật Bản bắt đầu nổi lên từ năm

1960, dần trở thành khu vực sản xuất ô tô lớn nhất thế giới với sự nổi lên của HànQuốc, Trung Quốc, Đài Loan…

So với các các quốc gia trên thế giới, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đờikhá muộn Sau quá trình đổi mới, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằmkhuyến khích sự phát triển của ngành ô tô, đưa ô tô trở thành mũi nhọn trong quá trìnhcông nghiệp hóa và hiện đại hóa Sau hơn 25 phát triển, thị trường Việt Nam đang làsân chơi của nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới như Toyota, Honda, Fords, GM… và

cả những doanh nghiệp nội địa như Trường Hải, TMT, Vinaxuki với doanh số bánhàng đạt gần 120,000 xe mỗi năm

Trang 9

Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức quốc tế các nhà sản xuất ô tô (OICA),năm 2013 Việt Nam đã xuất xưởng tổng cộng 40,902 xe ô tô, tương đương khoảng0.04% lượng xe sản xuất trên toàn thế giới trong cùng năm Số lượng xe sản xuất trongnăm 2013 của 5 nước sản xuất ô tô hàng đầu thế giới là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản,Đức và Hàn Quốc chiếm lần lượt 25%, 12%, 11%, 6.6% và 5.2% sản lượng toàn thếgiới Như vậy, có thể thấy ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là tí hon giữa nhữngngười khổng lồ đến từ các quốc gia có lịch sử nền công nghiệp ô tô lâu đời

Trong khu vực Đông Nam Á, sản lượng xe ô tô của Việt Nam cũng thấp hơn rấtnhiều so với các nước như Thái Lan, Indonesia và Malaysia Trong năm 2013, TháiLan đã trở thành nhà sản xuất ô tô lớn thứ 7 trên thế giới với gần 2.5 triệu chiếc.Indonesia cũng vươn lên mạnh mẽ trong năm 2013, đạt sản lượng hơn 1.2 triệu chiếc

* Số lượng doanh nghiệp ngành ô tô Việt Nam

Việt Nam có 17 công ty lắp ráp, phân tán trên ba vùng Bắc, Trung, Nam và 33công ty công nghiệp hỗ trợ cấp 1, 181 công ty cấp 2 Đây chính là điều bất cân xứnggây cản trở tới sự phát triển của ngành ô tô Việt Nam

* Sản phẩm

Theo mục đích sử dụng, thị trường Việt Nam được chia làm 2 phân khúc là xe

thương mại (CV) và xe du lịch (PC) Xe thương mại, đặc trưng bởi các dòng xe tải, xebus với mục đích sử dụng chính là chuyên chở người và hàng hóa Các thương hiệulớn là THACO, Cửu Long (TMT), Vinaxuki, Isuzu hay các dòng xe nhập khẩu nhưDongfeng, SINO… Ngược lại, xe du lịch, với các dòng xe con từ 4-9 chỗ, được nhắc

Trang 10

đến rất nhiều trong thời gian qua Đây là một phân khúc xó sự tham gia của rất nhiềunhà sản xuất lớn và có thương hiệu mạnh như Toyota, Ford, Honda, KIA, Mazda

Theo nguồn gốc xe, có thể chia thị trường trong nước thành 2 phân khúc là xe

lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu nguyên chiếc Xu hướng ưa chuộng xe nhập khẩuđược thể hiện rõ qua sự tăng trưởng thị phần của phân khúc xe nhập khẩu, mà chủ yếu

là các loại xe có giá trị cao

* Hoạt động kinh doanh

Theo hoạt động kinh doanh chính, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được chia

làm 2 bộ phận là sản xuất và phân phối Thực tế, các doanh nghiệp có hoạt động sảnxuất cũng có kênh phân phối riêng như Trường Hải, TMT, Toyota…Trong khi đó, cácdoanh nghiệp phân phối chủ yếu làm đại lí cho các hãng xe liên doanh như Toyota,Ford… hoặc nhập khẩu và phân phối xe nguyên chiếc của các hãng lớn Các doanh

Trang 11

nghiệp đặc trưng có thể kể đến HHS (chuyên phân phối xe tải Dongfeng Trung Quốc),SVC (đại lí cho nhiều hãng xe), HAX (đại lí Mercedes).

Về sản xuất, sau hơn 20 năm hưởng ưu đãi của một ngành sản xuất mũi nhọn,

ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn chỉ là một ngành công nghiệp lắp ráp với côngviệc chính là nhập khẩu linh kiện, lắp ráp và phân phối trên thị trường nội địa Ngànhcông nghiệp linh kiện vô cùng nhỏ bé càng khiến cho mức độ phụ thuộc của côngnghiệp ô tô Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu

Quy trình sản xuất xe hơi hoàn chỉnh gồm 5 công đoạn

* Ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô

Trước năm 2002, Việt Nam chưa có khái niệm về ngành công nghiệp hỗ trợ ô

tô Ô tô sản xuất tại Việt Nam, theo quy định, đều là lắp ráp theo bộ linh kiện Quyđịnh về bộ linh kiện dựa trên hàm lượng nội địa trong sản phẩm lắp ráp cuối cùng dướimột trong số các hình th c tăng dần về tỷ lệ nội địa và m c độ ưu đãi: SKD, CKD1,CKD2, IKD Tuy nhiên, không một công ty nào đáp ng được yêu cầu lắp ráp xe dạngIKD, tỷ lệ nội địa của lắp ráp xe dạng SKD và CKD1, xe ô tô sản xuất tại Việt Namtheo 2 hình th c CKD và IKD Từ năm 2005 Bộ Tài chính ban hành biểu thuế mới,theo đó quy định cách tính thuế mới không dựa trên bộ linh kiện, mà theo các chi tiết

và linh kiện đơn lẻ Việc ban hành biểu thuế mới đồng nghĩa với việc các quy định về

tỷ lệ nội địa được bãi bỏ, đánh dấu sự ra đời của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô

Số lượng linh kiện cần thiết để sản xuất một chiếc ô tô là khoảng 20,000 đến30,000 Trong khi số lượng nhà sản xuất linh kiện trong nước chỉ khoảng hơn 200.Thêm vào đó, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp này cũng chỉ dừng lại ở nhữngchi tiết đơn giản và có hàm lượng công nghệ rất thấp như bánh xe, ắc quy, ghế ngồi…trong khi không đủ công nghệ để sản xuất chi tiết phức tạp như động cơ, máy móc, cáclinh kiện đơn giản cũng không được đầu tư đúng mức Có thể thấy, ngành công nghiệpphụ trợ của Việt Nam vừa thiếu lại vừa yếu Khi cả những chi tiết đơn giản nhất cũngphải nhập khẩu, việc các doanh nghiệp không thể nâng cao tỉ lệ nội địa hóa là điều dễhiểu

Theo lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu của Chính phủ, thuế nhập khẩu bộ linhkiện từ ASEAN sẽ về mức 0% trong năm 2018 Trong khi đó, Indonesia và Thái Lan

Trang 12

là các quốc gia cực kì phát triển về ngành công nghiệp phụ trợ Vì vậy, nếu không có

sự phát triển về năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa, linh kiện nhập khẩu sẽhoàn toàn chiếm lĩnh thị trường Việt Nam là điều chắc chắn xảy ra Không có năng lựcsản xuất máy móc, phụ thuộc hoàn toàn vào linh kiện nhập khẩu, các doanh nghiệp sảnxuất ô tô ở Việt Nam sẽ hoàn toàn là các công ty lắp ráp

2.1.2 Sự tham gia của FDI vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

2.1.2.1 FDI tham gia ngành lắp ráp ô tô Việt Nam

Trước năm 1991, ở Việt Nam đã tồn tại một số nhà máy, xí nghiệp sản xuất ô

tô Tuy nhiên hoạt động chính của các cơ sở này sửa chữa, đại tu ô tô và hoàn toànkhông thể sản xuất ô tô theo đúng nghĩa Chỉ khi xuất hiện 2 liên doanh lắp ráp ô tôđầu tiên vào năm 1991, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới chính thức hình thành

Kể từ thời điểm hình thành đã xuất hiện thêm nhiều công ty lắp ráp ô tô tại Việt Nam

Số lượng các công ty đăng ký đầu tư vào ngành lắp ráp ô tô tại Việt Nam lên tới 52công ty, trong đó có 17 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, 35 công ty trong nước Một

số công ty sau đó không tiến hành đầu tư, một số khác ngừng hoạt động do không hiệuquả, cho đến thời điểm cuối năm 2009, còn lại 17 công ty hoạt động trong ngành lắpráp ô tô tại Việt Nam

Các công ty lắp ráp ô tô được chia làm 2 loại: công ty có vốn nước ngoài, đâythường là những công ty có tên tuổi trong ngành ô tô thế giới, nhận thấy tiềm năng củathị trường ô tô Việt Nam, họ đầu tư vào Việt Nam dưới 2 hình thức, thành lập liêndoanh (LD) với đối tác Việt Nam hoặc thành lập công ty 100% vốn của công ty mẹ(NNg) Các công ty này chủ yếu lắp ráp xe du lịch, với các chủng loại xe được sự chấpthuận của công ty mẹ Một loại khác là các công ty trong nước gồm công ty thuộc sởhữu nhà nước (NhN) hoặc công ty tư nhân (TN) Các công ty này đều không có kinhnghiệm và tên tuổi trong ngành ô tô Sản phẩm của các công ty này là các loại xe tải

hoặc xe bus, với dây chuyền công nghệ nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc (Bảng XX)

Trang 13

Bảng:

Trang 14

2.1.2.2 FDI tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam

Tổng vốn ĐTNN vào sản xuất linh phụ kiện cho ngành công nghiệp sản xuất,lắp ráp ô tô còn khá khiêm tốn, ước tính khoảng trên 300 triệu USD, giá trị xuất khẩunăm 2009 khoảng 142 triệu USD Theo chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtôViệt Nam được ban hành từ năm 2004, các doanh nghiệp sản xuất ô tô được hưởngnhiều ưu đãi về thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp để các doanh nghiệp này tăngdần tỷ lệ nội địa hóa sản xuất linh kiện, phụ tùng Các DNĐTNN sản xuất ô tô cũng cónhiều lợi thế khác do chi phí giá nhân công tại Việt Nam rẻ và được bảo hộ do chínhsách thuế rất cao đánh vào xe nhập khẩu nguyên chiếc Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệnội địa hóa mà các doanh nghiệp thực hiện đều rất thấp Tính đến thời điểm tháng11/2008, theo kết quả kiểm tra mà Bộ Tài chính công bố, tại công ty Toyota Việt Nam,

tỷ lệ nội địa hóa bình quân là 7% giá trị xe, trong khi theo giấy phép đầu tư cấp lần đầuthì tỷ lệ nội địa hóa phải đạt ít nhất 30% sau 10 năm kể từ năm 1996 Tại công tySuzuki Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa chỉ 3% vào thời điểm thanh tra trong khi yêu cầutrong giấy phép đầu tư là phải đạt tỷ lệ nội địa hóa 38,2% vào năm 2006 Công ty FordViệt Nam còn đạt thấp hơn nữa chỉ 2% Một số công ty khác cũng chỉ đạt 4% HondaViệt Nam là công ty duy nhất đạt tỉ lệ nội địa hóa 10% Mặc dù các tỉ lệ nội địa hóađạt thấp như vậy nhưng cũng phải nói các doanh nghiệp sản xuất ô tô cũng đã nỗ lựchết sức để tăng tỷ lệ nội địa hóa Điều này thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, họ đã cố gắng giatăng sản lượng sản xuất, lúc đó họ sẽ cần thêm nhiều linh kiện, phụ tùng để sản xuất,các nhà ĐTNN sản xuất linh phụ kiện hỗ trợ sẽ nhìn thấy tiềm năng lớn từ thị trường

và họ sẽ theo chân các doanh nghiệp sản xuất ô tô vào đầu tư tại Việt Nam Thứ hai,

họ đã nỗ lực mời gọi các công ty cung cấp phụ tùng thuộc cùng tập đoàn vào đầu tư tạiViệt Nam Điển hình là Toyota Việt Nam đã nỗ lực mời gọi thành công các công tycung cấp phụ tùng thuộc tập đoàn Toyota đầu tư vào Việt Nam như Denso, ToyotaBoshoku Hải Phòng, Toyota Gosei Hải Phòng… để sản xuất phụ tùng, đồng thời xuấtkhẩu các phụ tùng ô tô ra toàn cầu Số đầu chi tiết mà các nhà cung cấp đã cung ứngcho Toyota đã lên tới hơn 300 chủng loại đa dạng, bao gồm cả chi tiết thường và chitiết chức năng đòi hỏi về mặt kỹ thuật và chất lượng Thị trường xuất khẩu là 13 vùngthuộc 10 nước là Thailand (4 vùng), Indonesia, Philippines, Malaysia, India,Argentina, South Africa, Venezuela, Đài Loan, Pakistan Kim ngạch xuất khẩu phụ

Trang 15

Bên cạnh nỗ lực mời gọi thành công các công ty cung cấp phụ tùng thuộc tậpđoàn Toyota, nhiều công ty khác cũng đã nỗ lực mời gọi các tập đoàn khác vào đầu tưtại Việt Nam như là một vệ tinh của mình Tập đoàn Nidec Tosok của Nhật Bảnchuyên sản xuất quạt động cơ điện và quạt động cơ ô tô cũng đã mời gọi thành công 5công ty vệ tinh vào Việt Nam với tổng số vốn của 5 công ty vệ tinh vào khoảng 10triệu USD tính đến năm 2004 Trong đó, công ty Okaya Việt Nam, một trong những

vệ tinh của Nidec Tosok tại Việt Nam, với nhà máy chuyên sản xuất linh kiện lắp ráphộp số cho xe hơi (tổng vốn đầu tư 6,7 triệu USD năm 2004, tăng thêm 2 triệu USDvào 2006 để mở rộng nhà xưởng) đã cung cấp sản phẩm cho tập đoàn Nidec Tosok vànhà máy của công ty Harada tại Đồng Nai Ngoài ra, Okaya Việt Nam còn chế tạothành phần quang học cho các cơ sở sản xuất ở nước ngoài của các công ty cũng thuộcNhật Bản là Juki, Sony, Hitachi và Nec

2.2 Liên kết ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Thực tế, một số lĩnh vực của Việt Nam đã thực hiện liên kết ngành và tham giavào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng chủ yếu do nhu cầu bắt buộc của thị trường Chẳnghạn ngành dệt may, da giày tham gia phần gia công, chế biến nguyên vật liệu đượcthực hiện trong nước đạt được 20-30 %, phần thực hiện ở nước ngoài tới 70 - 80% donhập khẩu nguyên vật liệu Hay như ngành điện – điện tử, phần gia công, lắp ráp, chếtạo trong nước khoảng 20 – 40% phần còn lại là nhập khẩu nguyên liệu chiếm 60 –80% Tương tự, ngành ôtô, lắp ráp trong nước đạt khoảng 10 – 30% trong khi phầnthực hiện nước ngoài tới tới 70 – 90% do phải nhập linh kiện, máy móc Điều nàyphản ánh liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa không nhiều

Một số nguyên nhân dẫn đến tính trạng trên là:

Thứ nhất, tiến trình thực hiện nội địa hóa còn chậm và ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam còn yếu.

Theo mục tiêu chính phủ đề ra, vào năm 2005, tỷ lệ nội địa hóa phải đạt 40% vàtiếp tục tăng lên đến 60% vào năm 2010 đối với các loại xe thông dụng Tuy nhiên đếnnăm 2013, tỷ lệ này mới chỉ đạt từ 7 - 10% đối với xe con và từ 35 - 40% đối với xe tảinhẹ Với tỷ lệ như vậy, chỉ có một số ít các doanh nghiệp Việt Nam trở thành đơn vịcung cấp phụ tùng cho doanh nghiệp FDI Mặt khác, doanh nghiệp phụ tùng 100%Việt Nam chỉ làm được vỏ, gò hàn, sơn, một số nội thất cấp thấp, còn các phụ tùngkhác đều phải nhập

Trang 16

Trong số đơn vị cung cấp phụ tùng ô tô, xe máy cho các doanh nghiệp FDIngành ô tô tại Việt Nam thì tất cả đều là doanh nghiệp FDI do các tập đoàn quốc tếchuyên sản xuất phụ tùng thành lập hoặc là công ty có vốn góp của chính các Tập đoànsản xuất và kinh doanh ô tô đã có mặt tại Việt Nam.

Thứ hai, các TNC tại Việt Nam thường chú trọng đến trao đổi trong nội bộ giữa các chi nhánh của họ ở các nước.

Các tập đoàn đa quốc gia vào Việt Nam mang cả chuỗi các nhà cung cấp sang

và ưu tiên các đơn hàng cho đơn vị này Doanh nghiệp Việt Nam rất khó để chen vào

Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến liên kết yếu còn do phía các doanh nghiệp FDI dùng các biện pháp để ngăn doanh nghiệp Việt bước vào hệ thống của họ dễ dàng thực hiện giá chuyển giao.

Chẳng hạn, khi chúng ta có thể cung cấp cả một cụm chi tiết mà họ mua củanước khác, thì phía chính hãng lại đưa ra những điều kiện về giá thành khiến chúng takhó đáp ứng

Hơn nữa, doanh nghiệp FDI sẽ thực hiện chuyển giá dễ dàng hơn thông qua cáccông ty cung cấp phụ tùng sẵn có của họ

Thứ tư, doanh nghiệp ô tô FDI muốn giữ bí quyết công nghệ.

Một số các doanh nghiệp FDI vào đầu tư tại Việt Nam để sản xuất sản phẩmhoàn chỉnh, nắm công nghệ nguồn, nhưng ở mỗi công đoạn của chuỗi sản xuất lại cónhững công nghệ do chính các doanh nghiệp vệ tinh của họ nắm giữ

Ví dụ, Hyundai sản xuất xe ô tô nhưng doanh nghiệp vệ tinh cung cấp ghế choHuyndai mới là đơn vị sản xuất chiếc ghế và nắm trong tay công nghệ sản xuất chiếcghế đó Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải có quan hệ và bắt tay với các nhàcung ứng cấp 1, cấp 2 của doanh nghiệp FDI để làm cho họ thay vì bắt chước làm linhkiện giống họ

Do vậy, “tỷ lệ nội địa hóa” thấp không hoàn toàn do kỹ thuật kém mà là dongành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không thể tham gia vào chuỗi sản xuất củadoanh nghiệp FDI Và thực tế các doanh nghiệp ô tô FDI với lý do phụ tùng do doanhnghiệp Việt sản xuất không đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và sự đồng bộ sản phẩmnên chủ yếu sử dụng phụ tùng từ những công ty phụ tùng FDI như trên

Ngày đăng: 31/12/2017, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w