CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN CHÍNH SÁCH THU hút CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ của VIỆT NAM và THÁI LAN
Trang 1
-CHÍNH SÁCH THU HÚT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN
Hà Nội, 2015
Trang 21.1.Các khái niệm 1
1.1.1.Chính sách 1
1.1.2.Chuyển giao công nghệ 1
1.2.Cơ sở thực tiễn thu hút CGCN 4
1.2.1.Lợi ích của nhà đầu tư khi CGCN 4
a.Toàn cầu hóa hoạt động 4
b.Thay thế công nghệ đã lạc hậu 5
c.Lợi ích tương hỗ 5
d.Hoàn thiện công nghệ 5
e.Tìm kiếm thêm lợi nhuận 5
1.2.2.Lợi ích bên nhận CGCN 6
a.Giảm thời gian nghiên cứu và triển khai 6
b.Tận dụng ưu thế tài nguyên và lao động 6
c.Tăng trình độ nhân công 7
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH VIỆT NAM VÀ THÁI LAN TRONG THU HÚT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 8
2.1.Quan điểm và chính sách của Việt Nam trong thu hút CGCN 8
2.1.1.Chủ trương của Đảng, Nhà nước về thu hút CGCN 8
a.Hướng tới phát triển bền vững 8
b.Phân bố đều FDI 10
2.1.2.Chính sách của Việt Nam trong thu hút CGCN thông qua FDI 11
a.Về ban hành cơ chế, luật pháp, chính sách đối với thu hút CGCN 11
Trang 3b.Đề ra các hoạt động quản lý, giám sát CGCN trong các dự án đầu tư nước ngoài 12
c.Đề ra danh mục các đối tượng công nghệ được chuyển giao, quyền CGCN, công nghệ được khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao và công nghệ cấm chuyển giao 14
d.Định hướng chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao 16
e.Ban hành chính sách thuế và ưu đãi trong lĩnh vực thu hút CGCN của các nhà đầu tư nước ngoài 16
f.Ban hành chính sách ưu đãi về đất đai trong lĩnh vực thu hút CGCN của các nhà đầu tư nước ngoài 18
2.1.3.Ngành thu hút nhiều hợp đồng CGCN nhất và quốc gia có nhiều hợp đồng CGCN nhất thông qua hoạt động FDI 19
2.2.Quan điểm và chính sách của Thái Lan trong thu hút CGCN 21
2.2.1.Chủ trương của Thái Lan trong thu hút CGCN 21
2.2.2.Chính sách của Thái Lan trong thu hút đầu tư nước ngoài 21
a.Xác định ưu đãi thuế theo ngành công nghiệp 22
b.Xác định ưu đãi theo địa phương thực hiện dự án 26
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THU HÚT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM VÀ THÁI LAN 29
3.1.Kết quả thu hút CGCN củaViệt Nam 29
3.1.1.Thành tựu 29
3.1.2.Hạn chế 30
3.2.Kết quả thu hút CGCN của Thái Lan 31
3.2.1.Thành tựu 31
3.2.2.Hạn chế 33
3.3.Bài học cho Việt Nam 34
Trang 43.3.2.Tổ chức các loại hình kinh doanh tạo thuận lợi cho việc CGCN có hiệu quả cao 34
3.3.3.Huy động nguồn vốn đầu tư cho phát triển công nghệ và CGCN 35
3.3.4.Hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, phát minh và sáng chế 35
3.3.5.Nâng cao chất lượng và khuyến khích nhân công công nghệ 35
3.3.6 Tổ chức lại và nâng cao chất lượng của các tổ chức tư vấn, phát triển mạng lưới thông tin 36
3.3.7.Tập trung trí lực và tài lực cho các cơ quan nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ được chuyển giao 36
3.3.8.Hoàn thiện cơ chế vận hành các chương trình đào tạo công nghệ - kỹ thuật 36
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 51.1 Các khái niệm
1.1.1 Chính sách
Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực vềmột lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy Chính sáchđược ban hành bao gồm: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kếhoạch thực hiện Chủ thể ban hành chính sách là các chính đảng, cơ quan quản lý nhànước, đơn vị, công ty,… (Nguyễn Minh Thuyết, 2013)
Chính sách thu hút chuyển giao công nghệ (CGCN) nằm trong chính sách đầu tưnước ngoài Mức độ thông thoáng, hợp lý và hấp dẫn của các chính sách này có ảnh hưởngtrực tiếp đến quyết định đầu tư CGCN của nhà đầu tư nước ngoài
1.1.2 Chuyển giao công nghệ
Khái niệm
Theo Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về CGCN: "Chuyển giao côngnghệ" là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở Hợp đồng CGCN đã được thoả thuậnphù hợp với các quy định của pháp luật Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thứctổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo kèm theocác kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán đểtiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã thoả thuận và ghi nhậntrong Hợp đồng CGCN
Các nội dung CGCN:
- Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểudáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời hạn được pháp luật Việt Nam bảo
hộ và được phép chuyển giao
- Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương án côngnghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹthuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, phần mềm máy tính (được
Trang 6chuyển giao theo Hợp đồng CGCN), thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao (sau đâygọi tắt là các thông tin kỹ thuật) có kèm hoặc không kèm theo máy móc thiết bị.
- Chuyển giao các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ
Các kênh CGCN
Theo Ấn phẩm điện tử về CGCN thuộc Tổng luận Khoa học và Công nghệ của CụcThông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, có các kênh CGCN như sau:
- CGCN qua thương mại hàng hóa: Thông qua khối lượng hàng hoá xuất
nhập khẩu, ẩn chứa trong đó tiềm năng các loại hình CGCN Chỉ tính riêng việcnhập khẩu cho ngành công nghiệp một số công nghệ thiết bị mới đã có thể cải thiệnmột cách trực tiếp hiệu quả sản xuất khi được đưa vào dây chuyền sản xuất Nhưvậy, bản thân thương mại quốc tế cũng là một hình thức trung tâm của việc CGCN
- CGCN qua đầu tư trực tiếp nước ngoài: Kênh CGCN qua đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) thông qua các Tập đoàn đa quốc gia (MNEs) Về nguyên lý, cácMNEs sẽ chuyển giao cho các công ty con của nó ở những nước có nhu cầu tiếpnhận công nghệ, những tri thức công nghệ mới và hữu ích cho những DN bản địa.Nguyên nhân là do các công ty con có động cơ muốn trở thành một công ty đa quốcgia nắm giữ quyền sở hữu một số tài sản tri thức để khai thác nhiều lợi nhuận ở các
DN nhập công nghệ Có nhiều quan điểm cho rằng một dạng tiếp nhận công nghệtoàn diện nhất là FDI Vì FDI không những mang lại công nghệ mà còn kỹ năngquản lý, các liên kết thị trường và vốn Vì vậy, FDI là một kênh chính quan trọng,thông qua đó các DN có cơ hội vươn lên, không những có khả năng cạnh tranh vềcông nghệ trên thị trường nội địa mà còn vươn ra khu vực và thế giới
- CGCN thông qua bằng sáng chế: hợp đồng cấp bằng sáng chế đạt được
thông qua đàm phán giữa người bán và người mua nên việc chuyển giao mang tính
tự nguyện Tuy nhiên, các Chính phủ có thể ban hành những mệnh lệnh bắt buộc traoquyền sử dụng cho các DN bản địa, trong trường hợp này CGCN mang tính cưỡngép
- CGCN dưới hình thức liên doanh: các DN quốc tế có thể cung cấp những
thông tin sản xuất tiên tiến hơn về mặt công nghệ thông qua việc cấp bằng sáng chế,trong khi các đối tác địa phương cung cấp các mạng lưới phân phối, thông tin về thịtrường lao động, các kỹ năng quản lý đặc biệt hoặc một số những lợi thế mang tínhđịa phương khác
- CGCN qua con đường hợp đồng sản xuất/ chế tạo: Do lợi thế nguyên vật
liệu tại chổ, giá nhân công thấp, phương tiện giao thông thuận lợi và do lợi nhuậngiữa các bên, Bên A(là bên có vốn và công nghệ) ký hợp đồng kinh tế với Bên B để
Trang 7gia công, chế tạo từng nguyên công, từng chi tiết, hoặc lắp ráp từng cụm thiếtbị….Bên B dần dần tích lũy được các công nghệ mà Bên A hợp tác sản xuất
- CGCN qua Mạng INTERNET/INTRANET: Người có nhu cầu công nghệ
có thể tiếp cận được trực tiếp với nhà sản xuất, mà không cần thông qua môi giới, tưvấn
- CGCN thông qua luân chuyển nhân sự xuyên biên giới
- Các kênh CGCN phi thị trường: Phương pháp mô phỏng có thể diễn ra
thông qua việc xem xét kỹ sản phẩm, kỹ thuật, phá mã phần mềm… Phương pháp
mô phỏng có hợp pháp hay không phụ thuộc vào phạm vi của việc bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ và Luật Cạnh tranh không công bằng
- CGCN qua việc rời bỏ công ty của người lao động: những nhân sự về quản
lý và kỹ thuật, những người mang tri thức và công nghệ của một DN của mình rời bỏ
DN này và gia nhập hoặc thành lập một DN đối thủ trên cơ sở những tri thức vàcông nghệ mà họ đã tích luỹ được
- CGCN trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu những dữ liệu trên các bằng sáng
chế và dữ liệu thử nghiệm: Về nguyên tắc, các DN đối thủ có thể nghiên cứu
những ứng dụng này, học hỏi những công nghệ cơ bản, triển khai các sản phẩm vàphương pháp cạnh tranh mà không vi phạm đến quyền lợi của những người nộp đơnđăng ký bản quyền đầu tiên
- CGCN thông qua di cư tạm thời: phần lớn công nghệ dường như được
chuyển giao thông qua việc di cư tạm thời của các sinh viên, các nhà khoa học, cácnhà kỹ thuật-quản lý tới các trường đại học, phòng thí nghiệm và các hội nghị khoahọc có vị trí ở những nước phát triển và đang phát triển
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu cấp sinh viên, nhóm nghiên cứu chỉ đi sâuvào phân tích chính sách thu hút CGCN thông qua đầu tư trực tiếp FDI
Các cấp độ CGCN
- Công nghệ nguồn: Là công nghệ được tạo ra lần đầu từ các phát minh, sáng
chế, giải pháp hữu ích Công nghệ nguồn ở nước nào cũng có thể có, nhưng hiện nayphần lớn công nghệ nguồn được tạo ra từ các Tập đoàn đa quốc gia của các nướccông nghiệp phát triển như Mỹ, Pháp, Anh
- Công nghệ thứ cấp: Là công nghệ không phải là công nghệ nguồn Công
nghệ thứ cấp được chuyển giao lần thứ nhất, hoặc là công nghệ thứ cấp lần thư 2, lầnthứ 3 Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đều có những công nghệ hiện đại nhưngphần lớn đều không phải là công nghệ nguồn nhưng được chuyển giao lần đầu từ Mỹ
Trang 840% phát minh sáng chế của Mỹ Như vậy, SAMSUNG không làm chủ công nghệnguồn Việt Nam tiếp nhận công nghệ từ Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng thực chất cáccông nghệ đó đi sau công nghệ nguồn ít nhất là 2 đến 3 thế hệ Các nước đang pháttriển cũng có khả năng tạo ra được công nghệ nguồn nhưng chưa hẳn đấy là côngnghệ tiên tiến và hiện đại Ví dụ, công nghệ sản xuất kẹo dừa ở Bến Tre là côngnghệ nguồn, nhưng công nghệ này lại sử dụng các thao tác lạc hậu.
1.2 Cơ sở thực tiễn thu hút CGCN
1.2.1 Lợi ích của nhà đầu tư khi CGCN
Công nghệ là tài sản có giá của công ty, và là một loại hàng hóa vô hình Chuyểngiao/ mua bán công nghệ là một tất yếu khách quan trong cơ chế thị trường khi có cung,cầu đối với mua bán công nghệ CGCN quốc tế trước hết xuất phát từ chiến lược của cáccông ty đang nắm công nghệ duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình Những lợiích của DN khi CGCN bao gồm:
a Toàn cầu hóa hoạt động
Khi mở rộng thị trường, các công ty phải lựa chọn hai chiến lược là sản xuất tập trung
và sản xuất phân tán
Sản xuất tập trung: sản phẩm được sản xuất tại nước có công nghệ và xuất khẩu ra thếgiới Chiến lược này thường được thấy ở một số sản phẩm có các đặc trưng:
- Đòi hỏi quy mô dự án đầu tư lớn
- Đòi hỏi quá trình chuyển giao dọc và sản xuất phải gắn liền với nhau để đảm bảochất lượng
- Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào một vài bí quyết độc đáo khóchia sẻ để giữ lợi thế trên thị trường
- Chính sách giữ bí mất quốc gia
Sản xuất phân tán: đặt nhiều sự sản xuất ở các vị trí gần nguồn nguyên nhiên liệuhoặc gần thị trường tiêu thụ, chia quá trình sản xuất ra nhiều công đoạn chuyên môn hóa ởnhiều khu vực, quốc gia khác nhau nhằm tận dụng lợi thế so sánh:
- Tận dụng được nguồn nhân công rẻ ở các quốc gia đang phát triển
- Giảm chi phí logistics về vận tải, kho bãi, cung ứng
- Mở rộng thị trường, nắm chắc về nhu cầu của nhiều thị trường,cạnh tranh
- Khuếch trương phạm vi ảnh hưởng, nâng cao uy tín sản phẩm
- Chuyên môn hóa cao,lợi dụng các lợi thế so sánh
Trang 9Để đạt mục tiêu cao nhất là lợi nhuận, sự phân tán hoạt động, phối hợp hoạt động trêntoàn cầu của các công ty TNCs có công nghệ tất yếu đi kèm với việc CGCN cho các chinhánh,lien doanh, thầu phụ,cung ứng, phân phối ở các nước đang phát triển đối với toàn bộhoặc một số công đoạn.
b Thay thế công nghệ đã lạc hậu
Cuộc cách mạng công nghệ khoa học lần 3 đang diễn ra vô cùng nhanh trên phạm vitoàn thế giới với tốc độ vô cùng nhanh Các TNCs từ trước tới nay đều theo đuổi mục tiêu
về lợi nhuận và kĩ thuật công nghệ cao đang là tiền đề cần thiết cho mục tiêu này Dẫn đầu
về công nghệ là chiến lược cạnh tranh giữa các đối thủ bằng cách bỏ ra môt chi phí lớn chochuyên giao dọc (R&D) Khi áp dụng những công nghệ mới tại hãng chính của các TNCs
từ các nước phát triển sẽ thay thế công nghệ và thiết bị lạc hậu Mong muốn CGCN cũsang nước khác là tất yếu để tiếp tục thu lợi từ công nghệ phải bỏ ra
c Lợi ích tương hỗ
Để nâng cao lợi thế cạnh tranh thì ngày nay các công ty phải tập trung vào lĩnh vựcnào mà mình có thế mạnh nhất theo xu hướng chuyên môn hóa hẹp ( chuyên môn hóa theoquy trình công nghệ) Sự liên minh, lien kết chiến lược, phụ thuộc lẫn nhau là một yếu tốthúc đẩy các công ty CGCN cho nhau để đảm bảo sư phối hợp tiêu chuẩn hóa các bộ phậncấu thành Hơn nữa thong qua CGCN, các nước đang phát triển tăng cường phát triển kinh
tế nâng cao được sức mua hàng công nghiệp và hàng tiêu dung từ các nước tiếp thu côngnghệ
d Hoàn thiện công nghệ
Một điểm mà ta có thể dễ dàng nhận thấy là nhờ có CGCN cho đối tác khác mà côngnghệ sẽ được đưa sang một môi trường làm việc khác, được sử dụng đại trà và dễ bộc lộnhững khiếm khuyết do những sai khác giữa môi trường khác nhau Những yếu tố ở môitrường quốc gia đang phát triển như dân trí, trình độ, điều kiện tự nhiên làm bộc lộ yếukém về phương pháp, nguyên tắc, nguyên lí công nghệ lẫn máy móc trang thiết bị côngnghệ.Chỉ khi đó ta mới có điều kiện phát hiện xử lí thiếu sót nhược điểm của công nghệ vàtrên cơ sở đó hoàn thiện và nâng cao giá trị công nghệ
e Tìm kiếm thêm lợi nhuận
Bằng việc CGCN mà các nước, tổ chức tạo thêm lợi nhuận thông qua hai con đườnglà:
- Trực tiếp bán công nghệ cho bên tiếp nhận
Trang 10- Gián tiếp thông qua nhỏ giọt bí quyết công nghệ, bán tài liệu chuyên môn nghiệp
vụ, cung cấp những phụ tùng thay thế hay bao tiêu sản phẩm Đây là một quá trình rất lâudài và nó là nguồn thu nhập chủ yếu của bên chuyển giao
Ngoài ra CGCN tạo điều kiện cho các nước phát triển mở rộng thị trường, mở rộngkhu vực ảnh hưởng mà bằng các biện pháp như bao vây, cấm vận, chính trị, quân sự… đềukhông thực hiện được Hơn nữa các nước phát triền có khả năng độc quyền thị trường ởcác nước nhận công nghệ, tận dụng được nguồn tài nguyên, nguồn lao công dồi dào, rẻ mạt
và có thể tận dụng được những điều khoản có lợi trong hợp đồng CGCN Đồng thời đó lànhững thuận lợi lớn không thể tính được về mặt quan hệ ngoại giao giữa nước chuyển giao
và nước tiếp nhận chuyển giao cũng như việc mở rộng thị trường của các hàng hóa dịch vụkhác sang nước tiếp nhận công nghệ
1.2.2 Lợi ích bên nhận CGCN
Trái ngược với bên CGCN , bên tiếp nhận công nghệ thường là những nước đangphát triển Đối với những nước này có thể nói tiếp nhận công nghệ từ những nước pháttriển là con đường duy nhất để tiến hành quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.Điều này có nghĩa là có rất nhiều thuận lời mà bên tiếp nhận công nghệ sẽ nhận được trongquá trình CGCN
a Giảm thời gian nghiên cứu và triển khai
Thuận lợi đầu tiên mà ta dễ dàng nhận thấy là bằng việc tiếp nhận công nghệ có sẵn mà cácnước này sẽ tiết kiệm được một lượng chi phí lớn cũng như thời gian nghiên cứu côngnghệ Đồng thời tiếp thu được những kinh nghiệm đã có về thành công cũng như thất bạicủa những nước đi trước trong việc sử dụng công nghệ từ đó rút ra bài học của mình
b Tận dụng ưu thế tài nguyên và lao động
Các nước đang phát triển thường có ưu thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động Tuynhiên các nguồn lực này đều đang được sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.CGCN đã tạo điều kiện cho các nước có thể hạn chế được tình trạng trên Việc áp dụngcông nghệ tiên tiến vào sản xuất góp phần tăng nhanh giá trị lao động, tạọ công ăn việclàm, giải quyết thất nghiệp, khai thác tài nguyên một cách hợp lí Nhờ đó năng lực và chấtlượng sản xuất ngày càng nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện, kinh tế phát triển cókhả năng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng có lợi
c Tăng trình độ nhân công
Vấn đề lao động và thất nghiệp được giải quyết phần nào khi số lượng công ăn việc làmtăng cao Các TNCs thường có chương trình đào tạo tại chỗ và bên ngoài, qua đó tăng cao
Trang 11trình độ nhân lực Trình độ chuyên môn cũng được tăng lên do bên CGCN cung cấp và đàotạo.
Sau đó qua việc tiếp nhận công nghệ ta có điều kiện tiếp túc với những đối tác làm ăntrên thế giới, qua đó có cơ hội để nâng cao hiểu biết về cung cách làm ăn, có kinh nghiệmhơn về quản lí, kí kết Đồng thời, việc tiếp nhận FDI và công nghệ làm giảm việc nhậpkhẩu, tăng xuất khẩu, giúp cân bằng cán cân thương mại
Trang 12CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH VIỆT NAM VÀ THÁI LAN TRONG THU
HÚT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ2.1 Quan điểm và chính sách của Việt Nam trong thu hút CGCN
2.1.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về thu hút CGCN
Việt Nam bước ra từ một nước xã hội chủ nghĩa bị tàn phá nặng nề từ chiến tranh vàsau đó là chế độ quan liêu tham nhũng Việc mở cửa thị trường những năm cuối thập niên
80 đã chứng tỏ tầm nhìn sáng suốt của Đảng và Nhà nước Qua những thành tựu sau 25năm đổi mởi, việc hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng thể hiện rõ nét qua tổng số dự ánFDI và các hợp đồng CGCN vào Việt Nam Hệ thống luật pháp cũng ngày càng phát triển
và hoàn thiện thể hiện những bước phát triển trong nhận thức về CGCN
Luật đầu tư nước ngoài đầu tiên ra đời năm 1986 là kết quả của bước chuyển biếntrong tư tưởng của Đảng và Nhà nước sau 1 giai đoạn trầm của nền kinh tế kế hoạch hóatập trung là kết quả của Đại hội VI tháng 12 năm 1986 Bước phát triển trong nhận thức là
sư kết hợp nội lực và ngoại lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiên mục tiêu dân giàu, nước mạnh Ngay sau đó Hộiđồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh CGCN vào Việt Nam ngày 05/12/1988 Liên quanđến CGCN là hai nghị định 45/1998 NDCP và 15/2005 NDCP về hướng dẫn thi hànhchương 6, phần 3 luật Dân sự liên quan đến CGCN
Trong Báo cáo 25 năm thu hút FDI vào Việt Nam, hai quan điểm chính của Việt Namkhi thu hút CGCN, nằm trong định hướng thu hút FDI dài hạn, là:
a Hướng tới phát triển bền vững
Thực hiện mở cửa thị trường, những tên tuổi lớn của TNCs thế giới đã sớm nhận ramột khu vực thị trường béo bở Đông Nam Á với Việt Nam có vị trí địa lí khá đặc biệt.Cocacola, KFC, Vedan… đã sớm có mặt Đảng và Nhà nước tiếp nhận đầu tư và tạo nhữngđiều kiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia này đi vào Việt Nam Đó là những ưu đãi
về thuế đất, thuế thu nhâp DN dựa trên báo lãi, lỗ hàng năm và hình thức tính lỗ lũy kế.Tuy nhiên thời gian gần đây, dư luận bùng nổ xôn xao do báo cáo tài chính của Cocacolabáo lỗ hàng chục năm nay trong khi quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng Hay vụviệc năm 2008 Vedan Đồng Nai bị phát hiện xả thải chưa qua xử lí xuống sông Thị Vải.Ngoài ra, vấn đề công nghiệp phụ trợ trong các dự án FDI của các DN Việt Nam cũngđang đánh lênh hồi chuông về một nền kinh tế nóng ảo Ví dụ điển hình là FDI trong côngnghiệp may mặc Tuy Việt Nam là quốc gia xuất khẩu may mặc lớn trên thế giới nhưngphần lớn nguyên nhiên vật liệu sản xuất đều nhập khẩu bên ngoài vào trong khi Việt Nam
Trang 13là một quốc gia nông nghiệp đi lên Phần lợi nhuận có được từ may mặc chủ yếu là lươnggia công.
Dù đã có nỗ lực nhất định trong việc thu hút một số DN công nghệ cao, đánh giáchung Việt Nam vẫn chưa đạt mục tiêu nâng cao đáng kể trình độ công nghệ và CGCNthông qua các DN FDI Theo số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư, mặc dù công nghệ chuyểngiao vào Việt Nam hầu hết là công nghệ có trình độ bằng hoặc cao hơn công nghệ sẵn có ởViệt Nam, phần lớn các DN FDI có công nghệ trung bình so với thế giới (80%), một phầnđáng kể có công nghệ lạc hậu (14%) và chỉ có 6% có công nghệ cao Các công nghệ đượcchuyển giao theo các dự án FDI thường là các công nghệ được đưa vào theo lợi ích củanhà đầu tư chứ không phải theo nhu cầu đổi mới công nghệ do phía Việt Nam chủ độngđưa ra Sau hơn 25 năm thu hút FDI, kết quả như vậy là hết sức hạn chế Lưu ý rằng, trong
số 500 Tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới, chúng ta mới chỉ thu hút khoảng 100,trong khi đó Trung Quốc đã thu hút 400 DN Và ngay cả trong trường hợp thu hút một sốtập đoàn công nghệ cao nổi tiếng toàn cầu như Nokia, Samsung công đoạn sản xuất tạiViệt Nam là công đoạn cuối, tức là chỉ lắp ráp, không đòi hỏi lao động chất lượng cao vàcông nghệ tiên tiến
Bên cạnh việc phá hoại môi trường là việc khai thác cạn kiệt tài nguyên Trong thờigian vừa qua, giai đoạn trải thảm đỏ đón nhà đầu tư, đã thu hút đầu tư vào khai thác tàinguyên khoáng sản rất nhiều từ dầu khí đến than đá, quặng… Đây là nguồn tài nguyênkhông tái tạo được Sự khai thác bừa bãi thiếu quy hoạch sẽ gây tổn thất lớn tài nguyênquốc gia
Nhận thức được vấn đề, hiện nay Đảng và Nhà nước đang chú trọng thu hút côngnghệ bền vững Hạn chế tiếp nhận các dự án gây ô nhiễm, có hàm lượng công nghệ thấp đãthể hiện sự chuyển hướng tích cực trong thu hút FDI hay thu hút CGCN tại Việt Nam.Việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cũng đang được chú trọng dần Phiên chất vấntại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII mở đầu bằng một loạt câu hỏi của các đại biểu liênquan đến trách nhiệm của ngành công thương mà đứng đầu là Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng vềphát triển công nghiệp hỗ trợ Đại biểu Đồng Hữu Mạo (đoàn Thừa Thiên Huế) chất vấn:Năm 2007, Bộ Công nghiệp có quyết định 34, trong đó xác định vai trò quan trọng củacông nghiệp hỗ trợ là khâu đột phát phát triển nhanh và bền vững các ngành công nghiệptrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng và Nhà nước đã có bướcchuyển biến trong nhận thức về vấn đề tỷ lệ nội địa hóa sản xuất trong nước Thay vì nhìnvào con số xuất khẩu hàng năm tăng đã có sự chú ý về tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm được sảnxuất trong nước
Trang 14Để khắc phục những hạn chế khi so sánh lợi thế với các môi trường đầu tư hấp dẫnkhác như Thái Lan, Philipins… Đảng và Nhà nước đã đề ra giải pháp phù hợp là tăng thêm
ưu đãi về thuế DN đối với các DN sử dụng công nghiệp phụ trợ trong nước Ngoài ra cáclợi thế về tình hình chính trị, an ninh, sự ổn định vè đường lối chính sách lâu dài, những ưuđãi dài hạn đã được Đảng và Nhà nước sử dụng để thu hút FDI
b Phân bố đều FDI
Với điều kiện tự nhiên và giao thông khác nhau giữa các địa phương, FDI chủ yếu tậptrung tại một số khu vực và địa phương như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, CầnThơ…Các địa phương miền núi và khu vực giao thong không thuận lợi không được lựachọn thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp vẫn còn nặng về thành tích "trải thảm đỏ",chạy theo phong trào giữa các địa phương nhằm lấp đầy diện tích đất các khu công nghiệp,chưa chú trọng hiệu quả FDI Các địa phương chưa quyết tâm và chú ý việc thu hút các dự
án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao trong nông, lâm, ngư nghiệp,khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản một cách tối ưu, hiệu quả nhất Có những địaphương thực hiện "trải thảm đỏ" với bất cứ giá nào, nhưng nhiều vùng canh tác nôngnghiệp màu mỡ lại mất đi.Điều này càng làm sâu khoảng cách phát triển của các địaphương trên cả nước Nhận thức rõ tầm quan trọng, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các ưuđãi cho hoạt động phát triển kinh tế đối với nhà đầu tư tại các địa phương có điều kiện giaothông khó khăn, giúp hạn chế khoảng cách phát triển
Ta có bảng phát triển FDI 10 năm tại Việt Nam phân theo vùng lãnh thổ Nguồn:world bank
Ngoài ra, FDI phân bố không đều giữa các ngành, các lĩnh vực Việt Nam là quốc gia
đi lên từ nông lâm ngư nghiệp Tuy nhiên hiện chưa có sự đầu tư thích đáng trong lĩnh vựcnày Công nghệ sử dụng tại đây chủ yếu là lạc hậu, sử dụng kinh nghiệm và sức người Ngay đầu tư FDI vào công nghiệp cũng tồn tại nhiều hạn chế tuy nhiên đã có sự khắcphục bằng những chuyển hướng trong thu hút FDi của Đảng Giai đoạn đầu những năm1991-1996 được coi là bùng nổ các dự án đầu nước ngoài, sau đó đến 1998-1999 tuy cóchững lại do khủng hoảng kinh tế châu Á nhưng tốc độ tăng trưởng FDi tại Việt Nam vẫndương Các dự án FDI trong công nghiệp chủ yếu thiên về khai khoáng tài nguyên thiênnhiên và dẫn đến phá hoại môi trường thiên nhiên Tuy nhiên Đảng và Nhà nước đã nhậnthức và chuyển hướng thu hút CGCN sang các ngành công nghệ có hàm lượng giá trị caonhư công nghệ sinh học, trong công nghiệp nặng thì có công nghệ sản xuất thép, oto…Dịch vụ là ngành hàng dẫn đầu về thu hút FDI tại Việt Nam với dẫn đầu là dịch vụbất động sản, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế…
Trang 152.1.2 Chính sách của Việt Nam trong thu hút CGCN thông qua FDI.
a Về ban hành cơ chế, luật pháp, chính sách đối với thu hút CGCN.
Với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường,ngay từ những năm đầu tiên thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước đã coi FDI
là một kênh quan trọng để thu hút không chỉ vốn đầu tư mà kèm theo nó là thu hút côngnghệ, máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất tiên tiến, hiện đại vào Việt Nam Chính vìvậy, ngay sau khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 1987, Hộiđồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam ngày05/12/1988
Năm 1995 Bộ Luật Dân sự trong đó có Chương 6, phần thứ III quy định về hoạt độngCGCN (CGCN) đã đánh dấu sự nhìn nhận, đánh giá vai trò quan trọng của Đảng và Nhànước đối với FDI trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Sau đó, Chínhphủ đã ban hành Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 quy định chi tiết về chuyểngiao công nghê và Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy định chi tiết vềchuyển giao công nghê (sửa đổi), trong đó đã bãi bỏ hình thức phê duyệt Hợp đồng CGCN,chuyển sang hình thức đăng ký Hợp đồng CGCN Đồng thời, trong thời gian này Bộ Khoahọc, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ban hành các Thông
tư số 28/TT-QLKH ngày 22/01/1994 và Thông tư số 30/2005/TTBKHCN ngày30/12/2005 hướng dẫn một số điều của các Nghị định nói trên Như vậy, các quy định phápluật thời gian này đã thường xuyên được cập nhật, bổ sung sửa đổi để đáp ứng được yêucầu tăng tính tự chủ của DN, nhưng vẫn đảm bảo vai trò kiểm tra, giám sát hoạt độngCGCN của Nhà nước
Năm 2006, Luật CGCN được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lựcthi hành từ ngày 01/7/2007 Lần đầu tiên hoạt động CGCN đã được Luật hóa, là văn bảnquy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay và được đánh giá là rấtthông thoáng, tạo cho các tổ chức, cá nhân tính tự chủ cao nhất trong quá trình đàm phán,thương thảo, ký kết và thực hiện CGCN Cụ thể như sau:
- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhânhoạt động CGCN phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đấtnước
- Ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lựccông nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ
Trang 16- Phát triển mạnh thị trường công nghệ; khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươmtạo công nghệ, ươm tạo DN công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vàosản xuất, kinh doanh.
- Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CGCN ở vùng nông thôn,miền núi; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động CGCN ở địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhânhợp tác quốc tế trong hoạt động CGCN
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2008/NĐ- CP ngày 31/12/2008quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật CGCN Luật CGCN đã cónhiều điểm mới cơ bản so với các văn bản quy phạm pháp luật về CGCN trước đây:
- Ban hành ba Danh mục: Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danhmục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao
- Không khống chế mức phí thanh toán tối đa cho CGCN - Không quy định thờihạn tối đa của Hợp đồng CGCN
- Quy định về ngôn ngữ Hợp đồng và Luật áp dụng phù hợp hơn với xu thế hộinhập kinh tế quốc tế về khoa học và công nghệ
Luật quy định trong trường hợp CGCN thuộc Danh mục công nghệ khuyến khíchchuyển giao, các bên tham gia giao kết Hợp đồng CGCN có quyền tự nguyện đăng ký đểhưởng ưu đãi theo quy định pháp luật Đồng thời Luật Công nghệ cao năm 2008 được banhành quy định các chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao.Theo đó, các DN công nghệ cao, dự án ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi caonhất theo quy định pháp luật
b Đề ra các hoạt động quản lý, giám sát CGCN trong các dự án đầu tư nước ngoài.
Luật CGCN của Quốc hội khóa XI, kỳ họp số 80/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm
2006 đã nêu rõ nội dung quản lý, giám sát của Nhà nước về hoạt động CGCN cụ thể nhưsau:
- Ban hành, tổ chức thực hiện và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vềCGCN
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp, cơchế, chính sách thúc đẩy hoạt động CGCN, đổi mới công nghệ
- Quản lý thống nhất hoạt động CGCN
Trang 17- Hợp tác quốc tế về hoạt động CGCN.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về CGCN; giải quyết khiếu nại, tốcáo và xử lý vi phạm pháp luật về CGCN
Trước khi ban hành Luật CGCN, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vừa chuyển từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, việc Nhà nước kiểm tra, giámsát chặt chẽ hoạt động CGCN là thực sự cần thiết, vì hầu hết các DN (chủ yếu là DN nhànước) chưa được tiếp cận và cọ sát trong môi trường cạnh tranh của kinh tế thị trường Do
đó, các quy định như khống chế mức thanh toán tối đa cho hoạt động CGCN, bắt buộc phêduyêt hoặc đăng ký Hợp đồng CGCN, … là cần thiết
Các quy định này đã thực sự phát huy tác dụng, góp phần giúp các DN (đặc biệt làcác DN liên doanh có sử dụng vốn Nhà nước) trong đàm phán, thương thảo Hợp đồngCGCN, tránh được thua thiệt trong CGCN Thực tế là, điều này đã giúp cho các DN ViệtNam hạn chế được việc thanh toán phí CGCN cao hơn so với giá trị ban đầu mà phía đốitác đưa ra, như:
- Hợp đồng CGCN sản xuất đèn hình (picture tube) giữa Orion Electric Co., Ltd.(Hàn Quốc) với Công ty TNHH đèn hình Orion Hanel
- Hợp đồng CGCN sản xuất xe máy VMEP Việt Nam
- Hợp đồng CGCN sản xuất lốp cao su Inoue Việt Nam,
Theo số liệu báo cáo của các Sở Khoa học và Công nghệ và đơn vị làm công tác thẩmđịnh thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, tổng số các Hợp đồng CGCN đăng ký và được cấpGiấy chứng nhận hoặc phê duyệt từ năm 1999 đến tháng 6/2012 trên toàn quốc là 838 hợpđồng Trong đó, số hợp đồng CGCN thuộc các dự án FDI chiếm trên 50% Nội dung cáchợp đồng CGCN thường tập trung vào việc chuyển giao quy trình công nghệ 82%; bíquyết công nghệ 80 %; trợ giúp kỹ thuật 87%; đào tạo 78%; chuyển giao quyền sở hữucông nghiệp 21%, (trong đó, có nhiều Hợp đồng chuyển giao đồng thời nhiều đối tượngcông nghệ nêu trên)
Số liệu thống kê Hợp đồng CGCN các năm còn cho thấy, đa số các Hợp đồng CGCNthuộc các dự án FDI
Tuy nhiên, so với số lượng các dự án FDI thì số Hợp đồng CGCN được đăng ký/phêduyệt lại chiếm tỷ lệ rất thấp, mà theo ý kiến đánh giá của các chuyên gia, khoảng trên90% các dự án FDI là có nội dung công nghệ, nhưng chưa được xem xét đúng mức trongquá trình thẩm định do quy định về hồ sơ ngày càng đơn giản (không có nội dung giải trình
về công nghệ trong hồ sơ dự án)
Trang 18Như đã nói ở trên, Luật CGCN đã ban hành ba Danh mục: Danh mục công nghệkhuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục côngnghệ cấm chuyển giao Tuy nhiên, cho đến nay chưa có Hợp đồng CGCN nào thuộc Danhmục công nghệ hạn chế chuyển giao được các bên trình cơ quan quản lý có thẩm quyềnxem xét, phê duyệt.
c Đề ra danh mục các đối tượng công nghệ được chuyển giao, quyền CGCN, công nghệ được khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao và công nghệ cấm chuyển giao.
Luật CGCN của Quốc hội khóa XI, kỳ họp số 80/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm
2006 đã nêu rõ nội dung về đối tượng của hoạt động CGCN cụ thể như sau:
“1 Đối tượng công nghệ được chuyển giao:
- Đối tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sauđây:
+ Bí quyết kỹ thuật;
+ Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án côngnghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ
kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu;
+ Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ
- Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng
sở hữu công nghiệp
3 Công nghệ được khuyến khích chuyển giao.
Công nghệ được khuyến khích chuyển giao là công nghệ cao, công nghệ tiên tiến đápứng một trong các yêu cầu sau đây:
- Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao;
Trang 19- Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới;
- Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu;
- Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo;
- Bảo vệ sức khỏe con người;
- Phòng, chống thiên tai, dịch bệnh;
- Sản xuất sạch, thân thiện môi trường;
- Phát triển ngành, nghề truyền thống
4 Công nghệ hạn chế chuyển giao.
Hạn chế chuyển giao một số công nghệ nhằm mục đích sau đây:
- Bảo vệ lợi ích quốc gia;
- Bảo vệ sức khỏe con người;
- Bảo vệ giá trị văn hoá dân tộc;
- Bảo vệ động vật, thực vật, tài nguyên, môi trường;
- Thực hiện quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên
5 Công nghệ cấm chuyển giao.
- Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinhlao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên và môi trường
- Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và ảnhhưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
- Công nghệ thuộc Danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác.”
d Định hướng chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020, kế hoạch 5 năm 2011 - 2015được Đại hội Đảng lần thứ XI thông qua đã đặt ra mục tiêu: “Giá trị sản phẩm công nghệcao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% trong tổng GDP vào năm 2015 vàkhoảng 45% trong tổng GDP 2020” Như vậy, thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao là
Trang 20e Ban hành chính sách thuế và ưu đãi trong lĩnh vực thu hút CGCN của các nhà đầu tư nước ngoài.
(1)Về thuế TNDH:
Trong từng giai đoạn phát triển, Luật thuế TNDH đã góp phần tạo môi trường pháp lýcông bằng, bình đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng caohiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, phát huy tốt vai trò địnhhướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế phát triển bền vững
Sau 25 năm thực hiện (từ năm 1987 đến năm 2013), bên cạnh cải cách các chính sách
ưu đãi thuế TNDH, việc Quốc hội Việt Nam nhiều lần điều chỉnh giảm mức thuế suất thuếTNDH đã giúp môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn so vớicác nước trong khu vực và trên thế giới Cụ thể, mức thuế suất thuế TNDH từ 32% năm
1997 đã giảm xuống còn 28% năm 2003 và tiếp tục giảm còn 25% từ năm 2009
- Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2004, với mục tiêu đẩy mạnh thu hút vốn ĐTNN,chính sách ưu đãi đầu tư đối với khu vực có vốn ĐTNN đã dành 52 mức ưu đãi cao hơnhẳn cả thuế suất, thời gian miễn thuế, giảm thuế so với khu vực DN có vốn đầu tư trongnước Cụ thể, đối với khu vực có vốn ĐTNN, tuỳ theo lĩnh vực, địa bàn đầu tư, DN được
áp dụng thuế suất ưu đãi 10%, 15% và 20% và miễn, giảm thuế tương ứng, trong đó mứcmiễn thuế tối đa là 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo
- Giai đoạn từ năm 2004 đến nay: Thời kỳ này các nhà ĐTNN được hưởng mức giádịch vụ đầu vào bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước Việc Quốc hội ban hành Luậtthuế TNDH số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 là một trong những văn bản luật đầu tiênthiết lập chế độ đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt xoá bỏ sự phân biệtđối xử giữa ĐTNN và đầu tư trong nước, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đáp ứng điều kiệngia nhập WTO, tạo bước tiến mới về cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, thúc đẩycạnh tranh lành mạnh, tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng, thuận lợi và hấp dẫn hơn Theo
đó chính sách thuế TNDH quy định tại Luật thuế TNDH số 09/2003/QH11 và các văn bảnhướng dẫn đã quy định áp dụng mức thuế suất thuế TNDH và mức ưu đãi miễn thuế, giảmthuế thống nhất cho tất cả các loại hình DN Đồng thời sau khi Luật thuế TNDH năm 2003
có hiệu lực thi hành thì các quy định về thuế TNDH bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận ranước ngoài đã được bãi bỏ, điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trongviệc khuyến khích đầu tư kinh doanh của các DN có vốn đầu tư nước ngoài
Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Chương trìnhcải cách hệ thống thuế đến năm 2010, ngày 13/6/2008 Quốc hội ban hành Luật Thuế