1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học theo dự án chủ đề tọa độ của vectơ và tọa độ của một điểm trong mặt phẳng cho học sinh THPT tỉnh sơn la

104 309 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC DƯƠNG KHƯƠNG DUY DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA VECTƠ VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MẶT PHẲNG CHO HỌC SINH THPT TỈNH SƠN LA Chuyên ngành: Lý luận và phương

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

DƯƠNG KHƯƠNG DUY

DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA VECTƠ VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MẶT PHẲNG CHO HỌC SINH THPT TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

DƯƠNG KHƯƠNG DUY

DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA VECTƠ VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MẶT PHẲNG CHO HỌC SINH THPT TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán

Mã số: 814.0111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU CẨM THƠ

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Dạy học theo dự án chủ đề tọa độ của vectơ và tọa độ của một điểm trong mặt phẳng cho học sinh THPT tỉnh Sơn La” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả điều tra nêu

trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Dương Khương Duy

Trang 4

sắc tới trường Đại học Tây Bắc, Phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Toán – Tin đã tạo mọi điều kiên thuận lợi để tôi có thể hoàn thành đề tài luận văn này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Toán – Tin đã nhiệt tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt khóa học và đặc biệt là các chuyên

đề thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán Đó là những hành trang không thể thiếu để tôi mang theo trong quá trình công tác sau này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng tất cả các thầy cô giáo, các em học sinh lớp 10H của trường Trung học phổ thông Cò Nòi – huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm tại trường

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, tiếp sức và góp ý cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Chu Cẩm Thơ, người

đã tạo cảm hứng cho tôi, luôn tận tình giúp đỡ tôi những lúc khó khăn và động viên tôi trong suốt quá trình tôi hình thành, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn này

Dù đã có nhiều cố gắng, song do hạn hẹp về thời gian, điều kiện nghiên cứu

và trình độ của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong

sẽ nhận được những nhận xét và góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn

Sơn La, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Dương Khương Duy

Trang 5

Viết đầy đủ Viết tắt

Trang 6

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Bố cục luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Khái niệm dạy học theo dự án 6

1.1.1 Dự án……… 6

1.1.2 Dự án học tập…… 6

1.1.3 Dạy học theo dự án 6

1.2 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án 13

1.2.1 Vai trò của giáo viên trong phương pháp dạy học theo dự án 13

1.2.2 Vai trò của học sinh trong trong phương pháp dạy học theo dự án 14

1.3 Phân loại dự án học tập 15

1.4 Các giai đoạn của dạy học theo dự án 17

1.5 Phương pháp đánh giá kết quả trong dạy học theo dự án 18

1.5.1 Đánh giá việc hình thành DAHT 18

1.5.2 Đánh giá việc xây dựng kế hoạch thực hiện DAHT 19

1.5.3 Đánh giá việc thực hiện DAHT 19

1.5.4 Đánh giá tổng kết 19

1.6 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án 20

1.6.1 Ưu điểm……… 20

1.6.2 Nhược điểm…… 24

1.7 Phân tích nội dung chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm trong môn Toán lớp 10 THPT 26

Trang 7

1.8 Điều kiện thực hiện dạy học theo dự án 28

1.9 Kết luận chương 1 29

Chương 2: DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT VECTƠ VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MÔN TOÁN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT CÒ NÒI 30

2.1 Lập kế hoạch cho dự án học tập 30

2.1.1 Chuẩn bị trước dự án 30

2.1.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án 31

2.1.3 Thực hiện dự án 31

2.1.4 Tổng hợp và đánh giá DAHT của các nhóm 33

2.2 Đề xuất nội dung dạy học theo dự án 34

2.2.1 Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án 36

2.2.2 Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện DAHT 41

2.2.3 Giai đoạn 3: Thực hiện dự án 42

2.2.4 Giai đoạn 4: Tổng hợp và đánh giá DAHT của các nhóm 43

2.2.5 Yêu cầu và dự kiến về sản phẩm của các DAHT 44

2.2.6 Thời gian dự kiến thực hiện dự án 44

2.3 Đề xuất các phương án đánh giá với quy trình dạy học môn Toán theo dự án 45

2.3.1 Phiếu đánh giá cá nhân 45

2.3.2 Phiếu đánh giá tập thể dự án 46

2.3.3 Sổ theo dõi dự án 46

2.4 Kết luận chương 2 46

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48

3.1 Mục đích, đối tượng thực nghiệm 48

3.2 Nội dung thực nghiệm 48

3.2.1 Kế hoạch chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 48

Trang 8

3.3.1 Thời gian thực nghiệm 53

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 53

3.4 Kết quả thực nghiệm 54

3.4.1 Phân tích định tính 54

3.4.2 Phân tích định lượng 63

3.5 Kết luận chương 3 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

Trang 9

Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của hội nghị trung ương

8 (khoá XI) nêu quan điểm chỉ đạo “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Đồng thời nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể cho giáo dục phổ thông “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”

Theo luật giáo dục 2005, chương 2, mục 2, điều 27 khẳng định “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động

và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng

Trang 10

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo gắn chặt với đổi mới chương

trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra trong từng môn học Trong các môn học ở bậc học THPT, môn Toán có vị trị quan trọng, kiến thức Toán là công cụ học tập cho nhiều môn học khác Thông qua học tập trong môn Toán HS được vận dụng vào thực tiễn học tập, phát triển năng lực, phẩm chất trí tuệ, tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng và tư duy lôgic

Nội dung vectơ và phương pháp toạ độ trong mặt phẳng có một vị trí rất quan trọng trong chương trình hình học Phổ thông Vectơ là một trong những khái niệm nền tảng của toán học, việc sử dụng rộng rãi khái niệm vectơ trong các lĩnh vực khác nhau của toán học, cơ học cũng như trong kỹ thuật đã làm cho khái niệm vectơ ngày càng phát triển Trong chương trình hình học phổ thông, học sinh được học về vectơ, các phép tính về vectơ và dùng vectơ làm phương tiện trung gian để chuyển những khái niệm hình học cùng với những mối quan hệ hình học sang những khái niệm Đại số và quan niệm Đại số, chúng ta thường gọi chung đó là:

"Đại số hoá hình học" Phương pháp toạ độ mà nền tảng là toạ độ của vectơ và toạ

độ của một điểm giúp chúng ta giải quyết những bài toán về những đường, những mặt, những khối từ đơn giản cho đến phức tạp và điều quan trọng nhất là nó có ứng dụng nhiều trong các ngành vật lý, cơ học, kỹ thuật và nhiều ngành khoa học khác Người ta đã xem đây là một cuộc cách mạng trong toán học vì nó giúp cho toán học nói chung và hình học nói riêng thoát khỏi việc tư duy cụ thể, trực quan của không gian thực để đạt đến đỉnh cao của trừu tượng hoá và khái quát hoá Vì thế nội dung toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm được trình bày trong chương trình hình học

Trang 11

3

lớp 10 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó là tiền đề, là cơ sở ban đầu để các em học sinh tiếp tục nghiên cứu về vectơ và toạ độ trong không gian nhiều chiều ở các bậc học cao hơn Điều quan trọng hơn là các em đã thấy được ứng dụng của toán học trong khoa học, kỹ thuật đặc biệt là trong vật lý, và từ việc nghiên cứu khoa học để đến phục vụ cuộc sống của con người

Trong khi đó nhiều HS coi môn Toán là một môn học khó, lý thuyết khô khan, ít thấy các ứng dụng vào thực tế Học sinh thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động Do đó cần tìm một phương pháp dạy học mới sao cho tăng cường tính tích cực học tập đồng thời tăng tính chủ động, năng lực sáng tạo cho học sinh

là một yêu cầu cấp thiết Dạy học theo dự án (Project-based learning), một phương pháp dạy học hiện đại ra đời khoảng đầu thế kỷ thứ XX, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu trên DHTDA khá phổ biến ở các nước phát triển Hiện nay đã có một số nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án ở Việt Nam nhưng không có nhiều nghiên cứu cho việc dạy Toán ở trường THPT Việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp này cho học sinh trung học phổ thông hiện nay còn ít được quan tâm

Trong DHTDA dưới sự hướng dẫn của giáo viên, người học tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống (dự án) theo sát chương trình học, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và tạo ra các sản phẩm cụ thể

Từ những lý do kể trên, đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ được chọn là:

“Dạy học theo dự án chủ đề toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm trong mặt phẳng cho học sinh THPT tỉnh Sơn La”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm thiết kế, xây dựng, tổ chức dạy học theo dự án nội dung vectơ

và toạ độ của một điểm trong mặt phẳng, dạy học môn Toán theo dự án cho HS lớp

10 Qua đó góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán THPT

Trang 12

4

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Dạy học theo dự án chủ đề toạ độ của một vectơ và

toạ độ của một điểm môn Toán lớp 10 THPT

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu dạy học theo dự án

chủ đề toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm cho học sinh lớp 10 tại trường THPT Cò Nòi, tỉnh Sơn La

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm bằng phương pháp DHTDA

- Đề xuất một quy trình DHTDA đối với môn Toán THPT

- Xây dựng dự án về chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm cho HS lớp 10 THPT nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của DHTDA đã đề xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu lý luận dạy học dạy học theo

dự án nói chung và dạy học môn Toán theo dự án nói riêng Phân tích, tổng hợp sách báo, tài liệu liên quan đến DHTDA

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra thực trạng về DHTDA, khảo sát quá trình học tập chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm đối với học sinh lớp 10

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng mô hình dạy học theo dự án một cách thích hợp vào dạy học chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm thì sẽ nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cho học sinh trong trường phổ thông

7 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm: lời cảm ơn, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 13

5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chương 2: DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT VECTƠ VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MÔN TOÁN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT CÒ NÒI

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Trang 14

6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm dạy học theo dự án

1.1.1 Dự án

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có gốc tiếng latinh là “projicere”,

có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế [9, tr 163]

Theo Từ điển tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh - Nxb Thống kê, dự án là “bản

dự thảo về một việc gì” Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, thì dự án

là “một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật pháp hay kế hoạch”

Thuật ngữ dự án được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong nghiên cứu khoa học Sau đó, khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học

Thuật ngữ “Dự án” trong tiếng Việt nghĩa là “một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề

ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách”

1.1.2 Dự án học tập

Dự án học tập: DAHT là một dự án trong đó người học phải thực hiện các

nhiệm vụ học tập phức hợp để chiếm lĩnh nội dung kiến thức môn học [20, tr 7]

1.1.3 Dạy học theo dự án

1.1.3.1 Quan niệm về dạy học theo dự án

DHTDA đã xuất hiện cách đây hơn hai trăm năm nhưng đến lúc này vẫn có nhiều cách định nghĩa và cách hiểu khác nhau về DHTDA K Frey, nhà nghiên cứu giáo dục của nước Đức về dạy học dự án cho rằng “phương pháp dự án là một con đường giáo dục Đó là một hình thức của hoạt động học tập và có tác dụng giáo dục Vấn đề quyết định là ở chỗ các nhóm xác định một chủ đề học tập, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một kết thúc có ý nghĩa, làm xuất hiện một sản phẩm” [24, tr 25] Chương trình “Đưa kỹ

Trang 15

7

năng công nghệ thông tin vào dạy học” [11, tr 10] của Microsoft có nêu ra cách học dựa trên dự án (project-based learning) là một mô hình học tập khác với hoạt động học tập truyền thống gồm các bài giảng ngắn, tách biệt và lấy GV làm trung tâm Theo đó, học dựa trên dự án là một tổ hợp các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy HS làm trung tâm và hoà nhập với những vấn đề thực tiễn của cuộc sống

Thomas (1998) đưa ra định nghĩa về DHTDA như sau: “DHTDA là một mô hình tổ chức học tập dựa trên dự án gồm các nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi mang tính thách thức hoặc các vấn đề cho phép người học tham gia vào việc giải quyết vấn đề, ra quyết định hoặc thực hiện hoạt động điều tra để người học có cơ hội làm việc tương đối chủ động trong một khoảng thời gian nhất định Kết quả của việc thực hiện dự án là các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình” [27, tr 18] Theo nghiên cứu của Sylvester (2007) “DHTDA là một phương pháp dạy học khác biệt với các phương pháp dạy học truyền thống khác Dự án mà HS phải thực hiện là một vấn đề mang tính thực tế và là những loại vấn đề mà các em có thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Thông qua việc giải quyết vấn đề của dự án, HS tạo sản phẩm có thể trình bày được và hình thành các kĩ năng mềm cho bản thân” [26]

Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009) cho rằng “DHTDA là một phương pháp dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều khiển, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”

Mặc dù các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam có những cách định nghĩa và những cách hiểu khác nhau về DHTDA nhưng có thể thấy các nhà nghiên cứu này đều thống nhất ở một số điểm sau:

- DHTDA là hình thức tổ chức dạy học hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm

Trang 16

8

- Trong DHTDA, người học tự nghiên cứu và thực hiện một nhiệm vụ học tập

do GV yêu cầu hoặc GV cùng với người học đưa ra để hình thành các kiến thức và các kỹ năng cần thiết

- Các hoạt động học tập trong DHTDA được thiết kế cẩn thận, theo sát chương trình học, có phạm vi kiến thức liên môn

- Tạo ra được những sản phẩm thực tế

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệu Thảo [18, tr 6], trong các tài liệu về DHTDA hiện nay, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về DHTDA cũng như nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng, có thể kể đến một số quan điểm về DHTDA của các tác giả W.H Kilpatrick (Mỹ), K Frey (CHLB Đức), Apel – Knoll (CHLB Đức)… Trong luận văn này, tác giả sử dụng quan niệm về DHTDA của Nguyễn Thị Diệu Thảo:

“Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó người học dưới sự chỉ đạo của GV thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp mang tính thực tiễn với hình thức làm việc nhóm là chủ yếu Nhiệm vụ này được thực hiện với tính

tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu.”

1.1.3.2 Mục tiêu của dạy học theo dự án

- Nhằm phát triển kiến thức và thái độ học của HS

- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tế

- Phát triển cho HS kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

- Rèn luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ làm việc theo nhóm, giao tiếp …)

- Cho phép HS làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và cho

ra những kết quả thực tế

- Nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

- Phát triển các kỹ năng nghề nghiệp của GV

Trang 17

9

1.1.3.3 Những đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án

Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường [8], [9], Nguyễn Thị Diệu Thảo [19,

tr 7], DHTDA có các đặc điểm sau: định hướng thực tiễn; định hướng hứng thú người học; mang tính phức hợp, liên môn; định hướng hành động; tính tự lực cao của người học; cộng tác làm việc; định hướng sản phẩm

So với các phương pháp dạy học khác, dạy học theo dự án có nhiều ưu điểm

Trước hết, dạy học theo dự án mang tính định hướng thực tiễn và nghề nghiệp Bởi

vì, nhiệm vụ dự án chứa đựng những vấn đề cần giải quyết Vấn đề cần giải quyết

này có thể xuất phát từ thực tiễn ở địa phương hoặc xuất hiện từ thực tế cuộc sống Chẳng hạn, nghiên cứu chiều cao trung bình các ngôi nhà ở miền núi và ở miền biển, xác định mối liên quan giữa tỷ lệ sinh và cơ cấu dân số, đánh giá năng suất của một giống ngô trong quá trình trồng trọt, … Định hướng thực tiễn này còn thể hiện ở việc nhiệm vụ dự án phù hợp với trình độ và khả năng của người học

Dạy học theo dự án mang tính định hướng hứng thú người học Nội dung học

tập gắn với sở thích và nhu cầu của học sinh Chúng ta biết rằng, nhiều khi ý tưởng của dự án được đề xuất từ phía người học Trong trường hợp này, người học thường

có nhu cầu bức thiết tham gia dự án Ví dụ: thống kê tỷ lệ cá sống sót sau khi thả nuôi, thống kê mật độ trồng cây ngô trên nương, đo đạc và tính toán khoảng cách ở những nơi có địa hình phức tạp, … Do đó, dạy học dự án có vai trò quan trọng trong việc tạo hứng thú và giảm áp lực học tập cho người học Người học được tham gia chọn đề tài, nghiên cứu một cách tương đối độc lập, nhiệm vụ học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của mỗi cá nhân Hứng thú của người học còn được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án Đặc biệt là, người học được nghiên cứu ở môi trường thiên nhiên, được sử dụng công nghệ, phương tiện hiện đại, được bổ sung kiến thức, được phát triển về kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề, cũng như các kỹ năng sống khác

Dạy học theo dự án còn mang tính định hướng hành động Khác với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác, trong quá trình thực hiện dự án,

nhất thiết phải có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào

Trang 18

10

trong hoạt động thực tiễn Ví dụ: Kiến thức lý thuyết người học lĩnh hội được trong phần đạo hàm, ứng dụng của đạo hàm là những cơ sở lý thuyết giúp người học vận dụng các bài toán nhằm tối ưu việc tiết kiệm nguyên liệu, tính giá thành thấp nhất, cho ra chất lượng sản phẩm tốt nhất, ít tốn kém nhất… mà hiệu quả vẫn tối đa Nó

có ý nhĩa thiết thực đối với nền kinh tế nước nhà và bản thân mỗi cá nhân

Một điều khác biệt cơ bản của dạy học dự án và các phương pháp dạy học

khác là dạy học dự án mang định hướng sản phẩm Định hướng này thể hiện ở chỗ,

dạy học dự án phải tạo ra sản phẩm Sản phẩm của dự án cũng rất đa dạng Sản phẩm có thể là bản báo cáo kết quả nghiên cứu, mô hình, bản vẽ hoặc sản phẩm vật chất cụ thể Ví dụ: Báo cáo kết quả nghiên cứu về khả năng xua đuổi một số loài sâu bọ của dung dịch ớt, tỏi ở địa phương, dụng cụ tự chế để chuyển ngô từ trên núi cao xuống, mô hình các vườn hoa đẹp sử dụng các yếu tố hình học, sơ đồ xây dựng

hệ thống mương đào hợp lý… Nếu sản phẩm của dự án thực sự có ý nghĩa, thì những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố và phổ biến rộng rãi, thậm chí được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ

Bên cạnh đó, dạy học theo dự án đòi hỏi tính tự lực cao của người học

Trong dạy học dự án, người dạy là người tổ chức, điều khiển người học tiến hành

dự án, người học trực tiếp tham gia dự án Hiệu quả của dạy học dự án càng cao, khi người dạy càng khuyến khích được tính trách nhiệm và sự sáng tạo của người học ở mọi khâu của dạy học dự án (hình thành ý tưởng, thực hiện dự án, tổng kết và báo cáo kết quả) Ví dụ: Sau khi học xong bài “Bất đẳng thức giữa trung bình cộng và trung bình nhân của hai số không âm” người dạy có thể tổ chức cho người học xác định được hình dạng tối ưu khi rào một mảnh vườn hay khi xây một ngôi nhà Để đạt được được mục đích này, người học có thể thực hiện nhiệm vụ theo nhiều phương pháp Người học có thể vẽ nhiều hình chữ nhật khác nhau có cùng chu vi, hoặc người học quy về bài toán tìm giá trị lớn nhất để tìm kết quả

Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề Vì vậy, dạy học theo dự án mang

tính phức hợp

Trang 19

11

Môi trường học tập tương tác: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của

nhiều lĩnh vực, nhiều ngành hoặc môn học khác nhau, nên nhiệm vụ học tập của dự

án thường được thực hiện theo nhóm Vì vậy, dạy học dự án còn mang tính xã hội,

đòi hỏi sự cộng tác làm việc Một dự án có thể được chia ra làm nhiều công đoạn,

mỗi công đoạn do một nhóm thực hiện DHTDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và

kỹ năng làm việc hợp tác giữa các thành viên tham gia, giữa người học với GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong DAHT Đặc điểm này còn được gọi

là học tập mang tính xã hội

Tuy nhiên, trong khi tiến hành dự án, có thể cùng một nội dung công việc nhưng được phân cho nhiều người Ví dụ: Việc điều tra, khảo sát số người mắc bệnh ngoài da trong một làng nghề truyền thống do sử dụng nguồn nước ô nhiễm có

thể được tiến hành cùng một lúc bởi nhiều người học

Dạy học dự án kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học, học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức nên kiến thức được lưu giữ lâu hơn

Thường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của dự án, người học không chỉ cần hiểu biết kiến thức toán học, mà người học còn phải hiểu biết một số kiến thức

cả các ngành khoa học có liên quan (Sinh học, Vật lý học, Hóa học…) và một số kỹ năng cần thiết (kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng viết báo cáo khoa học,

kỹ năng xử lý số liệu bằng bảng thống kê, bằng biểu đồ và đồ thị, kỹ năng sử dụng thiết bị hiện đại…) Chính vì vậy, dạy học theo dự án tạo cơ hội cho người học tự đánh giá mình, tự khẳng định mình thông qua việc thực hiện dự án

Định hướng kĩ năng mềm: DHTDA tạo điều kiện cho người học phát triển

năng lực tư duy và các kĩ năng mềm (hay còn gọi là kĩ năng sống như các kĩ năng

về giao tiếp, hợp tác, lãnh đạo, định hướng,…) thông qua quá trình thực hiện dự án

và tạo sản phẩm dự án

Không bị ràng buộc chặt chẽ về không gian, thời gian: DHTDA có thể được tiến hành trong phạm vi một nhóm, một lớp học nhưng cũng có thể vượt ra khỏi phạm vi một lớp học Thời gian thực hiện một DAHT có thể là một ngày, nhiều ngày hay hàng tuần tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ của từng DAHT Cùng một nội dung nhưng

Trang 20

1.1.3.4 Câu hỏi định hướng trong dạy học theo dự án

Câu hỏi định hướng là những câu hỏi giúp HS kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng việc học tập của HS Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương trình

Theo chúng tôi, hệ thống câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi lý thuyết

và các câu hỏi thực hành:

a) Câu hỏi lý thuyết

Câu hỏi định hướng về lý thuyết thường được chia theo 3 dạng sau:

- Câu hỏi khái quát: Là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng, kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn

- Câu hỏi bài học: Là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp HS tự xây dựng câu trả lời

và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được

- Câu hỏi nội dung: Là những câu hỏi đóng có các câu trả lời “đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể, thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (như các câu hỏi kiểm tra thông thường)

Trang 21

đề cập đến đối tượng của thực tiễn

Mức độ 2: Là bài toán trong đó vừa đề cập đến đối tượng của thực tiễn vừa là một vấn đề gặp trong thực tiễn, giải được bài toán là giải được vấn đề cho xã hội và điều này ít nhiều ứng dụng được hoặc có lợi ích cho cuộc sống

1.1.3.5 Những tiêu chuẩn của dạy học theo dự án

Theo Nguyễn Đắc Thắng [20, tr 9]

(1) Dự án phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, thông qua các hoạt động của dự án người học tiếp cận và chiếm lĩnh được các tri thức cốt lõi của nội dung học tập

(2) Xuyên suốt dự án phải có các câu hỏi định hướng, là cái sẽ hướng người học đến việc phát hiện ra các vấn đề, các nội dung cốt lõi của môn học Câu hỏi định hướng sẽ giúp dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm

(3) Phải thách thức người học tạo ra “cái mới”, đó là các kĩ năng mới, những hiểu biết mà người học chưa từng có trước đó và họ đã tự mình tìm ra các tri thức

đó để giải quyết các công việc của mình

(4) DHTDA phải tăng khả năng tự chủ, khả năng tự đưa ra quyết định, tăng thời gian tự làm việc và tăng trách nhiệm của mỗi cá nhân

(5) DHTDA phải “thực”, tức là đề tài cần gắn với đời sống thực tế xung quanh chứ không phải là các tình huống giả định

(6) DHTDA cần có bước nghiệm thu dự án, chứng thực dự án đạt đủ các tiêu chuẩn đề ra ban đầu

1.2 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án

1.2.1 Vai trò của giáo viên trong phương pháp dạy học theo dự án

Trong DHTDA, GV là người hướng dẫn, định hướng, tư vấn, trợ giúp và đôi khi là người cùng học với HS chứ không phải là người “cầm tay chỉ việc” cho

Trang 22

14

người học; GV là người tạo ra các cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu,

tư vấn, trợ giúp và hướng dẫn cho người học; GV cần tạo ra môi trường học tập để thúc đẩy được sự hợp tác trong học tập giữa người học với người học, giữa người học với GV, giữa người học với xã hội

Khi bắt đầu dự án, các nguồn tài liệu tham khảo ban đầu là rất quan trọng để giúp người học có thêm kiến thức và định hướng các công việc cần làm vì vậy giáo viên cần cung cấp các nguồn tài liệu tham khảo đa dạng cho người học: websites; giáo trình; những tư vấn viên cho dự án; các phần mềm tin học

Dành thời lượng thích hợp trên lớp để người học thực hiện các công việc cần thiết như: thảo luận nhóm; viết đề cương dự án; viết - chỉnh sửa - kiểm tra các bản báo cáo Tạo điều kiện cho học sinh tham gia thiết lập các mục tiêu và kết quả học tập, chú ý đến thái độ học tập, năng lực và mối quan tâm của học sinh khi xây dựng

dự án cũng như thiết kế các hoạt động dự án GV cần đưa ra các phản hồi sớm nhất liên quan đến dự án để người học kịp điều chỉnh trong quá trình thực hiện

Quan trọng hơn nữa, người GV phải truyền cảm hứng được cho người học Với đặc điểm DHTDA, đặc biệt với những dự án kéo dài, người học thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố và khi thực hiện dự án sẽ có những thời điểm người học bị bế tắc và chán nản dễ dẫn đến việc từ bỏ Khi đó, người GV bên cạnh việc hướng dẫn cho học sinh, truyền đạt kiến thức giúp học sinh giải quyết được vấn đề cần phải tạo

ra động lực cho người học, giúp họ tái tạo hứng thú và thực hiện tiếp dự án

Lên lịch trình đánh giá và đánh giá học sinh trong suốt tiến trình học tập, sử dụng những hình thức đánh giá khác nhau và cho ý kiến phản hồi thường xuyên

1.2.2 Vai trò của học sinh trong trong phương pháp dạy học theo dự án

Trong DHTDA, HS là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó HS được tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập sao cho phù hợp với khả năng và hứng thú của từng cá nhân qua đó khuyến khích được tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của các em

Trang 23

15

Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm HS làm việc với các thành viên trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những nội dung học tập phức hợp Các em hệ thống kiến thức, thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của môn học và được tạo điều kiện học tập trong môi trường hợp tác Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em

HS cũng phải tạo ra các sản phẩm học tập đáp ứng các yêu cầu đề ra, đảm bảo tính thẩm mỹ, khoa học, kinh tế do đó khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo của các em qua việc cho phép bản thân tích cực, chủ động, tự do tưởng tượng trong quá trình học tập HS cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua

dự án

Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó

1.3 Phân loại dự án học tập

DAHT có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại [11, tr 13-15]:

 Phân loại theo chuyên môn

- DAHT trong một môn học: Là các DAHT mà trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

- DAHT liên môn: Là các DAHT mà trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau

- DAHT ngoài chuyên môn: Là các DAHT không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

 Phân loại theo sự tham gia của người học

- DAHT cho nhóm người học và DAHT dành cho cá nhân DAHT dành cho nhóm người học là hình thức DAHT chủ yếu Ngoài ra còn có DAHT toàn trường,

Trang 24

16

DAHT dành cho một khối lớp và DAHT cho một lớp học

 Phân loại theo sự tham gia của GV

- DAHT dưới sự hướng dẫn của một GV hoặc DAHT với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

 Phân loại theo quỹ thời gian: K Frey đề nghị cách phân chia như sau [24,

 Phân loại theo nhiệm vụ

Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của DAHT, có thể phân loại theo các dạng sau:

- DAHT tìm hiểu: Là các DAHT được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng đối tượng

- DAHT nghiên cứu: Là các DAHT được thực hiện nhằm giải quyết các vấn

đề, giải thích các hiện tượng,

- DAHT thực hành: Là các DAHT được thực hiện nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác,

- DAHT hỗn hợp: Là các DAHT có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại DAHT trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Ở từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng DAHT theo đặc thù riêng Trong môn toán, kiểu phân loại DAHT theo nhiệm vụ được ưu tiên sử dụng để HS thực hiện các nhiệm vụ học tập của bản thân với các mục đích sau:

DAHT tìm hiểu: Là DAHT mà HS có thể thực hiện để tìm hiểu nguồn gốc của các kiến thức toán học, cuộc đời và sự nghiệp của các nhà toán học cũng như các sự kiện toán học cùng với các giải thưởng toán học và các phần mềm toán học

Trang 25

1.4 Các giai đoạn của dạy học theo dự án

Phần này dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Cao Cường [7], Trần Việt Cường [10], Trịnh Khánh Linh [14, tr 52]

Mỗi một DAHT thường bao gồm năm giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án

GV và HS cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo

ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống đặc bệt là các vấn đề liên quan trực tiếp tới đời sống hàng ngày của HS Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một

số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này được K.Frey

mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến

Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện

Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức

Trang 26

18

lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội

Giai đoạn 5: Đánh giá dự án

GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng

có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn

4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án hoặc giai đoạn tổng hợp và đánh giá DAHT của các nhóm)

1.5 Phương pháp đánh giá kết quả trong dạy học theo dự án

Phần này tác giả dự trên nghiên cứu của Lê Khoa [12, tr 35-38] và [21, tr8]

1.5.1 Đánh giá việc hình thành DAHT

Cần đánh giá khả năng lựa chọn chủ đề cũng như khả năng xác định mục tiêu, nội dung của DAHT, xác định xem DAHT có phù hợp với nội dung chương trình không, có phù hợp với đối tượng HS và điều kiện để thực hiện dự án không Xác định những công việc cần thực hiện trong DAHT, những sản phẩm chính cần đạt được sau khi hoàn thành DAHT, dự kiến thời gian thực hiện DAHT, xác định những mốc thời gian quan trọng trong quá trình thực hiện DAHT

Trang 27

19

1.5.2 Đánh giá việc xây dựng kế hoạch thực hiện DAHT

Cần đánh giá trên các khía cạnh là khả năng dự kiến các công việc cần triển khai trong nhóm có chi tiết, logic và khả thi hay không, khả năng dự kiến các nội dung cần tìm hiểu có cụ thể hay không, phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm có phù hợp với năng lực không, dự kiến thời gian hoàn thành từng nội dung công việc, thời gian hoàn thành dự án có hợp lý không, khả năng xác định các sản phẩm cần đạt được trong mỗi giai đoạn, trong mỗi nội dung công việc, đối với mỗi cá nhân trong nhóm có phù hợp hay không, khả năng dự kiến những khó khăn

có thể gặp phải trong quá trình thực hiện DAHT

1.5.3 Đánh giá việc thực hiện DAHT

Khi đánh giá việc thực hiện DAHT, cần đánh giá quá trình thực hiện DAHT của từng cá nhân và quá trình hoạt động của nhóm HS thực hiện DAHT Cần tiến hành đánh giá chất lượng của các sản phẩm trong việc thực hiện các công việc đó, đánh giá tiến độ thực hiện các công việc trong nhóm, đánh giá khả năng, thái độ và hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong việc tự lực cũng như cộng tác với các thành viên trong nhóm để hoàn thành các công việc được giao

1.5.4 Đánh giá tổng kết

Đánh giá tổng kết là loại hình đánh giá được thực hiện vào cuối mỗi giai

đoạn đào tạo; Trong đánh giá tổng kết, song song với việc đánh giá dựa vào kết quả điểm số của các bài kiểm tra, các bài thi hết môn, chúng ta cần đánh giá chất lượng, số lượng của các sản phẩm của DAHT như đã đề ra trong kế hoạch thực hiện DAHT, đánh giá hoạt động hợp tác trong làm việc của các thành viên trong từng nhóm học tập (đánh giá việc tham gia đề xuất ý kiến của các cá nhân trong nhóm học tập, khả năng cộng tác trong công việc, trách nhiệm trong công việc, mức độ hiệu quả trong các công việc ) và đánh giá năng lực của từng thành viên trong nhóm học tập (đánh giá khả năng lập kế hoạch, khả năng hợp tác, khả năng

tổ chức, khả năng giao tiếp )

Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời

Trang 28

20

theo dõi sự tiến bộ ở các em Một số công cụ đánh giá:

Bài kiểm tra viết và kiểm tra nói: Các bài kiểm tra có thể đưa ra được chứng

cứ trực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và hiểu kiến thức của học sinh

Sổ ghi chép: Sổ ghi chép là những phản ảnh về việc học và những hồi đáp với những gợi ý ở dạng viết Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các

kỹ năng tư duy cụ thể ở những phần quan trọng của dự án

Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị Các cuộc phỏng vấn miệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểu bài của học sinh Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa

ra lý do về cách hiểu vấn đề Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh

Sự thể hiện - là những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh thiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em

Kế hoạch dự án: Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập Học sinh xác định mục tiêu, thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các tiêu chí để đánh giá

Phản hồi qua bạn học: Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc điểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học

Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác

Các sản phẩm: Sản phẩm là những gì học sinh sáng tạo ra hoặc xây dựng nên thể hiện việc học tập của các em

1.6 Ƣu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án

Phần này tác giả dựa trên nghiên cứu của Trịnh Văn Biều [2, tr7-9]

1.6.1 Ưu điểm

1.6.1.1 DHTDA gắn kết nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống

- Định hướng giáo dục quan tâm đến ba yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ Chủ đề và nội dung của DA phù hợp với hứng thú của người học, thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn

Trang 29

1.6.1.2 DHTDA tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển

- Nếu dạy học truyền thống chỉ gói gọn trong phạm vi thời gian và không gian lớp học thì DHTDA có nhiều thời gian để thực hiện các hoạt động học tập nghiên cứu của mình ở môi trường đa dạng hơn

- Hầu hết các dự án học tập đều có liên quan đến nhiều môn học khác nên

HS phải tìm hiểu, nghiên cứu nhiều vấn đề mang tính chất liên môn Qua đó HS có điều kiện khám phá, đánh giá và tổng hợp thông tin

- HS được rèn luyện và vận dụng những gì đã học, hơn nữa có thể sử dụng được các công cụ khai thác thông tin hiện đại mà phạm vi lớp học chưa thể trang bị

1.6.1.3 DHTDA phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học

- Người học tham gia tích cực và tự lực vào các tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện Từ đó thái độ học tập tích cực của người học được nâng lên

- Năng lực về tìm kiếm, xử lí, tổ chức thông tin là một năng lực cốt lõi trong giáo dục phổ thông Trong quá trình học theo DA, mỗi cá nhân trong các nhóm tiến hành thu thập thông tin, thực hiện giải pháp Họ thu thập dữ liệu, tiến hành các thí nghiệm, phân tích, so sánh, tính toán, tranh luận, rồi tổng hợp những đóng góp nhằm tạo ra sản phẩm chung Qua đó phát triển được năng lực tư duy và khả năng lập luận

- Trong quá trình làm việc nhóm, người học được GV cung cấp nguồn tài liệu hoặc phải tự tìm công cụ và phương tiện (bao gồm cả sử dụng công nghệ thông tin) để thực hiện DA Qua đó hình thành năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học tập môn toán

- Học tập theo DA là một PP học tập hợp tác, làm việc theo nhóm, là một chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia, tương tác và làm việc cộng tác giữa các HS

Trang 30

22

Tương tác trong nhóm giúp HS rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm một cách có giá trị, kỹ năng giao tiếp hiệu quả và tạo một môi trường làm việc chuyên môn một cách chuyên nghiệp Trong tương lai, khi đi làm, các em sẽ làm việc trong môi trường cần sự cộng tác cao với các đồng nghiệp dưới sự quản lý của người giám sát, nhằm đạt hiệu quả công việc một cách tốt nhất, và DHTDA cung cấp cơ hội cho HS rèn luyện những kỹ năng này GV có vai trò thúc đẩy sự tham gia một cách chủ động của mỗi HS trong nhóm bằng cách đưa ra những câu hỏi mở nhằm khuyến khích tư duy phê phán và hợp tác Các câu hỏi mở này được đưa ra cho mọi thành viên trong nhóm và đảm bảo được mọi thành viên sẽ chia sẻ thông tin liên quan đến vấn đề của DA HS mặc dù làm việc theo nhóm nhưng trách nhiệm cá nhân được đề cao, làm tăng động lực cá nhân bằng cách HS có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình

và phê phán quan điểm của nhau Khi HS hoạt động trong nhóm theo DA học tập thì không chỉ chịu trách nhiệm cho việc học tập của cá nhân mình mà còn cho việc học tập hiệu quả chung của cả nhóm

1.6.1.4 Dạy học dự án làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn

Trong dạy học dự án, nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn bởi vì nó được tích hợp với các vấn đề của đời sống thực, từ đó kích thích hứng thú học tập của người học Dạy học dự án gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật Người học có cơ hội thực hành và phát triển khả năng của mình

để hoạt động trong một môi trường phức tạp giống như sau này họ sẽ gặp phải trong cuộc sống

1.6.1.5 Dạy học dự án góp phần đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi phương thức đào tạo

Học tập dự án chuyển giảng dạy từ "giáo viên nói" thành "học sinh làm" Người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứ không phải là người nghe thụ động Họ hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phản ánh về việc học của mình Dạy học dự án tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau, sử

Trang 31

23

dụng thông tin của những môn học khác nhau Nó giúp người học với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo những cách khác nhau Dạy học dự án yêu cầu học sinh sự tư duy tích cực để giải quyết vần đề, kích thích động cơ, hứng thú học tập Dạy học dự án khuyến khích việc sử dụng các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp cho người học hiểu biết sâu sắc hơn nội dung học tập Dạy học dự án là hình thức quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo con người phát triển toàn diện, học đi đôi với hành, kết hợp giữa học tập và nghiên cứu khoa học

1.6.1.6 Dạy học dự án tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển

Dạy học dự án giúp người học học được nhiều hơn vì trong hầu hết các dự

án, học viên phải làm những bài tập liên quan đến nhiều lĩnh vực Học sinh nào cũng có cơ hội để hoạt động vì nhiệm vụ học tập đến được với tất cả mọi người Học sinh có cơ hội để thử các năng lực khác nhau của bản thân khi tham gia vào một dự án Học sinh được rèn khả năng tư duy, suy nghĩ sâu sắc khi gặp những vấn

đề phức tạp Học sinh có điều kiện để khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin Học sinh được rèn khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức về khoa học, công nghệ Khi lập đề cương cho dự án, người học phải tưởng tượng, phác họa những dự kiến, kế hoạch hành động, vì vậy trí tưởng tượng cùng với tính tích cực, sáng tạo của các em được rèn luyện và phát triển Phát triển năng lực đánh giá Dạy học dự án đòi hỏi nhiều dạng đánh giá khác nhau và thường xuyên, bao gồm đánh giá của giáo viên, đánh giá lẫn nhau của học sinh, tự đánh giá

và phản hồi Học sinh có cơ hội lựa chọn và kiểm soát việc học của chính mình, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp làm tăng hứng thú học tập

- Dạy học dự án giúp học viên tự tin hơn khi ra trường do họ được phát triển những kỹ năng sống cần thiết: khả năng đưa ra những quyết định chính xác; khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp; khả năng làm việc tốt với người khác; sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo

1.6.1.7 Dạy học dự án phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học

Học sinh là trung tâm của dạy học dự án, từ vị trí thụ động chuyển sang chủ

Trang 32

24

động, vì vậy dạy học dự án vừa tạo điều kiện, vừa buộc học sinh phải làm việc tích cực hơn Dạy học dự án cho phép học sinh tự chủ nhiều hơn trong công việc, từ xây dựng kế hoạch đến việc thực hiện dự án, tạo ra các sản phẩm Nhờ thế dạy học dự

án phát huy tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề của học sinh

1.6.1.8 Dạy học dự án giúp người học phát triển khả năng giao tiếp

Dạy học dự án không chỉ giúp người học tiếp thu kiến thức, mà còn giúp họ nâng cao năng lực hợp tác, khả năng giao tiếp với người khác Dạy học dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa các học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau, nhiều khi mở rộng đến cộng đồng

1.6.2 Nhược điểm

1.6.2.1 Đối với giáo viên

- DHTDA đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo về thời gian và không gian, GV phải nghiên cứu và chuẩn bị cho dự án dạy học mất nhiều thời gian hơn so với dạy học truyền thống Đây là trở ngại lớn nhất, nếu không được bố trí thời gian hoặc giáo viên không có sự linh hoạt thì buộc những người thực hiện phải làm việc ngoài giờ Điều này lí giải tại sao một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm như dạy học dự

án lại rất khó đi vào thực tiễn dạy học ở nước ta Dạy học dự án đòi hỏi có sự chuẩn

bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi cuốn được người học tham gia một cách tích cực

- Đòi hỏi cả về phương tiện, cơ sở vật chất và tài chính nên khó thực hiện trên diện rộng Không thể áp dụng dạy học dự án tràn lan mà chỉ có thể áp dụng với những nội dung nhất định trong những điều kiện cho phép Dạy học dự án không thể thay thế hoàn toàn phương pháp truyền thống trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết hay việc thông báo thông tin

- Dự án không được khuyến khích thực hiện vào những phần kiến thức h, cần truyền đạt chính xác, đầy đủ cho người học mà nên thực hiện vào những nội dung

có tính ứng dụng thực tiễn

- GV thường gặp khó khăn khi muốn thiết kế một DA vừa gắn với nội dung

Trang 33

25

dạy học, vừa gắn với thực tiễn

- GV gặp khó khi muốn hiểu đúng và đầy đủ về dạy học dự án bởi tài liệu về DHTDA chưa phổ biến

- Việc tổ chức thực hiện, theo dõi dự án, giám sát tiến độ, quản lý lớp học khá phức tạp

- Một số DA đòi hỏi sử dụng công nghệ thông tin phức tạp để thực hiện

- GV khó khăn trong việc thiết kế các tiêu chí đánh giá cho một dự án cụ thể

1.6.2.2 Đối với học sinh

Krajcik (1991), Leinhardt, Zaslavsky và Stein (1990), Kozma và Russell (1997), Bowen, Roth, và McGinn (1999) chỉ ra những khó khăn mà HS gặp phải khi thực hiện học theo DA, đó là:

(a) HS không có xu hướng lựa chọn cẩn thận, không sử dụng được các thuật ngữ khoa học để giải thích các hiện tượng, sự việc gặp phải, chưa nắm hết các thuật ngữ để mở rộng kinh nghiệm của bản thân

(b) Chưa đủ năng lực để giải thích hoặc tạo ra các câu hỏi mang tính khoa học (c) Chưa đủ khả năng khai thác các nguồn tài nguyên khác nhau để làm bằng chứng cho các lập luận của mình (Klahr, Fay và Dunbar (1993))

(d) Chưa có nhiều kĩ năng quản lý thời gian và giải quyết các vấn đề một cách có kế hoạch

(e) Khó khăn trong việc đảm nhận trách nhiệm học tập của mình, nhất là HS

ở bậc THPT bởi nền tảng kiến thức khoa học còn mỏng, kiến thức khoa học vận dụng nếu có chỉ trong khoảng thời gian ngắn, HS thường có thói quen chỉ tìm câu trả lời trong sách giáo khoa, Như vậy, HS thường có xu hướng tìm cách giải quyết các câu hỏi nhưng lại không quan tâm đến bản chất khoa học của câu hỏi định hướng đó HS trả lời câu hỏi dựa vào kinh nghiệm của cá nhân hơn là dựa vào nghiên cứu bản chất khoa học của DA

- HS khó khăn khi thiết kế các hoạt động và lựa chọn phương pháp thích hợp cho DA, khi thiết lập các mục tiêu cho các giai đoạn khác nhau của DA, tiến hành điều tra, tự đặt ra các câu hỏi và tìm câu trả lời bằng cách thu thập các thông tin một

Trang 34

1.7 Phân tích nội dung chủ đề toạ độ của một vectơ và toạ độ của một điểm trong môn Toán lớp 10 THPT

1.7.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ

Nội dung kiến thức toạ độ HS bắt đầu được tiếp cận trong chương trình toán lớp 7 Lên lớp 10 HS được tìm hiểu đầy đủ về toạ độ trong mặt phẳng và đến lớp 12

HS được mở rộng lên toạ độ trong không gian

Nội dung chương trình hình học lớp 10 bao gồm ba chương:

Chương I: Vectơ Chương này trình bầy các khái niệm cơ bản về vectơ và các

phép toán về vectơ Các khái niệm đó là: vectơ, độ dài của vectơ, vectơ cùng phương, cùng hướng, hai vectơ bằng nhau, vectơ-không, tổng và hiệu của hai vectơ, tích của vectơ với một số, toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm trên một hệ trục toạ độ

Chương II Tích vô hướng của hai vectơ Nội dung chương này gồm có:

Giá trị lượng giác của một góc bất kỳ từ 00

đến 1800, tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng, các hệ thức lượng trong tam giác, tính diện tích tam giác và giải tam giác

Chương III Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng Học sinh sẽ sử dụng

phương pháp toạ độ để tìm hiểu về đường thẳng, đường tròn và đường elip

Nội dung về toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm chiếm 3 tiết trong tổng

số 19 tiết theo phân phối chương trình Tuy nhiên để có thể hiểu và ứng dụng toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm vào giải các bài toán về vectơ hay các bài toán ứng dụng thực tế thì HS phải nắm chắc các kiến thức về vectơ, tổng và hiệu của hai vectơ, tích của vectơ với một số, tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng

1.7.2 Yêu cầu với tăng cường nội dung thực tiễn (Ý nghĩa thực tiễn của chủ đề)

Luận văn đưa ra được phương án tổ chức dạy học dự án và phương pháp

Trang 35

27

đánh giá cho chủ đề toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm trong chương trình lớp

10 Học tập dự án chuyển giảng dạy từ "giáo viên nói" thành "học sinh làm" Người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứ không phải là người nghe thụ động Họ hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phản ánh về việc học của mình Qua đó khẳng định tính khả thi và hiệu quả trong việc phát triển nhận thức, kĩ năng học tập và kĩ năng nghề nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới

1.7.3 Khảo sát hiểu biết của GV về dạy học theo dự án

Mục tiêu khảo sát: Khảo sát hiểu biết của GV về dạy học theo dự án

Đối tượng được khảo sát: Các GV dạy môn Toán của trường THPT Cò Nòi

và Trường THPT Mai Sơn – Huyện Mai Sơn – Tỉnh Sơn La

Chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp, phát phiếu hỏi xin ý kiến cho 19

GV dạy môn Toán của hai trường THPT Cò Nòi và trường THPT Mai Sơn

Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về việc sử dụng các PP, các hình thức DH vào DH

môn Toán của GV ở trường THPT Cò Nòi và THPT Mai Sơn

TT

Các PP, hình thức

tổ chức DH

Số ý kiến thu được

Thường xuyên

Tương đối thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

sử dụng

Không

sử dụng

Trang 36

28

Theo kết quả điều tra có thể thấy rằng: Trong tổ chức DH môn Toán nói chung cũng như trong DH nội dung toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm nói riêng cho HS, các PPDH được sử dụng phổ biến là các PPDH đặc thù quen thuộc của môn học và từ lâu đã thành thói quen của các GV Các PPDH không truyền thống chưa được sử dụng nhiều trong quá trình DH, đặc biệt là DHTDA được sử dụng rất ít và gần như là không được sử dụng trong DH môn Toán nói chung và trong DH nội dung toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm nói riêng Nguyên nhân các giáo viên không áp dụng phương pháp dạy học tích cực nói chung và DHTDA nói riêng là rất nhiều tuy nhiên nếu các phương pháp dạy học, đặc biệt là các phương pháp phải thực hiện trong một khoảng thời gian, được thiết kế một cách cẩn thận và có một qui trình rõ ràng để GV và HS thực hiện thì vẫn khả thi

1.8 Điều kiện thực hiện dạy học theo dự án

Để thực hiện dạy học theo dự án đạt được kết quả cao cần một số yêu cầu sau:

- Giáo viên phải dành thời gian nghiên cứu chọn lựa nội dung kiến thức phù hợp để áp dụng thường chọn những nội dung có tính thực tế cao Giáo viên có trình

độ chuyên môn và nghiệp vụ, phong cách làm việc chuyên nghiệp và có khả năng quản lí học sinh Khả năng tư duy linh hoạt và cần có bản lĩnh nghề nghiệp Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh trong quá trình thực hiện dự án Liên hệ các cơ

sở, khách mời cần thiết cho học sinh Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án…

- Được trang bị đầy đủ kiến thức (về môn học, liên môn và về kiểu DHTDA), ham học hỏi và có một số kĩ năng cơ bản về CNTT Học sinh biết phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch, biết thu thập, xử lý thông tin, xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên và các nhóm khác qua các buổi thảo luận hoặc qua mạng internet

- Biết sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao kinh nghiệm học tập và đem lại cho học sinh cơ hội để hòa nhập với thế giới bên ngoài, tìm thấy các nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm

Trang 37

Chương 1 của luận văn, tác giả đã trình bày được những nội dung sau:

- Trình bày khái quát được lịch sử nghiên cứu về DHTDA

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của DHTDA

- Xác định được thực trạng việc sử dụng các PPDH và tổ chức DHTDA môn Toán nói chung và DH nội dung toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm nói riêng cho HS

Việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn ở chương này là căn cứ quan trọng

để tác giả đề xuất các định hướng và quy trình tổ chức DHTDA môn Toán nói chung và DH nội dung toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm nói riêng

Trang 38

30

Chương 2 DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT VECTƠ

VÀ TOẠ ĐỘ CỦA MỘT ĐIỂM TRONG MÔN TOÁN LỚP 10

TẠI TRƯỜNG THPT CÒ NÒI 2.1 Lập kế hoạch cho dự án học tập

Việc lập kế hoạch cho dự án học tập phụ thuộc vào một số yếu tố như: Nội dung học tập, mục tiêu của DA, đối tượng người học và người dạy, phương tiện, thời gian, điều kiện về tài chính Về cơ bản, khâu lập kế hoạch DA bao gồm các giai đoạn sau:

2.1.1 Chuẩn bị trước dự án

Theo Trần Việt Cường [9, tr 15) việc chuẩn bị trước dự án gồm:

- Cùng với HS lựa chọn những nội

dung, những chủ đề phù hợp với đối

tượng HS, thời gian và điều kiện để tổ

chức thực hiện DHTDA

- Xác định mục tiêu học tập cụ thể theo

chuẩn kiến thức kĩ năng

- Xác định những loại công việc cần

thực hiện trong DAHT

- Xác định những sản phẩm cần đạt

được sau khi thực hiện DAHT

- Dự kiến thời gian thực hiện DAHT

- Cùng với HS phân các nhóm học tập

- Giới thiệu tài liệu cho HS tham khảo

- Cùng với GV lựa chọn những nội dung, những chủ đề phù hợp với đối tượng HS, thời gian và điều kiện để tổ chức thực hiện DHTDA

- Cùng với GV xác định mục tiêu học tập cụ thể theo chuẩn kiến thức kĩ năng

- Xác định những loại công việc cần thực hiện trong DAHT

- Xác định những sản phẩm cần đạt được sau khi thực hiện DAHT

- Dự kiến thời gian thực hiện DAHT

- Cùng với GV phân chia các loại nhóm học tập

- Nghe và ghi chép các vấn đề quan trọng và cần thiết

Trang 39

31

Ngoài ra GV chuẩn bị máy tính có kết nối mạng internet, tạo tạo trang webquest chung, tài khoản Gmail, Facebook cho các nhóm DA Chuẩn bị các phương tiện trình chiếu: Máy chiếu, phông chiếu, bút chỉ, ti vi,… Giáo viên hướng dẫn HS sử dụng Chia sẻ số điện thoại để liên lạc Lập bảng theo dõi DA, bộ công

cụ đánh giá quá trình thực hiện DA và đánh giá sản phẩm của dự án Xây dựng, củng cố, bổ sung và nâng cao kiến thức cho HS về toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm

Ở bước này quan trọng là phải hình thành được ý tưởng và xác định mục tiêu của DA

2.1.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án

- Các nhóm học tập tiến hành lập kế hoạch sơ bộ xác định những công việc cần triển khai Nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp lại kiến thức về vectơ đã học Về thực hành: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu lý thuyết để vận dụng trả lời các câu hỏi thực hành đã lựa chọn

- Các nhóm phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm: chia ra tổng hợp lại lý thuyết đã học, sau đó tiến hành để vận dụng để giải quyết các câu hỏi thực hành, viết sản phẩm nghiên cứu của nhóm, thiết kế nội dung báo cáo sản phẩm nghiên cứu của nhóm

- GV kiểm tra tính khả thi của kế hoạch thực hiện DAHT của từng nhóm: Sau khi mỗi nhóm nộp bản kế hoạch chi tiết, GV xem xét kế hoạch và góp ý cho kế hoạch Đồng thời GV gợi ý các nhóm trưởng phương thức điều hành nhóm và phân công nhiệm vụ đến từng thành viên trong nhóm, cuối cùng thống nhất cách thức để liên lạc và trao đổi với GV trong suốt quá trình thực hiện DAHT

- Chỉnh sửa kế hoạch: Dựa vào sự góp ý của GV, các nhóm xem xét điều chỉnh lại kế hoạch cũng như phương pháp thực hiện DAHT của nhóm mình

2.1.3 Thực hiện dự án

Trong giai đoạn thực hiện dự án có thể phân chia thành các bước nhỏ hơn như sau:

Trang 40

32

Bước 1: Sau khi triển khai nội dung bài học thành DA, giáo viên dành thời

gian 01 ngày cho HS hệ thống lại kiến thức đã tìm hiểu về vectơ, tổng và hiệu của hai vectơ, tích của vectơ với một số, toạ độ của vectơ và toạ độ của điểm Sau đó,

GV dành 01 buổi để các nhóm báo cáo, thảo luận về nội dung được giao Cuối cùng

GV tổng kết lại các kiến thức cơ bản, cần thiết và bổ sung nội dung kiến thức còn

thiếu (nếu có)

Bước 2: Báo cáo nội dung của toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm

Sau khi các nhóm trình bầy nội dung kiến thức đã tìm hiểu và được GV chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện GV dành cho mỗi nhóm 02 ngày để nghiên cứu sâu

và tìm hiểu những ứng dụng của toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm trong thực

tế Viết sản phẩm nghiên cứu chung của nhóm Trao đổi, thảo luận trong nhóm tổ hợp ý kiến và phương pháp giải quyết vấn đề để hoàn thành nội dung báo cáo và tiến hành báo cáo trước nhóm HS có thể đề xuất thêm các bài toán ứng dụng của toạ độ của vectơ và toạ độ của một điểm Sau khi hết 02 ngày GV cho các nhóm trình bầy kết quả nhóm mình thu được GV cùng học sinh các nhóm thảo luận xem phần trình bầy của các nhóm đã đầy đủ chưa, phần ứng dụng trong thực tế có phù hợp không từ đó kịp thời điều chỉnh cho các nhóm

Bước 3: Thiết kế các sản phẩm để báo cáo

- Nhóm trưởng có trách nhiệm tổng hợp các nội dung, phân chia các thành viên chịu trách nhiệm in ấn, tạo sản phẩm PowerPoint,…

- Nhóm trưởng thảo luận và cử đại diện để báo cáo Ngoài nhiệm vụ báo cáo sản phẩm các nhóm phải dự đoán câu hỏi có thể được pháp vấn trong quá trình báo cáo từ các thành viên nhóm khác hoặc từ GV và có sự chuẩn bị các đáp án thoả đáng

Trong quá trình thực hiện dự án cần chú ý những điểm sau:

- Nghiên cứu lý thuyết: cần hệ thống lại các kiến thức đã học, phân tích vấn

đề thực tiễn dựa trên kiến thức, kinh nghiệm đã có để đánh giá các vấn đề nghiên cứu, sau đó tiến hành thu thập, nghiên cứu tài liệu, tìm kiếm và xử lý thông tin về

lý thuyết Tiếp đó các thành viên trong nhóm cần trao đổi, thảo luận với nhau để cùng nhau nắm được nội dung mà nhóm đang nghiên cứu Cuối cùng dựa trên cơ

Ngày đăng: 31/12/2017, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bruce A, Lang don K. (2005), Lê Ngọc Phương Anh biên dịch, Quản lý dự án, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án
Tác giả: Bruce A, Lang don K
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2005
2. Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương (2011), Dạy học dự án-từ lí luận đến thực tiễn, Tạp chí khoa học số 62 - 2011, Đa ̣i học Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án-từ lí luận đến thực tiễn
Tác giả: Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương
Năm: 2011
3. Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên), Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thăng (2010), Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên), Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thăng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Bài tập hình học 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hình học 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Sách giáo viên hình học 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên hình học 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
7. Nguyễn Cao Cường (2009), Tổ chức dạy học dự án “Sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời” cho học sinh lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học dự án “Sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời” cho học sinh lớp 11
Tác giả: Nguyễn Cao Cường
Năm: 2009
8. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005), Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển Trung học phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Cường (2009), Lí luận dạy học hiện đại, Trường Đại học Potsdam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2009
10. Trần Việt Cường (2012), Tổ chức dạy học theo dự án học phần phương pháp dạy học môn toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa toán, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học theo dự án học phần phương pháp dạy học môn toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa toán
Tác giả: Trần Việt Cường
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Duyến (2015), Hội thảo tập huấn: phương pháp dạy học dự án trong môn toán THPT, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tập huấn: phương pháp dạy học dự án trong môn toán THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Duyến
Năm: 2015
12. Lê Khoa (2015), Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Lê Khoa
Năm: 2015
13. Nguyễn Bá Kim (2011), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2011
14. Trịnh Khánh Linh (2013), “Dạy học bất đẳng thức Cauchy bằng phương pháp dạy học theo dự án”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 29, tr. 52 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học bất đẳng thức Cauchy bằng phương pháp dạy học theo dự án”, "Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Trịnh Khánh Linh
Năm: 2013
15. Bùi Văn Nghị (2009), Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2009
16. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học, tập một
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
17. Trần Thị Hà Phương (2016), “Tổ chức dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dự án học tập bài: Một số phương pháp đếm nâng cao (Đại số 11)”, Tạp chí Giáo dục, 396, tr. 47 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dự án học tập bài: Một số phương pháp đếm nâng cao (Đại số 11)”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Thị Hà Phương
Năm: 2016
18. Trần Thị Hà Phương (2017), “Tổ chức dạy học nội dung tổ hợp và lí thuyết đồ thị nhằm rèn luyện một số hoạt động trí tuệ cho học sinh ở trường Trung học Phổ thông chuyên”, Tạp chí Giáo dục, 403, tr. 39 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học nội dung tổ hợp và lí thuyết đồ thị nhằm rèn luyện một số hoạt động trí tuệ cho học sinh ở trường Trung học Phổ thông chuyên”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Thị Hà Phương
Năm: 2017
19. Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009), Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên Trung học cơ sở môn Công nghệ, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên Trung học cơ sở môn Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Năm: 2009
20. Nguyễn Đắc Thắng, “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học môn Toán cho học sinh lớp 10, 11 Trung học phổ thông, ban cơ bản” – Luận văn thạc sĩ, Đại học Giáo dục năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học môn Toán cho học sinh lớp 10, 11 Trung học phổ thông, ban cơ bản"”
21. Đỗ Hương Trà (2007), “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”, Tạp chí Giáo dục, (157), K1-3/2007, tr. 12 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w