1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Chính sách bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa ở Thủy Nguyên, Hải Phòng

24 883 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 495,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc tìm hiểu những chính sách bảotồn và phát huy những di sản truyền thống ở Thủy Nguyên là một điều vô cùng cầnthiết nhằm góp phần vào việc khôi phục, lưu giữ những nét v

Trang 1

Thủy Nguyên là một huyện nằm ở phía bắc của thành phố Hải Phòng Đây làmảnh đất đã hội tụ đầy đủ các giá trị di sản văn hóa Có thể nói di sản văn hoá huyệnThủy Nguyên độc đáo về loại hình, có giá trị đặc biệt về văn hóa, du lịch đặc biệt làloại hình du lịch nhân văn Trong tiến trình hội nhập, vấn đề bảo tồn và phát huy giátrị các di sản văn hoá đóng vai trò hết sức quan trọng Chính vì vậy, việc ban hànhcác chính sách nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa ấy một cách bền vững

là một việc làm vô cùng cần thiết, có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng vănhóa – kinh tế của huyện Thủy Nguyên nói riêng cũng như thành phố Hải Phòng nóichung

Trong những năm gần đây, du lịch đóng vai trò quan trong trọng chiến lượcphát triển của huyện Thủy Nguyên Để gìn giữ nhiều di sản văn hóa truyền thống,nhiều chính sách văn hóa đã được triển khai và đi sâu vào trong quần chúng nhândân thông qua việc triển khai văn hóa đọc được thực hiện ở hệ thống thiết chế vănhóa cơ sở, tuy nhiên không được đồng bộ và thường xuyên Bên cạnh đó, các quytrình sáng tạo văn hóa cũng được cải biên và nâng lên một tầm cao mới Điều này cóảnh hưởng không nhỏ tới việc các giá trị di sản văn hóa bị mai một và lãng quêntrong nhận thức của các thế hệ trẻ Chính vì vậy, việc tìm hiểu những chính sách bảotồn và phát huy những di sản truyền thống ở Thủy Nguyên là một điều vô cùng cầnthiết nhằm góp phần vào việc khôi phục, lưu giữ những nét văn hoá truyền thống của

xứ Đông, đồng thời để những giá trị văn hóa tốt đẹp ấy thấm sâu vào tâm hồn, đánhthức tiềm năng sáng tạo của người dân nới đây với những bản sắc riêng có của nó

Trang 2

1 Chính sách văn hóa đối với việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc

“ Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” (Quan niệm về

chính sách văn hóa của UNESCO)

Nghiên cứu chính sách văn hóa như một chỉnh thể, có tính hệ thống và đồng

bộ mới xuất hiện ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới Nhưng việc ban hành và thực thichính sách thì đã gắn với sự hình thành và phát triển của Đảng cộng sản và nhànước Việt Nam

Nhìn chung, quan niệm chính sách văn hóa ở nước ta bị chi phối bởi quanniệm chính sách văn hóa của UNESCO vận dụng cụ thể vào chế độ chính trị củaViệt Nam Có thể nói, chính sách văn hóa là những cơ chế ưu tiên của Nhà nước đểphát triển một lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã hội Nó

là quyền lực của Nhà nước, là công cụ cho sự phát triển, mở rộng mọi nguồn lực vàophát triển văn hóa của đất nước trong đó phát triển con người là nhiệm vụ hàng đầu

và trung tâm

Chính sách văn hóa được phân ra nhiều mục và theo nhiều cách, nhiều lĩnhvực khác nhau Nghị quyết TW 5 Khóa VIII đã nêu ra nhiều loại chính sách khácnhau theo mỗi một chủ đề nhất định, trong đó có chính sách về bảo tồn, phát huy disản văn hóa dân tộc

Di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại chothế hệ sau, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩmđiêu khắc, tác phẩm văn học

Trang 3

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thứcvốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóahay biến thái.

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó làhai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữgìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giátrị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị

di sản trong ý thức cộng đồng xã hội) Chính vì vậy, bất kì một nhà nước nước nào,một thể chế nào muốn bảo tồn và phát huy tốt những giá trị văn hóa truyền thốngđều cần thiết phải ban hành những chính sách chuyên hóa về nó Ở Việt Nam, chínhsách này hướng vào cả văn hóa vật thể và phi vật thể Đó là tiến hành sớm việc kiểm

kê, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các dân tộc thiểusố; phiên dịch; giới thiệu kho tàng văn hóa Hán Nôm Bảo tồn các di tích lịch sử,văn hóa danh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống, các nghệ nhândân gian,…

2 Thực trạng di sản văn hoá và chính sách bảo tồn ở huyện Thủy Nguyên

Thuỷ Nguyên là một huyện ngoại thành của thành phố Hải Phòng (qua sôngCấm), phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh (qua sông Đá Bạc và sông Bạch Đằng), phíatây giáp tỉnh Hải Dương và phía đông giáp huyện An Dương (cũng qua sông Cấm).Trước năm 1938, Thuỷ Nguyên thuộc tỉnh Kiến An, sau nhập về Hải Phòng vàthành huyện ngoại thành với 35 xã và 2 thị trấn Thuỷ Nguyên được xem là vùngđất giáp biển, lịch sử hình thành và phát triển Thủy Nguyên được bắt đầu từ côngcuộc khẩn hoang của các cộng đồng cư dân lấn biển Sự hình thành và phát triểnvùng đất này gắn liền với lịch sử đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống chọi

kẻ thù xâm lược, đất và người nơi đây đã hun đúc nên bản lĩnh kiên cường, bấtkhuất và truyền thống yêu nước, cách mạng

Trang 4

Quá trình đó bồi đắp nên những giá trị nhân văn qua nhiều thế hệ, hình thànhnhững giá trị văn hóa truyền thống mang sắc thái riêng Là vùng đất thuần canhnông nghiệp do vậy các giá trị văn hóa truyền thống, các phong tục tập quán mangnhững nét tương đồng với nền sản xuất ấy Cư dân Thủy Nguyên với bản tính năngđộng, cởi mở và giao lưu văn hóa đã tạo cho vùng đất này một kho tàng di sản vănhóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú và độc đáo.

Di sản văn hóa vật thể

Di chỉ khảo cổ:

Từ thời tiền sử đến giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang, Thủy Nguyên đã làmột địa bàn cư trú của người Việt cổ Họ định cư dọc theo chân núi, thung áng củacác dãy núi Gia Đước, Liên Khê, Tràng Kênh, Đông Sơn, Chính Mỹ Điều nàyđược phản ánh qua các di chỉ khảo cổ đã được khai quật tiêu biểu như:

- Di chỉ khảo cổ Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức): Khai quật những năm1960-1970, thuộc văn hóa Phùng Nguyên giai đoạn muộn, có niên đại 1.380 năm ±

100 năm tr.CN;

- Di chỉ khảo cổ Việt Khê (làng Ngọc Khê, xã Phù Ninh): Khai quật nhữngnăm 1960-1962 Di chỉ bao gồm nhiều hiện vật đồ đồng, được xác định thuộc vănhóa Đông Sơn, có niên đại là 2415 ± 100 năm (tính đến năm 1950);

- Di chỉ mộ cổ Dực Liễn (tại chân núi Đầu Voi, thôn 5-6, xã Thủy Sơn):Khai quật năm 2001, được nhận định là khu mộ của cư dân văn hóa Đông Sơn cóniên đại cách đây 2.400-100 năm;

- Di chỉ mộ cổ đồi Trà Vàng (xã Kỳ Sơn): Được nhận định là khu mộ cổmang phong cách Hán, có niên đại khoảng thế kỷ II-III (thời kỳ Bắc thuộc), cáchđây 1.800-100 năm;

- Di chỉ khảo cổ xã Liên Khê gồm 2 địa điểm:

Trang 5

Di chỉ mộ cổ đồi thông Điệu Tú: Trong mộ cổ phát hiện nhiều hiện vậtbằng đất nung, có niên đại khoảng thế kỷ II-III (thời kỳ Bắc thuộc), cách đây1.800-100 năm;

Di chỉ mộ cổ núi Thành Dền: Khai quật năm 2010, được nhận định là mộ cổ cóniên đại khoảng thế kỷ II-III (thời kỳ Bắc thuộc), cách đây 1.800-100 năm

Di tích có giá trị về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật:

Toàn huyện hiện có 347 di tích thuộc các loại hình kiến trúc nghệ thuật, văn

hóa, lịch sử kháng chiến, khảo cổ, tôn giáo tín ngưỡng… (không tính số lượng các

từ đường dòng họ chưa được xếp hạng) Tính đến năm 2010, diện tích đất của các

di tích văn hóa, lịch sử, danh thắng và tôn giáo tín ngưỡng của Thủy Nguyên là67,36 ha (chiếm 0,28% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện) Trung bình có từ 8-

10 di tích/đơn vị xã, thị trấn Một số xã, thị trấn tập trung nhiều di tích như ThủySơn (23 di tích), Chính Mỹ (22 di tích), Minh Đức (21 di tích), Lại Xuân (20 ditích),…

Hệ thống di tích Thủy Nguyên khá phong phú và đa dạng, bao gồm nhiềuloại hình phản ánh nhu cầu sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng của nhân dân Phânloại theo loại hình, hệ thống di tích huyện Thủy Nguyên gồm: 100 ngôi chùa, 58

ngôi đình, 33 ngôi đền, 121 ngôi miếu và 35 di tích khác (bao gồm các địa điểm khảo cổ đã được khai quật, nhà thờ Kitô giáo, phủ đường, từ đường đã được xếp hạng ) Trong đó, có 76 di tích, cụm di tích thuộc 34 xã, thị trấn đã được xếp hạng

là di tích lịch sử văn hóa, lịch sử kháng chiến và di tích lịch sử danh thắng (gồm 23

di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 53 di tích xếp hạng cấp Thành phố) và là huyện tậptrung nhiều di tích xếp hạng nhất của thành phố Hải Phòng

Bên cạnh các giá trị về tôn giáo tín ngưỡng, các di tích còn được xem làtượng đài chiến thắng, biểu tượng cho tinh thần yêu nước và ý chí quyết thắng giặcngoại xâm của nhân dân Thủy Nguyên nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nóichung; tiêu biểu như: đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động (xã Liên

Trang 6

Khê); chùa Chõi (xã Lưu Kiếm); đình Chung Mỹ (xã Trung Hà); đền Phò Mã (thịtrấn Núi Đèo); Nhiều di tích có giá trị về mặt văn hóa, kiến trúc nổi bật, đại diệncho tài hoa, trí tuệ của các bậc tiền nhân, phản ánh sinh động bề dày truyền thốnglịch sử, văn hóa của huyện như: đình Kiền Bái (xã Kiền Bái), chùa Mỹ Cụ (xãChính Mỹ), đình Đồng Lý (xã Mỹ Đồng), chùa Sùng Nguyên (xã LâmĐộng), Một số di tích hội tụ nhiều điều kiện về vị trí, cảnh quan, không gian,kiến trúc, có lợi thế phát triển du lịch như: Quần thể Di tích Lịch sử - Danh ThắngTràng Kênh – Bạch Đằng, Khu Di tích tưởng niệm các chiến thắng trên sông BạchĐằng (thị trấn Minh Đức); chùa động Hang Lương (xã Gia Minh); chùa Ngọc Khê(xã Phù Ninh); đền Chợ Giá (xã Kênh Giang);

Di sản văn hóa phi vật thể

Bên cạnh hệ thống di sản văn hóa vật thể phong phú, Thủy Nguyên chứađựng một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, được thể hiện thông quanhiều phong tục tập quán, trang phục, ẩm thực, các tri thức, kiến thức dân gian, cáctruyền thuyết, thần phả, thần tích, ca dao, tục ngữ và đặc biệt nhất là hệ thống các

lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, làng nghề thủ công truyền thống,… mangđậm bản sắc địa phương Đây đều là những chất liệu quan trọng để hình thành nêncác sản phẩm du lịch văn hóa mang tính đặc thù

Lễ hội truyền thống:

Thủy Nguyên là miền đất của các lễ hội Theo thống kê, toàn huyện có 155

lễ hội được tổ chức định kỳ hàng năm Lễ hội Thủy Nguyên trải khắp địa bàn làngxã

Xét về mặt nội dung: Lễ hội huyện Thủy Nguyên có sự đa dạng về loại hình, bao

gồm các lễ hội dân gian, lịch sử, văn hóa thể thao, tôn giáo Trong đó:

- Lễ hội dân gian: Gồm 95 lễ hội (chiếm 61,3%), đây còn gọi là các ngày lệlàng, lễ đại kỳ phúc,… chủ yếu để tưởng nhớ, tôn vinh những vị thần, thánh trongdân gian; các nhân vật lịch sử có công với cộng đồng Tiêu biểu nhất là lễ hội đền

Trang 7

Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức), lễ hội đình Tân Dương (xã Tân Dương), lễ hộiđền chợ Giá (xã Kênh Giang),…;

- Lễ hội lịch sử: Có 02 lễ hội (chiếm 1,3%) dành để tôn vinh các danhnhân lịch sử, bao gồm lễ hội đền Thụ Khê (xã Liên Khê), lễ giỗ Trạngnguyên Lê Ích Mộc (xã Quảng Thanh);

- Lễ hội văn hóa thể thao: Có 05 lễ hội (chiếm 3,2%) Trong lễ hội, chủ yếudiễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống kết hợp với hiện đại nhằmquảng bá cho văn hóa vùng miền; bao gồm: lễ hội xuân truyền thống tại các xãPhục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng, Ngũ Lão;

- Lễ hội tôn giáo: Có 53 lễ hội (chiếm 34,2%), chủ yếu là lễ thượng nguyênkết hợp tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao trở thành ngày hội truyềnthống tại các di tích Phật giáo Tiêu biểu nhất là lễ thượng nguyên chùa PhùLưu (xã Phù Ninh), chùa Sùng Nguyên (xã Lâm Động), lễ hội chùa Mỹ Cụ (xãChính Mỹ), lễ hội chùa Câu Tử Ngoại (xã Hợp Thành),…;

Xét về mặt thời gian: Lễ hội huyện Thủy Nguyên chủ yếu tập trung vào

mùa xuân, hợp thành chuỗi các sự kiện văn hóa, du lịch trong dịp đầu năm; là điềukiện thuận lợi cho việc xây dựng các tour, tuyến du lịch lễ hội và tập trung thu hútkhách du lịch

- Lễ hội tháng Giêng: 83 lễ hội (chiếm 53,5%);

- Lễ hội tháng Hai: 19 lễ hội (chiếm 12,3%);

- Lễ hội tháng Ba: 27 lễ hội (chiếm 17,4%);

- Lễ hội tháng Tư: 02 lễ hội (chiếm 1,3%);

- Lễ hội tháng Tám: 03 lễ hội (chiếm 1,9%);

- Lễ hội tháng Mười một: 10 lễ hội (chiếm 6,5%);

- Lễ hội tháng Mười hai: 11 lễ hội (chiếm 7,1%)

Nghệ thuật trình diễn dân gian:

Trang 8

Nghệ thuật trình diễn dân gian tại Thủy Nguyên vừa mang tính đặc thù vừamang bản sắc của cư dân vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ Các loại hình cũng đadạng, phong phú gồm: hát chèo, chầu văn ; tuy nhiên, tiêu biểu nhất phải kể đếnhát Đúm và ca Trù Hát Đúm là loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng của

tổng Phục cũ (bao gồm địa bàn các xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng ngày nay) nói riêng và huyện Thủy Nguyên nói chung; nó được truyền lại qua nhiều thế

hệ, đồng thời cũng khẳng định được sức sống bền bỉ trong đời sống văn hóa tinhthần của nhân dân; hiện nay, tại lễ hội xuân ở một số địa phương thuộc huyệnThủy Nguyên vẫn giữ được điệu hát Đúm như: các lễ hội của tổng Phục, lễ hội xãNgũ Lão, Tân Dương, thị trấn Minh Đức, Làng Đông Môn là cái nôi của nghệthuật ca Trù Hải Phòng, tại đây hiện còn bảo lưu được ngôi Phủ từ được xem làđền thờ tổ nghề của cả miền duyên hải

Toàn huyện, hiện có 05 mô hình câu lạc bộ của các loại hình di sảngồm: Câu lạc bộ hát Đúm các xã Phả Lễ, Phục Lễ, Lập Lễ; câu lạc bộ văn hóa vănnghệ dân gian có nội dung hát Đúm xã Ngũ Lão; câu lạc bộ ca Trù làng ĐôngMôn, xã Hòa Bình với gần 100 hội viên có khả năng trình diễn tốt, trong đó 35người có khả năng truyền dạy

Nghề, làng nghề thủ công truyền thống:

Với vị trí địa lý thuận lợi, Thủy Nguyên đã sớm tiếp nhận và phát triển nhiềunghề thủ công truyền thống có giá trị Hiện nay, huyện 05 làng nghề truyền thốngđược Thành phố công nhận là làng nghề truyền thống quy mô cấp xã gồm: Làngnghề Mây tre đan Chính Mỹ; Đúc cơ khí Mỹ Đồng; Vận tải thủy An Lư; Khai thác,nuôi trồng và dịch vụ thủy sản Lập Lễ;Trồng và chế biến cau Cao Nhân Một sốlàng nghề, nghề thủ công truyền thống khác như: Nghề mộc (xã Thủy Triều), nghềgốm Dưỡng Động (xã Minh Tân), nghề làm bún, nấu rượu (xã Thiên Hương), nghềlàm hương (xã Kiền Bái),…; đồng thời, do nhu cầu thị trường, tại huyện cũng hìnhthành một số nghề thủ công mới, điển hình là nghề làm mắm dóc, mắm chắt (xã

Trang 9

Lập Lễ),… Trên cơ sở khai thác các thế mạnh sẵn có, một số làng nghề đã bướcđầu được đưa vào khai thác phục vụ phát triển du lịch như: Làng cau xã Cao Nhân,bưởi xã Lâm Động, gốm sứ Dưỡng Động (xã Minh Tân),… Tuy nhiên, hầu hết cáclàng nghề của huyện chỉ chủ yếu phục vụ sản xuất công nghiệp hoặc nhu cầu tiêudùng của nhân dân địa phương; mẫu mã và chất lượng sản phẩm hạn chế, thiếutính đa dạng và đặc thù, do vậy chưa thu hút được khách du lịch đến thăm và mualàm quà lưu niệm.

Trò chơi dân gian truyền thống:

Nhiều trò chơi dân gian truyền thống tại huyện Thủy Nguyên còn được giữgìn và bảo lưu, đặc biệt trong các lễ hội, qua đó góp phần làm tăng sức hấp dẫn chocác hoạt động lễ hội, tiêu biểu như:

- Cờ tướng, cờ người: Tại các lễ hội đình, chùa xã Chính Mỹ, làng Câu Tử

Ngoại, Câu Tử Nội (xã Hợp Thành); đình Thượng, chùa Hàm Long (thị trấn NúiĐèo); đình Bắc, chùa Lốt, lễ giỗ Trạng nguyên Lê Ích Mộc (xã Quảng Thanh); chùaTrại Kênh, đền Nghè - Mỹ Giang, đình Trà Sơn (xã Kênh Giang); đền Trần QuốcBảo (thị trấn Minh Đức); các lễ hội chùa xã Gia Đức, xã An Sơn, chùa Phù Lưu (xãPhù Ninh), chùa An Lạc (xã Hoàng Động); đình Dực Liễn (xã Thủy Sơn), đìnhThiên Đông (xã Đông Sơn), đình Tân Dương (xã Tân Dương), đình Nhân Lý (xãCao Nhân); lễ hội làng Khuông Lư, Trung Sơn, My Sơn (xã Ngũ Lão), làng HàLuận (xã Hòa Bình); hội xuân xã Phục Lễ, Phả Lễ,…;

- Kéo co: Tại lễ hội đình Kênh, chùa Mỹ Cụ (xã Chính Mỹ); đền Trần Quốc

Bảo (thị trấn Minh Đức); đình Dực Liễn (xã Thủy Sơn); các lễ hội chùa xã GiaĐức, chùa Mai Động, chùa Thiểm Khê (xã Liên Khê); lễ hội làng Khuông Lư (xãNgũ Lão); lễ khánh hạ Đức Ông chùa Ruỗi (xã Quảng Thanh); hội xuân xã TamHưng, Đông Sơn, Hợp Thành,…;

- Chọi gà: Tại lễ hội đình Tân Dương (xã Tân Dương), đình Niêm Sơn Nội

(xã Kỳ Sơn); chùa Linh Quang, Kim Liên (xã An Sơn), chùa Thiên Phúc (xã Trung

Trang 10

Hà); miếu Phương Mỹ (xã Mỹ Đồng); đình, chùa các xã Chính Mỹ, Gia Đức, KênhGiang, Phù Ninh, Cao Nhân, Hợp Thành, Quảng Thanh; lễ hội làng Khuông Lư,Trung Sơn, My Sơn (xã Ngũ Lão),…;

- Đu tiên: Tại lễ hội chùa Linh Quang (xã An Sơn), chùa Thiểm Khê (xã

Liên Khê), chùa Lốt (xã Quảng Thanh), chùa Mỹ Cụ (xã Chính Mỹ); đình TrạiKênh, đình Trà Sơn (xã Kênh Giang); chùa My Sơn, lễ hội làng Khuông Lư (xãNgũ Lão); đình, chùa làng Câu Tử Nội, Câu Tử Ngoại (xã Hợp Thành); hội xuâncác xã Phục Lễ, An Lư, Hòa Bình, Cao Nhân; Phả Lễ,…;

- Đi cầu Tùm (Thùm): Tại lễ hội chùa Lôi Động (xã Hoàng Động), chùa Mỹ Cụ

(xã Chính Mỹ); đình, chùa làng Câu Tử Ngoại (xã Hợp Thành), miếu Phương Mỹ (xã

Mỹ Đồng); lễ khánh hạ Đức Ông chùa Ruỗi (xã Quảng Thanh),…;

- Vật: Tại lễ hội đình Trại Kênh, đền Nghè - Mỹ Giang, đình Trà Sơn (xã

Kênh Giang); đình Kinh Triều (xã Thủy Triều), đình Chung Mỹ (xã Trung Hà); lễhội làng Đông Phương, Hà Luận (xã Hòa Bình), lễ hội xã Phả Lễ,…;

- Bơi Chải: Tại hội đình Tân Dương (xã Tân Dương); chùa Lôi Động (xã

- Bắt vịt dưới hồ: Tại lễ hội đình, chùa làng Câu Tử Ngoại (xã Hợp Thành);

- Đập niêu: Tại lễ hội chùa Phù Lưu (xã Phù Ninh), chùa Lôi Động (xã

Hoàng Động), chùa Mỹ Cụ (xã Chính Mỹ),…;

-Biểu diễn múa Lân: Tại hội đình Hòa Lạc (xã Lâm Động); chùa Mỹ Cụ (xã

Chính Mỹ)

Hệ thống các chợ quê:

Trang 11

Trong quá khứ, vùng đất Thủy Nguyên đã là một trong những trung tâmbuôn bán sầm uất của miền Bắc Việt Nam Qua các nghiên cứu, có thể khẳng định,Thủy Nguyên nằm trên con đường giao thương giữa Kẻ chợ Vân Đồn với các

thương nhân vùng Đông Á và Đông Nam Á Sử sách Trung Quốc có ghi: “Các tổng Yên Khoái, Vạn Ninh huyện Nghiêu Phong (Cát Hải), dòng thuyền đi lại thông với miền Mỹ Giang (sông Giá) tỉnh Hải Dương và Khâm Châu (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc)” Một hệ thống các chợ được hình thành từ khá sớm, trải khắp

địa bàn huyện gồm: Chợ Mỹ Giang (chợ Giá), chợ Lâm, chợ Tổng, chợ Phục, chợTrịnh, chợ Si, chợ Thanh Lãng,… Chợ quê Thủy Nguyên phản ánh sinh độngnhững nét văn hóa đặc trưng nhất của mỗi một vùng quê, mỗi làng xã; trong đómột số vẫn còn lưu giữ phương thức giao thương theo kiểu chợ phiên, đặc biệt cósức hấp dẫn đối với khách du lịch, nhất là đối tượng khách du lịch quốc tế, tiêubiểu như: chợ phiên Mỹ Giang - chợ Giá (xã Kênh Giang) họp phiên các ngàymùng 01, 06, 11, 16, 21, 26 hàng tháng, phiên chợ cầu may đầu năm xã An Lư vàosáng mùng 01 Tết Nguyên đán

Xác định di sản văn hóa là tài sản vô giá của các thế hệ cha ông ta để lại chothế hệ trẻ hôm nay và mai sau, là phần hồn của nền văn hóa dân tộc Di sản vănhóa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sửvăn hóa của dân tộc Bên cạnh đó, nó còn là phương tiện để giới thiệu về hình ảnhđịa phương cho các du khách trong và ngoài nước, tạo tiền đề cho các chiến lượcphát triển du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng.Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, quản lý, bảo tồn, phát huy các disản văn hóa đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo lại được đông đảo nhân dân ủng hộ và đóng góp tâm sức nên đã đạtđược những kết quả quan trọng Công tác quản lý xây dựng các di tích văn hóa, lịch sử,

cơ sở tôn giáo tín ngưỡng tiếp tục được tăng cường Việc quản lý đất đai tại các di tích

Trang 12

được chú trọng, bước đầu đã triển khai việc đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho di tích Công tác xã hội hóa trong bảo tồn, phát huy giá trị di tích đạtđược nhiều kết quả tích cực; trong giai đoạn 2010- 2015, đã có trên 215 di tích được tu

bổ, tôn tạo từ nguồn xã hội hóa với tổng kinh phí trên 280 tỷ đồng Vấn đề bảo quản divật, cổ vật và tài sản thuộc di tích được tăng cường Hầu hết các lễ hội được tổ chứcđúng quy định; các nghi thức trong lễ hội diễn ra trang trọng, tiết kiệm, phù hợp vớithuần phong mỹ tục địa phương; phần hội diễn ra phong phú, hấp dẫn đã tạo được sứclan toả, lôi cuốn, góp phần thu hút đông đảo nhân dân tham gia Hoạt động của cácCLB văn hoá - văn nghệ dân gian tiếp tục được duy trì, phát triển Các làng nghềtruyền thống của huyện được quan tâm bảo tồn, phát huy… Những thành tựu đó đãđóng góp quan trọng vào xây dựng và phát triển văn hóa địa phương, làm cho văn hóathực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển, hướng tới mụctiêu xây dựng con người Thủy Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và xây dựngnông thôn mới; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Tuy nhiên, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa còn chưa tươngxứng với giá trị, tầm vóc của di sản Việc quản lý, bảo vệ di tích, bảo quản cổ vật, divật, hiện vật tại một số địa phương còn chưa hiệu quả Một số di tích hạn chế về diệntích, nằm xen kẽ trong các địa bàn dân cư nên việc tổ chức các hoạt động văn hoá tại ditích gặp khó khăn Các lễ hội quy mô nhỏ, việc tổ chức mang tính tự phát, thiếu chọnlọc Chất lượng hoạt động của các CLB văn hoá - văn nghệ dân gian hiệu quả chưacao Hoạt động làng nghề gặp nhiều khó khăn Công tác tuyên truyền, quảng bá di sảnvăn hóa chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Nguyên nhân của tình trạng này là dotác động của điều kiện tự nhiên, lịch sử, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thịhoá; sự du nhập của văn hóa ngoại lai; sự lấn át của những lợi ích kinh tế trước mắt…dẫn đến sự xuống cấp, mai một của nhiều di tích, phong tục tập quán, nếp sống tốt đẹp

Ngày đăng: 31/12/2017, 18:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w