1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cụm từ cố định trong tiểu thuyết Quái nhân

31 360 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 62,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và cụm từ cố định mới trong tiểu thuyết Quái nhân...23 CHƯƠNG 3...27 Nhận xét sự sáng tạo của tác giả trong việc xây dựng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 4

Cơ sở lí luận và một số vấn đề liên quan 4

1 Lý thuyết 4

2 Đôi nét về tác giả và tác phẩm 13

CHƯƠNG 2 19

Miêu tả và khảo sát và phân loại cụm từ cố định trong tiểu thuyết Quái nhân .19

1 Thống kê thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và cụm từ cố định mới trong tiểu thuyết Quái nhân 19

2 Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và cụm từ cố định mới trong tiểu thuyết Quái nhân 23

CHƯƠNG 3 27

Nhận xét sự sáng tạo của tác giả trong việc xây dựng hình tượng các nhân vật và việc sử dụng những cụm từ cố định trong tiểu thuyết Quái nhân 27

KẾT LUẬN 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của

xã hội, là vấn đề chiến lược và cấp thiết cho mọi quốc gia Hiểu được tầm quantrọng của giáo dục, không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài này, để nói lên thực trạngcủa ngành giáo dục nói chung và tầng lớp tri thức nói riêng dưới sự chuyển biếncủa xã hội Trong đó có tiểu thuyết “Quái nhân” của tác giả Hữu Đạt đã thể hiệnsâu sắc về vấn đề này, và trong đây cũng có nhiều hiện tượng ngôn ngữ, và kết cấuđáng được chú ý

Thứ hai là việc sử dụng các cụm từ cố định, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữtrong tác phẩm một cách linh hoạt và độc đáo đã giúp tiểu thuyết đi sâu và tronglong người đọc, để lại ấn tưởng mạnh mẽ trong mối người Có thể nói thành ngữ,tục ngữ, cụm từ cố định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếngViệt Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các quán ngữ

và đặc biệt là các thành ngữ, tục ngữ mới, chúng xuất hiện cùng với sự biến đổicủa đời sống xã hội và phản ánh chân thực nhất những nét mới, sự thay đổi trongđời sống xã hội của người Việt Không chỉ dừng lại ở đời sống xã hội thực tế mà cảtrong các tiểu thuyết, truyện ngắn hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, cụm từ cố định, thành ngữ, tục ngữ lànhững bộ phận chiếm số lượng lớn, rất đa dạng và phong phú về mặt nội dung.Trong quá trình làm bài tôi sẽ tìm hiểu chúng trong tiểu thuyết “Quái nhân” của tácgiả Hữu Đạt và trong đời sống xã hội

Trang 3

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Trên cơ sở nguồn ngữ liệu mà tôi điều tra, mục đích chính của bài

tiểu luận này là tìm hiểu và làm rõ cách sử dụng, sự sáng tạo các cụm từ cố định,thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ của tác giả trong tác phẩm Từ đó rút vai trò của việc

sử dụng các cụm từ cố định trong việc xây dựng tính cách,tâm lý nhân vật để làmnên sự thành công của tác phẩm

Nhiệm vụ : Đọc và tìm hiểu và khảo sát các cụm từ cố định, thành ngữ, tục

ngữ trong tác phẩm “Quái nhân “ của tác giả Hưũ Đạt So sánh, miêu tả, phân tích

để thấy được sử dụng tài tình,linh hoạt và khéo léo các cụm từ cố định

4 Phương pháp nghiên cứu

Với mong muốn tìm hiểu cách sử dụng cụm từ cố định trong tiểu thuyết “Quáinhân” của Hữu Đạt cũng như những sáng tạo của tác giả khi sử dụng chúng , tôivận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Khảo sát ngữ liệu và tư liệu

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

- Phương pháp miêu tả…

Trang 4

cố định Có thể nêu một khái niệm giản dị cho cụm từ cố định điển hình như sau:

Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị

có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ

 Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;

 Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4loại;

 Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;

 Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại

Trang 5

Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàndiện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trongnhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành.

Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệmcủa chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố địnhtiếng Việt như sau:

và rộng hơn là sự ràng buộc của lịch sử, thời đại, thậm chí cả thời điểm mà chúng

ra đời Do vậy, khi sự vật được đề cập đến trong cụm từ cố định mới cùng tâm lí

tiếp nhận sự thay đổi, tất nhiên sẽ có hệ quả là sự thay đổi trong nội dung và cấu

trúc của chúng Cụm từ cố định mớic hủ yếu được hiện thực trong khẩu ngữ - bởisắc thái tâm lí, sự đánh giá đôi khi mang tính chủ quan của chủ thể đối với sự vật,hiện tượng, nhằm nhấn mạnh sự vật, hiện tượng

Cụm từ cố định mới có tính thời sự cao, do nó ra đời trong hoàn cảnh xãhội khác nhau, phản ánh cách nghĩ, cách đánh giá của con người về sự kiện, mộthiện tượng xã hội nào đó đang diễn ra Thời kì nào thì cũng cần đúc rút kinh

Trang 6

nghiệm, bài học về đối nhân xử thế, quan niệm về cuộc sống mà những điều này

Từ những ý kiến trên, chúng tôi thấy thành ngữ tiếng Việt là những cụm từmang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữpháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữhay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạothành những câu nói hoàn chỉnh Thành ngữ mang tính biểu trưng, khái quát và

Trang 7

giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán

- Thành ngữ so sánh bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc

so sánh Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánhthông thường khác:

A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ

so sánh: như, bằng, tựa, hệt,

Ví dụ: Lạnh như tiền, Nhẹ tựa lông hồng, Lừ đừ như ông từ vào đền

- Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tảmột sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ sosánh không hề hiện diện Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánhcái nghĩa đích thực của chúng Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một

Trang 8

nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" nàyngười ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.

Xét thành ngữ "Ngã vào võng đào" Cấu trúc của thành ngữ này cho thấy:

- (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;

- Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt vàquý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấylúc được ngồi, nằm ở đó

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấutrúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây làcác thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế ápđảo về số lượng Điều này có cơ sở của nó Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịpnhàng và hài hoà về âm điệu Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ songtiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác

- Ăn cây nào rào cây nấy.

- Bụt chùa nhà không thiêng.

- Cái răng, cái tóc là gốc con người…

Trang 9

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất vàđấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩmvăn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đườngdân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữthường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tính chất đúc kết, kháiquát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý Hình tượngcủa tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh,nhân hóa, ẩn dụ

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắtnhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tụcngữ Hình thức đối: đối thanh, đối ý Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán,nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán

Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệtương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả

1.4 Quán ngữ

“Quán ngữ là tổ hợp từ cố định được dùng lâu thành quen, nghĩa có thể đượcsuy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp” Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón,

để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ

Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác,

Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không đượcnhư thành ngữ Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định

Trang 10

thuộc loại này Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thườngxuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dầnlại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn.

Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chấtphong cách của chúng, như sau:

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đángtội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nóchết (một) cái là, Nói ( ) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùngmột cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận, )hoặc diễn giảng như: Nói tóm lại, Có thể nghĩ rằng, Ngược lại, Một mặt thì, Mặtkhác thì, Có nghĩa là, Như trên đã nói, Có thể cho rằng, Như sau, Như dưới đây,Như đã nêu trên, Sự thực là, Vấn đề là ở chỗ,

1.5 Tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàncảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộcsống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngônngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định

Trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là sử thi củađời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tậptrung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó

Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đếnmức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách

Trang 11

Trong văn học phương Đông, danh từ “tiểu thuyết” xuất hiện khá sớm nhằmphân biệt với hai thể loại cơ bản khác là đại thuyết và trung thuyết.

Ở một số ngôn ngữ phương Tây, từ tiểu thuyết có nguồn gốc từ tiếng Latinh,mang nghĩa chuyện mới (novel) Tiểu thuyết có mầm mống ban đầu từ các tácphẩm tự sự viết bằng tiếng Roman, thường là thể loại anh hùng, đó là những tiểuthuyết kị sĩ với những biến cố và tình huống phi thường Bielinski đã rất có lý khicho rằng "tiểu thuyết hình thành khi vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nóvới đời sống nhân dân được ý thức" và "đời sống cá nhân bất luận thế nào cũngkhông thể là nội dung của anh hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung củatiểu thuyết"

Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi cổnhư Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tânphả thế kỷ 14-16 đã đặt những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại, thông quatiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạnphản ánh những chuyện đời thường Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự vớicác tác phẩm như Thượng kinh ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùybút) của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiệnvới tầm vóc tiểu thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trịvăn học đặc sắc

Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mớixuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong tràoThơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc

và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của TựLực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình thành thể loại như Nhất Linh,

Trang 12

Khái Hưng, Thạch Lam; và những nhà văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố,Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng.

Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài, chủ đềhoặc theo sở trường của người viết Với những khác biệt của tiểu thuyết về đề tài(tình yêu, xã hội, chính trị, lịch sử, triết lý, giả tưởng v.v.), dung lượng, mức độkịch tính, các nguyên tắc kết cấu-cốt truyện, phương thức trần thuật, có thể thấymột số điểm nhấn về phong cách, dễ thấy nhất là đem tính nội dung trực tiếp củatiểu thuyết ôm trùm toàn bộ mọi thành tố cốt truyện, khi đó tình tiết rắc rối sẽ trởthành phương tiện phản ánh xung đột giữa cá nhân và xã hội, trở thành động lựcthúc đẩy hành động của nhân vật, giúp tăng cường vai trò cấu tạo của cốt truyệncho tác phẩm Tạo được kịch tính cho trần thuật, sự rắc rối sẽ chi phối cả sự pháttriển của mâu thuẫn nào đó xuất phát điểm đến phương thức giải quyết, cả tiếntrình lẫn các thành phần của những biến cố cốt truyện và thậm chí cả bản thân các

"chìa khóa" kết cấu tác phẩm

* Đặc trưng của tiểu thuyết:

 Tính chất văn xuôi

 Nghệ thuật kể truyện

 Khả năng phản ánh toàn vẹn hiện thực

 Hư cấu nghệ thuật

 Tính đa dạng về sắc độ thẩm mỹ

 Bản chất tổng hợp

Trang 13

2 Đôi nét về tác giả và tác phẩm

2.1 Tác giả Hữu Đạt

PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt sinh ngày 21 tháng 4 năm 1953 tại Phú Cường, Ba

Vì, Hà Nội Là chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học khoa Ngôn ngữ học trường ĐHKHXH&NV – DDHQG Hà Nội

Khi ông sinh ra cũng là khi quê hương chịu bao nhiêu đau thương, mất mátcủa chiến tranh Thời kỳ này, giặc Pháp đã gây nên bao nhiêu nỗi đau, làm tổnthương bao nhiêu trái tim và bao nhiêu khát vọng của người dân nơi đây Dù bomđạn chiến tranh có ác liệt đến đâu, gây cản trở cho việc học tập thế nào thì niềmđam mê tri thức vẫn luôn thôi thúc bỏng cháy trong tim ông Đặc biệt, với cái

“tình” và cái “duyên” của miền văn hóa xứ Đoài, ông còn rất say mê văn chương

để rồi sau khi tốt nghiệp THPT, năm 1971 ông đã quyết tâm theo đuổi “con đườngvăn nghiệp” bằng việc đăng ký dự thi vào chuyên ngành Ngữ văn của trường Đạihọc Tổng hợp, dẫu biết rằng, hành trình này vốn dĩ là hành trình dài và vô tận Sau4,5 năm miệt mài, chăm chỉ ông ra trường với tấm bằng loại xuất sắc và được giữlại làm cán bộ giảng dạy tại một khoa nổi tiếng trong lĩnh vực đào tạo nhân tài vănchương cũng chính là khoa ông đã theo học suốt quãng thời gian sinh viên

Trở thành người “lái đò” đưa các lớp người hậu sinh tới bến bờ khoa học,PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt đi vào nghề bằng tất cả niềm tin và sự háo hức dù chưathể hiểu hết được những khó khăn của nghề làm thầy Với lối truyền đạt dí dỏm,hài hước, đầy nhiệt huyết, những bài giảng của ông trở thành “thỏi nam châm”cuốn hút học sinh đến mê hoặc, khơi dậy niềm hứng thú với viêc học ngôn ngữcũng như tình yêu và niềm say mê văn chương của học trò Đặc biệt, thông qua bàigiảng của ông, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và tình yêu với tiếng Việt càngthêm rạo rực trong trái tim mỗi người Không chỉ dạy hay, dạy lý thuyết đi đôi với

Trang 14

thực hành, ông còn luôn “phát động” các tiềm năng của người học bằng nhữngcuộc vấn-đáp, trao đổi để người học rèn luyện tư duy, nắm sâu các tri thức chuyênngành và liên ngành Chính vì vậy, các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứusinh từng có cơ hội học tập dưới sự dẫn dắt của PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt đềukhông bao giờ quên hình ảnh ông với tư cách là một người thầy luôn tận tình, tráchnhiệm.

Là một nhà nghiên cứu chuyên sâu, có vốn hiểu biết rộng, ngoài việc thamgia giảng dạy tại ĐHTH (sau này là ĐHQG) HN, ông còn được mời làm Giáo sưthình giảng cho các Trường Đại học Ngoại giao QT Moscova, Liên bang Nga; Đạihọc Paris VII, Cộng hòa Pháp; Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải, Trung Quốc, thamgia hướng dẫn cho nhiều sinh viên và học viên Cao học người nước ngoài Ngoàicông tác giảng dạy, ông còn có nhiều thành tựu trong sáng tác văn chương, nên đãđược kết nạp vào làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 và được Nhànước phong hàm PGS năm 2005 Từ khi thành lập khoa Ngôn ngữ học đến nay,ông liên tục làm Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học, Trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Ông chẳng những làmột trong những chuyên gia hàng đầu giảng dạy bộ môn Phong cách học và Ngônngữ văn học, mà đồng thời còn là tác giả của rất nhiều công trình nghiên cứu khoahọc và sáng tác văn học Hoạt động sáng tạo văn học và nghiên cứu khoa học củaông rất đa dạng Cho đến nay, có lẽ chưa một ai lại có được số lượng đầu sách xuấtbản trên hầu khắp các nhà xuất bản Trung ương ở Hà Nội như ông, thậm chí có cảsách xuất bản ở nước ngoài Đây là một điều rất đặc biệt khiến cho ông Trần Hinhtừng coi ông là một “hiện tượng” Trong một bài viết về đồng nghiệp của minh,ông Trần Hinh, người tốt nghiệp đại học cùng khóa với ông cho hay, khi mới 26tuổi Nguyễn Hữu Đạt đã chuyển thể thành công tiểu thuyết “Chuyện ngày thường

ở huyện” của nhà văn Nga nổi tiếng Ôvetskin và được phát sóng trên Truyền hình

Trang 15

cả nước làm chấn động khán giả đương thời (Thời ấy, cả nước chỉ mới có một đàiTruyền hình) Chính từ những bước đi đầu tiên ấy mà cho đến sau này, sự nghiệpnghiên cứu và sáng tác luôn gắn chặt và luôn đi song hành trên mỗi bước đi củaông Có một điều kỳ lạ là, trên khắp mọi miền tổ quốc cũng như ở các nước bạn,nơi nào có bàn chân ông bước tới là nơi ấy lại có sản phẩm văn chương của ông.

Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, PGS.TS Nguyễn HữuĐạt còn là người nổi tiếng trong lĩnh vực sáng tác văn học Chỉ riêng lĩnh vực sángtác, ông là người có nhiều đóng góp ở hầu hết các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn,sân khấu, điện ảnh và thơ Nhiều tác phẩm của ông được nhiều nhiều người yêuthích như “Hai đầu của bức thư tình”, “Các con đại tá” (2 tập), “Phía sau giảngđường”, “Vì tôi yêu”, “Hồi ức tuồi mười ba”, “Những kẻ giấu mặt”,“Chuyệnthường ngày ở huyện”, “Cổng trường Thời Mở cửa”, “Quái nhân”(tiểu thuyết);

“Nước mắt cô đào”, “Vì tôi yêu” (Sân khấu), “Văn khoa chân dung ký”… Đặcbiệt, ông chính còn là tác giả của bộ phim 10 tập phản ánh về giáo dục và nhàtrường “Cổng trường Thời mở cửa” được công chiều trên hàng chục kênh truyênhình cả nước, được nhiều người xem mến mộ Hơn thế nữa, thời gian làm NCS ởNga ông còn là người sáng lập ra một Công ty sản xuất phim tư nhân mang tên

“Đoàn làm phim Moscva” ( năm 1993) từng sản xuất ra bộ phim “Hoa rừng trắng”

do chính ông làm tác giả và đạo diễn Bộ phim được hoàn thành với diễn viên của

5 nước: Việt Nam, Ucraina, Nga, Ba Lan và Nam Tư và được chiếu rộng rãi phục

vụ cho người Việt ở nước ngoài và một số cơ quan ở trong nước

Ngoài ra, ông còn là tác giả của nhiều công trình lý luận, phê bình văn họcnhư “Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật” (năm 1999), “Về một cách tiếp cận tácphẩm văn học” (bút danh Văn Tuệ Quang, năm 2000), “Phong cách học với lýluận, phê bình văn học và việc dạy văn trong nhà trường” (Nxb HN 2002) Hiệnông có bản thảo”Nhà văn và thi pháp” chuẩn bị xuất bản…

Ngày đăng: 30/12/2017, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Nguyệt Minh,Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, những giá trị biểu trưng, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiệnđại, những giá trị biểu trưng
4. Hữu Đạt, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Hữu Đạt, Quái nhân, NXB Hội nhà văn, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quái nhân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
6. Nguyễn Thị Trà My, Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết “Quái nhân” của nhà văn Hữu Đạt, Tạp chí văn nghệ thủ đô, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết “Quáinhân” của nhà văn Hữu Đạt
7. Hoàng Phê(Chủ biên). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
8. Kim Nguyên, Tấm gương các nhà khoa học, Nxb Hồng Đức 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấm gương các nhà khoa học
Nhà XB: Nxb Hồng Đức 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w