1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tranh chấp và hướng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

30 662 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 157,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhóm 2 đã thực hiện đề tài thảo luận về tranh chấp và hướng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bài thảo luận của nhóm có kết cấu như sau:Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếChương 2. Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hướng giải quyết tranh chấpChương 3. Một số kiến nghị về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đối với pháp luật Việt NamMuốn phát triển thì phải hội nhập. Đây là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu. Không một quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế này và Việt Nam cũng vậy. Việc hội nhập, mà đặc biệt là hội nhập về kinh tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội lớn nhưng cũng mang đến nhiều thách thức.Vì thế, để tham gia sân chơi thương mại đầy tính cạnh tranh với các quốc gia khác, Việt Nam cần phải xây dựng, hoàn thiện và củng cố hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Bởi, cơ sở pháp lý của hợp đồng thương mại được ký kết và thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Nhưng, hợp đồng thương mại quốc tế lại có phạm vi rộng hơn và thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Trong quan hệ thương mại quốc tế, mà đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế, không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi. Vì nhiều lý do khác nhau, các bên có thể làm phát sinh tranh chấp. Vậy khi đó, pháp luật về lĩnh vực này sẽ điều chỉnh như thế nào? Góp phần trả lời cho các vấn đề trên, nhóm 2 đã thực hiện đề tài thảo luận về tranh chấp và hướng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bài thảo luận của nhóm có kết cấu như sau:Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếChương 2. Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hướng giải quyết tranh chấpChương 3. Một số kiến nghị về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đối với pháp luật Việt NamKết luậnChương 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế1.Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếa)Khái niệm tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc têCùng với sự phát triển thương mại quốc tế các giao dịch quốc tế ngày càng trở nên đa dạng, đặc biệt là các quan hệ HĐMBHHQT và dẫn đến những tranh chấp phát sinh từ quan hệ này cũng rất phức tạp. Trên thực tế rất khó để xác định một khái niệm tranh chấp HĐMBHHQT trên bình diện quốc tế, thậm chí trong bình diện quốc gia. Tuy nhiên, từ góc độ của luật thực định có thể xem tranh chấp từ HĐMBHHQT là tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại quốc tế và là loại tranh chấp có hợp đồng.Vậy một câu hỏi đặt ra HĐMBHHQT là gì?Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài). Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước.Theo Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước Viena 1980. Gián tiếp định nghĩa: Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”.Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến với nhiều tên gọi như là: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương. Theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005 thì “Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và chuyển khẩu. Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”Như vậy có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý chí của cá bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau.Các đặc điểm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là: chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau; Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước; Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau; Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong các bên; Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế về thương mại và hàng hải và ở một số nước áp dụng tiền lệ pháp (án lệ).Như vậy, tranh chấp thương mại phải hội tụ đủ các yếu tố sau:+ Tranh chấp thương mại quốc tế trước hết phải là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể.+ Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh từ hoạt động thương mại.+ Những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân.b)Đặc điểm của tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếMột là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại;Hai là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp mà chủ thể chủ yếu là các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân;Ba là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp có quan hệ hợp đồng thương mại tồn tại giữa các bên tranh chấp;Bốn là: Có yếu tố tài sản, gắn liền với lợi ích của các bên và phát sinh tranh chấp trực tiếp từ quan hệ hợp đồngNăm là: Có yếu tố vi phạm nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của bên kiaSáu là: Có sự bất đồng quan điểm của accs bên về sự vi phạm hoặc việc xử lý hậu quả phát sinh từ sự vi phạmBảy là: Các bên tranh chấp có quyền tự định đoạt và giải quyết thưo nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận2.Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tếTranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế được giải quyết theo một trong bốn hình thức “Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài thương mại; Tòa án”. Trong đó, thương lượng là sự thỏa thuận của các bên, không có bên thứ ba. Hòa giải là sự thỏa thuận của hai bên thông qua trung gian là hòa gải viên. Giá trị ràng buộc phán quyết của hòa giải và thương lượng mang tính chất khuyến khích. Vì vậy, các bên có thể không thực hiện, thực hiện không đúng theo quyết định đó. Trong một số trường hợp, tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được xem xét, giải quyết tại Tòa án (hai bên thỏa thuận, hoặc một bên không đồng ý với phán quyết của trọng tài, có thể đưa vụ việc ra Tòa án, lúc này Tòa án sẽ xem xét lại quyết định của trọng tài). Tuy nhiên, phần lớn các bên thường giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại.Cụ thể, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: Là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán phi chính phủ. Phán quyết của trọng tài có giá trị pháp lý bắt buộc, giá trị chung thẩm, các bên bắt buộc phải thực hiện. Phương pháp giải quyết bằng trọng tài có những ưu điểm sau:+Bảo đảm tối đa quyền tự chủ của các bên trong hợp đồng vì trọng tài không phải là phương thức bắt buộc, đây là sự tự nguyện giữa các bên.+ Thủ tục giải quyết đơn giản thuận tiện giúp cho việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, hiệu quả+ Tính bảo mật và duy trì quan hệ đối tác. Hầu hết pháp luật các nước đều thừa nhận trọng tài xét xử kín nếu không có quy định khác. Trong kinh tế thị trường thì thương trường trở thành chiến trường và sự bảo vệ bí mật nghề nghiệp đã trở thành tính chất sống còn của cá nhà kinh doanh.+ Tính chung thẩm ràng buộc quyết định của trọng tài. Đây là ưu điểm của trọng tài so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết sẽ có hiệu lực thi hành với các bên, các bên không được kháng cáo do các bên đã tự do lựa chọn trọng tài giải quyết từ trước đó.+ Tính độc lập của tố tụng Trọng tài. Là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài không có tổ chức đa cấp nên trọng tài độc lập trong xét xử, không chịu sự chi phối bởi yếu tố chính trị, không chịu sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nào mà chỉ chịu sự giám sát của tòa án về một số mặt về tố tụng nên bảo đảm tính khách quan trung lập trong quá trình giải quyết tranh chấp.+ Tính chuyên môn của trọng tài viên. Dánh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài thương mại thường bao gồm các chuyên gai có trình độ chuyên môn cao, uy tín, kinh nghiệm được lựa chọn theo các tiêu chí chặt chẽ do trung tâm trọng tài đưa ra.+ Tính nhanh chóng, tiết kiệm thời gian. Tố tụng trọng tài nhanh hơn tố tụng Tòa án vì trọng tài cho phép các bên tự thỏa thuận về nhiều hoặc tất cả về thủ tục. Tố tụng trọng tài mang tính chất linh hoạt, nhanh chóng hơn tố tụng Tòa án (Tòa án xét xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm). Các hình thức trọng tài:+ Trọng tài vụ việc (Adhoc): do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết tranh chấp cụ thể giữa các bên có tranh chấp phát sinh và khi giải quyết xong tranh chấp đó thì chấm dứt sự tồn tại.+ Trọng tài thường trực: thường được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như các trung tâm Trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài nhưng phổ biến được thể hiện dưới hình thức trung tâm trọng tài. Trọng tài thường trực đều thể hiện phổ biến dưới dạng trọng tài phi chính phủ và tổ chức xã hội nghề nghiệp; không nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước nhưung vẫn có ngoại lệ mang sắc thái riêng trong pháp luật trọng tài của một số nước.. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:+ Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài+ Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan+ Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật+ Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên+ Nguyên tắc giải quyết một lần

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Muốn phát triển thì phải hội nhập Đây là xu thế tất yếu và mang tính toàncầu Không một quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế này và Việt Nam cũng vậy.Việc hội nhập, mà đặc biệt là hội nhập về kinh tế với các quốc gia trong khu vực vàtrên thế giới Hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội lớn nhưng cũng mang đến nhiều tháchthức

Vì thế, để tham gia sân chơi thương mại đầy tính cạnh tranh với các quốc giakhác, Việt Nam cần phải xây dựng, hoàn thiện và củng cố hệ thống pháp luật, đặcbiệt là pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Bởi, cơ sở pháp

lý của hợp đồng thương mại được ký kết và thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam làtoàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam Nhưng, hợp đồng thương mại quốc tế lại cóphạm vi rộng hơn và thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên

Trong quan hệ thương mại quốc tế, mà đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế,không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi Vì nhiều lý do khác nhau, các bên có thểlàm phát sinh tranh chấp Vậy khi đó, pháp luật về lĩnh vực này sẽ điều chỉnh nhưthế nào?

Góp phần trả lời cho các vấn đề trên, nhóm 2 đã thực hiện đề tài thảo luận vềtranh chấp và hướng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế Bài thảo luận của nhóm có kết cấu như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp tronghợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chương 2 Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế và hướng giải quyết tranh chấp

Chương 3 Một số kiến nghị về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế đối với pháp luật Việt Nam

Kết luận

Trang 2

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1 Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

a) Khái niệm tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tê

Cùng với sự phát triển thương mại quốc tế các giao dịch quốc tế ngày càng trởnên đa dạng, đặc biệt là các quan hệ HĐMBHHQT và dẫn đến những tranh chấpphát sinh từ quan hệ này cũng rất phức tạp Trên thực tế rất khó để xác định mộtkhái niệm tranh chấp HĐMBHHQT trên bình diện quốc tế, thậm chí trong bình diện

quốc gia Tuy nhiên, từ góc độ của luật thực định có thể xem tranh chấp từ HĐMBHHQT là tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại quốc tế và là loại tranh chấp có hợp đồng.

Vậy một câu hỏi đặt ra HĐMBHHQT là gì?

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoạithương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chấtquốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài) Tính chất quốc tế của hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểmcủa luật pháp từng nước

Theo Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước Viena 1980 Gián tiếp định nghĩa: Công ước này áp dụng đối với nhữnghợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại cácquốc gia khác nhau”

-Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến với nhiều têngọi như là: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng xuất nhập khẩu, hợpđồng mua bán ngoại thương Theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005 thì “Muabán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạmnhập, tái xuất và chuyển khẩu Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên

cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương”

Trang 3

Như vậy có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ýchí của cá bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua

đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể

đó với nhau

Các đặc điểm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là: chủ thể của hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có trụ sởthương mại đặt ở các nước khác nhau; Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước;Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyểngiao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau;Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong các bên; Luật điều chỉnhquan hệ hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế vềthương mại và hàng hải và ở một số nước áp dụng tiền lệ pháp (án lệ)

Như vậy, tranh chấp thương mại phải hội tụ đủ các yếu tố sau:

+ Tranh chấp thương mại quốc tế trước hết phải là những mâu thuẫn (bấtđồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể

+ Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh từ hoạt động thương mại

+ Những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân

b) Đặc điểm của tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Một là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp phát sinh trong

hoạt động thương mại;

Hai là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp mà chủ thể chủ

yếu là các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân;

Ba là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp có quan hệ hợp

đồng thương mại tồn tại giữa các bên tranh chấp;

Bốn là: Có yếu tố tài sản, gắn liền với lợi ích của các bên và phát sinh tranh

chấp trực tiếp từ quan hệ hợp đồng

Trang 4

Năm là: Có yếu tố vi phạm nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới quyền và

lợi ích của bên kia

Sáu là: Có sự bất đồng quan điểm của accs bên về sự vi phạm hoặc việc xử lý

hậu quả phát sinh từ sự vi phạm

Bảy là: Các bên tranh chấp có quyền tự định đoạt và giải quyết thưo nguyên tắc

bình đẳng, thỏa thuận

2 Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế được giải quyết theo một trongbốn hình thức “Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài thương mại; Tòa án” Trong đó,thương lượng là sự thỏa thuận của các bên, không có bên thứ ba Hòa giải là sự thỏathuận của hai bên thông qua trung gian là hòa gải viên Giá trị ràng buộc phán quyếtcủa hòa giải và thương lượng mang tính chất khuyến khích Vì vậy, các bên có thểkhông thực hiện, thực hiện không đúng theo quyết định đó Trong một số trườnghợp, tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được xem xét, giảiquyết tại Tòa án (hai bên thỏa thuận, hoặc một bên không đồng ý với phán quyếtcủa trọng tài, có thể đưa vụ việc ra Tòa án, lúc này Tòa án sẽ xem xét lại quyết địnhcủa trọng tài) Tuy nhiên, phần lớn các bên thường giải quyết tranh chấp thông quatrọng tài thương mại

Cụ thể, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: Là hình thức giải quyết thông quahoạt động của cơ quan tài phán phi chính phủ Phán quyết của trọng tài có giá trịpháp lý bắt buộc, giá trị chung thẩm, các bên bắt buộc phải thực hiện

- Phương pháp giải quyết bằng trọng tài có những ưu điểm sau:

+Bảo đảm tối đa quyền tự chủ của các bên trong hợp đồng vì trọng tài khôngphải là phương thức bắt buộc, đây là sự tự nguyện giữa các bên

+ Thủ tục giải quyết đơn giản thuận tiện giúp cho việc giải quyết nhanh chóng,dứt điểm, hiệu quả

Trang 5

+ Tính bảo mật và duy trì quan hệ đối tác Hầu hết pháp luật các nước đều thừanhận trọng tài xét xử kín nếu không có quy định khác Trong kinh tế thị trường thìthương trường trở thành chiến trường và sự bảo vệ bí mật nghề nghiệp đã trở thànhtính chất sống còn của cá nhà kinh doanh.

+ Tính chung thẩm ràng buộc quyết định của trọng tài Đây là ưu điểm của trọngtài so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác Sau khi trọng tài đưa ra phánquyết sẽ có hiệu lực thi hành với các bên, các bên không được kháng cáo do các bên

đã tự do lựa chọn trọng tài giải quyết từ trước đó

+ Tính độc lập của tố tụng Trọng tài Là một tổ chức phi chính phủ, trọng tàikhông có tổ chức đa cấp nên trọng tài độc lập trong xét xử, không chịu sự chi phốibởi yếu tố chính trị, không chịu sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nào mà chỉ chịu sựgiám sát của tòa án về một số mặt về tố tụng nên bảo đảm tính khách quan trung lậptrong quá trình giải quyết tranh chấp

+ Tính chuyên môn của trọng tài viên Dánh sách trọng tài viên của trung tâmtrọng tài thương mại thường bao gồm các chuyên gai có trình độ chuyên môn cao,

uy tín, kinh nghiệm được lựa chọn theo các tiêu chí chặt chẽ do trung tâm trọng tàiđưa ra

+ Tính nhanh chóng, tiết kiệm thời gian Tố tụng trọng tài nhanh hơn tố tụng Tòa

án vì trọng tài cho phép các bên tự thỏa thuận về nhiều hoặc tất cả về thủ tục Tốtụng trọng tài mang tính chất linh hoạt, nhanh chóng hơn tố tụng Tòa án (Tòa án xét

xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm)

- Các hình thức trọng tài:

+ Trọng tài vụ việc (Ad-hoc): do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giảiquyết tranh chấp cụ thể giữa các bên có tranh chấp phát sinh và khi giải quyết xongtranh chấp đó thì chấm dứt sự tồn tại

+ Trọng tài thường trực: thường được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhaunhư các trung tâm Trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài nhưng phổbiến được thể hiện dưới hình thức trung tâm trọng tài Trọng tài thường trực đều thể

Trang 6

hiện phổ biến dưới dạng trọng tài phi chính phủ và tổ chức xã hội nghề nghiệp;không nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước nhưung vẫn có ngoại lệ mang sắc tháiriêng trong pháp luật trọng tài của một số nước

- Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:

+ Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài

+ Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan

+ Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật

+ Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên

+ Nguyên tắc giải quyết một lần

3 Luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

a) Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia (chủ yếu là Luật dân sự và thương mại của các quốc gia) Đốivới các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc gia có thể áp dụngtrong các trường hợp sau:

- Các bên trong hợp đồng thỏa thuận lựa chọn áp dụng;

- Điều ước quốc tế mà quốc gia (có các chủ thể của hợp đồng mang quốc tịchcủa quốc gia đó) kí kết hoặc tham gia có quy định điều khoản về luật áp dụng chohợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là luật của một quốc gia nhất định;

- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp chọn luật áp dụng (khi các bênkhông đạt được sự thỏa thuận về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng)

Pháp luật Việt Nam áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm:

Bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương mại 2005, Bộ luật hàng hải năm 2005, Luậthàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, Luật trọng tài 2010

b) Điều ước quốc tế

Một số Điều ước quốc tế chủ yếu:

Trang 7

+ Công ước LaHay 1955 về áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốctế;

+ Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, được ápdụng cho các bên có trụ sở thương mại tại các nước khác nhau Áp dụng bắt buộctrong hai trường hợp là:

“1) Khi trụ sở của các bên đóng tại các nước khác nhau là thành viên Công ước;

2) Khi nguyên tắc trong tư pháp quốc tế quy định luật được áp dụng là luật củacác nước thành viên của Công ước;”

c) Tập quán thương mại quốc tế

Một số tập quán thương mại quốc tế được thừa nhận:

+ Incoterms 2010 do phòng thương mại quốc tế - ICC ban hành, quy định về cácđiều kiện thương mại quốc tế;

+ Quy tắc chung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (UCP 500);

d) Án lệ

Tùy theo hệ thống pháp luật của mình, ở một số nước áp dụng án lệ điều chỉnhquan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 8

Chương 2 Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hướng giải quyết tranh chấp

1 Tình huống 1

a) Nội dung tình huống

Các bên

Nguyên đơn: bên mua Việt Nam

Bị đơn: bên bán Singapore

Các vấn đề được đề cập

- Việc vi phạm hợp đồng của bị đơn

- Trường hợp bất khả kháng

- Việc nguyên đơn từ chối hợp đồng

- Các thiệt hại (giá chênh lệch, mất lợi nhuận, các chi phí ngân hàng)

Thanh toán bằng L/C có xác nhận và không hủy ngang

Bảo đảm thực hiện hợp đồng trị giá 5% tổng giá trị hợp đồng do bị đơn cấp “ngaysau khi L/C tương ứng được mở

Trang 9

Điều khoản về phạt do giao chậm

Điều khoản về trọng tài: Nếu có tranh chấp sẽ do trọng tài Việt Nam giải quyếtĐiều khoản về bất khả kháng, trong đó nêu rõ:

- Trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng bên bán có trách nhiệm thôngbáo cho bên mua ngay sau khi sự kiện xảy ra

- Sự biến động của tiền tệ cũng như sự tăng giá sẽ không được coi là bất khảkháng

Sau khi hợp đồng được ký kết, bảo đảm thực hiện hợp đồng bị đơn gửi tớinguyên đơn ngày 22/11/2009 Tương ứng theo đó, chuyến hàng cuối cùng phảiđược giao muộn nhất là ngày 22/3/2010 Ngày 26/11/2009, hai thư tín dụng có thờihạn tới ngày 22/2/2010, cho một lô gỗ dán và cho một lô gỗ khối mà người thụhưởng là bị đơn, đã được xác nhận Về phần mình, nguyên đơn cũng đã ký hợpđồng bảo hiểm cho hàng hóa và chỉ định công ty giám định để kiểm tra chất lượnghàng hóa được giao

Ngày 14/12/2009, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn bằng Telex rằng do mưalớn thiếu nhiên liệu và một số lý do khác, họ không thể giao hang theo đúng lịch.Ngày 16/12/2009, chuyến hàng đầu tiên chỉ có 218,671 m3 gỗ dán và 415,904 m3

gỗ khối đã ròi singgapore đi Việt Nam

Sau đó, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn hẹn sẽ gửi chuyến hàng thứ hai gồm2500m3 gỗ dán và 1500m3 gỗ khối vào cuối tháng 1 năm 2010 Nguyên đơn đãđồng ý đề nghị này của bị đơn Tuy nhiên trên thực tế điều này đã không đucợ thựchiện Nguyên đơn sau đó, đã phải nhắc nhở bị đơn vài lần, đề nghị được thông báochi tiết về chuyến hàng giao ngày 7/3/2010, đồng thời xin gia hạn thư tín dụng cũngnhư chấp nhận gia hạn thời hạn giao hàng cho tới ngày 31/5/2010

Bị đơn đã không hề có động thái gì và thực tế đã không tiến hành giao chuyếnhàng thứ hai Ngày 2/5/2010, hai bên đã đồng ý gặp nhau để bàn bạc về việc thựchiện hợp đồng Ngày 7/7/2010, viện cớ rằng mình đã phải chịu tổn thất do giá dầutăng Bị đơn đề nghị tăng giá lên 40% Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu này

Trang 10

Bị đơn muốn hủy bỏ hợp đồng với lý do bất khả kháng và đòi được thanh toán tiềnhàng cho chuyến hàng đầu tiên đã giao.

Cho đến nay, Nguyên đơn đã có được lệnh phong tỏa Bảo đảm thực hiện hợpđồng cùng hai thư tín dụng theo quyết định của tòa sơ thẩm Dasmascus

Ngày 25/8/2011, Nguyên đơn đưa vụ việc ra trung tâm trọng tài giải quyết Theocác điều khoản dẫn chiếu, vụ việc được xét xử tại Hà Nội và áp dụng luật trọng tàiViệt Nam

Nguyên đơn đòi bồi thường:

- Khoản chênh lệch về giá là 656.070,35USD

- Một khoản lợi nhuận bị thất thu là 468.301,10 USD

- Chi phí ngân hàng là 620.719 USD

- Chi phí bảo hiểm

- Thuế nhập khẩu

- Tỷ lệ lãi Suất là 9% cho tổng số tiền này

Bị đơn kháng cáo đòi:

- Được thanh toán số tiền là 306.988,42 USD cho chuyến hàng đầu tiên với tỷ

lệ lãi suất là 15%/năm

- Tuyên bố nguyên đơn không có quyền hưởng số tiền bảo hiểm thực hiện hợpđồng và những thiệt hại phát sinh do việc hủy bỏ hợp đồng

Giả sử luật áp dụng là (1) pháp luật Việt Nam và (2) Công ước viên hãy trả lời câuhỏi sau:

Thứ nhất, bị đơn có vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Thứ hai, lí do về việc bị đơn đưa ra đối với sự kiện bất khả kháng có được chấpnhận không? Vì sao?

Thứ ba, các lập luận về việc từ chối hợp đồng của bị đơn có hợp lý không? Vìsao?

Thứ tư, những thiệt hại nào có thể được chấp nhận? Vì sao?

b) Hướng giải quyết tình huống

Trang 11

- Xét về vấn đề vi phạm hợp đồng

Bị đơn đã vi phạm về thời hạn giao hàng, cụ thể là lần giao hàng thứ hai, (lần

một được bên nguyên đơn chấp nhận vì lý do bất khả kháng)

Hai bên đã nói rõ về thời hạn giao hàng trong hợp đồng:

 Chuyến hàng đầu tiên gồm 3000m3 gỗ dán và 1000m3 gỗ khối sẽ được giaotrong vòng 2 tháng kể từ ngày mở thư tín dụng

 Chuyến hàng thứ hai gồm 2000m3 gỗ dán và 2000m3 gỗ khối sẽ được giao sauchuyến thứ nhất 1 tháng

 Chuyến hàng thứ ba gồm 2000m3 gỗ khối sẽ được giao sau chuyến thứ hai 1tháng

Nhưng đến khi thực hiện hợp đồng, bị đơn lại lấy một số lý do để chậm thựchiện hợp đồng:

Ngày 14/12/2009, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn bằng Telex rằng do mưalớn thiếu nhiên liệu và một số lý do khác, họ không thể giao hàng theo đúng lịch.Ngày 16/12/2009, chuyến hàng đầu tiên chỉ có 218,671 m3 gỗ dán và 415,904 m3 gỗkhối đã rời Singgapore đi Việt Nam

Sau đó, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn hẹn sẽ gửi chuyến hàng thứ hai gồm2500m3 gỗ dán và 1500m3 gỗ khối vào cuối tháng 1 năm 2010 Nguyên đơn đã đồng

ý đề nghị này của bị đơn Tuy nhiên trên thực tế điều này đã không được thực hiện.Nguyên đơn sau đó, đã phải nhắc nhở bị đơn vài lần, đề nghị được thông báo chi tiết

về chuyến hàng giao ngày 7/3/2010, đồng thời xin gia hạn thư tín dụng cũng nhưchấp nhận gia hạn thời hạn giao hàng cho tới ngày 31/5/2010 Bị đơn đã không hề

có động thái gì và thực tế đã không tiến hành giao chuyến hàng thứ hai

Như vậy, căn cứ theo pháp luật Việt Nam

Trang 12

Căn cứ theo khoản 1 Điều 432 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Thời hạn thực hiệnhợp đồng mua bán:

“Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thoả thuận Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý.”

Và Điều 37 Luật thương mại 2010 về thời hạn giao hàng:

1 Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng.

2 Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền chuyển giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

Như vậy, lần đầu tiên bị đơn xin gia hạn thêm thời hạn giao hàng vì lý do mưa

lớn, không có nhiên liệu và một số lý do khác mà giao hàng không đúng lịch, bênnguyên đơn đã đồng ý, bị đơn được coi là không vi phạm hợp đồng Nhưng đến lầnhai bị đơn lại lấy lý do bất khả kháng để chậm giao hàng Nguyên đơn đã đồng ýnhưng bị đơn cũng đã không giao chuyến hàng thứ hai này và cũng không có câu trảlời, mặc dù sau đó nguyên đơn đã thực hiện việc nhắc nhở thực hiện giao hàng.Trường hợp này bị đơn đã là bên vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận

Thứ hai, căn cứ theo quy định của Công ước viên 1980:

Khoản 1 Điều 33 Công ước này quy định: “Người bán phải giao hàng đúng vào ngày giao hàng mà hợp đồng đã quy định, hay có thể xác định được bằng cách tham chiếu vào hợp đồng.”

Điều đó, có nghĩa bên bị đơn phải giao hàng theo đúng ngày đã thỏa thuận hoặcvào thời gian tham xét theo hợp đồng Như vậy, lần một, bị đơn giao chậm hàng với

lý do sự kiện bất khả kháng, nếu tham chiếu vào hợp đồng, thì bị đơn không vi

Trang 13

phạm vì đã thông báo cho bên nguyên đơn và được nguyên đơn đồng ý (vẫn đượccoi là thực hiện đúng hợp đồng).

Tuy nhiên, đến lần giao hàng thứ hai, bị đơn không thực hiện việc giao hàng, dù

đã được nguyên đơn gia hạn thêm thời gian thực hiện hợp đồng, và nhắc nhở nhiềulần Việc bị đơn không thực hiện việc giao hàng theo thời gian hai bên đã thỏa thuậntrong hợp đồng cũng như trong thời gian nguyên đơn gia hạn đã trái với quy định tạikhoản 1 Điều 33 của Công ước Vì thế, có thể khẳng định, bị đơn đã có hành vi viphạm hợp đồng

Kết luận: Dù căn cứ vào Luật Việt Nam hay Công ước viên thì bị đơn đều vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa mà hai bên đã ký kết.

Trong hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã có nêu điều khoản bất khả kháng:

“ Trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng bên bán có trách nhiệm thôngbáo cho bên mua ngay sau khi sự kiện xảy ra

Sự biến động của tiền tệ cũng như sự tăng giá sẽ không được coi là bất khảkháng.”

Trên thực tế, cho đến ngày 31/05/2010 (ngày hết hạn của thư tín dụng sau khi đãđược gia hạn thêm) thì bị đơn không hề đề cập 1 cách cụ thể bằng Telex về lý do bấtkhả kháng (do giá dầu tăng, bên bị đơn đã phải chịu nhiều tổn thất) mà vấn đề nàychỉ được đưa ra vào ngày 07/05/2010 Mặt khác, việc viện cớ giá dầu tăng dẫn đếntổn thất của bên bị đơn đã vị phạm vào điều khoản bất khả kháng trong hợp đồng.Chính vì vậy, lý do này là không thể chấp nhận

Trang 14

Ngoài ra, bên bị đơn đã lợi dụng lý do trên để đề nghị tăng giá lên 40% Điềunày cho thấy bị đơn thực tế đã có khả năng giao hàng song muốn tăng giá cao hơnnên đã không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng.

- Xét về việc từ chối hợp đồng của bị đơn

Thứ nhất, căn cứ theo pháp luật Việt Nam

+ Bị đơn không thể đưa ra lý do hủy bỏ hợp đồng là do giá dầu tăng 40% mà bịđơn cũng coi đó là lý do bất khả kháng

Theo phân tích ở trên thì lý do bất khả kháng vì giá dầu tăng lên mà bị đơn đưa

ra hoàn toàn không được chấp nhận bởi nó trái với thỏa thuận ban đầu trong hợpđồng mà 2 bên đã thỏa thuận với nhau Do vậy, việc bị đơn viện dẫn lý do này đểhủy bỏ hợp đồng là hoàn toàn không hợp lý

+ Căn cứ theo điều 312 Luật thương mại năm 2005 quy định về việc hủy bỏ hợpđồng, tại khoản 4 đã nêu rõ:

“4 Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng;

b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”

Theo tình huống trên, có thể thấy rằng hợp đồng mua bán giữa 2 bên không cóthỏa thuận về các điều khoản mà nếu một trong 2 bên vi phạm điều khoản đó thì đó

sẽ là điều kiện hủy bỏ hợp đồng Hơn nữa, bên bị đơn lại chính là bên vi phạmnghĩa vụ của hợp đồng đối với bên nguyên đơn theo cách lập luận ở trên

Vì vậy việc từ chối hợp đồng với lý do bất khả kháng của bị đơn như vậy là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật Việt Nam.

Trang 15

Thứ hai, căn cứ quy định của Công ước Viên 1980

Căn cứ theo khoản 1 Ðiều 64:

“1 Người bán có thể tuyên bố hủy hợp đồng:

a Nếu sự kiện người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó của họ theo hợp đồng hay Công ước hay cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng, hoặc

b Nếu người mua không thi hành nghĩa vụ trả tiền hoặc không nhận hàng trong thời hạn bổ sung mà người bán chấp nhận cho họ chiếu theo khoản 1 điều 63 hay nếu họ tuyên bố sẽ không làm việc đó trong thời hạn ấy.”

Theo tình huống trên, bên nguyên đơn không hề vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồngcủa 2 bên đã thỏa thuận Bên nguyên đơn đã chấp nhận lý do bất khả kháng do điềukiện khách quan không thể giao hàng theo đúng lịch trình mà bên bị đơn đã Telexvào ngày 14/12/2009 Bên cạnh đó, chuyến hàng đầu tiên bên bị đơn cũng giaokhông đủ về số lượng, bên nguyên đơn cũng đã đồng ý cho bên bị đơn giao chuyếnhàng thứ hai theo số lượng và thời gian giao hàng mà họ đã đưa ra Bị đơn mặc dù

đã được nguyên đơn nhắc nhở về việc giao chuyến hàng ngày 07/03/2010 thực tếbên bị đơn im lặng và còn không thực hiện việc giao chuyến hàng lần thứ hai

Vì vậy việc từ chối hợp đồng với lý do bất khả kháng của bị đơn như vậy là hoàn toàn trái với quy định của Công ước Viên 1980.

- Xét về thiệt hại

Căn cứ theo pháp luật Việt Nam

Bên nguyên đơn

Những thiệt hại nguyên đơn đòi bồi thường có thể được chấp nhận:

+ Chi phí ngân hàng : 620.719USD do bị đơn đã vi phạm hợp đồng nên nguyên đơn

có quyền yêu cầu bị đơn hoàn trả chi phí ngân hàng kể từ ngày ký kết hợp đồng chođến ngày xảy ra vi phạm hợp đồng

Ngày đăng: 30/12/2017, 19:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w