1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giới thiệu một số hiệp định thương mại khu vực, cụ thể trong khu vực thương mại tự do ASEAN ( AFTA )

22 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 236,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Giới thiệu một số hiệp định thương mại khu vực, cụ thể trong khu vực thương mại tự do ASEAN ( AFTA ) Lời mở đầu Trong nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng thì một quốc gia không thể phát triển toàn diện được nếu không có sự hội nhập với các quốc gia khác cả về kinh tế, văn hóa, chính trị, công nghệ,… Và việc mà mỗi quốc gia phải tham gia vào các hiệp định thương mại cả khu vực lẫn quốc tế là điều hiển nhiên. Tham gia vào các hiệp định thương mại chung sẽ có tác động tích cực đến mọi mặt của nền kinh tế từng nước : tác động tới thương mại, tác động tới việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tới nguồn thu ngân sách… Cụ thể hơn ở đây mà chúng em muốn giới thiệu đó là khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Đây là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 05%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước. Mục đích của AFTA là nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuất trên thế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các nước tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) sẽ có thể được cắt giảm hàng rào thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, hài hòa thủ tục hải quan… Từ những lợi ích thực tế có được khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do này thì Việt Nam cũng là một trong những thành viên của tổ chức này. Khi tham gia vào tổ chức này thì Việt Nam cũng gặp khá nhiều khó khăn nhưng bên cạnh đó cũng thu về được khá nhiều lợi ích kinh tế. Bài thảo luận của nhóm em thứ nhất là giới thiệu về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và thứ hai là tác động của các hiệp định thương mại đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do ASEAN và nội dung đề tài được triển khai theo 3 chương sau: Chương 1: Một số hiệp định thương mại khu vực Chương 2: Khu vực thương mại tự do ASEAN Chương 3: Việt Nam và các hiệp định thương mại quan trọng. Chương I. Một số hiệp định thương mại khu vực 1.1 . ASEAN (AFTA) a. Khái quát về ASEAN Hiệp hôi các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 881967, đánh dấu một mốc quan trọng cho phát triển khu vực với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá; tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, thúc đẩy hoà bình, ổn định trong khu vực. Khi bắt đầu thành lập, ASEAN gồm 5 nước thành viên là Inđônêxia; Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan. Brunei tham gia vào ASEAN năm 1984, tiếp theo là Việt Nam năm 1995, Lào và Myanmar năm 1999 và Campuchia trở thành thành viên thứ 10 vào năm 2000. b. Mục tiêu và cơ chế hình thành Với mục tiêu biến ASEAN thành một khu vực sản xuất cạnh tranh trên thị trường thế giới, khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã chính thức được thành lập tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IV vào năm 1992. Một trong những bước quan trọng nhằm thực hiện được mục tiêu trên là tạo thuận lợi cho thương mại nội khối thông qua việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia thành viên. Cơ chế chính để hình thành AFTA là Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Nghĩa vụ chính của các nước thành viên khi tham gia Hiệp định này là thực hiện việc cắt giảm và xoá bỏ thuế quan theo một lộ trình chung có tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và thời hạn tham gia của các nước thành viên. Các nước ASEAN đã cam kết xoá bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (gồm Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan) và 2015 có linh hoạt đến 2018 đối với 4 nước thành viên mới (Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam, viết tắt là CLMV). Ngoài ra, các nước ASEAN cũng quyết tâm xoá bỏ các rào cản phi quan thuế (hạn ngạch thuế quan, giấy phép…) bằng việc thống nhất một kế hoạch rà soát, phân loại và lên kế hoạch loại bỏ các biện pháp phi thuế quan có tính cản trở thương mại. 1.2 NAFTA a. Khái quát về NAFTA Hiệp định mậu dịchTự do Bắc Mỹ NAFTA (North America Free Trade Agreement) là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ được thành lập ngày 1281992 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01011994, gồm có ba nước tham gia gồm Mỹ, Canada và Mexico. Chức năng: Giúp cho nền kinh tế của ba nước Mỹ, Canada và Mexico được dễ dàng hơn, cụ thể là Mỹ và Canada dễ dàng chuyển giao công nghệ sang Mexico và ngược lại Mexixo có thể dễ dàng chuyển giao nguồn lực sang hai nước kia. b. Tác động của NAFTA đối với các nước thành viên: • Tích cực: Tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế: sự di chuyển lớn vềvốn, công nghệ, quản lí, giảm thuế, tận dụng được các thế mạnh của các quốc gia giúp nâng cao năng suất lao động, tạo tính cạnh tranh nên quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo. Thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên .Gia tăng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. • Tiêu cực: Hạn chế trong thỏa thuận. Chênh lệch trình độ phát triển giữa các nước thành viên. Vấn đề về độc lập tự chủ của các nước thành viên. Sự hợp tác thống nhất giữa các nước thành viên chưa cao. Từ những vấn đề trên dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước thành viên trong tổchức. c. Tác động của NAFTA đối với kinh tế thế giới: Sự ra đời của NAFTA đã đặt ra một thách thức rất lớn cho các nước vì đây là thị trường tiêu thụ rất nhiều các mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước như Việt Nam, Thái Lan,...khi NAFTA ra đời để bảo hộ sản xuất trong khối tổ chức đặt ra các tiêu chuẩn về các mặt hàng xuất khẩu sang NAFTA rất cao, làm ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu của nhiều quốc gia và NAFTA có dân số lớn vì vậy làm hạn chế thị trường của nhiều quốc gia. 1.3. EU a. Khái quát về EU Liên minh châu (EU) được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Có trụ sở chính đặt tại Brucxen.Với dân số khoảng 493 triệu người. GDP khoảng: 13.000 tỷ USD(2006).Liên minh châu Âuđã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương. 16 nước thành viên đã chấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro, tạo nên khu vực đồng Euro. Liên minh châu Âu đã phát triển một vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế

Trang 1

Cụ thể hơn ở đây mà chúng em muốn giới thiệu đó là khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA) Đây là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữacác nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuếquan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhómhàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước Mục đích của AFTA lànâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuất trênthế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.Các nước tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) sẽ có thể đượccắt giảm hàng rào thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, hài hòa thủ tục hảiquan…

Từ những lợi ích thực tế có được khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do nàythì Việt Nam cũng là một trong những thành viên của tổ chức này Khi tham giavào tổ chức này thì Việt Nam cũng gặp khá nhiều khó khăn nhưng bên cạnh đócũng thu về được khá nhiều lợi ích kinh tế

Bài thảo luận của nhóm em thứ nhất là giới thiệu về khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA) và thứ hai là tác động của các hiệp định thương mại đến nềnkinh tế Việt Nam, đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do ASEAN và nội dung đề tàiđược triển khai theo 3 chương sau:

Chương 1: Một số hiệp định thương mại khu vực

Chương 2: Khu vực thương mại tự do ASEAN

Chương 3: Việt Nam và các hiệp định thương mại quan trọng

Chương I Một số hiệp định thương mại khu vực

1.1 ASEAN (AFTA)

a Khái quát về ASEAN

Trang 2

Hiệp hôi các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967,đánh dấu một mốc quan trọng cho phát triển khu vực với mục tiêu tăng trưởngkinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá; tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau,thúc đẩy hoà bình, ổn định trong khu vực Khi bắt đầu thành lập, ASEAN gồm 5nước thành viên là Inđônêxia; Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan.Brunei tham gia vào ASEAN năm 1984, tiếp theo là Việt Nam năm 1995, Lào

và Myanmar năm 1999 và Campuchia trở thành thành viên thứ 10 vào năm2000

b Mục tiêu và cơ chế hình thành

Với mục tiêu biến ASEAN thành một khu vực sản xuất cạnh tranh trên thịtrường thế giới, khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã chính thức đượcthành lập tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IV vào năm 1992 Một trongnhững bước quan trọng nhằm thực hiện được mục tiêu trên là tạo thuận lợi chothương mại nội khối thông qua việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuếquan giữa các quốc gia thành viên

Cơ chế chính để hình thành AFTA là Hiệp định về chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung (CEPT) Nghĩa vụ chính của các nước thành viên khitham gia Hiệp định này là thực hiện việc cắt giảm và xoá bỏ thuế quan theo một

lộ trình chung có tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và thời hạn thamgia của các nước thành viên Các nước ASEAN đã cam kết xoá bỏ hoàn toànthuế quan vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (gồm BruneiDarussalam, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan) và 2015

có linh hoạt đến 2018 đối với 4 nước thành viên mới (Lào, Campuchia,Myanmar và Việt Nam, viết tắt là CLMV) Ngoài ra, các nước ASEAN cũngquyết tâm xoá bỏ các rào cản phi quan thuế (hạn ngạch thuế quan, giấy phép…)bằng việc thống nhất một kế hoạch rà soát, phân loại và lên kế hoạch loại bỏ cácbiện pháp phi thuế quan có tính cản trở thương mại

1.2 NAFTA

a Khái quát về NAFTA

Hiệp định mậu dịchTự do Bắc Mỹ NAFTA (North America Free Trade

Agreement) là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ được thành lập ngày

12/8/1992 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1994, gồm có ba nướctham gia gồm Mỹ, Canada và Mexico

Chức năng: Giúp cho nền kinh tế của ba nước Mỹ, Canada và Mexico được

dễ dàng hơn, cụ thể là Mỹ và Canada dễ dàng chuyển giao công nghệ sangMexico và ngược lại Mexixo có thể dễ dàng chuyển giao nguồn lực sang hainước kia

Trang 3

b Tác động của NAFTA đối với các nước thành viên:

Tích cực:

-Tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế: sự di chuyển lớn vềvốn, công nghệ, quản lí,giảm thuế, tận dụng được các thế mạnh của các quốc gia giúp nâng cao năngsuất lao động, tạo tính cạnh tranh nên quyền lợi của người tiêu dùng được đảmbảo

-Thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên

.-Gia tăng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Tiêu cực:

-Hạn chế trong thỏa thuận

-Chênh lệch trình độ phát triển giữa các nước thành viên

-Vấn đề về độc lập tự chủ của các nước thành viên

-Sự hợp tác thống nhất giữa các nước thành viên chưa cao

Từ những vấn đề trên dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước thành viên trongtổchức

c Tác động của NAFTA đối với kinh tế thế giới:

Sự ra đời của NAFTA đã đặt ra một thách thức rất lớn cho các nước vì đây làthị trường tiêu thụ rất nhiều các mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước như ViệtNam, Thái Lan, khi NAFTA ra đời để bảo hộ sản xuất trong khối tổ chức đặt

ra các tiêu chuẩn về các mặt hàng xuất khẩu sang NAFTA rất cao, làmảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu của nhiều quốc gia và NAFTA có dân số lớn

vì vậy làm hạn chế thị trường của nhiều quốc gia

1.3 EU

a Khái quát về EU

Liên minh châu (EU) được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC) Có trụ sở chính đặt tạiBruc-xen.Với dân số khoảng 493 triệu người GDP khoảng: 13.000 tỷUSD(2006).Liên minh châu Âuđã phát triển một thị trường chung thông qua hệthống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảmbảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn EU duy trì cácchính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địaphương 16 nước thành viên đã chấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro, tạo nênkhu vực đồng Euro Liên minh châu Âu đã phát triển một vai trò nhất địnhtrong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thếgiới, G8, G-20 nền kinh tế lớn và Liên hiệp quốc

b Cơ cấu tổ chức và chức năng:

Trang 4

EU có các cơ quan chính: Nghị viện Châu Âu, Hội đồng bộ trưởng, Ủy banChâu Âu, Hội đồng Châu Âu, Ngân hàng Trung ương Châu Âu, Tòa án Công

lý Liên minh Châu Âuvà Tòa án Kiểm toán Châu Âu.Thẩm quyền xem xét vàsửa đổi hệ thống luật pháp của Liên minh Châu Âu-quyền lập pháp -thuộc vềNghị viện Châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng Quyền hành pháp được giao cho

Ủy ban Châu Âu và một bộ phẩn nhỏ thuộc về Hội đồng châu Âu Chính sáchtiền tệ của khu vực đồng tiền chung châu Âu được quyết định bởi Ngân hàngTrung ương Châu Âu Việc giải thích và áp dụng luật của Liên minh châu Âuvàcác điều ước quốc tế có liên quan - quyền tư pháp - được thực thi bởi Tòa ánCông lý Liên minh Châu Âu Ngoài ra còn có một số cơ quan nhỏ khác phụtrách tư vấn cho Liên minh Châu Âuhoặc hoạt độngriêng biệt trong các lĩnh vựcđặc thù

c Vai trò và tác động của liên minh Châu Âu:

Hơn 50 năm qua, EU đã không ngừng phát triển, đống 1 vai trò quan trọng tronghầu hết mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh đối với thế giới EUchiếm 37,7% giá trị xuất khẩu của thế giới.Tỷ trọng của EU trong xuất khẩu củathế giới và tỉ trọng xuất khẩu trong GDP của EU đều đứng đầu thế giới,vượt xaHoa Kì, Nhật Bản.Thị trường rộng lớn đặc biệt là các đang phát triển EU cónền kinh tế phát triển, trung tâm kinh tế, thương mại hàng đầu của thế giới.EUđang trong tiến trình mở rộng và nhất thể hóa châu Âu sẽ tạo ra 1 trung tâm kinh

tế lớn nhất thế giới, một khu vực thị trường đầy tiềm năng cho quá trình giao lưukinh tế thương mại giữa khu vực với các châu lục khác Hiện nay châu Âu vàHoa kỳ có ảnh hưởng rất lớn đến trật tự kinh tế quốc tế và chi phối xu hướngphát triển thương mại toàn cầu EU đang muốn thể hiện vai trò như một ngườilãnh đạo đối với các thành viên trong WTO do tầm quan trọng cuả EU trongthương mại và nền kinh tế thế giới

Chương II Khu vực thương mại tự do ASEAN

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN (AFTA)

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái

đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa

phương giữa các nước trong khối ASEAN

a Hoàn cảnh ra đời

Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môitrường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEANtrước nhứng thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kếtchặt chẽ và nỗ lực vủa toàn hiệp hội, những thách thức đó là:

Trang 5

- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặcbiệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEANngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũngnhư quốc tế.

- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khuvực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu

Âu của EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngạicho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này

- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộngrãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyênthiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và cácnước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòihỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầmhợp tác khu vực

Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan,Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập mộtKhu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)

b Quá trình phát triển :

Cơ chế chính để hình thành AFTA là Hiệp định về chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung (CEPT) Nghĩa vụ chính của các nước thành viên khitham gia Hiệp định này là thực hiện việc cắt giảm và xoá bỏ thuế quan theo một

lộ trình chung có tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và thời hạn thamgia của các nước thành viên Theo cam kết trong Hiệp định các nước thành viênphải giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5% trong vòng 10 năm Theo đó, các nướcASEAN 6 sẽ hoàn thành việc cắt giảm thuế quan xuống 0-5% vào 2003 và đốivới Việt Nam là 2006 Tuy nhiên, để theo kịp xu thế hội nhập khu vực và toàncầu hoá, các nước ASEAN đã cam kết xoá bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm

2010 đối với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (gồm Brunei Darussalam,Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan) và 2015 có linh hoạt

Trang 6

đến 2018 đối với 4 nước thành viên mới (Lào, Campuchia, Myanmar và ViệtNam, viết tắt là CLMV) Các nước ASEAN cũng đã cam kết đẩy nhanh tiếntrình hội nhập ASEAN đối vói 12 lĩnh vực ưu tiên gồm: gỗ, ôtô, cao su, dệt may,nông nghiệp, thuỷ sản, điện tử, công nghệ thông tin, y tế, vận tải hàng không, dulịch và dịch vụ logistics, theo đó thuế quan sẽ được xoá bỏ sớm hơn 3 năm, đó làvào năm 2007 đối với ASEAN 6 và 2012 đối với các nước CLMV.

Ngoài ra, các nước ASEAN cũng quyết tâm xoá bỏ các rào cản phi quan thuế(hạn ngạch thuế quan, giấy phép…) bằng việc thống nhất một kế hoạch rà soát,phân loại và lên kế hoạch loại bỏ các biện pháp phi thuế quan có tính cản trởthương mại

Bên cạnh nỗ lực xoá bỏ thuế quan và các rào cản phi quan thuế, xuất xứ cũng làmột yếu tố quan trọng được các nước ASEAN tập trung xây dựng những bộ quytắc mới, bổ sung cho quy tắc xuất xứ chung (hàm lượng 40%) của ASEAN Việcnới lỏng quy tắc xuất xứ được cho là biện pháp quan trọng để thúc đẩy thươngmại trong nội khối ASEAN

Năm 2015 ASEAN định hướng sẽ là một cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết

về kinh tế và chia sẻ trách nhiệm xã hội, dựa trên ba trụ cột vững chắc là Cộngđồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội,đồng thời tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò trung tâm và đóng góp tích cực củamình cho hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực

Trang 7

c Mục đích :

- Nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuấttrên thế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nướcngoài

- Củng cố và thúc đẩy tiến trình nhất thể hoá trong khu vực và đưa tới sự pháttriển năng động hơn nữa của mỗi thành viên

- Tự do hoá thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trongnội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan

- Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi,đặc biệt là việc phát triển của các thoả thuận thương mại khu vực (Regionaltrade arrangement - RTA) trên thế giới

2.2 ASEAN và các nước thành viên

a Một số thành công trong hoạt động của ASEAN

Từ khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A' (ASEAN) được thành lập năm 1967đến nay, hợp tác khu vực giữa các nước thành viên đã có những bước tiến bộđáng kể Các nước ASEAN đã xây dựng được những cơ chế hợp tác giữa họ vớinhau trên cơ sở song phương cũng như đa phương về các mặt kinh tế, chính trị -

an ninh, văn hoá xã hội, và các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành khác Sự hợp tácnhiều mặt trong cùng một tổ chức đã dần gắn bó, liên kết các nước thành viên lạivới nhau, từ đó góp phần củng cố và duy trì môi trường khu vực hoà bình, ổnđịnh, xây dựng ASEAN vững mạnh, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của mỗi nước thành viên

- Kinh tế các nước ASEAN đã luôn đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực trongsuốt những năm 70, 80 và đầu 90 Các nước thành viên cũng đạt được sự nhất trícao trong nhiều vấn đề khu vực và quốc tế, tạo thành một thế mạnh của tổ chứctrong quan hệ với các nước và khu vực khác ASEAN đã được đánh giá là tổchức hợp tác khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển, và trở thànhmột diễn viên ngày càng được biết đến trên sân khấu khu vực và quốc tế Tưcách thành viên của một tổ chức khu vực thành công, đại diện cho Đông Nam A'

đã làm tăng thêm vị trí và thế mạnh mặc cả của các nước ASEAN trong quan hệvới các nước khác

- Chính trị được đánh giá là mặt hợp tác thành công hơn cả của ASEAN trongnhững thập kỷ qua Và chính ở lĩnh vực này, vai trò của tổ chức đối với cácnước thành viên được thể hiện rõ rệt nhất Điều được thừa nhận rộng rãi về vaitrò của ASEAN đối với các nước thành viên trong 30 năm đầu tiên của ASEAN

là việc xử lý ổn thoả các mối bất đồng, tranh chấp giữa các nước thành viên,

Trang 8

không để dẫn đến xung đột, tạo điều kiện xây dựng một môi trường hoà bình, ổnđịnh và hợp tác giữa các nước thành viên để từ đó giúp họ thực hiện các mụctiêu phát triển kinh tế, và xây dựng một khu vực Đông Nam A' thống nhất, vữngmạnh trước các sức ép từ bên ngoài.

ASEAN bao gồm tất cả 10 nước Đông Nam A' tại Hội nghị cấp cao VI củaHiệp hội được tổ chức tại Hà Nội (12/1998), ASEAN đã bước vào giai đoạnphát triển mới mà khi đề cập đến các nước khu vực Đông Nam A' cũng có nghĩa

là đề cập đến các nước thành viên của ASEAN, và Hiệp hội cũng đứng trướcmột nhiệm vụ lớn lao là tiếp tục phát triển như thế nào trong thế kỷ tới, trướcnhững biến đổi nhanh chóng và sâu sắc của tình hình thế giới và khu vực Vị trí

và vai trò của ASEAN mở rộng ở khu vực và trên trường quốc tế sẽ phụ thuộcvào khả năng ASEAN giải quyết và khắc phục được những khó khăn và tháchthức đặt ra cho mỗi thành viên và toàn bộ tổ chức Có một thực tế trong hợp tácASEAN hiện nay đó là sự yếu kém và tụt lại sau của mỗi quốc gia thành viên sẽtác động đến toàn bộ những kế hoạch hợp tác của tổ chức, và sự hợp tác trongASEAN càng được đẩy cao thì sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước thành viên

sẽ ngày càng lớn hơn Điều đó một mặt sẽ củng cố sự cố kết của ASEAN, nhưngmặt khác nó cũng sẽ tạo ra những tác động đến các quốc gia - dân tộc là cácthành viên của tổ chức trên các vấn đề chủ quyền, sự đòi hỏi phải minh bạchhơn, và sự điều chỉnh giữa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực

- Tuy nhiên, một ASEAN 10 cũng mang lại nhiều lợi thế cho tổ chức và cácquốc gia thành viên như:

+ Với hơn 500 triệu dân và bao trùm cả khu vực Đông Nam A', ASEAN - 10 cótiếng nói và thế mặc cả lớn hơn với các lực lượng ngoài khu vực, củng cố thêmvai trò người cầm lái của ASEAN trong ARF Uy tín và vai trò được nâng caocủa tổ chức ngược lại cũng sẽ làm tăng thêm vị thế cho từng quốc gia thành viêntrong quan hệ đối ngoại của họ với bên ngoài

+ Với ASEAN mở rộng bao gồm tất cả 10 quốc gia Đông Nam A' trong tổ chức,hoà bình và an ninh khu vực được đảm bảo hơn Đối với bên ngoài, ASEAN làmột tổ chức hợp tác khu vực có tiềm năng mà các nước lớn phải tính đến, doASEAN đã tạo dựng được các cơ chế đối thoại chính thức và không chính thức,song phương và đa phương, từ mức độ thấp đến mức độ cao với đông đảo cácnước trong khu vực Châu A' - Thái Bình Dương và trên thế giới - những cơ chế

đã và đang góp phần duy trì và củng cố an ninh quốc gia và hoà bình khu vực.+ Quyết tâm mở rộng thương mại trong nội bộ Hiệp hội và sự tăng cường phốihợp các biện pháp đối phó với khủng hoảng hiện nay đã và đang thúc đẩy hơnnữa hợp tác trong khu vực, tạo điều kiện để tổ chức tiến tới một nhóm kinh tếvững mạnh trong khu vực Châu A' - Thái Bình Dương và là tiếng nói có trọnglượng trong APEC

Sau hơn 2 năm đối mặt với những khó khăn và hậu quả do cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ khu vực mang lại, sự hồi phục kinh tế hôm nay của hầu hết cácnước ASEAN đã hiện ra rõ nét hơn, trả lại cho ASEAN phần nào vẻ tươi tắn vàrạng rỡ, dần mang lại niềm tin, tuy chưa phải là hoàn toàn, vào sự hồi phục của

Trang 9

ASEAN, vào vai trò được củng cố của tổ chức ở Đông Nam A' và Châu A' Thái Bình Dương.

ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thươngmại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết

đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liênquan Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phảidành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dànhcho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà ASEAN

là một bên của thỏa thuận

Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực chung củaASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh,kiểm dịch đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viênASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC

b Một số hạn chế trong hoạt động của ASEAN

- Hợp tác kinh tế ASEAN tuy cũng được tăng cường và kinh tế từng nướcASEAN đều đạt mức tăng trưởng cao những thập kỷ qua, nhưng vai trò củaASEAN về mặt kinh tế đối với các nước thành viên vẫn chưa đáp ứng được vớinhững mong đợi chung Buôn bán nội bộ ASEAN đến nay mới chiếm gần 25%tổng buôn bán của cả Hiệp hội, còn lại hơn 75% là với bên ngoài Khả năng hợptác nội bộ hạn chế do cơ cấu các nền kinh tế và cơ cấu mặt hàng của các nướcthành viên gần giống nhau và họ đều phụ thuộc vào thị trường, đầu tư và côngnghệ từ bên ngoài Do đó, không chỉ buôn bán trong nội bộ Hiệp hội khó tăng,

mà đầu tư nội bộ cũng khó hy vọng đạt mức cao Hợp tác công nghệ cũng khókhăn do cơ sở khoa học công nghệ của các thành viên nhìn chung còn thấp vàyếu Liên kết khu vực vì vậy lỏng lẻo do các nước thành viên vẫn hướng nhiều

ra bên ngoài trong quan hệ kinh tế, thương mại và cả bảo đảm an ninh

Một số khó khăn trong hợp tác ASEAN được nêu ở trên đã làm bộc lộ nhữngđiểm hạn chế của vai trò ASEAN đối với các nước thành viên trong những tìnhhuống khủng hoảng sau này, như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997,tình hình khủng hoảng ở Inđônêxia và Đông Timo năm 1998, 1999 Cuộckhủng hoảng tài chính khu vực vừa qua đã cho thấy khả năng hạn chế củaASEAN trong việc giúp đỡ các nước thành viên gặp khó khăn và trong hợp tácchung để đối phó với khủng hoảng và với những vấn đề kinh tế có tính chất toàncầu Và khi khủng hoảng kinh tế lại kéo theo khủng hoảng chính trị, và lại liênquan đến trường hợp của nước lớn nhất trong tổ chức là In-đô-nê-xi-a thìASEAN đã bị bối rối một thời gian dài trước khi có những sáng kiến và biệnpháp hợp tác chung để khắc phục và ngăn ngừa những tình huống khủng hoảngtương tự trong tương lai như việc cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, tài trợcác dự án phát triển giáo dục, xoá đói giảm nghèo, thiết lập cơ chế cảnh báosớm, quỹ hỗ trợ một số nước trong khu vực có đồng tiền bị khủng hoảng

- Mở rộng cũng tạo ra một số thách thức:

Trang 10

+ Sẽ có thêm những vấn đề nội bộ phức tạp từ những vấn đề nội bộ của mỗiquốc gia thành viên cho đến quan hệ giữa họ với nhau và với các đối tác bênngoài khu vực.

+ Quá trình đi đến đồng thuận sẽ khó khăn hơn do sự đa dạng về các mặt củacác nước thành viên cũng như lợi ích của họ

+ Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên, nhữngquan điểm khác biệt trên một số vấn đề chính trị, an ninh sẽ tiếp tục ảnh hưởngđến hợp tác trong Hiệp hội trong những năm tới

+ Với một ASEAN mở rộng mà các nước thành viên có trình độ phát triểnchênh lệch nhau và thời gian hội nhập vào tổ chức cũng khác nhau thì việc tồntại một cách khách quan trong một thời gian 2 nhóm nước thành viên cũ và mới

là điều khó trách khỏi

- Nhiều nước ASEAN vẫn chưa sẵn sàng với cơ chế hợp tác đa phương do một

số nguyên nhân sau:

+ Thứ nhất, có thể thấy hầu hết các điều ước đa phương về tương trợ tư pháp cócác yêu cầu, mục đích, quy phạm dựa trên tiêu chí của nền tư pháp phát triển

Do đó, đối với một số nước ở khu vực Đông Nam á còn có khoảng cách nhấtđịnh, khiến cho nhiều nước còn e ngại tiếp cận

+ Thứ hai, mặc dù hoạt động tương trợ tư pháp là một trong những hoạt độnghợp tác được hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng đối với nhiềunước ASEAN thì vẫn còn mới mẻ Thời gian vừa qua hầu hết các nước trongkhối còn đang tập trung vào các hoạt động hợp tác về kinh tế, về an ninh khuvực, chống khủng bố quốc tế mà chưa thực sự chú trọng đến hoạt động hợp tác

về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại nên nhu cầu tham giavào cơ chế hợp tác đa phương về tư pháp quốc tế chưa thực sự bức xúc

+ Thứ ba, nhiều nước chưa sẵn sàng để tham gia vào các cơ chế hợp tác đaphương vì lo ngại phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý với số lượng lớn các quốc giathành viên, trong khi chưa có nhiều kinh nghiệm hợp tác trong lĩnh vực này

c Các giải pháp ASEAN đã thực hiện trong giải quyết thách thức

- Sau cuộc khủng hoảng, các nền kinh tế ASEAN sẽ dần hồi phục trở nên thíchứng và linh hoạt hơn với các điều kiện của quá trình toàn cầu hoá

- Dù tranh chấp và căng thẳng vẫn tồn tại trong nội bộ và trong quan hệ giữamột số nước ASEAN, nhưng các thành viên vẫn tiếp tục đề cao hợp tác và camkết với các cơ cấu hợp tác của tổ chức về kinh tế, chính trị và an ninh, cho thấyđoàn kết nội bộ vẫn được duy trì

- Các sáng kiến và biện pháp mới gần đây của ASEAN đề cao hợp tác chungASEAN và với các khu vực khác (Đông Bắc A', Nam A' và Nam Mỹ), ngoàiviệc cho thấy quyết tâm củng cố và tăng cường hợp tác khu vực của ASEANcòn nói lên sự năng động, sức bật mới và khả năng xây dựng vị thế của ASEAN

- Tuy bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, ASEAN vẫn chứng

tỏ là một tổ chức quan trọng ở khu vực Đông A' và Châu A' - Thái Bình Dương.Nếu ASEAN vẫn duy trì được sự đoàn kết nội bộ, vượt qua được cuộc khủng

Trang 11

hoảng và tiếp tục phát triển, khéo léo vận dụng mối quan hệ với các nước lớn vàgiữa các nước lớn , ASEAN sẽ tiếp tục phát huy được vai trò đại diện cho cácnước tầm nhỏ và trung, một lực lượng khó có thể bỏ qua được ở khu vực ĐôngA' và Châu A' - Thái Bình Dương cho dù trật tự quốc tế mới có thay đổi như thếnào.

=> Vị trí và vai trò của ASEAN trong khu vực những năm tới phụ thuộc rấtnhiều vào sự hồi phục kinh tế một cách bền vững của ASEAN và khả năng cạnhtranh của ASEAN ở khu vực Châu A' - Thái Bình Dương cả về chính trị, kinh

tế, thương mại và công nghệ Đẩy nhanh việc thực hiện AFTA, triển khai thựchiện Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) và chương trình hợp táccông nghiệp ASEAN (AICO) nhằm tăng cường và củng cố hơn nữa hợp táckinh tế ASEAN, giúp nâng cao vị trí của ASEAN trong APEC và trong WTO, lànhững ưu tiên trước mắt và lâu dài của ASEAN Tuy nhiên điều đó cũng cónghĩa là ASEAN cần phải đầu tư thích đáng hơn nữa vào phát triển công nghệ,đặc biệt là công nghệ thông tin, và phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện

"thế giới đang bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức", và

"khoảng cách giữa các nước chính là khoảng cách về tri thức" Đây là thách thứclớn cho khả năng cạnh tranh và vai trò của ASEAN trong khu vực và trên trườngquốc tế do khoa học và công nghệ của ASEAN còn yếu kém Theo xu thếchung, một số nước ASEAN như Singapore, Malaixia, Thái Lan và Inđônêxia

đã và đang có những kế hoạch phát triển mạnh công nghệ thông tin, đưa đấtnước đi vào nền kinh tế tri thức, các nước thành viên mới trong đó có Việt Namcũng đang tích cực chuẩn bị cho hướng phát triển mới này

Những thách thức mà ASEAN đang phải đối mặt hiện nay và trong những thậpniên tới mang tính toàn diện, bao gồm từ những lĩnh vực khoa học - công nghệcao đến các vấn đề an ninh vượt ra ngoài tư duy an ninh truyền thống Vị trí vàvai trò của ASEAN đối với khu vực ASEAN nói riêng và Châu A' - Thái BìnhDương nói chung sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng ASEAN xử lý và vượtqua những thách thức đó, mà nhiều vấn đề trong đó vượt cả khả năng giải quyếtcủa một quốc gia hay những quan hệ song phương Có thể thấy rằng chỉ những

nỗ lực hợp tác chung cùng những đóng góp tích cực của mỗi nước thành viênmới giúp ASEAN giải quyết được những vấn đề của chính họ và những tháchthức đặt ra cho vị trí và vai trò lớn hơn của tổ chức trong tương lai

Thực tiễn cho thấy ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực có sức sống mạnh

mẽ và khả năng thích ứng nhanh chóng với tiến trình hội nhập

2.3 ASEAN và cộng đồng kinh tế thế giới

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN trải qua quá trình hình thành vàphát triển hiện đã là trụ cột vững chắc của 10 quốc gia thành viên Và không chỉnâng tầm vị thế trong khu vực mà ASEAN còn vươn tầm xa hơn tới cộng đồngkinh tế ASEAN trên toàn cầu

a ASEAN +3

Ngày đăng: 30/12/2017, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w