1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)

97 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)Quy định của Tổ chức thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (LV thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUY ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

VỀ TRỢ CẤP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

VŨ PHƯƠNG NGA

Hà Nội - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUY ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

VỀ TRỢ CẤP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

Mã số: 60310106

Họ và tên: Vũ Phương Nga Người hướng dẫn Khoa học: PGS, TS Vũ Thị Thanh Xuân

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu của luận văn

Tác giả luận văn

Vũ Phương Nga

Trang 4

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, người thân trong gia đình và bạn bè đã hết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ TRỢ CẤP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 6

1.1 Lý luận chung về trợ cấp 6

1.1.1 Khái niệm trợ cấp 6

1.1.2 Phân loại trợ cấp 7

1.1.2.1.Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp: 7

1.1.2.2 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu 8

1.1.2.3 Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không thể đối kháng 9

1.1.3 Tác động của trợ cấp 11

1.1.3.1.Trợ cấp trong nước 11

1.1.3.2.Trợ cấp xuất khẩu 14

1.2 Quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp 16

1.2.1 Sự ra đời của Hiệp định trợ cấp nông nghiệp 16

1.2.2 Quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp 21

1.2.2.1.Quy định về các biện pháp hỗ trợ trong nước 22

1.2.2.2 Quy định về các biện pháp trợ cấp xuất khẩu 24

1.2.3 Vai trò của Hiệp định nông nghiệp của WTO 25

CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 28

2.1 Tổng quan về nền nông nghiệp Việt Nam 28

2.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Nam 28

2.1.2 Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam 38

2.2 Thực trạng trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam 42

2.2.1 Các biện pháp trợ cấp nông nghiệp Việt Nam sử dụng trước khi gia nhập WTO 42

Trang 6

2.2.2 Tình hình trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 54

2.2.2.1 Cam kết của Việt Nam thực thi các quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp 54

2.2.2.2 Tình hình sử dụng trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 55

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với chính sách hỗ trợ Nông nghiệp của Việt Nam so với quy định của WTO 67

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM CHO PHÙ HỢP VỚI TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 71

3.1 Xu hướng trợ cấp nông nghiệp trên thế giới 71

3.1.1 Chính sách trợ cấp của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 71

3.1.1.1 Chính sách trợ cấp của Hoa Kỳ 71

3.1.1.2 Chính sách trợ cấp của Trung Quốc 72

3.1.1.3 Bài học rút ra đối với Việt Nam 75

3.1.2 Xu hướng trợ cấp nông nghiệp trên thế giới 76

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam 77

3.2.1 Xây dựng chiến lược trợ cấp nông nghiệp sát với tình hình thực tiễn 77

3.2.2 Nâng cao lợi ích cho người nông dân trong chính sách trợ cấp 78

3.2.3 Tận dụng triệt để khả năng trợ cấp theo quy định WTO 79

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AOA Agreement on Agriculture - Hiệp định Nông nghiệp

DSB Dispute Settle Body - Cơ quan giải quyết tranh chấp

GATT General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về

thuế quan và mậu dịch NĐ-CP Nghị định chính phủ

NHTM Ngân hàng thương mại

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng vật nuôi giai đoạn 1995 - 2006 28

Bảng 2.2 Sản lượng chăn nuôi của Việt Nam trước khi gia nhập WTO 29

Bảng 2.3 Số lượng vật nuôi giai đoạn 2007 - 2015 30

Bảng 2.4 Sản lượng chăn nuôi của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 32

Bảng 2.5 Sản lượng lúa giai đoạn 1995 - 2006 33

Bảng 2.6 Sản lượng lúa giai đoạn 2007-2015 35

Bảng 2.7 So sánh sản lượng lúa trước và sau Việt Nam gia nhập WTO 36

Bảng 2.8 Tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam trước khi gia nhập WTO 38

Bảng 2.9 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2001-2006 39

Bảng 2.10 Trợ cấp xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam 48

Bảng 2.11 Danh mục mặt hàng nông sản vay vốn tín dụng xuất khẩu 50

Bảng 2.12 Một số chính sách nhằm trợ giá gạo trong nước sau khi gia nhập WTO 63

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Sản lượng cây có hạt từ 1995 - 2015 36

Hình 2.2 Sản lượng thủy sản từ 1995 - 2015 37

Hình 2.3 Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi nhập WTO 40

trước khi gia nhập WTO 48

Hình 2.4 Trợ cấp của Việt Nam cho công tác thủy lợi 58

Hình 2.5 Tình hình tín dụng ưu đãi được giải ngân hàng năm 60

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Luận văn đã tiến hành hệ thống hóa cơ sở lý luận về trợ cấp nông nghiệp, theo

đó, nội dung chính của chương 1 là đưa ra các khái niệm về trợ cấp, trợ cấp nông nghiệp, sự ra đời của Hiệp định nông nghiệp Tác giả cũng nêu lên những quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp mà các nước tham gia WTO phải cam kết thực hiện

Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm từ chính sách trợ cấp của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

Luận văn cũng đã phân tích thực trạng cam kết trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đồng thời đã nêu lên những chính sách trợ cấp nông nghiệp trước

và sau khi Việt Nam gia nhập WTO Trên cơ sở đó, tác giả cũng phân tích những hạn chế còn tồn tại trong chính sách trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam trong khuôn khổ tuân theo những quy định của WTO Nhìn chung, so với các quy định của WTO về cam kết trợ cấp nông nghiệp, thì các quy định của Việt Nam đều đáp ứng trong khuôn khổ, nhưng hiệu quả của các chính sách trợ cấp này chưa cao, điều này hạn chế đến việc phát triển nông nghiệp tại Việt Nam

Cuối cùng, dựa trên những hạn chế về chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam so với quy định của WTO, luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam trong chương 3

Theo đó, các giải pháp chính là xây dựng chiến lược trợ cấp nông nghiệp sát với tình hình thực tiễn; Nâng cao lợi ích cho người nông dân trong chính sách trợ cấp; Tận dụng triệt để khả năng trợ cấp theo quy định WTO

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức thương mại lớn với sự tham gia của nhiều nước, hoạt động theo các Hiệp định và quy tắc về kinh tế, thương mại v.v, trong đó các quy định về tổ chức và thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế chiếm một số lượng lớn Đặc biệt các quy tắc về nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của WTO, có thể nói rằng, nông nghiệp là một trong các trụ cột chính của WTO do tính phức tạp ảnh hưởng đến hàng tỷ nông dân và người tiêu dùng trên toàn thế giới Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông nghiệp cũng như các đánh giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông nghiệp quốc gia các nước, trong

đó có Việt Nam

Việt Nam là một đất nước nghèo với nền kinh tế nông nghiệp là nền tảng, trong những năm gần đây, dù là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản, nhưng đời sống của nông dân vẫn còn thấp Mặc dù giai đoạn hiện nay, với sự

cố gắng hiện đại hóa - cơ giới hóa ngành nông nghiệp nhưng nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam chưa hệ thống, năng suất còn kém và phát triển thiếu tính bền vững Năm 2007, khi Việt Nam là thành viên của WTO, ngành nông nghiệp Việt Nam

có nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng gặp nhiều thách thức Những thách thức lớn đó là khả năng cạnh tranh thấp, hay phải đương đầu với trợ cấp xuất khẩu của các nước giàu, năng lực của Việt Nam thực thi các điều khoản cam kết, việc cắt giảm thuế quan và các trợ cấp nông nghiệp, việc Việt Nam không được tiếp cận đối với cơ chế tự vệ đặc biệt cho các sản phẩm chăn nuôi v.v Đồng thời, là một nước nghèo, lạc hậu, khó có thể có sự phù hợp hoàn toàn giữa thực trạng nền kinh tế đất nước với những quy định trợ cấp từ phía WTO

Tính đến thời điểm này, năm 2017, Việt Nam đã gia nhập WTO được 10 năm, nhưng những chính sách trợ cấp của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như mức trợ cấp nông nghiệp còn thấp, chưa tận dụng được hết giới hạn trợ cấp nông nghiệp theo quy định WTO v.v thì khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng thì vấn đề đặt ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam làm sao có thể tránh được những thua thiệt trong việc thực

Trang 11

hiện các cam kết và đảm bảo được các điều kiện nhận trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp càng trở nên cần thiết

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quy định của Tổ chức

thương mại thế giới về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Lê Văn Lam (2013), Xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam theo các quy định của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Luận án tiến sỹ - ĐH Quốc Gia

Hà Nội

Luận án đã nghiên cứu về các quy định của tổ chức thương mại thế giới (WTO)

và trên cơ sở đó, đưa ra những điểm phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, phân tích thực trạng những chính sách trợ cấp của Việt Nam và từ đó đề xuất những quan điểm, định hướng cũng như giải pháp Xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam

- Trần Văn Hinh (2014), Tác động của các quy định trợ cấp nông nghiệp của

WTO đến Việt Nam, tham luận Tạp chí Đầu tư, số 6 ngày 2/5/2014

Bài viết tổng quan những nét chính của các quy định trợ cấp nông nghiệp của WTO và nêu ra những ảnh hưởng rõ nhất của các quy định này đến Việt Nam, đưa

ra những thay đổi trong chính sách nông nghiệp của Việt Nam Bài viết cũng cho những đánh giá và định hướng trong việc xây dựng, điều chỉnh những chính sách của Việt Nam đối với lĩnh vực nông nghiệp để có lợi nhất cho người nông dân

-Lê Quốc Phong (2012), Quy định trong hiệp định nông nghiệp của GATT/WTO về trợ cấp nông sản, luận văn thạc sỹ, Đại học Nông Nghiệp

Luận văn đã hệ thống hóa và nghiên cứu quy định trợ cấp nông nghiệp của GATT/WTO và đưa ra những cơ hội, thách thức đối với nền nông nghiệp Việt Nam, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp cho Việt Nam trong việc làm sao

để có thể thích nghi, phù hợp với các quy định nhằm giúp người nông dân hưởng lợi nhất

Kohr, Martin (2002), “WTO: Những mối đe dọa mới đối các nước đang phát

triển và tính bền vững”, Motion Magazine

Trang 12

Nội dung của bản tham luận được tác giả phân tích tác động của WTO đến các nước phát triển, trong đó có nội dung phân tích đến tác động ngành nông nghiệp của các nước này thông qua quy định trợ cấp nông nghiệp của WTO Bài viết đưa ra những đánh giá về khó khăn, cơ hội, thách thức và những yếu tố để có thể phát triển kinh tế các nước đang phát triển nói chung, và ngành nông nghiệp các nước này nói riêng trong quá trình hội nhập một cách bền vững, hiệu quả

Ingco, Merlinda D (1997) “Tự do hóa thương mại nông sản có cải thiện phúc

lợi ở các nước kém phát triển nhất? Có” Tài liệu nghiên cứu chính sách 1748,

Washington DC, Ngân hàng Thế giới

Bài viết giải quyết vấn đề về tự do hóa thương mại nông sản đến khả năng phúc lợi của các nước đang phát triển Trong quá trình phân tích vấn đề, tác giả đề cập đến những quy định phải tuân theo khi muốn tham gia tự do hóa thương mại, mà

cụ thể là việc các quốc gia gia nhập WTO, theo đó các nước phải tuân theo các quy định của WTO trong đó có quy định về trợ cấp nông nghiệp Tác giả dẫn dắt vấn đề

từ việc tuân theo các quy định đó, đến khả năng phát triển nông nghiệp và nền kinh

tế các nước, trên cơ sở giá trị tăng thêm của nền kinh tế, sẽ là tiền đề để cải thiện phúc lợi tại các nước đó

Feeman, F.J.Melanie, I.Roberts (2009), Tác động của tự do hóa thương mại

nông sản đối với các nước đang phát triển khi gia nhập WTO, Báo cáo nghiên cứu

của ABARE 2009

Nhóm tác giả đã phân tích tác động của việc tự do thương mại nông sản đối với các nước đang phát triển, theo đó cũng đề cập những quy định mà các nước này phải tuân theo để có thể đẩy mạnh tự do hóa thương mại khi gia nhập WTO Theo

đó, các nội dung phân tích tập trung ở tác động mà WTO mang lại, những quy định của ngành nông nghiệp khi gia nhập WTO và những giải pháp nhằm tận dụng những

cơ hội WTO đem lại trong phát triển nông nghiệp, trong đó có xây dựng chính sách trợ cấp nông nghiệp

Ngoài ra, cũng có rất nhiều những nghiên cứu khác về quy định này của WTO nữa như các bài tham luận, các bài báo, nghiên cứu, tạp chí hay các ấn phẩm của Bộ Nông Nghiệp, của tổ chức WTO hay của các ban ngành liên quan

Trang 13

Điểm mới nghiên cứu của đề tài: Tuy đã có nhiều nghiên cứu về trợ cấp nông

nghiệp của WTO, nhưng thời gian thực hiện là trước năm 2015 Trong khi đó, vấn đề trợ cấp nông nghiệp của WTO lại trở nên nóng bỏng khi ngày 19 tháng 12 năm 2015, tại Hội nghị bộ trưởng lần thứ 10 tổ chức tại Nairobi - Kenya, 162 thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đạt được một thỏa thuận mang tính chất đột phá về loại

bỏ trợ giá đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu Thỏa thuận này được các quốc gia thành viên coi là một đột phá lớn của WTO đối với lĩnh vực nông nghiệp Điều này

mở ra nhiều vấn đề mới trong vấn đề trợ cấp nông nghiệp WTO với Việt Nam, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu từ sau khi thỏa thuận Nairobi được thực hiện Do đó,

đề tài mang tính cập nhật về vấn đề trợ cấp nông nghiệp WTO mà các đề tài trước chưa có

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về trợ cấp, quy định của WTO về trợ cấp trong thương mại nông sản, mục tiêu chính của luận văn là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện quy định của WTO của Việt Nam cho phù hợp với tình hình thực tế, giúp nông sản Việt ngày càng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và việc thực thi các cam kết của Việt Nam về cắt giảm trợ cấp nông nghiệp khi gia nhập WTO

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu chính sách trợ cấp nông nghiệp tại Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Từ năm 2007 (sau khi gia nhập WTO)

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên sự kết hợp của các phương pháp: thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu và luận giải Thông tin thứ cấp được sử dụng dựa trên các nghiên cứu, bài viết, báo cáo, thống kê của Việt Nam và nước ngoài

6 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Lý luận chung về trợ cấp và quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp

Chương 2: Thực trạng trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam

Chương 3: Giải pháp đổi mới chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam cho phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 15

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO

VỀ TRỢ CẤP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

1.1 Lý luận chung về trợ cấp

1.1.1 Khái niệm trợ cấp

Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chính phủ về kinh tế - xã hội - chính trị, v.v.Tuy vậy, việc đi đến một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả (Lê Tuyết Anh 2013, tr 21)

Tùy theo mục đích mà định nghĩa trợ cấp có thể rộng hay hẹp Chẳng hạn, định nghĩa rất hẹp về trợ cấp có thể chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp cấp tiền trực tiếp này Do đó, có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau

Tuy nhiên, định nghĩa rộng hơn về trợ cấp lại cũng có những điểm yếu riêng như bao trùm cả ảnh hưởng do các hoạt động của Chính phủ vào phạm vi định nghĩa, dẫn tới việc đánh đồng nhiều hoạt động của chính phủ cũng mang tính chất của một biện pháp trợ cấp Ví dụ như bảo hiểm thất nghiệp có thể bị coi là trợ cấp gián tiếp cho một số ngành nghề nhất định mang tính thời vụ hoặc chu kỳ Hay chi phí của chính phủ cho các hàng hóa công cộng như tư pháp, an ninh, giáo dục, đường sá, quốc phòng,.v.v cũng có thể bị xem là trợ cấp

Theo định nghĩa của Từ điển Oxford dành cho giới kinh doanh (nhà xuất bản Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa

ế và tránh tạo ra thất nghiệp,v.v Nhìn chung, trợ cấp gây bóp méo thương mại quốc

tế và không phổ biến nhưng đôi khi vẫn được các chính phủ sử dụng để giúp tạo dựng một ngành sản xuất mới trong nước” (Lê Tuyết Anh 2013, tr 21)

Trang 16

Như vậy trợ cấp của Chính phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn thu ngân sách của chính phủ cho một số đối tượng Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xóa nợ, hoàn hoặc miễn thuế Trong một số trường hợp khác, chính phủ không nhất thiết phải trích từ nguồn ngân sách của mình để trợ cấp mà có thể thông qua công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá

Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất:

- Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

- Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

- Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng

hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại v.v bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường)

1.1.2 Phân loại trợ cấp

1.1.2.1.Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp:

Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia trợ cấp thành trợ cấp nông nghiệp

và trợ cấp phi nông nghiệp

Theo cách hiểu thông thường, trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp cho nông dân trồng lúa, trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp; thưởng theo kim ngạch xuất khẩu nông sản; áp dụng cước phí

vận tải ưu đăi với nông sản xuất khẩu; v.v (Trần Ngọc Ca 2006, tr 27)

Trang 17

Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi với sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa; áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi với các dự án phát triển sản phẩm công nghiệp trọng điểm v.v

Các hiệp định của WTO cũng tạm chia ra điều chỉnh trợ cấp theo: trợ cấp nông nghiệp (gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông sản), trợ cấp phi nông sản Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) tạm thời được hiểu là chỉ điều chỉnh về trợ cấp phi nông sản (tức là các sản phẩm ngoài phạm vi Hiệp định nông nghiệp) ( Nguyễn Ngọc An 2012, tr 14)

1.1.2.2 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Trợ cấp trong nước được hiểu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước, hay nói cách khác, hàng hoá được trợ cấp phải là hàng hoá được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhả sản xuất Doanh nghiệp được trợ cấp không nhất thiết phải là doanh nghiệp 100 % vốn trong nước Ví dụ chính phủ cung ứng điện với giá thấp cho ngành sản xuất phân bón trong nước (gồm cả DN 100 % vốn trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghệp liên doanh) Tuy nhiên, trợ cấp trong nước có thể có tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được xuất khẩu Trong trường hợp đó, trợ cấp trong nước của một nước sẽ được nhìn nhận như một dạng “trợ cấp xuất khẩu” dưới góc

độ của nước nhập khẩu hàng hoá được trợ cấp Như vậy, tuy rằng mục đích thực chất ban đầu của trợ cấp này không nhằm khuyến khích xuất khẩu nhưng ảnh hưởng hay tác động của trợ cấp đối với những sản phẩm được xuất khẩu lại giống với trợ cấp xuất khẩu và do vậy mà có thể bị các nước nhập khẩu đánh thuế chống trợ cấp (Lê Tuyết Anh 2013, tr 21)

Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh sản xuất Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hoá xuất khẩu thực sự

Trang 18

hoặc dự kiến xuất khẩu Ví dụ: chương trình thưởng xuất khẩu của chính phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được Tuy nhiên, việc chính phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu ( Nguyễn Thị Hải Yến 2008, tr 16)

1.1.2.3 Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không thể đối kháng

Thứ nhất là trợ cấp bị cấm

Trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện cá biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện cá biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại Trợ cấp bị cấm là đối tượng của những vụ kiện giải quyết tranh chấp Điểm nổi bật là lịch trình giải quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) nhanh gọn, và nếu cơ quan này nhận thấy rằng khoản trợ cấp này là trợ cấp bị cấm, ngay lập tức phải thu hồi lệnh trợ cấp Nếu phán quyết không được thực hiện trong thời gian quy định, thành viên khiếu nại được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa (Lê Tuyết Anh 2013, tr 24)

Như vậy, tóm lại trợ cấp bị cấm bao gồm:

+ Trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn mức

mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu v.v); hoặc

+ Trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu

Đây là những hình thức trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm

áp dụng

Thứ hai, là trợ cấp có thể đối kháng

Hiệp định quy định rằng không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương

Trang 19

hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) 1994 (đặc biệt là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác “Thiệt hại nghiêm trọng” sẽ được xem là tồn tại trong trường hợp tổng trị giá trợ cấp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5% Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp

đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối kháng có thể đưa tranh chấp này lên

cơ quan giải quyết tranh chấp Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa

ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động tiêu cực này

Như vậy, trợ cấp có thể đối kháng bao gồm tất cả các loại trợ cấp có tính cá biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh) Các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức trợ cấp này nhưng nếu gây thiệt hại cho nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì có thể bị kiện ra WTO

Loại thứ 3, là trợ cấp không thể đối kháng:

Là loại trợ cấp có thể là trợ cấp không mang tính chất cá biệt hoặc mang tính chất cá biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên đó có thể yêu cầu đưa ra phán quyết và khuyến cáo

về vấn đề này (Lê Tuyết Anh 2013, tr.24)

Tóm lại, trợ cấp không thể đối kháng: Tức là các loại trợ cấp không hướng tới một (một nhóm) doanh nghiệp/ngành/khu vực địa lý nào Tiêu chí để hưởng trợ cấp

là khách quan; không cho cơ quan có thẩm quyền cấp khả năng tùy tiện xem xét và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng đối với bất kỳ đối tượng nào; hoặc các trợ cấp sau (dù cá biệt hay không cá biệt):

Trang 20

+ Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành (với một số điều kiện về loại trợ cấp và mức trợ cấp cụ thể);

+ Trợ cấp cho các khu vực khó khăn (với các tiêu chí xác định cụ thể về mức thu nhập bình quân hoặc tỷ lệ thất nghiệp)

+ Trợ cấp để hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới

Các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức này mà không bị thành viên khác khiếu kiện (tức là loại trợ cấp được phép vô điều kiện)

+ Bảo hộ sản xuất nội địa: Chính phủ có thể trợ cấp trực tiếp cho nhả sản xuất hoặc trợ cấp gián tiếp thông qua đầu vào cho nhả sản xuất Với mọi hình thức trợ cấp lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong những ngành được trợ cấp luôn được cải thiện và nâng cao Chẳng những có thể ngăn cản, hạn chế hàng nhập khẩu, trợ cấp sản xuất nội địa đồng thời còn có thể khiến cho cam kết ràng buộc thuế quan trong khuôn khổ WTO mất tác dụng, duy trì bảo hộ sản xuất nội địa

+ Hỗ trợ những ngành công nghiệp non trẻ: Đối với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn nhỏ bé về quy mô, yếu kém về năng lực cạnh tranh thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh mở rộng quy mô, góp phần khởi động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành Đối với những công ty mới gia nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chi phí rất cao trong thời gian đầu, khó cạnh tranh nổi những

Trang 21

công ty thành lập trước đã trụ vững trên thị trường thì hỗ trợ của chính phủ có thể bù đắp cho những khoản thua lỗ phát sinh trong những năm đầu, đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định

+ Duy trì ổn định công ăn việc làm: Trợ cấp giúp hạn chế thất nghiệp, đảm bảo trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt là những khoản trợ cấp dành cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản Sự hỗ trợ của chính phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩy các doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghi và cạnh tranh trong thời

kỳ quá độ do những khó khăn mà môi trường thương mại quốc tế tạo ra

+ Khuyến khích ngành sản xuất kém sức cạnh tranh giảm công suất dư thừa hoặc rút khỏi những lĩnh vực hoạt động không hiệu quả hoặc không sinh lợi Nhờ đó, quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động được diễn ra suôn

sẻ hơn, góp phần thúc đẩy phân bổ nguồn lực thích hợp, hiệu quả và khuyến khích nhập khẩu sản phẩm cạnh tranh từ bên ngoài thay vì tự cố gắng sản xuất và cung cấp những sản phẩm kém cạnh tranh với chi phí đầu tư tốn kém

Trợ cấp một ngành nhất định có thể có tác động ngược chiều đến các ngành khác trong nền kinh tế Nếu chính phủ chọn đúng ngành cần được trợ cấp, theo nguyên lý hiệu ứng lan truyền tích cực, trợ cấp sẽ có khả năng tạo ra hiệu ứng tích cực theo dây chuyền Chẳng hạn khi chính phủ trợ cấp cho ngành xi măng thì các ngành xây dựng cơ sở hạ tầng cũng có điều kiện phát triển Như vậy, lợi ích của trợ cấp có thể lan rộng sang cho các ngành khác ngoài chính bản thân ngành được trợ cấp Trợ cấp trong nước còn mang lại lợi ích cho người tiêu dùng vì người tiêu dùng

sử dụng sản phẩm được trợ cấp có lợi do giá sản phẩm giảm xuống

*Tác động tiêu cực

Ngoài những tác động tích cực nêu trên cho nước tiến hành trợ cấp trong nước, trợ cấp trong nước còn mang lại những tác động tiêu cực như sau:

Một là, đối với nước tiến hành trợ cấp

Xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, trợ cấp ngăn cản sự phân bổ tối ưu hiệu quả các nguồn lực quốc gia Trợ cấp cho một hoặc một số ngành nhất định sẽ hạn chế khả năng được nhà nước hỗ trợ của các ngành, đối tượng khác vì ngân sách nhà nước

Trang 22

và nguồn lực xã hội có giới hạn Việc chính phủ quyết định hỗ trợ cho ngành sản xuất trong nước “thay thuế nhập khẩu” có thể dẫn tới xu hướng vốn đầu tư và nguồn lực trong xã hội đổ xô vào ngành đó Thậm chí ngày cả nguồn lực trong các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu có thể bị thu hút chuyển sang phục vụ ngành sản xuất nội địa

Về lâu dài, tình trạng này dẫn đến cung vượt cầu trên thị trường Hậu quả tất yếu là

hàng loạt doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh bị thua lỗ và đào thải Nền kinh tế-xã hội bị tổn thất, đồng thời mục đích mong muốn của việc trợ cấp cũng không đạt được (Trần Ngọc Ca 2006, tr 20)

Trợ cấp cho một ngành sản xuất nhất định cũng có thể tạo ra gánh nặng cho những ngành khác Chi phí cho các yếu tố sản xuất của các ngành khác (vốn đã chịu

sự bất lợi về mặt chiến lược) sẽ bị tăng lên khi ngành sản xuất được trợ cấp ngày một phát triển với quy mô, sản lượng sản xuất ngày một tăng và thu hút các chi phí sản xuất nội địa cao sẽ gia tăng vì sản xuất trong nước đã trở nên kém cạnh tranh Như vậy, ưu đãi dành cho một hoặc một nhóm nhà sản xuất này lại có ảnh hưởng giống như một khoản thuế đánh lên những nhà sản xuất khác Lợi ích thu được nhờ việc hỗ trợ một ngành nhất định không chắc sẽ bù đắp cho tổn thất mà những ngành khác phải gánh chịu

Về phía chính phủ, trợ cấp trong mọi trường hợp đều có ảnh hưởng bất lợi cho

ngân sách nhà nước, cho dù ảnh hưởng bất lợi đó thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, có thể kê khai được hay không kê khai được thành một khoản chi ngân sách cụ thể

Hai là, đối với các nước khác:

Trợ cấp trong nước của nước này có thể gây tổn hại đến lợi ích xuất khẩu của nước khác Nếu trợ cấp của một nước giúp bảo bộ hoặc nâng cao sức cạnh tranh của ngành sản xuất trong nước thì hiển nhiên gây bất lợi cho nước khác như ngăn cản nhập khẩu sản phẩm tương tự từ các nước khác vào thị trường nước áp dụng trợ cấp, làm vô hiệu hóa hoặc làm giảm tác dụng các cam kết ràng buộc thuế quan của nước trợ cấp Tác động bất lợi đối với sản phẩm của một nước xuất khẩu vào thị trường nước tiến hành trợ cấp sản xuất trong nước tồn tại khi:

+ Sản phẩm nhập khẩu bị hạn chế hoặc đẩy lùi (mất thị phần) trên thị trường nước nhập khẩu (nước trợ cấp) Biểu hiện cụ thể của tình trạng này là sự thay đổi thị

Trang 23

phần theo hướng bất lợi cho sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh không được trợ cấp như:

có sự gia tăng thị phần của sản phẩm được trợ cấp; thị phần của sản phẩm được trợ cấp vẫn giữ nguyên không đổi, trong khi nếu không có trợ cấp thì thị phần này chắc chắn sẽ suy giảm; thị phần của sản phẩm được trợ cấp bị thu hẹp nhưng với tốc độ giảm chậm hem so với trường hợp không được trợ cấp

+ Giá của sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh tại thị trường nước nhập khẩu (nước trợ cấp) bị “làm đắt lên một cách tương đối” so với giá của sản phẩm được trợ cấp,

vì giá của sản phẩm trong nước nhập khẩu trước cắt giảm so với trước nhờ có khoản trợ cấp của chính phủ trong khi giá của sản phẩm nhập khẩu gần như không đổi

+ Lợi ích mà nước xuất khẩu trông đợi được hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ cam kết ràng buộc thuế quan của nước nhập khẩu trong khuôn khổ WTO bị vô hiệu hoá hoặc bị suy giảm Chẳng hạn như nước nhập khẩu cam kết ràng buộc thuế quan

ở mức 10% với sản phẩm màn hình máy tính Với mức thuế nhập khẩu này, nước xuất khẩu màn hình máy tính có thể trông đợi mỗi năm sẽ xuất khẩu được 200.000 sản phẩm vào thị trường nước nhập khẩu Nếu nước nhập khẩu áp dựng trợ cấp với sản phẩm màn hình sản xuất nội địa, dù thuế nhập khẩu không thay đổi nhưng lượng sản phẩm nhà nước xuất khẩu có thể xuất vào thị trường nước nhập khẩu (nước trợ cấp) khi đó sẽ không đạt mức trông đợi bình thường là 200.000 sản phẩm như trước nữa do nước nhập khẩu tiến hành bảo hộ dân xuất nội địa Trong trường hợp này, lợi ích mà nước xuất khẩu đáng ra được hưởng từ cam kết ràng buộc thuế quan của nước nhập khẩu đã bị trợ cấp của nước nhập khẩu không chỉ làm mất tác dụng mà còn bị suy giảm (Trần Ngọc Ca 2006, tr.22)

1.1.3.2.Trợ cấp xuất khẩu

*Tác động tích cực

Các nước áp dụng trợ cấp xuất khẩu để đảm bảo công ăn việc làm, hay để hỗ trợ vùng khó khăn, v.v Ngoài ra, trợ cấp xuất khẩu nhằm mục đích đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu

Bởi, trợ cấp xuất khẩu có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, từ thưởng theo kim ngạch xuất khẩu đến cho vay với lãi suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu hay

áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với ngành nghề xuất khẩu

Trang 24

v.v Theo đó, các doanh nghiệp nhận trợ cấp xuất khẩu sẽ chịu ít chi phí lãi vay hơn, chịu ít thuế thu nhập doanh nghiệp hơn, góp phần gia tăng lợi nhuận và kích thích

mở rộng quy mô hoạt động Thêm vào đó, lãi vay thấp hơn, giá thành sẽ giảm tạo lợi thế cạnh tranh về giá trên thị trường đối với những sản phẩm nông sản xuất khẩu

*Tác động tiêu cực

Tác động tổng thể của trợ cấp xuất khẩu đối với nước trợ cấp không phải lúc nào cũng tích cực Bản chất của trợ cấp là làm lợi cho một đối tượng nhất định cũng đồng nghĩa với việc làm giảm lợi ích hoặc gây tổn hại đến lợi ích của đối tượng khác

Do vậy, trong khi các nhà xuất khẩu có thể gia tăng xuất khẩu hàng hoá thì người tiêu dùng trong nước phải chấp nhận mua cùng loại hàng hoá đó tại thị trường nội địa với giá cao và lượng hàng hóa tiêu thụ tại thị trường trong nước cũng bị giảm sút

Nhiều trường hợp, lợi ích do tăng xuất khẩu khi tiến hành trợ cấp xuất khẩu thậm chí còn không đủ để bù đắp cho những tổn phí liên quan đến trợ cấp của Nhà

nước, về khía cạnh kinh tế, trong những trường hợp như vậy, rõ ràng trợ cấp là một

chính sách phi kinh tế của nước xuất khẩu, vừa thiệt hại cho ngân sách lại vừa không đạt được mục tiêu mong muốn

Hơn nữa, nhiều nhà kinh tế cho rằng để thực hiện mục tiêu tăng xuất khẩu, cần chú trọng đầu tư hỗ trợ từ gốc, tức là nâng cao sức cạnh tranh của tự thân hàng hóa bằng chất lượng, v.v hơn là hỗ trợ “ngọn” theo kiểu trợ cấp xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu chắc chắn không phải là một biện pháp chính sách mang lợi ích bền vững Trên thực tế, các nước hầu như không thể theo đuổi trợ cấp xuất khẩu lâu dài vì ngân sách hạn hẹp của chính phủ không thể kham nỗi các khoản chi (cũng như bỏ qua những khoản đáng ra phải thu) mang tính dài hạn

Dưới góc độ tác động xã hội, trợ cấp xuất khẩu có thể kéo theo nhiều hiện tượng như khai khống, khai man lượng xuất khẩu hoặc cố tình quay vòng lô hàng xuất khẩu để được hưởng trợ cấp, tạo cơ hội cho hoạt động vận động phát triển khi trợ cấp mang tính phân biệt đối xử, tức là chỉ dành cho một hoặc một số đối tượng, sản phẩm hay địa phương nhất định

Ngoài ra, các trợ cấp xuất khẩu được sử dụng như một phần của chính sách

“làm nghèo hàng xóm”, bóp méo hoạt động thương mại cuối cùng có thể gây ra hành

Trang 25

động trả thù của nước láng giềng và dẫn tới “chiến tranh trợ cấp" Bởi vì, trợ cấp xuất khẩu của một nước làm cho hàng xuất khẩu của nước đó sang nước khác (nước nhập khẩu) có lợi thế cạnh tranh hơn Ngành sản xuất sản phẩm tương tư với sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp sẽ gặp khó khăn do bị tăng áp lực cạnh tranh, thậm chí có thể bị thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ bị thiệt hại vật chất Trợ cấp xuất khẩu còn ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường này Hơn nữa, với lợi thế cạnh tranh “thiếu công bằng” nhờ trợ cấp, chẳng hạn có thể chủ động cắt giảm giá xuống mức rất thấp, hàng xuất khẩu của nước trợ cấp có thể đẩy lùi các nước cạnh tranh trên thị trường nước khác và chiếm được “thị phần vượt mức hợp lý trong thương mại xuất khẩu thế giới” khiến cho lợi ích thương mại của các nước xuất khẩu cạnh tranh khác bị tổn hại Hậu quả dễ thấy do trợ cấp xuất khẩu của một nước là gây tổn hại đế ngành sản xuất sản phẩm tương tự của không chỉ nước nhập khẩu sản phẩm được trợ cấp mà cả nước xuất khẩu sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm được trợ cấp trên thị trường nước nhập khẩu (Phạm Vân Đình 2012, tr 56)

Như vậy, sử dụng biện pháp trợ cấp xuất khẩu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương mại của các mặt hàng liên quan và ảnh hưởng tới thương mại thế giới Do vậy, việc sử dụng trợ cấp xuất khẩu không hợp lý dễ bị các nước áp dụng các biện pháp đối kháng

1.2 Quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp

1.2.1 Sự ra đời của Hiệp định trợ cấp nông nghiệp

Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và gây ra nhiều tranh cãi trong vòng đàm phán Uruguay Trong lĩnh vực tồn tại ba quan điểm của ba nhóm nước gồm nhóm các nước xuất khẩu, nhóm các nước nhập khẩu và nhóm trung gian là những nước tự túc được lương thực và tuỳ theo từng hoàn cảnh có thể trở thành nước xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một loại nông sản nhất định Hàng nông sản trong phần này tập trung vào bốn nhóm chính: ngũ cốc gồm lúa mạch, mỳ, gạo, hạt thô (ngô); hạt có dầu và sản phẩm từ hạt có dầu; sữa và các sản phẩm của sữa; thịt và các sản phẩm thịt; và đường (Lê Quốc Phong 2012, tr.34) Đây cũng là những mặt hàng nông sản có khối lượng thương mại lớn trên thế giới Hầu hết các nước đang phát triển đều thuộc nhóm nước nhập khẩu nông sản hoặc thuộc nhóm thứ ba là những nước tự túc

Trang 26

được lương thực và tham gia xuất khẩu một vài mặt hàng nông sản nhất định Có rất

ít các nước đang phát triển là nước xuất khẩu chính tất cả 4 nhóm hàng nông sản trên Mặc dù ít nước đang phát triển có thể là những nước xuất khẩu chính về tất cả bốn nhóm hàng nông sản nói trên, những mặt hàng nông sản có thế mạnh của từng nước đang phát triển được xuất khẩu đều là những mặt hàng có tính sống còn với họ (Lê Quốc Phong 2012, tr 35)

- Những nhân tố chính thúc đẩy đàm phán Hiệp định nông nghiệp

Gánh nặng tài chính ngày càng gia tăng đối với các chính sách hỗ trợ nông nghiệp ở các nước phát triển khiến nước này muốn thúc đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện Hiệp định nông nghiệp Cung vượt quá cầu trong nông nghiệp đã làm cho giá

cả nông sản trên thế giới sụt giảm, gây sức ép ngày càng lớn với việc tăng cường sự

hỗ trợ trong nước cho nông dân các nước phát triển (Lê Quốc Phong 2012, tr 35)

Về cầu: Có bốn yếu tố chính cần phải tính đến gồm: tốc độ tăng dân số, mức

độ mà các nước có thể tự túc sản xuất được lương thực, mức sống của người dân thể hiện qua thu nhập và điều kiện khí hậu tự nhiên Tốc độ tăng dân số cao, thu nhập đầu người thấp cộng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt sẽ khiến một quốc gia không thể tự túc được lương thực và buộc phải nhập khẩu và ngược lại Đối với thị trường nhập khẩu của các nước phát triển, nếu xét theo trên cả bốn yếu tố trên sẽ thấy thị trường nhập khẩu nông sản của những nước này có xu hướng giảm

Theo kinh tế học, yếu tố thu nhập có ảnh hưởng nhiều hơn tới mức cầu trong nước, hay còn gọi là quy luật biến đổi theo thu nhập Những biến động trước mắt về thu nhập sẽ khiến cầu biến động theo một cách tương đối Tuy nhiên, trong lâu dài thì quy luật này không có tác dụng Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với các nông sản như lương thực, đồ uống và đặc biệt nông sản thô thì dù thu nhập của dân chúng có tăng lên đáng kể thì mức cầu cũng không tăng nhanh và thậm chí còn chậm hơn thu nhập Thêm vào đó, nhờ các yếu tố kỹ thuật tiên tiến, các nước phát triển có thể có những sản phẩm thay thế làm giảm thêm nữa lượng cầu về nông sản thô từ các nước đang phát triển

Còn đối với thị trường nhập khẩu của các nước đang phát triển, trong thời gian tới họ vẫn sẽ là nước nhập khẩu nông sản chính, đặc biệt nếu xét theo góc độ tăng

Trang 27

trưởng dân số Với tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn tốc độ sản xuất thì ngay cả các nước đang phát triển xuất khẩu lương thực hiện nay như Thái Lan, Trung Quốc,

Ấn Độ và thậm chí là Việt Nam trong mười năm tới sẽ biến thành các nước nhập khẩu lương thực (Lê Quốc Phong 2012, tr 36)

Về cung: Hai yếu tố chính ảnh hưởng tới cung trong nông nghiệp là chính

sách nông nghiệp và khoa học kỹ thuật Cả hai yếu tố này đều quan trọng như nhau

và các nước phát triển đều có đủ hai yếu tố này

Với những nước phát triển, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cộng với chính sách hỗ trợ nội địa và trợ cấp xuất khẩu, các nước phát triển từ chỗ là các nước nhập khẩu lương thực đã nhanh chóng trở thành các nước xuất khẩu lương thực Tuy nhiên, do lượng cầu trong nước không lớn nhưng lại có lượng cung lớn nên buộc các nước phát triển phải xuất khẩu nông sản và một phần được xuất khẩu theo hình thức viện trợ lương thực sang các nước đang phát triển

Bên cạnh đó, là sự gia tăng của các nước đang phát triển trong xuất khẩu nông sản, do đó lượng cung trên thế giới lại càng lớn dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong lĩnh vực nông nghiệp và giá nông sản nhìn chung sụt giảm nhanh chóng

Để đáp ứng với sự sụt giá nông sản, các nước phát triển ngày càng phải tăng

sự hỗ trợ cho nông dân trong nước và đến lúc sự hỗ trợ này trở thành gánh nặng đối với họ Hơn nữa, về thực chất, gánh nặng tài chính này phần lớn lại đổ lên vai người tiêu dùng của chính các nước phát triển do phải trả giá tiêu thụ cao hơn nhiều so với giá thế giới Vì vậy, làn sóng phản đối chính sách bảo hộ nông nghiệp cũng gia tăng

ở các nước phát triển

Chính sự phản đối chính sách bảo hộ nông nghiệp từ các nước phát triển cộng thêm với sự bất mãn vốn có của các nước đang phát triển về sự bất lực của GATT trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra sự thúc đẩy cho việc đàm phán Hiệp định nông nghiệp giữa các nước

* Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Seattle (Hoa Kỳ) - Tháng 12/1999

Hội nghị Bộ trưởng tại Seattle là thời điểm sớm nhất các quốc gia ngồi lại với nhau để thảo luận về các quy định về nông nghiệp Vấn đề cắt giảm trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông nghiệp được thảo luận khá căng thẳng Trong khi một nhóm các

Trang 28

quốc gia yêu cầu phải cắt giảm các trợ cấp nông nghiệp để đảm bảo hội nhập kinh tế, một nhóm khác lại cho rằng mặt hàng nông nghiệp có tính đặc thù, không thể cắt giảm hơn nữa các trợ cấp Bế mạc Hội nghị Seattle, các bên không đạt được thỏa thuận về vấn đề nông nghiệp

* Vòng đàm phán Doha

Vòng đàm phán Doha được bắt đầu từ Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 tại Doha, Quata vào tháng 11 năm 2001 Tuyên bố Doha nêu rõ 3 mục tiêu mà đàm phán nông nghiệp toàn diện cần phải đạt được, đó là: (i) cải thiện hơn nữa khả năng tiếp cận thị trường của nông sản xuất khẩu; (ii) giảm và tiến tới xóa bỏ tất cả các hình thức trợ cấp xuất khẩu nông sản; và (iii) cắt giảm đáng kể các hỗ trợ trong nước gây bóp méo thương mại Đúng tinh thần của Tuyên bố Doha, các quốc gia thành viên

đã liên tục tổ chức các buổi làm việc thảo luận để phát triển Hiệp định Nông nghiệp, tiến tới các quy định hiệu quả và phù hợp hơn Tuy nhiên, mâu thuẫn lợi ích quá lớn của các quốc gia đối với mặt hàng nhạy cảm này dường như luôn đưa các hội nghị đi vào bế tắc, nhiều cuộc họp về vấn đề này vào năm 2003 còn bị hoãn lại

Tuy nhiên, đàm phán nông nghiệp đã bắt đầu được khởi động lại khi phía EU

và Hoa Kỳ thể hiện quan điểm linh hoạt hơn về vấn đề hỗ trợ và trợ cấp nông nghiệp Ngày 16/7/2004, dự thảo đầu tiên của “July Package” đã được đưa lên bàn đàm phán, trong đó Phụ lục A là dự thảo sau cùng về Khuôn khổ đàm phán trong lĩnh vực nông nghiệp Các cuộc đàm phán rất căng thẳng và gay cấn diễn ra sau đó đã gặt hái được thành công bước đầu với việc Đại hội đồng chính thức thông qua dự thảo lần thứ 3 của văn bản này dưới hình thức Quyết định vào ngày 1/8/2004 Đáng quan tâm nhất trong “July Package” chính là Khuôn khổ để xây dựng các nguyên tắc đàm phán/thể thức cam kết trong nông nghiệp (Framework for Establishing Modalities in Agriculture) tại Phụ lục A của Quyết định Điểm nổi bật của Khuôn khổ này là:

- Lần đầu tiên, các nước thành viên nhất trí sẽ xóa bỏ tất cả các hình thức trợ cấp xuất khẩu nông sản vào một thời điểm cụ thể (vấn đề là thời điểm nào thì sẽ phụ thuộc vào đàm phán);

- Các nước thành viên nhất trí cắt giảm mạnh các biện pháp hỗ trợ trong nước gây bóp méo thương mại nông sản;

Trang 29

- Đạt được bước đột phá trong lĩnh vực thương mại về mặt hàng bông, mở ra

cơ hội to lớn cho nông dân trồng bông ở Tây Phi và các nước đang phát triển khác

Bước ngoặt quan trọng này ghi dấu sự đóng góp và dẫn dắt của Nhóm 5 Bên quan tâm (Five Interested Parties -FIPs) gồm Hoa Kỳ, EU, Brazil, Ấn độ và Úc Khuôn khổ này đã đưa ra những đặc trưng chủ yếu của các nguyên tắc đàm phán mà không đi quá sâu vào chi tiết, chẳng hạn như không chỉ ra công thức cắt giảm chính xác là như thế nào hay mức độ cắt giảm cụ thể phải thực hiện là bao nhiêu Khuôn khổ này cũng nhấn mạnh về yêu cầu phải cân đối kết quả đàm phán nông nghiệp trong tổng thể đàm phán chung cũng như phải cân đối giữa các nội dung riêng trong đàm phán nông nghiệp

Sau khi đã đạt được những thống nhất quan trọng vào năm 2004, vòng đàm phán lại đi vào những bế tắc mới để đưa ra những quy định chi tiết Từ Hội nghị bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông (2006), Hội nghị Geneva (2006), Hội nghị Postdam (2007), Hội nghị Geneva (2008), Kỳ họp tại Bali (2009), các quốc gia không đạt được những thỏa thuận cốt lõi cho việc cắt giảm trợ cấp xuất khẩu Vào thời điểm này, các quốc gia bắt đầu chú ý hơn đến các hiệp định song phương và khu vực và cho rằng đây là con đường dễ dàng đạt được thỏa thuận về những vấn đế khó như nông nghiệp hơn là khuôn khổ đa phương tại WTO

*Tuyên bố Nairobi về trợ cấp nông sản xuất khẩu

Sau vòng đàm phán Doha, các quốc gia vẫn tiếp tục đấu tranh để đạt được thỏa thuận về xóa bỏ trợ cấp nông nghiệp nhưng không đi được đến thống nhất cuối cùng Phải đến Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 10 tại Nairobi vào thán 12 năm 2015, các thành viên WTO mới xây dựng và thống nhất được gói Nairobi với nhiều thỏa thuận quan trọng, bao gồm cả thỏa thuận về cắt giảm trợ cấp nông nghiệp

Theo đó, nội dung chính của thỏa thuận Nairobi là : “Các trợ cấp xuất khẩu

nông nghiệp phải được cắt giảm ngay lập tức đối với các nước phát triển và trong 3 năm đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, thời hạn này có thể được gia hạn đến 5 năm (đối với các nước phát triển) và 7 năm (đối với nước đang phát triển) Hội nghị Bộ trưởng thống nhất rằng các nước đang phát triển phải cắt giảm trong 8 năm

Trang 30

các trợ cấp xuất khẩu tại điều 9.4 (về tiếp thị và chi phí vận chuyển nội địa).”(Lê Văn

Yên 2015, tr.2)

Các thành viên của WTO bày tỏ sự ủng hộ và kỳ vọng rất lớn với những cam kết mới này Đây là một thành công của lĩnh vực nông nghiệp và là thành công đối với các nước đang phát triển bởi nó sẽ giúp cải thiện thu nhập của người nông dân Nhiều ý kiến các nước cho rằng thỏa thuận khiến thương mại toàn cầu trở nên công bằng hơn Có thể nói, thỏa thuận trên đã chứng minh vai trò và năng lực của WTO trong việc giải quyết các vấn đề

1.2.2 Quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế) Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:

- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;

- Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;

- Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…

Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp

Theo WTO thì nông sản lại bao gồm toàn bộ sản phẩm thuộc Chương 1 đến

24 (trừ cá và sản phẩm từ cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ

Trang 31

thống thuế mã HS của Việt Nam và không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp

Hàng nông sản vốn là nhóm mặt hàng nhạy cảm trong thương mại quốc tế Vì vậy, không dễ đạt được thoả thuận về mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho loại hàng hoá này

Có rất nhiều lý do về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khiến chính sách đối với thương mại hàng nông sản trở nên đặc biệt “bảo thủ” so với đối với các loại hàng hoá công nghiệp, trong đó lý do chủ yếu được nêu ra là:

Thương mại hàng nông sản đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận dân cư vốn có thu nhập không cao ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển;

Mỗi nước đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong hoàn cảnh thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch và các nguy cơ nạn đói rình rập

Do vậy, WTO đã đưa ra quy định về trợ cấp nông nghiệp đối với nông sản và các nước tham gia WTO phải tuân theo, cụ thể:

1.2.2.1.Quy định về các biện pháp hỗ trợ trong nước

Trong thuật ngữ của WTO, trợ cấp nói chung được xác định bởi các “hộp” với quy định màu sắc khác nhau như trong đèn tín hiệu giao thông: xanh lá cây (được phép), hổ phách (chậm lại, chuyển dần sang cắt giảm), đỏ (cấm) Trong nông nghiệp, các vấn đề thường là phức tạp hơn Hiệp định Nông nghiệp không có hộp đỏ, hỗ trợ trong nước vượt quá mức và phải cam kết cắt giảm thì bị cấm và được đưa vào hộp

hổ phách Hộp xanh lơ dành cho các loại trợ cấp gắn với các chương trình hạn chế sản xuất Các nước đang phát triển cũng được hưởng một số ngoại lệ, thường được gọi là “đối xử đặc biệt và khác biệt” (S&D), như được quy định trong Điều 6 khoản

2 của Hiệp định (VCCI 2008, tr.11)

- Hộp Hổ phách (Amber Box): Tất cả các biện pháp hỗ trợ trong nước được xem là bóp méo sản xuất và thương mại (cũng có một số ngoại lệ) nằm trong hộp hổ phách và được quy định trong Điều 6 của Hiệp định Nông nghiệp - là toàn bộ các biện pháp hỗ trợ trong nước, ngoại trừ các biện pháp thuộc hộp xanh nước biển và hộp xanh lá cây Chúng bao gồm các biện pháp trợ giá, hoặc trợ cấp trực tiếp tới khối

Trang 32

lượng sản xuất Các hỗ trợ này là tuỳ thuộc vào mức hạn chế giới hạn, hỗ trợ tối thiểu được phép 5% đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước phát triển và 10% ở các nước đang phát triển Các hỗ trợ nhóm màu hổ phách là đối tượng của các cam kết cắt giảm trong khuôn khổ WTO Cam kết cắt giảm được đề cập trong thuật ngữ “Tổng gộp

hỗ trợ ” (Total AMS) bao gồm tất cả các hỗ trợ đối với các sản phẩm cụ thể, cùng với những hỗ trợ mà không nhằm đến một sản phẩm cụ thể nào (VCCI 2008, tr.12) Một điều khoản đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong nhóm chính sách này là chính sách khuyến khích phát triển sản xuất được gọi là “chương trình phát triển” mà các nước đang phát triển được phép áp dụng, bao gồm: trợ cấp đầu tư, trợ cấp đầu vào cho nông dân ở các vùng khó khăn, trợ cấp chuyển dịch từ cây thuốc phiện sang cây trồng khác…

- Hộp Xanh lơ (Blue Box): Đây là “Hộp hổ phách có điều kiện”, bao gồm các khoản hỗ trợ chi trả trực tiếp trên cơ sở diện tích hoặc số lượng vật nuôi, nhưng kèm theo điều kiện về hạn chế sản suất bằng cách áp đặt hạn ngạch sản suất hoặc yêu cầu nông dân không sử dụng một phần đất của họ (các quy định cụ thể được ghi rõ trong khoản 5, Điều 6, Hiệp định Nông nghiệp) (VCCI 2008, tr 12).Các điều kiện được thiết kế để hạn chế bóp méo thương mại Theo quy định của WTO, các biện pháp hỗ trợ này được coi là tách rời một phần với sản xuất và không thuộc đối tượng cam kết cắt giảm Hiện tại, không có các giới hạn đối với chi trả trợ cấp trong hộp xanh lơ Hộp xanh lơ được các nước coi là công cụ quan trọng để bãi bỏ các trợ cấp bóp méo thương mại trong hộp Hổ phách mà không gây căng thẳng quá mức Một số quốc gia khác muốn thiết lập những giới hạn hoặc cam kết cắt giảm, một số thì bảo vệ việc chuyển các hỗ trợ này sang hộp hổ phách

- Hộp Xanh lá cây (Green Box): Trợ cấp theo hộp xanh lá cây nhất thiết không được bóp méo thương mại, hoặc chỉ bóp méo thương mại ở mức nhỏ nhất và không thuộc đối tượng cam kết cắt giảm trong khuôn khổ WTO Chúng phải được chi trả bởi Chính phủ (mà không bắt người tiêu dùng phải trả một mức giá cao hơn) và phải không bao gồm hỗ trợ giá Các hỗ trợ cấp này thường là các chương trình không nhắm tới một sản phẩm cụ thể và bao gồm hỗ trợ thu nhập trực tiếp cho nông dân không liên quan đến mức độ sản xuất và giá cả hiện tại Các trợ cấp này bao gồm bảo vệ

Trang 33

môi trường và các chương trình phát triển vùng Trợ cấp theo “Hộp xanh lá cây” do

đó được phép áp dụng không giới hạn, với điều kiện chúng phù hợp với các tiêu chuẩn

cụ thể về chính sách được nêu ra trong Phụ lục 2 (VCCI 2008, tr 13)

1.2.2.2 Quy định về các biện pháp trợ cấp xuất khẩu

Theo quy định của Hiệp định Nông nghiệp, trợ cấp xuất khẩu được định nghĩa

là những trợ cấp dựa trên kết quả thực hiện xuất khẩu, bao gồm các trợ cấp xuất khẩu liệt kê cụ thể trong Điều 9 của Hiệp định Theo Điều 9 Khoản 1 của Hiệp định, danh mục này bao gồm hầu hết các thực tiễn trợ cấp xuất khẩu phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp, điển hình như (Lê Quốc Phong 2012, tr 25):

- Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp đặc trưng đối với hoạt động xuất khẩu

- Bán các loại hàng nông sản tồn kho phi thương mại cho xuất khẩu với giá thấp hơn mức giá so sánh của các sản phẩm đó trong thị trường nội địa

- Các khoản trợ cấp tài chính cho nhà sản xuất như các chương trình của Chính phủ có yêu cầu thu thuế trên các sản phẩm, sau đó được dùng để trợ cấp xuất khẩu cho một phần nhất định của sản phẩm đó

- Các biện pháp giảm chi phí khác như trợ cấp giảm chi phí tiếp thị sản phẩm cho xuất khẩu, biện pháp này có thể bao gồm các chi phí ví dụ như nâng cấp và quản

số lượng mặt hàng được trợ cấp

Theo Hiệp định, trợ cấp xuất khẩu chỉ được áp dụng trong 4 trường hợp (Lê Quốc Phong 2012, tr 26):

Trang 34

- Đối với trợ cấp xuất khẩu là đối tượng của cam kết cắt giảm áp dụng đối với từng sản phẩm cụ thể, thì được phép áp dụng trong mức giới hạn quy định tại biểu cam kết của thành viên có liên quan;

- Bất kì khoản thặng dư nào của ngân sách chi tiêu dành cho trợ cấp xuất khẩu hoặc cho khối lượng xuất khẩu đã được trợ cấp vượt quá giới hạn quy định tại biểu cam kết mà được điều chỉnh bởi khoản 2(b) Điều 9 Hiệp định;

- Các loại trợ cấp xuất khẩu phù hợp với quy định về “đối xử đặc biệt và khác biệt” (S&D) dành cho các thành viên các nước đang phát triển (DCs) (Khoản 4 điều

9 Hiệp định)

- Các loại trợ cấp xuất khẩu khác, ngoài những loại là đối tượng của cam kết giảm, với điều kiện chúng phù hợp với quy định về ngăn chặn việc trốn tránh các cam kết về trợ cấp xuất khẩu tại Điều 10 Hiệp định

Về vấn đề cắt giảm trợ cấp: Các nước thành viên phát triển được yêu cầu cắt giảm, với các bước cắt giảm ngang nhau hàng năm trong giai đoạn 6 năm, số lượng trợ cấp xuất khẩu tính trên giai đoạn tham chiếu ở mức 21% và chi phí ngân sách tương ứng cho các trợ cấp xuất khẩu ở mức 36% Đối với các thành viên đang phát triển, mức cắt giảm được yêu cầu là 14% trong thời gian 10 năm có đối với số lượng,

và 24% trong khoảng thời gian tương tự đối với chi phí ngân sách Các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện có thể tận dụng quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt trong Hiệp định (Điều 9 Khoản 4), quy định này cho phép các nước này trợ cấp chi phí tiếp thị và vận chuyển nội địa với điều kiện là các chi phí này không được

áp dụng theo cách ngầm phá hỏng các cam kết cắt giảm trợ cấp

1.2.3 Vai trò của Hiệp định nông nghiệp của WTO

Như đã đề cập, Hiệp định nông nghiệp của tổ chức thương mại thế giới WTO được các quốc gia đàm phán trong vòng đàm phán Uruguay từ năm 1986-1994 và đây là bước quan trọng tiến tới sự cạnh tranh lành mạnh cũng như ít bóp méo hơn trong lĩnh vực nông nghiệp Hiệp định bao gồm cam kết từ phía các nước thành viên WTO nhằm cải thiện việc tiếp cận thị trường và cắt giảm những hình thức trợ cấp bóp méo thương mại nông sản Những quy định trong Hiệp định được thực hiện bắt đầu từ năm 1995 Hiệp định nông nghiệp có một số vai trò sau:

Trang 35

- Điều chỉnh một trong những vấn đề quan trọng nhất của kinh tế thế giới, đó

là lĩnh vực nông nghiệp: Tại rất nhiều quốc gia, gồm cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, thương mại nông sản là một trong những thành phần quan trọng trong nền kinh tế và có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp quốc gia cũng như việc làm

- Hiệp định nông nghiệp loại bỏ những quy định bóp méo thương mại cũng như những thiệt hại gây ra bởi cơ chế phi thị trường, là nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả nguồn lực

- Có vai trò giảm đói nghèo: Ngân hàng thế giới đã tính toán rằng: việc loại

bỏ những bóp méo thương mại nông sản trong trợ cấp và thuế quan có thể giúp tăng cường thương mại thế giới ít nhất là 0,5 nghìn tỷ USD và giúp khoảng 159 triệu người thoát khỏi đói nghèo vào năm 2015

- Giải quyết các vấn đề liền quan đến an ninh lương thực: hệ thống thương

mại cũng có những vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu Hiệp định đưa ra các cơ chế bảo đảm đáp ứng được sự thiếu hụt về lương thực tại bất cứ quốc gia, khu vực bị ảnh hưởng thiên tai Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các điều khoản trong Hiệp định đưa ra những cơ hội nhằm cải thiện tốc độ tăng trưởng thông qua thương mại hàng hoá, noi mà các quốc gia này có những lợi thế cạnh tranh hơn nếu như những điều kiện thương mại ít bị bóp méo Bên cạnh đó, sẽ loại bỏ được việc trồng những loại cây gây nghiện

Trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế mở đã thực sự trở thành những xu hướng có tính khách quan Nền kinh

tế của mỗi nước trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu và chịu ảnh hưởng trực tiếp của những động thái kinh tế toàn cầu Nhận thức rõ bối cảnh đó, Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ "Phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững"

Trang 36

Kết luận chương 1

Trong chương 1, tác giả đã tiến hành hệ thống hóa cơ sở lý luận về trợ cấp nông nghiệp, theo đó, nội dung chính của chương 1 là đưa ra các khái niệm về trợ cấp, trợ cấp nông nghiệp, sự ra đời của Hiệp định nông nghiệp Tác giả cũng nêu lên những quy định của WTO về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp mà các nước tham gia WTO phải cam kết thực hiện

Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm từ chính sách trợ cấp của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

Chương 1 sẽ là tiền đề cho tác giả phân tích thực trạng trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam trong chương 2

Trang 37

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về nền nông nghiệp Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Nam

Về chăn nuôi

Trong những giai đoạn trước khi nhập WTO, ngành chăn nuôi Việt Nam nhìn chung còn nhỏ lẻ, manh mún, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều nhưng công tác phòng chống chưa hiệu quả, do đó có nhiều thiệt hại về kinh tế, trong những năm này, sản lượng chăn nuôi thấp cả về số lượng và chất lượng

Bảng 2.1 Số lượng vật nuôi giai đoạn 1995 - 2006

Số lượng Nghìn con Nghìn

con Nghìn con

Nghìn con Nghìn con Triệu con

Trang 38

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, bình quân giai đoạn 1995-2006 cả nước

có 2.902,92 nghìn con trâu/năm, 4.403,23 nghìn con bò/năm, 118,86 nghìn con ngựa/năm, 745,31 nghìn dê, cừu/năm và 21.530,35 nghìn lợn/năm với 196,22 triệu gia cầm/năm

Bảng 2.2 Sản lượng chăn nuôi của Việt Nam trước khi gia nhập WTO

(Triệu quả) 3771 4022,50 4530,10 4852 3939 3948,50 3969,50 4147,51 Sản lượng mật

ong (Tấn) 5958 7321 11401 12758 10701 13591 16747 11211,00 Sản lượng kén

tằm (Tấn) 7153 10866 12124 11582 12323 11475 10413 10848,00

(Nguồn: Tổng cục thống kê,2006)

Trang 39

Bảng 2.2 thể hiện sản lượng từ chăn nuôi từ năm 2000 -2006, theo đó, sản lượng nông sản từ chăn nuôi cũng không ngừng tăng qua các năm, cụ thể, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng bình quân cả giai đoạn là 54,87 nghìn tấn/năm; thịt bò hơi xuất chuồng là 117,59 nghìn tấn/năm, thịt lợn là 1883,90 nghìn tấn/năm và thịt gia cầm là 327,81 nghìn tấn/năm

Bên cạnh những sản phẩm thịt từ gia súc, gia cầm thì những sản phẩm nông sản khác của Việt Nam có thể kể đến là sữa (với mức sản lượng bình quân giai đoạn này là 126,63 lít/năm); mật ong cho năng suất 11.211 tấn/năm; trứng gia cầm bình quân giai đoạn này là 4.147,51 triệu quả/năm; sản lượng kén tằm bình quân là 10.848 tấn/năm

Từ sau khi nhập WTO, năng suất, sản lượng và chất lượng của ngành chăn nuôi không ngừng tăng lên Đây là hệ quả tất yếu của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Với những chính sách thương mại rộng mở, ngành chăn nuôi có cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại, nông dân có cơ hội mua được các vật tư đầu vào với giá tương đối rẻ

Bảng 2.3 Số lượng vật nuôi giai đoạn 2007 - 2015

cầm

Số lượng Nghìn

con

Nghìn con

Nghìn con

Nghìn con Nghìn con

Triệu con

Trang 40

Bình quân

(2007-2015) (1) 2.733,60 5.707,00 152,89 1.506,27 26.954,42 297,04 Bình quân

(1995-2006) (2)

2.902,92 4.403,23 118,06 745,31 21.530,35 196,22

So sánh (1)/(2) 0,94 1,30 1,30 2,02 1,25 1,51

(Nguồn: Tổng cục thống kê,2006)

Kể từ sau khi nhập WTO, giai đoạn 2007 – 2015, quy mô chăn nuôi cũng có

xu hướng tăng lên đáng kể So với giai đoạn trước t hì giai đoạn này, quy mô bình quân nuôi tăng 1,3 lần; nuôi ngựa tăng 1,3 lần, dê cừu tăng 2,02 lần, lợn tăng 1,25 lần

và gia cầm tăng 1,51 lần Riêng trâu chỉ còn 0,94 lần Điều này là phù hợp do trước đây, mục đích nuôi trâu của người dân không chỉ để lấy thịt mà chủ yếu là để có công

cụ chăn nuôi cày cấy, dùng sức trâu thay sức người, nhưng ngày nay, với sự cơ giới hóa mạnh mẽ ngành nông nghiệp, các máy cày, máy gặt đã được sử dụng thay thế sức trâu với năng suất cao hơn trước đây, nên do đó, quy mô nuôi trâu có xu hướng giảm

Về sản lượng nông sản từ chăn nuôi cũng có xu hướng tăng lên Nếu so sánh bình quân 2 giai đoạn trước và sau khi nhập WTO có thể thấy mức sản lượng có sự chuyển biến rõ rệt, cụ thể: Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng bình quân giai đoạn

2007 – 2015 là 81,67 nghìn tấn/năm và tăng lên 1,49 lần so với bình quân giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO Chỉ tiêu này đối với sản lượng thịt bò là 117,59 nghìn tấn/năm (gấp 2,30 so với trước khi gia nhập WTO) Đối với thịt lợn, mức gia tăng là 1,64 lần (năng suất 1883,90/năm trong giai đoạn 2007-2015) Sản lượng gia cầm hơi giết thịt cũng tăng lên 2,01 lần

Đối với các sản phẩm về sữa, trứng gia cầm, mật ong cũng có xu hướng tăng lên, sản lượng sữa tươi tăng mạnh mẽ đạt mức 4.147,51 lít/năm, tăng gấp 3,1 lần so với khi Việt Nam chưa gia nhập WTO Sản lượng mật ong cũng tăng 1,15 lần Kén tằm có quy mô giảm còn 0,68 lần, nguyên nhân là giai đoạn này, có sự chuyển dịch trong cơ cấu chăn nuôi, người dân có xu hướng chuyển sang chăn nuôi những giống vật nuôi có giá trị kinh tế và năng suất cao hơn

Ngày đăng: 30/12/2017, 17:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w