Lời cảm ơn Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ nhiêt tình và chu đáo của thầy cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà N
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ nhiêt tình và chu
đáo của thầy cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “ Phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS – Phùng Minh Hiến người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận văn học và các bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để luận văn của tôi được hoàn thành
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Nhữ Đình Tùng
Trang 2Lời cam đoan
Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS
TS Phùng Minh Hiến
- Tôi xin cam đoan rằng đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên Nhữ Đình Tùng
Trang 3
mục lục
Trang
Phần mở đầu ……… 7
1 Tầm quan trọng của đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Giới hạn của đề tài 10
4 Phơng pháp nghiên cứu 11
5 Mục tiêu, nhiệm vụ của khoá luận 12
6 Đóng góp của khoá luận 12
PHần nội dung ………13
Chương 1 Cơ sở lí luận về phong cách ……… 13
1.1 Về phương diện từ ngữ của phong cách ……… 13
1.2 Một số quan niệm và cấu trúc phong cách nghệ thuật của nhà văn trong nghiên cứu Lý luận văn học 14
1.2.1 ở nước ngoài 14
1.2.2 ở trong nước 20
Chương 2 Những yếu tố biểu hiện phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận 23
2.1 Phong cách, một kiểu máy phát năng lượng nghệ thuật riêng 23
2.1.1 Thủ pháp “miêu tả thiên nhiên để khám phá tâm lí nhân vật” 23
2.1.2 Thủ pháp xây dựng tình huống bất hạnh 24
2.1.3 Thủ pháp “khắc hoạ những trạng thái cảm xúc” 25
2.1.4 Sự tổng hợp các biện pháp nghệ thuật thể hiện như là thủ pháp “ thu hút” và “thuyết phục” độc giả 26
Trang 42.2 Phong cách – tính cấu trúc của một kiểu “ sinh thể nghệ thuật” 31
2.2.1 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ chi tiết, hành động ……… 31
2.2.2 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhân vật ……… 32
2.2.3 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ tác phẩm ……… 33
2.2.4 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhóm tác phẩm ……… 35
2.3 Hệ thống giọng điệu – kết quả của sự biểu hiện nghệ thuật đặc trưng… 35
2.3.1 Giọng điệu……… ……… 36
2.3.2 Sắc điệu ……… 37
2.4 Phong cách là kiểu kết hợp giữa không gian và thời gian nghệ thuật mang màu sắc riêng……… 38
2.4.1 Không gian nghệ thuật 38
2.4.1.1 Không gian hiện thực 38
2.4.1.2 Không gian vòng đời – số phận 39
2.4.1.3 Không gian bóng tối. 40
2.4.1.4 Không gian bi kịch sau bi kịch. 40
2.4.2 Thời gian nghệ thuật 41
2.4.2.1 Thời gian hồi tưởng 41
2.4.2.2 Thời gian tâm trạng. 42
2.4.3 Không gian hoà quyện thời gian và sắc màu của nó 43
2.5 Tính chất nhiều chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật 43
2.5.1 Ngôn ngữ tác giả 44
2.5.2 Ngôn ngữ nhân vật 44
2.5.3 Sự kết hợp giữa lời tác giả và lời nhân vật 45
2.6 Phong cách – sự lĩnh hội riêng, lĩnh hội cách tân đối với thế giới 46
2.6.1 Cách nhìn nhận mới về con người 46
2.6.2 Cách khai thác “nguyên nhân” để nhân vật tự ý thức về thân phận 47
2.7 Phong cách – kiểu sáng tạo riêng đem lại màu sắc mới cho thể văn 47
Trang 52.7.1 Cấu trúc “cốt truyện đơn giản” trong truyện ngắn Thạch Lam 48
2.7.2 Sự hoà quyện giữa “bút pháp hiện thực” và “bút pháp lãng mạn” 49
Chương 3 Đặc sắc phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận (so với Nam Cao ở nhóm tác phẩm tương ứng) 51
3.1 Về yếu tố biểu hiện thứ nhất của phong cách 51
3.2 Về yếu tố biểu hiện thứ hai của phong cách 58
3.3 Về yếu tố biểu hiện thứ ba của phong cách 62
3.4 Về yếu tố biểu hiện thứ tư của phonh cách 64
3.5 Về yếu tố biểu hiện thứ năm của phong cách 66
3.6 Về yếu tố biểu hiện thứ sáu của phong cách 68
3.7 Về yếu tố biểu hiện thứ bảy của phong cách 69
Phần kết luận 71
thư mục tham khảo 74
Trang 6Phần mở đầu
1 Tầm quan trọng của đề tài
1.1 “Tác phẩm văn chương đạt đến trình độ nghệ thuật cao, như tấm thảm kỳ diệu, được dệt từ một số những chi tiết và từ ngữ miêu tả đối tượng” [5;5].Trong vườn
hoa văn học Việt Nam, xuất hiện nhiều bông hoa tươi đẹp Chen giữa những đoá hoa rực
rỡ muôn hồng ngàn tía có một loài hoa thanh khiết sắc hương hoa mộc Việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật, với tư cách là một vấn đề cơ bản của Lý luận văn học, đó chính
là đề ra sự xem xét phân tích cấu trúc của chúng, đề ra việc tìm hiểu hệ thống của những khái niệm, những phạm trù xác định những đặc tính, đặc trưng các tác phẩm nghệ thuật, những đặc điểm của quá trình văn học Khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật, sẽ giúp người nghiên cứu phát hiện được những nét độc đáo trong sáng tác nhà văn, đồng thời trên cơ sở đó đánh giá đúng tài năng và vị trí của họ trong nền văn học dân tộc
1.2 Lịch sử văn học nghiên cứu sự phát triển các sáng tác văn học hay nói cách
khác đó là lịch sử của những phong cách lớn “ Phong cách không những là dấu hiệu
trưởng thành của một nhà văn, hơn thế nữa, khi nó nở rộ, thì đó chính là bằng chứng của một nền văn học trưởng thành” [12;483] Vì thế, những tác gia tiêu biểu cùng với những
tác phẩm xuất sắc của họ luôn là đối tượng nghiên cứu cũng như dạy- học văn trong nhà trường Phổ thông và Đại học Trên thực tế, việc giảng dạy văn học trong nhà trường Phổ thông chỉ chú ý đến việc khai thác nội dung tư tưởng và nội dung xã hội tác phẩm mà chưa đề cập nhiều tới phong cách nhà văn Vì vậy sự thụ cảm của độc giả với các tác phẩm văn chương đã phần nào bị lược giản đi dẫn đến cách hiểu chưa đầy đủ và sâu sắc
Bởi “tác phẩm văn học xuất sắc thường được xem như một hiện tượng toàn vẹn” [8;257]
Trên cơ sở đó một yêu cầu đặt ra, cách nhìn nhận về tác giả, tác phẩm sao cho đúng, đầy
đủ là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu văn học nói chung và giảng dạy văn chương nói riêng
1.3 Thạch Lam - một tài năng lớn, một nhà văn xuất sắc góp phần cách tân và
Trang 7hiện đại hoá nền văn xuôi quốc ngữ Non mười năm cầm bút nhập làng văn, là một cây bút chủ chốt của Tự Lực văn đoàn , với sự nghiệp sáng tác không mấy đồ sộ song bằng tài năng, tấm lòng, nhiệt huyết yêu nghề, Thạch Lam đã tạo dựng cho mình một vị trí
đáng kể trong nền văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Cùng với Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam trở thành một trong bốn cây bút bậc thầy về nghệ thuật truyện ngắn Mặt khác, xuất phát từ thực tế hiện nay, Thạch Lam là một tác giả
được đưa vào giảng dạy trong chương trình THCS, THPT đến Cao đẳng, Đại học Do đó
việc tìm hiểu “Phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật
trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận” có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối
với công tác giảng dạy của mỗi giáo viên tương lai Hơn thế nữa, nó giúp người làm khoá luận nắm chắc được khái niệm phong cách cũng như các nhân tố quy định và những yếu tố biểu hiện phong cách, đồng thời người viết có sự hiểu biết đúng đắn, khoa học về tài năng cũng như giá trị tác phẩm của Thạch Lam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, ở nớc ta, số lượng công trình nghiên cứu về Thạch Lam khá phong phú,
đa dạng Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy một số tác giả đã bàn đến phong cách truyện ngắn Thạch Lam:
2.1 Trước hết, tác giả Trần Ngọc Dung trong bài “Phong cách truyện ngắn
Thạch Lam”(Thạch Lam về tác gia và tác phẩm) Bài viết đã giới thiệu phong cách
truyện ngắn Thạch Lam về giọng điệu và cách sử dụng ngôn ngữ: “Giọng điệu và ngôn
ngữ truyện ngắn Thạch Lam nhiều chất trữ tình gợi sự cảm thương trước số phận những con người nhỏ bé, hiền lành và bất hạnh Một giọng văn bình dị, tinh tế và đầy ưu ái”
[1;234] Từ đó tác giả đi đến khẳng định : “ Thạch Lam là cây bút đầu tiên có ý thức
khai thác chất thơ trong đời sống bình dị, thường nhật Với ngòi bút giản dị, tinh tế lạ thường, ngôn ngữ đặc biệt, trong sáng, đầy chất thơ, Thạch Lam góp phần nâng cao trình độ truyện ngắn Việt Nam lên một bước mới” Tuy nhiên người viết chưa đi sâu vào
phân tích vai trò của các thủ pháp nghệ thuật trong việc làm nổi bật lên nét độc đáo trong phong cách nhà văn
Trang 82.2 Bên cạnh việc phát hiện “giọng văn bình dị, tinh tế trong văn Thạch Lam”,
tác giả Phạm Thị Thu Hương với bài viết “Quan niệm nghệ thuật về con người trong
truyện ngắn Thạch Lam” tiếp tục có những khám phá mới về phong cách truyện ngắn
Thạch Lam, về thân phận con người: “Với một cách tiếp cận mới, việc mô tả thân phận
con người thông qua cảm giác thời gian, Thạch Lam đã tạo cho mình một dáng dấp riêng, khẳng định một phong cách riêng” [7;93]
2.3 Tìm hiểu phong cách truyện ngắn Thạch Lam về mặt không gian nghệ thuật
phải kể đến chuyên luận “ Truyện ngắn Thạch Lam - Đặc điểm không gian nghệ thuật”
của tác giả Hồ Thế Hà Trong bài viết này, tác giả đã có những phát hiện quan trọng về phong cách Thạch Lam trong việc thể hiện tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về con
người: “ Không gian nghệ thuật của Thạch Lam - Xét về ý nghĩa và giá trị nhận thức - Có
khả năng vượt cái khung cố định của không gian nhân vật ba chiều để mở ra một chiều không gian vời vợi mang tình ngời cao cả - Tạo thành một không gian người đọc làm cho
họ cùng đau buồn, thảng thốt cùng chia xẻ với số phận của các nhân vật” [3;102]
2.4 Tiếp xúc với văn Thạch Lam mỗi người sẽ tìm thấy sự hấp dẫn riêng, theo
G.S Phong Lê trong : “Lời giới thiệu Tuyển tập thạch Lam” thì sức hấp dẫn ở văn Thạch Lam được nảy sinh từ cái đẹp ngôn từ, câu văn: “Có lẽ không thể không dành vài lời về
đặc sắc của câu văn Thạch Lam Đó là một lối văn nhuần nhị, tinh tế, gọn và gợi được thật là rành rõ những trạng thái của sinh hoạt, cảm xúc và tâm hồn” [10.25] Gần gũi
với cách nhìn nhận của G.S Phong Lê, tác giả Phạm Phú Phong trong bài “Thi pháp
truyện ngắn Thạch Lam” (Thạch Lam về tác gia và tác phẩm) đã có một nhận xét xác
đáng: “Thạch Lam biết đặt những câu, những từ đúng vị trí của nó và buộc nó hắt sáng
lên vấn đề, gợi lên một cách rõ ràng những hình tượng, những trạng thái cảm xúc của tâm hồn” [21.224] Như vậy, cả hai tác giả đã có phát hiện rất sâu sắc trong cách dùng
từ, đặt câu của Thạch Lam Tuy nhiên, việc phát hiện, khám phá các yếu tố biểu hiện
phong cách chưa sâu sắc, rõ ràng
2.5 Cùng nói về những đóng góp này, các nhà nghiên cứu Hoàng Tiến, Hoàng
Quốc Hải tiếp tục có những khám phá về phong cách truyện ngắn Thạch Lam Trong
Trang 9bài viết “ Những điều tôi học được ở Thạch Lam”, Hoàng Tiến đánh giá rất cao việc sử dụng ngôn ngữ của Thạch Lam: “Nếu Nguyễn Tuân là ngời kiến trúc sư bậc thầy về
ngôn ngữ văn xuô,i thì Thạch Lam là thiên phú , là người thợ trời về ngôn ngữ Tiếng Việt” [18.438], và tác giả Hoàng Quốc Hải trong bài “Tản mạn Thạch Lam” có nhận
xét: “ Ngôn ngữ Thạch Lam giản dị tới mức tưởng như ai cũng có thể viết được nhưng đố
ai viết được như Thạch Lam, bởi sự giản dị ấy là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ”
[18.429] Như vậy cả hai tác giả đều nêu được những đóng góp to lớn của nhà văn trong việc cách tân truyện ngắn và nét đặc sắc trong ngôn ngữ văn xuôi Thạch Lam
Từ việc điểm lại các công trình nghiên cứu về tác giả Thạch Lam, chúng tôi rút ra một số kết luận:
1 Các công trình nghiên cứu về phong cách Thạch Lam khá phong phú và đa
dạng, song chưa có nhiều bài viết tập trung nghiên cứu về phong cách truyện ngắn Thạch Lam (Đặc biệt theo quan niệm phong cách của viện sĩ M.B.Khrapchencô về nhóm tác
phẩm nhất định ) Vì vậy, việc tìm hiểu “Phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm
tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận” là một đề tài
cần thiết có ý nghĩa lí luận – thực tiễn quan trọng
2 Truyện ngắn Thạch Lam mang một nét đặc sắc, độc đáo, không dễ tìm thấy ở
bất cứ một cây bút truyện ngắn nào: “Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi
có một cách điệu thanh thản bình dị và sâu sắc Văn Thạch Lam đọng lại nhiều suy nghiệm nó kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời” [26.119]
3 Giới hạn của đề tài
3.1 Về nội dung
Với đề tài đã chọn, người viết sẽ tiến hành nghiên cứu phong cách truyện ngắn Thạch Lam trong sự so sánh với nhóm tác phẩm tương ứng của Nam Cao Hơn nữa, nhằm làm nổi bật đặc sắc phong cách truyện ngắn Thạch Lam khi viết về người phụ nữ, chúng tôi cũng đồng thời so sánh với nhóm tác phẩm thể hiện nhân vật đàn ông tự ý thức
về thân phận của ông
Khoá luận đã bước đầu khảo sát và đưa ra khái niệm của Lý luận văn học hiện
Trang 10đại: Khái niệm phong cách nghệ thuật của nhà văn với một cấu trúc phong phú nhiều bình diện
3.2 Về tư liệu 3.2.1 Nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận của
Thạch Lam gồm:
1- Nhà Mẹ Lê 2- Cô hàng xén 3- Tối ba mơi 4- Hai lần chết 3.2.2 Nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người đàn ông tự ý thức về thân phận của
Thạch Lam gồm:
1- Đói
2- Cuốn sách bỏ quên 3- Trong bóng tối buổi chiều 4- Người lính cũ
3.2.3 Nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận của
Nam Cao gồm:
1- Dì Hảo 2- ở Hiền 3- Một đám cưới 4- Một bữa no
4 Phơng pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp hệ thống
Phương pháp này giúp người nghiên cứu chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố, trong đó mỗi yếu tố có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, có sự liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau
4.2 Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp này giúp người nghiên cứu so sánh cả một hệ thống bao gồm nhiều
Trang 11yếu tố nhằm tìm ra giá trị độc đáo của hệ thống này so với hệ thống kia
4.3 Phuơng pháp so sánh loại hình
Phương pháp này giúp người nghiên cứu tìm ra sự khác biệt giữa hai phong cách truyện ngắn Thạch Lam - Nam Cao qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận
5 Mục tiêu, nhiệm vụ của khoá luận
5.1 Mục tiêu của khoá luận
Khoá luận nhằm mục tiêu tìm ra sự độc đáo, đặc sắc trong phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận
5.2 Nhiệm vụ của khoá luận
- Học tập và nắm vững được quan điểm của M.B.Khrapchencô về phong cách nghệ thuật nhà văn
- áp dụng lý thuyết phong cách đó vào sự việc phân tích và gọi tên những yếu tố biểu hiện phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận
- Chỉ ra đặc sắc phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm đã dẫn
- Tìm ra sự độc đáo trong phong cách truyện ngắn Thạch Lam so với Nam Cao qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận
6 Đóng góp của khoá luận
6.1 Nắm chắc khái niệm phong cách, vận dụng có sáng tạo nhằm làm nổi bật các
dấu hiệu biểu hiện phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là người phụ nữ tự ý thức về thân phận
6.2 Chỉ ra và phân tích những nét độc đáo trong phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua nhóm tác phẩm đã dẫn Qua đó, tác giả khoá luận muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí và vai trò của Thạch Lam trong nền văn học 1930-1945 nói riêng và trong nền văn học Việt Nam nói chung
Trang 12
chương 1 cơ sở lí luận về phong cách
1.1 Phong cách xét theo phương diện từ ngữ
1.1.1 Từ “phong cách” xuất hiện khá sớm, cách đây hơn 2000 năm, nó được dùng trong
hệ thống các thuật ngữ khoa học về nghệ thuật ở một số nước Châu Âu
Xưa kia, người Hi Lạp dùng từ “Stylos” để chỉ một cái que đầu nhọn, đầu tù Người La Mã thì gọi là “Stylus” cũng để chỉ cái que đó, nhưng đầu nhọn dùng để viết và
đầu tù dùng để xoá trên một tấm nhỏ có xoa sáp Đến người Pháp sử dụng chữ “Style” nhưng ban đầu chỉ có nghĩa là “nét chữ”, sau có nghĩa là “bút pháp” với những đặc điểm ngôn ngữ và văn thể Và cuối cùng mới có nghĩa là “phong cách” như trong câu châm
ngôn “ phong cách là người” của Buyphông mà Mác đã có lần nhắc đến
1.1.2 Ngày nay, từ “phong cách” được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của
đời sống xã hội, có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về “phong cách”
1.1.2.1 Trong thực tế đời sống sinh hoạt hàng ngày, phong cách là “Những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, ứng xử tạo nên cái riêng của mỗi người, hay một loại người nào đó” [20;782] Chẳng hạn như phong cách lãnh đạo, phong cách
sống giản dị, phong cách lao động mới, phong cách quân nhân
1.1.2.2 Dưới góc độ ngôn ngữ học, phong cách là “ Dạng của ngôn ngữ sử dụng theo yêu cầu chức năng điển hình nào đó Khác với những dạng khác về đặc điểm từ vựng ngữ pháp, ngữ âm” [20;782] Ví như phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách
ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.2.3 Theo các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật, phong cách là “Những đặc
điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong các sáng tác của một nghệ sĩ hay các sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại” [20;782] Ví dụ như
phong cách một nhà văn, phong cách nghệ thuật
Vì vậy, khi xem xét, nghiên cứu cần phân biệt rõ ba phạm trù của phong cách:
Trang 13Phong cách sinh hoạt hàng ngày; Phong cách ngôn ngữ và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.2 Một số quan niệm về phong cách và cấu trúc phong cách nghệ thuật của nhà văn trong nghiên cứu Lý luận văn học
định nghĩa khác nhau về phong cách Cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất cao về thuật ngữ này Chỉ riêng ở Liên Xô từ khoảng năm 1960 trở lại đây đã có hàng trăm công trình
nghiên cứu về phong cách Theo nghiên cứu của M.B Khrapchencô thì “Những định
nghĩa này xoè ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách như là một phạm trù lịch
sử, thẩm mĩ rộng nhất, bao quát sự nhìn nhận nó như những đặc điểm của tác phẩm văn chương riêng lẻ” [8;258 ]
Trong phạm vi khoá luận này, người nghiên cứu chỉ trích dẫn ra đây một số quan niệm đúng đắn hơn cả về phong cách nghệ thuật
1.2.1 ở nước ngoài
Trong cuốn “Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát triển văn học” viện sĩ M.B
Khrapchencô đã tập hợp, xem xét các định nghĩa khác nhau về phong có thể chia làm bốn nhóm chính ( tương ứng với bốn góc độ nhìn nhận khác nhau)
1.2.1.1 Quan niệm của Đ Likhachev và Ar Grigôriav
Trong một công trình nghiên cứu của mình, Đ Likhachev đã khẳng định:
“Phong cách nghệ thuật kết hợp trong bản thân nó sự thụ cảm chung về hiện thực vốn
có ở nhà văn và phương pháp nghệ thuật được quy định bởi những nhiệm vụ mà nhà văn
đặt ra cho mình, với ý nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể áp dụng vào những loại nghệ thuật khác nhau và giữa chúng có thể có sự tương ứng đồng loại” [8;258]
Gần gũi với cách hiểu về phong cách của Đ Likhachev là quan niệm của Ar
Grigôriav, theo ông: “Phong cách không thể vô can với phương pháp, với thế giới quan,
với bút pháp, với cá nhân ngời nghệ sĩ, với cách hiểu của nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta phong cách là sự thống nhất cao của tất cả những phạm trù đó” [8;258]
Trang 14Như vậy, cả Đ Likhachev và Ar Grigôriav đều hiểu phong cách theo nghĩa rộng, đặt phong cách trong sự bao hàm cả phương pháp sáng tác, thế giới quan và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Cho nên, cả hai cách hiểu trên về phong cách mang ý nghĩa khái quát cao cho mọi loại hình nghệ thuật Tuy nhiên, lại có chỗ không rõ ràng khi xem xét những hiện tượng văn học Không có sự phân biệt giữa phong cách và phương pháp sáng tác Chính vì vậy, cả hai quan niệm đều không tiến thêm được bước nào về định nghĩa phong cách, về cái riêng của phong cách Mặt khác, vì có sự lầm lẫn giữa phong cách và phương tiện nên họ không nhấn mạnh được vai trò sáng tạo của phong cách nghệ thuật cá nhân
1.2.1.2 Quan niệm của V Turbin và V Jimunxky
Một số nhà nghiên cứu thiên về lí giải phong cách theo các thuật ngữ ngôn ngữ
học Chẳng hạn, theo V Turbin trong một bài nghiên cứu đã nhận định rằng: “Phong
cách là ngôn từ được xem xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật.” [8;259 ]
Tại một cực khác của “cái quạt”, V Jimunxky cũng khẳng định rằng: “Phong
cách nghệ thuật của nhà văn là sự biểu hiện thế giới quan của anh ta Thế giới quan đó
được thể hiện trong những hình tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ Bởi vậy không thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tính mục đích, chức năng của nó tách rời nội dung tư tưởng, hình tượng của tác phẩm Đồng thời phong cách tác phẩm không phải là tu từ học: đề tài, hình tượng, bố cục của tác phẩm văn học, nội dung nghệ thuật của nó (…) Những yếu tố quan trọng của phong cách và có thể khá quan trọng bởi chúng xác định cả những nguyên tắc nghệ thuật của việc lựa chọn chất liệu từ ngữ tức là
tu từ học hiểu theo nghĩa hẹp của từ đó” [8;260]
Hai cách hiểu trên đã xem xét phong cách như một hiện tượng chủ yếu có tính chất ngôn ngữ, dẫn đến việc đồng nhất phong cách nghệ thuật với phong cách ngôn ngữ
Từ đó, người ta chỉ thấy được phương diện ngôn ngữ mà không thấy được phương diện
đối tợng của sự miêu tả nghệ thuật, giống như vai trò của sự phối hợp của các biện pháp
Trang 15nghệ thuật trong việc tác động vào các giác quan con ngời Hơn nữa, cả hai quan niệm
đều dẫn đến việc nghiên cứu những hiện tượng phong cách sẽ bị bó hẹp trong phạm vi
một tác phẩm riêng lẻ dễ rơi vào tình trạng “ thấy cây mà không thấy rừng” Nhưng thực
tế cho thấy phong cách bao giờ cũng được khái quát nên từ một nhóm tác phẩm nhất
định Tuy nhiên, nếu người viết chú ý đến sự cách điệu riêng của từng nhà văn trong việc
sử dụng ngôn ngữ nhằm tác động thẩm mĩ ở người đọc thì sẽ mang tính chất toàn diện hơn
1.2.1 3 Quan niệm của V.Kôvalev và L.Novichenko
Theo V.Kôvalev : “Phong cách - đó là một sự thống nhất của chỉnh thể của nhà
văn đó liên hệ qua lại giữa những yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn, là sự quy định lẫn nhau của những yếu tố đó” [8;260]
Gần gũi với cách hiểu trên là quan niệm của L.Novichenko Ông chỉ ra rằng:“Phong
cách văn học hiểu theo nghĩa chung nhất là vẻ đặc thù trong những tác phẩm của nhà văn (hoặc một nhóm nhà văn), vẻ đặc thù này được quy định bởi những đặc điểm có tính chất đặc trưng về nội dung và hình thức tác phẩm ấy” [8;260, 261]
Như vậy, cả hai quan niệm trên đã coi phong cách là sự độc đáo trong cả nội dung
và hình thức Tuy nhiên, theo quan niệm đó vẫn chưa nêu rõ vai trò và công lao sáng tạo của người nghệ sĩ trong việc sáng tạo những thủ pháp “thu hút” và “thuyết phục” độc giả Người ta sẽ đánh đồng giữa phong cách có tiềm năng sáng tạo lớn với phong cách có tiềm năng sáng tạo nhỏ Mặt khác, những từ như “thống nhất”, “vẻ đặc thù trong tác phẩm” theo M.B.Khrapchencô đó là những khái niệm mơ hồ, thậm chí ngay cả những cụm từ “những nét đặc trưng” cũng không xác định, bởi trong quan niệm này chưa đề cập đến tài năng người nghệ sĩ
1.2.1.4 Khác với những cách hiểu, quan niệm trên về phong cách, hai tác giả
V.Đneprôv, Ya.Elxberg và nhiều nhà nghiên cứu khác lại quan niệm phong cách như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung
Theo V.Đneprôv: “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ
đó bộc lộ thống nhất của nội dung nghệ thuật” [8;261] Phát triển quan niệm của
Trang 16V.Đneprôv về phong cách , Ya.Elxberg nhận định rằng: “Phong cách biểu hiện sự toàn
vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của
đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan nhà văn và phương pháp của ta vốn thống nhất với thế giới quan phong cách đó là sự thống nhất của hình thức nghệ thuật”
Trên đây là một số quan niệm tiêu biểu về phong cách (dẫn theo M.B.Khrapchencô), bên cạnh những đóng góp quan trọng về mặt nghiên cứu Lý luận văn học thì tất cả những quan niệm đó đều có hạn chế nhất định Vì vậy cần có một quan niệm đúng đắn hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn cả về phong cách, phải khắc phục những hạn chế đó và lí giải một cách xác đáng những đặc trưng của phong cách nghệ thuật Nó như một “ viên ngọc” sáng lan toả và bao hàm mọi thứ ánh sáng và đó là một “ lát cắt vào những vấn đề xã hội”
Viện sĩ M.B.Khrapchencô trong công trình nghiên cứu của mình (đã dẫn ở trên), đã đa ra một quan niệm mới, một định nghĩa mới về phong cách Định nghĩa của
ông về phong cách đã được đông đảo các nhà nghiên cứu phê bình ủng hộ và công nhận:
“ Phong cách cần phải được định nghĩa như phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình
tượng đối với cuộc sống như phương thức thuyết phục và thu hút độc giả ” [8;279]
Để hiểu được quan niệm trên của M.B.Khrapchencô, chúng ta cần phải xem xét
ba bình diện quan trọng:
1 Những yếu tố tạo thành phong cách
2 Những nhân tố quy định phong cách
Trang 173 Những yếu tố biểu hiện phong cách
Một tác phẩm văn học có giá trị phải có tính toàn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh
về hình thức Như vậy, những yếu tố cơ bản để tạo thành hình thức tác phẩm, đó là: kết cấu - cốt truyện; các biện pháp nghệ thuật thể hiện hình tượng; lời nói nghệ thuật Ba yếu
tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và khi chúng kết hợp với nhau sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp: vừa khám phá, vừa đánh giá được một phạm vi của đời sống Đồng thời kết hợp với hình thức tác phẩm hoàn thiện (tức là hình thức phải thể hiện vừa rõ, vừa
đủ nội dung) Khi đó tác phẩm mới thành “chỉnh thể thống nhất sinh động” Vì vậy, nếu hình thức chỉ tồn tại ở một tác phẩm, thì phong cách là hiện tượng rộng hơn, bao trùm cả nhóm tác phẩm Bản thân các yếu tố tạo thành hình thức của tác phẩm không phải là phong cách
Trong công trình nghiên cứu của mình, M.B.Khrapchencô đã phát hiện và chỉ rõ năm nhân tố quy định phong cách là:
1 Những đặc điểm của cá tính sáng tạo
2 Sự phát triển về mặt sáng tác của người nghệ sĩ
3 Cùng với thế giới quan của người nghệ sĩ là tính chất của bản thân đối tượng sáng tác, vẻ đặc thù của những xung đột xã hội
4 Sự định hướng bên trong của nhà văn nhằm vào nhóm độc giả
5 Sự hình thành hoàn chỉnh bên trong của tác phẩm
Như vậy năm nhân tố trên là những điểm quan trọng phân biệt cái có liên quan
đến phong cách hay không phải là phong cách hay phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ:
M.B.Khrapchenco cũng chỉ rõ có bảy yếu tố biểu hiện phong cách như sau:
1 Phong cách, một kiểu máy phát năng lượng nghệ thuật riêng
2 Tính cấu trúc của một kiểu sinh thể nghệ thuật
3 Hệ thống giọng điệu - kết quả của sự biểu hiện nghệ thuật đặc trưng
4 Không gian, thời gian và kiểu kết hợp không gian - thời gian mang màu sắc riêng
Trang 185 Tính chất nhiều chức năng của ngôn ngữ
6 Phong cách, sự lĩnh hội riêng - lĩnh hội cách tân đối với thế giới
7 Phong cách - kiểu sáng tạo riêng đem lại màu sắc mới cho thể văn
Qua đó, chúng ta thấy rằng: Những nhân tố quy định phong cách chỉ đóng vai trò
là tác nhân trực tiếp dẫn đến sự hình thành phong cách chứ không bản thân phong cách; còn những yếu tố biểu hiện phong cách mới chính là những dấu hiệu của bản thân phong cách Những nhân tố này như những điểm tựa, chìa khoá để đi tìm hiểu khai thác phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ Chính vì vậy khi tìm hiểu vấn đề phong cách chúng
ta cần phân biệt rõ hai phương diện này
Theo cách định nghĩa của viện sĩ M.B.Khrapchencô về phong cách, thì chúng ta cần phải quan tâm lưu ý đến những thuật ngữ “ phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng ”, “ phương thức thuyết phục và thu hút độc giả”, coi đây là chìa khoá để tìm hiểu quan niệm về phong cách của viện sĩ M.B.Khrapchencô
Tuy vậy, không phải bất kì nhà văn nào cũng tự áp đặt quan điểm đó cho riêng mình Muốn tạo phong cách độc đáo cho chính mình thì họ phải tự đi tìm những phương thức, những biện pháp nghệ thuật cho phép tổ chức, sắp xếp, sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật lôi cuốn, hấp dẫn độc giả Nhưng cái gì là sự biểu hiện “ phương thức thuyết phục và thu hút ” đó? Cách giải thích đúng đắn hơn cả là theo M.B.Khrapchencô: “
Phong cách thuyết phục bằng cách thể hiện những đặc tính của sự vật; của những quá trình hiện thực, của những tính cách con người ” [8;279] Vì vậy, khi xem xét vấn đề
phong cách chúng ta cần quan tâm xem xét ba vấn đề sau:
Một là, quan tâm xem nhà văn thích thú khai thác mặt thẩm mĩ nào của sự vật
(cái đẹp, cái bi, cái hùng, cái hài, cái xấu)
Hai là, xem xét quá trình diễn biến cũng như sự biến đổi của hiện thực và tác
động lên nó
Ba là, xem xét quá trình xây dựng những tính cách, những cá tính độc đáo
Như vậy, từ cách hiểu về “ phương thức thuyết phục ” như trên, ta có thể khẳng
định: cái “lôi cuốn” của một phong cách không phải là “sự mua vui”, không phải là sự
Trang 19trang điểm bên ngoài nào đó đối với thực chất của nó, mà là nội dung nghệ thuật bên trong của tác phẩm ấy, phong cách ấy Mặt khác, sự thống nhất giữa hai mặt “sự biểu hiện” và “sự thuyết phục” không phải là một đại lượng tự động nảy sinh mà là thành quả sáng tạo, là “thước đo của tính nghệ thuật chân chính trong tác phẩm văn học”
1.2.2 ở trong nước
Vấn đề phong cách từ khá lâu đã được giới nghiên cứu và phê bình văn học quan tâm nghiên cứu Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu ít nhiều
có bàn đến một vài khía cạnh khác nhau về phong cách nhưng chưa thật sâu sắc và đầy
đủ Nổi bật là hai nhà nghiên cứu Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn “Thi Nhân Việt
Nam” [23] đã có những đóng góp độc đáo trong phong cách của các nhà thơ mới
1932-1945 Ví như: “ Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở
như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… Và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” [23;34] Hai ông đã đi đến kết luận: “ Từ người này sang người khác Sự cách biệt rõ ràng…ở đây đó chỉ làm giàu cho thi ca ” [23;34] Qua đó, ta thấy
hai tác giả mới chỉ nhận ra những nét độc đáo về nội dung mà chưa thực sự chú ý đến
những cách tân hình thức của các nhà thơ mới Từ đó các tác giả “ Thi Nhân Việt Nam ”
chưa đa ra một định nghĩa hay một quan niệm nào thật chính xác về phong cách Do đó vấn đề phong cách vẫn còn bỏ ngỏ
Bước sang nửa sau thế kỷ XX, việc bàn luận về phong cách nghệ thuật mới bắt
đầu sôi nổi Trong một số cuốn sách như: “Từ điển văn học” [9]; “Từ điển thuật ngữ văn
học” [22], giáo trình lí luận văn học dùng trong các Trường Đại học Tổng hợp và Đại
học Sư phạm do Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Hạnh… chủ biên [12] đã đưa
ra các khái niệm cơ bản nhất về phong cách Trong các công trình nghiên cứu như: “ Tìm
hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều ” của Phan Ngọc [16]; “Nhà văn tư tưởng và phong cách” của Nguyễn Đăng Mạnh [13]; “ Con mắt thơ ” của Đỗ Lai Thuý
[25] và một số bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí văn học Khi bàn về khái niệm này, các tác giả có những quan niệm cách hiểu khác nhau về phong cách của mình Tuy
Trang 20nhiên, do giới hạn của khoá luận, người viết chỉ tập trung dẫn ra một số quan niệm tiêu biểu và có ý nghĩa thực tế
1.2.2.1 Theo giáo trình Lý luận văn học, phong cách được hiểu “ là chỗ độc đáo
về tư tưởng cũng như nghệ thuật phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của nhà văn
u tú ” [12.482] Bên cạnh đó có quan niệm cho rằng: “ Phong cách sáng tạo văn học là tổng thể những đường nét riêng biệt của một chân dung văn học, được nảy sinh trên cơ
sở một phương pháp sáng tác nhất định, đó là chiều sâu của bản chất nhất của một cá tính sáng tạo, là những giá trị thẩm mỹ tối ưu mà tác giả, tác phẩm văn học, khuynh hướng văn học, nền văn học, đã đạt được; là sức toả, sức phát sáng đối với bạn đọc”
[2;257]
1.2.2.2 Trong cuốn “ Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều ”, G.S
Phan Ngọc đã liệt kê một loạt những cách hiểu phiến diện về phong cách từng tồn tại trong đời sống cũng như trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật ở nước ta từ nhiều năm nay
Ông viết: “ Có quan niệm đồng nhất phong cách với hình thức, và người ta nói đến
phong cách ở mọi bài văn Có quan niệm đồng nhất hoá nó với một đặc điểm nổi bật của hình thức và người ta nói đến phong cách trang trọng, phong cách châm biếm Có quan niệm đồng nhất hoá nó với từ ngữ và người ta nói đến phong cách toán học, phong cách vật lý Có quan niệm đồng nhất nó với thể loại và người ta nói đến phong cách tiểu thuyết, phong cách kịch” Trên cơ sở đó ông đa ra một khẳng định về phong cách:
“Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành
một cách lịch sử và chứa đựng giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại một tác phẩm, hay một tác giả” [16;31]
Như vậy, cả hai quan niệm trên đều xem xét phong cách trong sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung và nghệ thuật Trong cách biểu hiểu thứ nhất, phong cách được tiếp cận tới bề sâu bản chất của nó, ở tính độc đáo và “ phẩm chất thẩm mỹ ” cần có Tuy nhiên phong cách được biểu hiện cụ thể ở yếu tố nào, phương diện nào thì các tác giả vẫn chưa nêu ra được Đến định nghĩa của GS Phan Ngọc, ông đã xác định được tính cấu trúc - một đặc trưng quan trọng của phong cách Nhưng đó chỉ là một trong số những đặc trưng
Trang 21cơ bản của phong cách mà viện sĩ M.B.Khrapchencô đã nêu ra trong công trình nghiên cứu của mình Mặt khác, với cách khai thác, khám phá phong cách của GS Phan Ngọc nghiêng về ngôn ngữ học và văn hoá vì vậy mà chưa có tính khái quát cao
1.2.2.3 GS Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn “ Nhà văn Việt Nam hiện đại chân
dung và phong cách ” đã nhấn mạnh: “ Tôi hiểu phong cách nghệ thuật là một khái niệm thuộc phạm trù thẩm mỹ…phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật… phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức…Trong quá trình sáng tác của nhà văn, phong cách nghệ thuật của ông ta luôn luôn chuyển từ tác phẩm này đến tác phẩm khác phong cách một khi đã định hình thì có tính bền vững ” [14;8] Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra các nhân tố quy định phong cách
nghệ thuật, đó là “ truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, môi trường thiên nhiên, môi
trường văn hóa, thói quen suy nghĩ, cảm xúc trạng thái riêng của nhà văn…có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành phong cách của một nhà văn thường lại là những ấn tượng của ông ta về môi trường sống của mình từ tuổi ấu thơ” [14;9]
Như vậy, GS Nguyễn Đăng Mạnh đưa ra quan niệm khá tiến bộ, hợp lý Ông cho rằng: Phong cách là sự độc đáo từ nội dung đến hình thức nghệ thuật qua hàng loạt tác phẩm của một tác giả nhất định Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa bàn cụ thể về các yếu tố biểu hiện phong cách, tiêu chí xác định và nhận diện phong cách
Tóm lại, qua việc tìm hiểu và phân tích các quan niệm tiêu biểu khác nhau
về phong cách nghệ thuật cá nhân, chúng tôi rút ra một số nhận xét:
1 Việc nghiên cứu về phong cách đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Ngày càng có nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa tiếp cận gần hơn, đúng hơn đến bản chất của phong cách nghệ thuật
2 Trong hệ thống những định nghĩa phong phú khác nhau về phong cách, chúng tôi nhận thấy định nghĩa của viện sĩ M.B.Khrapchencô là toàn diện, đúng đắn, sâu sắc mang tính khoa học hơn cả Vì thế, trong khoá luận này, người nghiên cứu thừa nhận và
đi theo hướng nghiên cứu của viện sĩ M.B.Khrapchencô về phong cách nghệ thuật của nhà văn
Trang 22Chương 2:
Những yếu tố biểu hiện phong cách truyện ngắn
là người phụ nữ tự ý thức về thân phận)
2.1 Phong cách, một kiểu máy phát năng lượng nghệ thuật riêng
“Những cấu trúc mới về phong cách thường gắn liền với sự tiến triển về mặt sáng
tạo của nhà văn, với sự thay đổi cách cảm thụ cuộc sống và phương pháp nghệ thuật của nhà văn” [8;274] Do đó phong cách giữ vai trò tổ chức rất quan trọng đối với những
chỉnh thể nghệ thuật “Tác phẩm văn học chỉ trở thành một hiện tượng nghệ thuật khi nó
chứa đựng năng lượng của tác động thẩm mĩ”, “phong cách như phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống như phương thức thuyết phục và thu hút
độc giả” [8;279] Thủ pháp “thu hút” độc giả là biện pháp qua hệ thống hình tượng nghệ
thuật và những thủ pháp nghệ thuật được nhà văn vận dụng theo cách riêng nhằm khám phá đối tượng Không chỉ “thu hút” độc giả, tác phẩm văn học chỉ có ý nghĩa khi nó
“thuyết phục” độc giả tin và hành động theo “Thuyết phục” là sự thể hiện những đặc tính của sự vật, quá trình thực hiện hay tính cách, cá tính nhân vật, qua đó nhằm mục
đích tác động sâu sắc tới trí tuệ, tình cảm người đọc
Trong nhóm tác phẩm thể hiện hình tượng người phụ nữ tự ý thức về thân phận,
“năng lượng nghệ thuật riêng” của phong cách Thạch Lam chứa đựng trong những thủ pháp nghệ thuật sau:
2.1.1 Thủ pháp “miêu tả thiên nhiên nhằm khám phá tâm lí nhân vật”
Với mục đích “thu hút” và “thuyết phục” độc giả, nhà văn đã sử dụng linh hoạt những trạng thái cảm xúc, cảm giác nhân vật thông qua việc miêu tả thiên nhiên Thiên nhiên trong truyện ngắn Thạch Lam được biểu hiện là thiên nhiên của tâm trạng và thích ứng với tâm trạng nhân vật Tác giả không đi vào miêu tả ngoại hình mà tập chung miêu tả ngoại cảnh, miêu tả thiên nhiên nhằm biểu hiện những biến đổi tinh vi trong tâm trạng
Trang 23nhân vật trước hoàn cảnh cuộc sống
Đọc “Cô hàng xén” nhà văn miêu tả thiên nhiên rất thực, trong làng “…ngõ đã
tối”, trước đình “sân gạch rộng đầy bóng tối và yên lặng” khiến cô suýt va phải “một người đi ở ngõ xa” hay cái vòng của rặng tre làng Bằng “tăm tối và dày đặc” đã khơi dậy trong cô tâm trạng buồn rầu khi “nhìn thấu cả cuộc đời mình” từ “tuổi trẻ đến già toàn những khó nhọc và lo sợ” Hình ảnh “ ngõ tối” đã khắc hoạ tâm trạng của Tâm thêm
buồn bã tủi cực và khắc khoải Nó gợi nhiều cảm xúc cho người đọc ở “Nhà mẹ Lê”
nhà văn đã miêu tả cái giá lạnh mùa đông cùng ngôi nhà tồi tàn, toan hoang của mẹ con bác Lê Nếu cuộc sống càng vất vả, nghèo khổ, tù túng bao nhiêu, thì tâm trạng đau đớn,
tủi nhục của người mẹ nghèo càng thêm thấm thía bấy nhiêu Trong tác phẩm “Tối ba
mươi”, là tâm trạng cô đơn, buồn tủi của hai cô gái giang hồ được hiện lên qua khung
cảnh cuộc sống chật chội trong nhà săm, “tiếng pháo giao thừa…” và trong không khí của đêm ba mươi làm “hai chị em cảm thấy trơ trọi quá”
Như vậy, đây là một thủ pháp vô cùng mới mẻ và độc đáo được Thạch Lam sử dụng thành công đã mang đến sự sáng tạo riêng trong phong cách của ông như một chiếc máy phát “năng lượng thẩm mĩ” nhằm “thu hút” và “thuyết phục” độc giả
2.1.2 Thủ pháp xây dựng tình huống bất hạnh
Mỗi tác phẩm văn chương thường được ví như “lát cắt” của đời sống xã hội, đi vào khám phá cuộc sống ở nhiều chiều nhất định Đọc truyện ngắn Thạch Lam, người
đọc không bắt gặp kiểu tình huống mang tính chất bất ngờ, éo le, hay những tình huống
tạo xung đột quyết liệt, kịch tính, mà là những tình huống trữ tình “…không nhằm mở ra
một cái thế thúc đẩy một thứ hành động thông thường của nhân vật phát triển mà nhằm thúc đẩy một thứ hành động khác – hành động tâm lí nghĩa là nhằm dấy lên trong lòng các nhân vật những cảm xúc, cảm tưởng nhiều khi rất đột xuất, riêng tư Tuỳ từng truyện, tuỳ hạng người mà nhân vật được đặt vào những kiểu tình huống khác nhau”
[24;16] Nhân vật trong kiểu tình huống này là những cảnh đời lam lũ, đáng thương, sống nghèo khổ trong sự mòn mỏi và cam chịu số phận bất hạnh ở một thời điểm nào
đó, những khó khăn, vất vả hằng ngày đè nặng hơn bao giờ hết khiến nỗi bất hạnh càng
Trang 24thê thiết, đau đớn hơn Từ đó nhân vật tự ý thức về thân phận mình, gia đình mình
Trong truyện ngắn “Nhà mẹ Lê”, cuộc đời mẹ Lê là cả một chuỗi ngày dài trong
nghèo khổ “Từ lúc còn bé đến bây giờ chỉ toàn là những ngày đau khổ, nhọc nhằn”,
“sinh ra trong đói nghèo”, lớn lên, lấy chồng và sinh đợc đàn con thì cuộc sống càng cơ cực, bần hàn hơn Trong sự bất hạnh ấy, người phụ nữ đã tự ý thức được thân phận đau
đớn, xót thương cho đàn con rách rới, đói khát” Còn trong truyện ngắn “Cô hàng xén” , cô Tâm xinh đẹp suốt đời sống trong lo âu và khó nhọc ở tác phẩm “Tối ba mơi”, hai cô
gái Huệ và Liên trong căn nhà săm chỉ có một mình, họ đã bật khóc trong căn phòng bẩn
thỉu, chật hẹp, tối tăm Và trong truyện “Hai lần chết” cô Dung cũng nhận ra rằng: “lần
này về nhà chồng nàng mới hẳn là chết đuối Chết không bấu víu vào đâu được”
Có thể nói, đặt nhân vật vào những tình huống cuộc đời bất hạnh, nhà văn đã diễn tả những cảm xúc tâm trạng chung quy là buồn và chua xót đau đớn một cách thấm thía Chúng tạo ra một cảm giác bế tắc, bất lực không có lối thoát cho số kiếp con người Dường như những người phụ nữ ấy cả cuộc đời luôn hứng chịu mọi bất hạnh dồn dập
2.1.3 Thủ pháp “khắc họa những trạng thái cảm xúc”
Thạch Lam quan niệm “Thiên chức nhà văn cũng như những chức vụ cao quý
khác phải nâng đỡ những gì tốt đẹp để trong đời có nhiều công bằng và yêu thương hơn”
[28;21] Lật từng trang văn Thạch Lam, người đọc bắt gặp một thế giới vô cùng phong phú với những trạng thái cảm xúc, những chuyển biến tâm hồn nhân vật trước ngoại cảnh
Nhân vật Tâm trong “Cô hàng xén” là trường hợp tiêu biểu Mở đầu truyện là một
cảm giác “chắc dạ và ấm cúng” trong lòng trên đường trở về nhà Tiếp đó là cảm giác
“vui vẻ và nảy nở trong thâm tâm những ý muốn tốt đẹp cho gia đình” nhưng kết thúc tác phẩm lại là cảm giác mệt nhọc và lo sợ “ngày nọ dệt ngày kia như một tấm vải thô”
Hay Huệ và Liên “Tối ba mơi” thì đó là cảm giác “tiếc nuối vô hạn quá khứ vui vẻ, đầm
ấm hạnh phúc”, đối lập với hiện tại chỉ toàn là nỗi xót xa, tủi cực, thất vọng chán
chường Đến “Nhà mẹ Lê” là cảm giác bao trùm trong cái đói miếng ăn Bác Lê vất vả,
tất tởi suốt quanh năm ngày tháng để muôi mười một đứa con Trong những ngày đói
Trang 25kém bác luôn nghĩ tìm cách nào khiến đàn con mình khỏi chết đói Tới truyện ngắn “Hai
lần chết” là cảm giác “chán nản và lạnh lẽo của Dung khi phải quay về nhà chồng” Để
rồi cô hiểu rằng: “chết không bấu víu vào đâu được Chết không có ai cứu vớt nàng ra nữa”
Như vậy, với thủ pháp nghệ thuật “khắc hoạ những trạng thái cảm xúc”, Thạch Lam đã khơi dậy vào tâm lí người đọc niềm xót thương, chia sẻ Đặc biệt, nó còn “thu hút” và “thuyết phục” độc giả bởi mọi biến thái tinh vi trong tâm trạng con người Biệt tài của ông là sự phát hiện và miêu tả một cách “tỉ mỉ” và “sâu sắc” những biến đổi của
nhân vật “Ngòi bút Thạch Lam thường hướng vào thế giới bên trong của cái tôi Với sự
phân tích cảm giác tinh tế” [9;346]
2.1.4 Sự tổng hợp các biện pháp nghệ thuật thể hiện như là thủ pháp “thuyết phục” và “thu hút” độc giả
Có nhà nghiên cứu nhận xét : “Tác phẩm văn chương là đứa con tinh thần của
người nghệ sĩ” Việc xây dựng hình tượng văn học mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ
đòi hỏi nhà văn phải biết vận dụng phối hợp các biện pháp nghệ thuật sao cho mỗi hình tượng hiện lên trong tính toàn vẹn của nó Trong nhóm tác phẩm đã dẫn, Thạch Lam sử dụng tổng hợp các biện pháp nghệ thuật như một nguồn “năng lượng thẩm mĩ riêng” giúp người đọc tiếp cận và hiểu rõ các tác phẩm của ông Đúng nh Sacques Beorel đã
quan niệm: “Mọi nghệ thuật đều là sự tìm tòi”
2.1.4.1 Biện pháp tả
GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét : “ Thế giới nhân vật của Thạch Lam bao gồm
những người nghèo khổ đời sống cơ cực bế tắc, tương lai mù mịt ” [15;148] Tả là biện
pháp nghệ thuật diễn tả bằng ngôn ngữ các hành động và sự kiện về nhân vật Qua đó người đọc có thể hình dung ra một cách rõ nét về đời sống Tả vừa “thuyết phục” bằng việc tạo ra cái vật chất bên ngoài hình tượng vừa “thu hút” độc giả thông qua sự cảm nhận hình tượng bằng các giác quan Qua nhóm tác phẩm kể trên, ta thấy ngòi bút Thạch Lam tập trung khắc sâu hơn khi miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật Từ đó, mỗi hình tượng hiện lên rõ nét thông qua các trạng thái cảm xúc
Trang 26Chẳng hạn, biện pháp tả trong “Cô hàng xén” giúp ta hình dung một ngời con gái
xinh đẹp từ ngoại hình đến tính cách Tâm là một cô gái chịu khó, tần tảo chăm sóc gia
đình Nhng từ khi lấy chồng, nàng đã trở thành một người đàn bà già nua luôn sống
trong lo toan, tính toán và cam chịu Đến cô Dung trong “Hai lần chết” thể hiện lên chủ
yếu thông qua những trạng thái cảm giác, cảm xúc lo sợ khi hiểu ra rằng cuộc sống của
mình thực sự bây giờ đã chết hẳn Đặc biệt những người phụ nữ trong “Tối ba mơi’ lại
đuợc nhà văn tập trung miêu tả những biến đổi nội tâm của Huệ và Liên trong đêm giao
thừa “tràn ngập cả một nỗi niềm tha hương, hồi nhớ lại quá khứ tổ tiên, những ngày
2.1.4.2 Biện pháp kể
Cùng với tả, kể là một biện pháp không thể thiếu trong tác phẩm tự sự Kể là cách nhà văn dùng ngôn từ để thuật lại quá trình vận động, biến đổi nào đó của nhân vật Qua lời kể tác giả, thì cuộc đời và phận nhân vật hiện lên rõ ràng, tờng minh Biểu hiện trước hết trong lời kể mộc mạc chân phương, mà cuộc đời và số phận gia đình bác Lê hiện lên rõ nét “…đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau, rét run trong căn nhà ẩm ớt và tồi
tàn”(Nhà mẹ Lê) ở “Cô hàng xén”, cô Tâm xuất hiện theo lời kể của tác giả “…gánh
hàng nặng quá trên đôi vai nhỏ bé…những ngày khó nhọc và cố sức lại nối tiếp nhau” và
cuộc đời Tâm hiện lên khách quan như một thước phim vậy Đến “Hai lần chết” là cuộc
đời và số phận của Dung được Thach Lam kể một cách tỉ mỉ rõ nét “…tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày…”
Như thế, có thể thấy, Thạch Lam sử dụng cách kể khá linh hoạt và uyển chuyển, giúp người đọc hình dung ra cuộc đời và thân phận người phụ nữ Từ đó giúp độc giả có thể lí giả được nguyên nhân dẫn đến những số phận bất hạnh ấy
Trang 272.1.4.3 Biện pháp đối thoại
Đối thoại là những tiếng nói, sự đối đáp giữa các nhân vật Biện pháp này vừa giúp người đọc hiểu được nội dung lời thoại , vừa nắm bắt được tính cách các nhân vật thông qua đối đáp Trong nhóm tác phẩm đã dẫn, Thạch Lam đã thể hiện rõ nét nội dung đối đáp và tính cách nhân vật Ví như đoạn đối thoại giữa bác Lê và đứa con cả trong “Nhà mẹ Lê” : “…ở nhà trông các em …tao cứ liều vào lần nữa xem sao” Qua
đây, chúng ta biết được nội dung câu chuyện đó là sự liều mình của bác Lê khi đến nhà
ông Bá vay tiền
Trong “Tối ba mơi”, tác giả đã xây dựng cuộc đối thoại ngập ngừng, đứt quãng:
“Chị thắp hương chưa? … sắp đến mười hai giờ rồi đấy chị cũng khóc đấy ?” Với
đoạn đối thoại này, ta thấy sự chán chường cay đắng, cô quạnh trong sâu thẳm tâm hồn của Huệ và Liên đồng thời phơi bày hết cảnh sống trụy lạc và nỗi tủi nhục đau xót của những cô gái nhà săm
Ngoài ra ta có thể bắt gặp nhiều cuộc đối thoại như: “Cô hàng xén”, giữa Tâm và mẹ; trong “Hai lần chết” giữa Dung và mẹ chồng … Tất cả đã biểu thị số phận cuộc đời
và tính cách nhân vật
Có thể nói, qua việc sử dụng biện pháp nghệ thuật đối thoại, Thạch Lam đã thể hiện sâu sắc tính cách và thân phận nhân vật đa họ gần gũi với đời thường hơn Bởi tác
giả biết quan sát sự việc từ bên trong: “Nhà văn có biệt tài là nhà văn đã diễn tả đúng và
thấu đáo cái tâm lí uyển chuyển của con người” [18;235]
2.1.4.4 Biện pháp độc thoại
Độc thoại (nói, nghĩ một mình) là biện pháp nghệ thuật mà nhân vật tự nói lên những suy nghĩ, ý nghĩ bên trong của mình Qua đó, người đọc khám phá được tính cách, cá tính và chiều hướng con đường đời nhân vật Đây là biện pháp đem lại hiệu quả
nghệ thuật tối ưu khi Thạch Lam miêu tả chiều sâu tâm hồn con người: “Lặng lẽ hướng
ngòi bút của mình về phía những nưgời nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn thương xót chân thành” [1;229]
Trong tác phẩm “Nhà mẹ Lê” nhà văn để cho bác Lê theo dòng xoáy của tâm
Trang 28trạng lúc nào cũng là dòng suy nghĩ về kiếp sống cơ cực, nghèo khổ của mình Trong lúc
mê sảng bác tưởng nhớ lại cuộc đời mình “Từ khi còn bé đến bây giờ chỉ toàn là những ngày khổ sở, nhọc nhằn… theo liền bác mãi” Dòng tâm trạng ấy cứ trào lên trong lòng người đàn bà bất hạnh ấy và bác đã kêu lên: “Trời ơi! Sao tôi khổ thế này ” Đó như một lời thống khổ, là tiếng đời kết luận cả cuộc đời nghèo khổ cơ cực của bác
Hoặc trong “Cô hàng xén” cuộc sống của Tâm bề ngoài luôn cởi mở, tươi vui với
cha mẹ và các em, nhưng bên trong lại là một tâm trạng ngổn ngang đầy lo tính Những suy nghĩ lo toan làm sao kiếm đủ tiền để cho gia đình chồng và các em ăn học Trong lòng Tâm “không bao giờ cô nghĩ cho riêng mình”, cho cuộc đời riêng của cô
Đến “Tối ba mơi’ đó là tâm trạng lẻ loi, cô đơn, tủi nhục,chán chường vì kiếp
sống lạc loài của Huệ và Liên Với Liên “nghĩ đến sự trơ trọi của đời mình” còn Huệ
“nghĩ đến cái thân thế lu lạc của hai chị em và lòng se lại” Kiếp đời bất hạnh vây chặt lấy hai cô và họ sẽ phải nương tựa vào nhau để sống qua ngày: “Liên cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mang tràn ngập cả người một nỗi thương tiếc vô hạn, tất cả thân thế này hiện lên qua trước mắt với những ớc mơ tuổi trẻ những thất vọng chán chờng”
Vậy là, để cho nhân vật tự độc thoại vào những thời điểm quan trọng, Thạch Lam
đã khơi gợi, hé ra trước độc giả phần thật nhất trong con người nhỏ bé, đáng thương Với biện pháp nghệ thuật độc thoại linh hoạt, uyển chuyển, nhà văn đã hoàn tất bức chân dung về những người phụ nữ Họ ý thức được về thân phận mình, để rồi cam chịu cuộc
sống đó Bởi thế, ngòi bút Thạch Lam “lặng lẽ và điềm tĩnh vô cùng” diễn tả “ một cách
rất tinh vi đến độ sâu sắc” [19;41]
2.1.4.5 Biện pháp xung đột kịch tính Xung đột là sự đối lập, sự mâu thuẫn, nó như một nguyên tắc để xây dựng những mối quan hệ qua lại giữa các nhân vật Xung đột kịch tính là xung đột chứa đựng những hành động chống đối quyết liệt qua đó thể hiện rõ nét cá tính của nhân vật
Xung đột trong Truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” là xung đột giữa người giàu – người nghèo (gia đình bác Lê và gia đình ông Bá Phúc) Hoặc “Hai lần chết” là xung đột giữa
mẹ chồng - nàng dâu (Dung- mẹ Dung) Đến “Cô hàng xén” là xung đột trong tình cảm
Trang 29của Tâm với một bên là gia đình nhà chồng còn một bên là bố mẹ và các em
Có thể nói, ở nhóm tác phẩm đã dẫn, các xung đột không biểu hiện ra bằng các hành động quyết liệt mà thông qua những cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, dai dẳng và thường kết thúc trong sự day dứt đau khổ của người phụ nữ Nhưng qua những xung đột
đó ta thấy thân phận con người hiện lên rõ nét, đồng thời khơi gợi vầng hào quang trong nét đẹp tâm hồn họ Với việc khai thác các xung đột bên trong nhân vật, những đau đớn trong nội tâm nhân vật đã góp phần tạo nên “tính sinh động” cho tác phẩm, hơn nữa nó thể hiện sự độc đáo trong phong cách nhà văn
2.1.5.6 Biện pháp tâm tình
Tâm tình là sự bày tỏ những suy nghĩ của một nhân vật nào đó, xuất hiện trên cơ
sở hướng tới một đối tượng nào đó Nhà văn sử dụng biện pháp này như một phương tiện nghệ thuật quan trọng nhằm xoáy sâu vào các vấn đề mà truyện đặt ra, nó giống như một
“điểm nhấn” nhằm “thu hút” và “ thuyết phục” độc giả Qua khảo sát nhóm tác phẩm đã dẫn, ta thấy những lời tâm tình các nhân vật thờng hoà vào lời đối thoại, độc thoại
Chẳng hạn, trong “Nhà mẹ Lê” bác Lê rất nhẹ nhàng khi nói với thằng con trai
lớn: “Nhưng biết làm thế nào ! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn ? Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao” hay “Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài: Thế là mẹ con biết lấy gì mà ăn cho đỡ đói bây giờ” Tất cả đã tạo nên hình ảnh một bà mẹ nông dân khốn khổ nhưng ẩn bên trong là tấm lòng đôn hậu, yêu thương con mình
Với truyện ngắn “Cô hàng xén” tác giả sử dụng biện pháp tâm tình khi Tâm đối
diện với chính mình “Không biết nàng còn tảo tần mãi đợc để kiếm tiền mua giấy bút cho chúng ăn học không ?”, “Tâm buồn sầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời của cô hàng xén…”
ở tác phẩm “Tối ba mơi” trong cuộc trò chuyện giữa Huệ và Liên trong căn nhà săm “Huệ nhìn Liên rồi nhẹ nhàng đến gần, buồn rầu vỗ vai bạn: Liên khóc làm gì nữa, buồn lắm Tiếng nàng cũng cảm động nghẹn ngào (…)” Đây là lời tâm tình của những ngời có cùng thân phận lẻ loi, cô đơn
Như vậy, biện pháp nghệ thuật tâm tình đã khắc hoạ đậm nét bức chân dung tinh
Trang 30thần của các nhân vật: họ ý thức về thân phận nhng lại cam chịu cuộc sống quẩn quanh
bế tắc
Tóm lại, với việc sử dụng rất “đắc địa” các biện pháp nghệ thuật nhằm “thu hút”
và “thuyết phục” độc giả Từ đó người đọc nhận thấy “chiếc máy phát năng lượng thẩm mỹ” trong phong cách truyện ngắn Thạch Lam, chủ yếu khai thác các thủ pháp “miêu tả
trạng thái cảm xúc” để nhân vật tự ý thức về thân phận mình “Ngòi bút Thạch Lam
thường hướng vào thế giới bên trong cái tôi với sự phát triển cảm giác tinh tế” Đó là cảm giác mong manh rung động khẽ nh cánh bớm non” [9;347]
2.2 Phong cách – tính cấu trúc của một kiểu “sinh thể nghệ thuật”
Viện sĩ M.B.Khrapchencô đã khẳng định: “Phong cách thực hiện một chức năng
quan trọng trong việc hình thành cấu trúc bên trong của những hiện ưtợng văn học”
[8;281] Mặt khác tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh trở thành một “sinh
thể nghệ thuật” thì “Nguyện vọng tha thiết của người nghệ sĩ nhằm đạt tới tác động thẩm
mĩ cao nhất thể hiện rõ rệt trong sự hoàn chỉnh bên trong của tác phẩm nghệ thuật ấy”
[8;278]
Cấu trúc tác phẩm là “tổ chức nội tại mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố của tác
phẩm mà sự biến đổi một yếu tố nào đó sẽ kéo theo sự biến đổi của một vài yếu tố khác”
[22;51] Tính cấu trúc tác phẩm thể hiện ở bốn cấp độ: Cấp độ chi tiết, hành động; cấp
độ nhân vật; cấp độ tác phẩm và cấp độ nhóm tác phẩm
2.2.1 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ chi tiết, hành động
Sự hoàn chỉnh ở cấp độ chi tiết, hành động là việc tác giả có khả năng đa ra được những lý do thuyết phục, lý giải cho sự hợp lí của hành động mà nhân vật thể hiện Trong nhóm tác phẩm đã dẫn, Thạch Lam rất chú ý tới tính hợp lí ở mỗi hành động dù là
nhỏ nhất “Những cái tồn tại trong tác phẩm, phụ thuộc vào sự khai thác hình tượng với
tính cách và cá tính nhân vật qua mỗi hành động của chúng” [5;90]
Trong truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” một loạt các hành động quan trọng đều tập trung
vào nhân vật trung tâm Chẳng hạn như hành động bác Lê sang nhà ông Bá xin gạo cho thấy sự nghèo đói đến kiệt cùng, số phận bất lực hoàn toàn Hay chi tiết cuối tác phẩm
Trang 31“khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u (… ) không biết bao giờ dứt”, có sức ám ảnh lớn với người đọc về thân phận những con người nghèo khổ
Với “Cô hàng xén” kết thúc tác phẩm là lúc “Tâm dấn bớc Cái vòng đen(… )
Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối” gợi lên cho người đọc về một cảnh đời long
đong, vất vả đầy lo âu và tủi cực của người phụ nữ
Cũng như vậy, các hành động của Huệ và Liên trong “Tối ba mơi”, khi mà hai cô
gái chuẩn bị đồ lễ để cúng giao thừa Mặc dù rất đơn giản nhưng qua đó miền kí ức tươi
đẹp lại hiện lên với vẻ đẹp trong sáng Chi tiết kết thúc tác phẩm “Huệ gục vào vai bạn không trả lời (…) Hai chị em nép vào nhau trong yên lặng” diễn tả thân phận bọt bèo, lênh đênh của các cô gái giang hồ Số phận của họ sẽ chìm trong cái vòng xoáy đó -
vòng xoáy cuộc đời “ là cả một nỗi quặn thắt của những giọt nước mắt muốn nén lại
nhưng vẫn không thể lặn vào trong của chính nhân vật ” [10;16]
Đặc biệt, trong tác phẩm “Hai lần chết”, hành động nhảy xuống sông tự tử của
Dung do “Nghĩ đến những lời đay nghiến (…) Dung thấy lạnh cả người như bị sốt”
Điều đó đã cho thấy sự ý thức về thân phận của mình một cách rõ ràng Đồng thời nó là kết cục tất yếu về số phận nàng
Nh vậy, qua nhóm truyện đã dẫn, hành động của các nhân vật trung tâm đều diễn
ra trên cơ sở tự nhận thức và tự ý thức Do đó, với việc xây dựng tính hoàn chỉnh ở cấp
độ chi tiết, hành động, nhà văn đã tạo ra bước chuyển mới trong việc xây dựng tính hoàn
chỉnh ở cấp độ nhân vật, “Thạch Lam thường chú ý tới những cảnh ngộ khác nhau, với
những tâm t tình cảm, cảm xúc, cảm giác nổi đậm” [6;115]
2.2.2 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhân vật
Mỗi nhân vật được hoàn chỉnh khi ở nhân vật có sự thống nhất chặt chẽ giữa chiều sâu tâm hồn tính cách và hành động, cử chỉ Nghĩa là, hành động, cử chỉ nào đó có thể lý giải bằng nét tính cách tương ứng Bởi mỗi nhân vật được coi là một chỉnh thể năng động, có khả năng tự vận động, tự đi lên Vì thế nhân vật nh một dòng chảy
“ngầm” vận động từ từ hợp lí “Nhân vật Thạch Lam trong những truyện ngắn hay nhất
đều có cảnh ngộ, có tâm trạng và tính cách điển hình” [10;17]
Trang 322.2.2.1 Trớc hết, trong nhóm tác phẩm đã dẫn, các nhân vật hiện lên là những
con người hớng nội Điều đó biểu hiện khi nhà văn cảm nhận và miêu tả “tỷ mỉ” và “sâu
sắc” những biến thái tinh vi trong tâm trạng con người Để từ đó họ tự ý thức về thân
phận, cuộc đời mình
Trong tác phẩm “Nhà mẹ Lê” bao trùm toàn truyện là những băn khoăn, lo lắng ở
người mẹ nghèo biết lấy gì chăm sóc đàn con mình, để chúng không phải chết đói Trong cơn mê sảng trước khi qua đời bác đã ý thức được rằng: “Từ lúc còn bé đến…chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn” và tiếng kêu cứu của Bác “Trời ơi ! …” là tiếng kêu cứu đời, cũng là sự ý thức về nỗi bất hạnh của cuộc đời mình
Hay Tâm trong “Cô hàng xén” cũng vậy, nàng vất vả, lo toan chăm sóc cho cả hai
gia đình, không khi nào cô nghĩ cho bản thân mình “Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc
đời nàng…ngày nọ dệt ngày kia nh tấm vải thô sơ” Mặc đù đã ý thức về thân phận, nhưng cô không có hành động để thay đổi mà cứ âm thầm lặng lẽ cam chịu
ở một cảnh đời khác, Dung trong “Hai lần chết” cũng lo sợ khi phải trở về nhà chồng, lại bắt đầu cuộc đời đày đoạ khổ cực sống mà như đã chết Để rồi cô nhận ra rằng: “Lần này về nhà chồng (…) cứu vớt nàng ra nữa”,cho thấy sự đau đớn, nỗi xót xa
đã phủ đầy lên cuộc đời và số mệnh ngời phụ nữ
Đặc biệt tính hoàn chỉnh bên trong nhân vật thể hiện rõ nhất ở Huệ và Liên “Tối
ba mơi” ý thức về những tủi cực, xót xa cho thân phận của gái “làng chơi” đồng thời
biểu thị một kiếp sống quẩn quanh, bế tắc không lối thoát của họ
2.2.2.2 Tiếp theo, tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhân vật còn thể hiện khi nhà văn miêu tả nội tâm nhân vật Bằng việc lựa chọn, sử dụng khoảnh khắc tâm lí, tác giả đã diễn tả sâu sắc tâm trạng con người, đồng thời thể hiện chiều sâu tâm lí nhân vật Đây là yếu tố tạo nên tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhân vật
Đọc “Nhà mẹ Lê” số phận bác Lê đợc giải thích thông qua việc trả lời các câu
hỏi: Tại sao bác Lê lại khổ như vậy? Nếu bác có việc để làm thì sẽ ra sao? Nếu bác không đi đến nhà ông Bá xin gạo thì đàn con bác có bị bơ vơ không? Còn Huệ và Liên
trong “Tối ba mơi” thì được nhà văn chú ý khai thác ở đời sống nội tâm trong khoảnh
Trang 33khắc một đêm giao thừa Trong giờ phút thiêng liêng ấy, mỗi người đều có ớc mơ riêng cho mình với hi vọng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn
2.2.3 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ tác phẩm
Có thể khẳng định rằng, tính hoàn chỉnh bên trong của mỗi tác phẩm là sự kết hợp giữa tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhân vật và cấp độ chi tiết hành động Tính hoàn
chỉnh đó được lí giải “như là sự miêu tả sinh động các hiện tượng của thế giới đối tượng
hay vật thể những cái tạo thành môi trường tự nhiên – xã hội bao quanh nhân” [5;232]
Nó chính là phương tiện cơ bản tất yếu của khái quát nghệ thuật, đảm nhậm các chức năng đa dạng: bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm
2.2.3.1 Xét ở cấp độ tác phẩm, “cấu trúc bên trong” thể hiện khi xem xét các nhân vật trong các mối liên quan hệ với các nhân vật khác trong tác phẩm Bởi “phong
cách thuyết phục bằng đặc điểm tính cách con người” Chẳng hạn “Nhà mẹ Lê” là mối
quan hệ giữa mẹ và con, giữa những người cùng cảnh ngộ Bác Lê là người mẹ của một bầy con nhỏ, cả đời chỉ phải lo nghĩ kế mưu sinh để nuôi đàn con mình Đến cô Tâm
“Cô hàng xén” là mối quan hệ giữa mẹ – con; anh - chị em; vợ – chồng Nàng là người
con gái cả trong gia đình phải lo toan chạy chợ để có tiền phụ giúp cho các em ăn học Khi lấy chồng, Tâm còn phải chăm sóc gia đình chồng nữa ở một cảnh ngộ khác, cô
Dung trong “Hai lần chết” là mối quan hệ giữa vợ- chồng; mẹ chồng - nàng dâu Cuộc
sống làm dâu cơ cực, nàng không chỉ vất vả về thể chất mà còn bị đè nén về tinh thần Dung sống mà như đã chết
Như vậy, đặt nhân vật trong các mối quan hệ sẽ làm nổi bật số phận và tính cách của họ Tất cả đều mang nét tính chung đó là: sự tần tảo, chịu thương chịu khó, đức tính
hi sinh hết lòng vì gia đình
2.2.3.2 Bên cạnh đó, tính hoàn chỉnh ở cấp độ tác phẩm còn thể hiện khi nhà văn
đặt nhân vật trong mối quan hệ với môi trường và hoàn cảnh sống để làm nổi bật sự tự ý thức về thân phận của họ
Đọc “Nhà mẹ Lê” chúng ta cảm thương cho số phận bác Lê Chồng chết, đông
con, gia đình nghèo túng, chỗ ở lụp xụp, tăm tối Cả cuộc đời bươn trải để kiếm kế sinh
Trang 34nhai Còn trong “Cô hàng xén”, Tâm cũng có một gia đình, có bố mẹ, các em Nhưng
sống trong cảnh làng quê nghèo khó, quanh năm phải chạy chợ kiếm sống “với gánh
hàng xén trên vai” Đến cô Dung “Hai lần chết”, nàng bị ép gả phải sống trong sự hành
hạ của chồng và mẹ chồng Trong cuộc sống đau khổ đó, cô muốn chết mà đâu có được
Nhưng Huệ và Liên trong “Tối ba mơi” lại bất hạnh bởi thân phận lạc loài, sống trong
căn nhà săm ẩm thấp, tồi tàn, cuộc sống kéo dài trong sự mòn mỏi, bất lực Đó là bi kịch của những người phụ nữ khi họ ý thức về thân phận mình
Có thể nói, qua việc khảo sát tính hoàn chỉnh ở cấp độ tác phẩm qua nhóm tác phẩm đã dẫn ta thấy, Thạch Lam rất thành công khi đi vào từng ngõ ngách của đời sống
nội tâm nhân vật qua đó thấy được cái nhìn mới mẻ, độc đáo của nhà văn, “tấm lòng xót
thương, trân trọng, tin yêu của ông như man mác trải trên từng trang sách nhỏ Và lòng
ông se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đủ nâng đỡ, an
ủi những người cùng khổ” [24;16]
2.2.4 Tính hoàn chỉnh ở cấp độ nhóm tác phẩm
Dựa trên tính hoàn chỉnh bên trong ở các cấp độ ( cấp độ chi tiết hành động, cấp
độ nhân vật, cấp độ tác phẩm) Chúng ta nhận thấy, trong nhóm tác phẩm đã dẫn là những sáng tác có cùng một kiểu hoàn chỉnh, cùng thuộc vào một dòng phong cách lớn của Thạch Lam - đó là hình tượng người phụ nữ tự ý thức về thân phận mình Sự thống nhất đó là phương thức biểu hiện tính hoàn chỉnh của nhóm tác phẩm đa ra khảo sát
Mỗi một nhân vật có số phận và cuộc đời riêng, bác Lê “Nhà mẹ Lê” chồng mất sớm phải vất vả, lo toan cho cuộc sống mưu sinh, cô Tâm “Cô hàng xén” chật vật lo cho gia đình, chồng con các em có cơm ăn, áo mặc Còn cô Dung “Hai lần chết” là số phận của sự ép gả, bị mẹ chồng hành hạ phải tìm đến cái chết; cô Huệ, cô Liên “Tối ba mơi”
là số phận của những cô gái giang hồ, sống bơ vơ giữa chốn đô thành Đó là những số phận riêng mà mỗi người phụ nữ phải chịu đựng ở đó, nhà văn như hoá thân vào cuộc
đời họ để cảm thông, thấu hiểu cho những số phận ấy
Tóm lại, ở yếu tố thứ hai này, việc tổ chức chặt chẽ các cấp độ từ chi tiết hành
động đến nhóm tác phẩm đã mang đến “tính chỉnh thể nghệ thuật” trong từng truyện
Trang 35ngắn của Thạch Lam Nhân vật nữ của ông là nhân vật mang tính cách – số phận, luôn toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ đời thường hiền dịu, chịu thương chịu khó
2.3 Hệ thống giọng điệu – kết quả của sự biểu hiện nghệ thuật đặc trưng
“Tác phẩm văn chương có trình độ nghệ thuật cao tồn tại một cách thống nhất
của sự nhìn nhận khai thác hình tượng của nhà văn với đời sống” [5;106] Để khẳng
định một tài năng sống độc đáo, “đó là tiếng nói của mình… là cái giọng riêng biệt của
chính mình Không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì người nào khác”
(Tuôcghênhep) Do vậy, khi tìm hiểu phong cách chúng ta không chỉ xem xét phong cách với tư cách là một yếu tố cấu trúc, mà còn phải quan tâm đến hệ thống giọng điệu
Bởi theo viện sĩ M.B.Kharapchencô cho rằng: “việc móc nối tư liệu, việc gắn những bộ
phận riêng lẻ của nó trở thành một chỉnh thể thống nhất chỉ có thể thực hiện được khi giọng điệu cần thiết có đợc sự biểu hiện rõ ràng” [8;294] Là một nhà văn có phong
cách, Thạch Lam đã xây dựng cho mình hệ thống giọng điệu riêng biệt, thể hiện trong sự kết hợp giữa giọng điệu và những sắc điệu thẩm mĩ khác nhau
2.3.1 Giọng điệu
Trớc hết, trong cuộc sống hàng ngày, giọng điệu là: “giọng nói, lời nói biểu thị một
thái độ nhất định” [20;403] Còn trong văn học giọng điệu chính là “thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả trong lời văn”
[22;134] Theo Kharapchencô” “Giọng điệu hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ đó không
phải chỉ là màu sắc, xúc cảm của thiên truyện hay của hành động kịch, mà là một cái gì lớn hơn thế Do chỗ giọng điệu gắn liền với việc định hình tượng để miêu tả đối tượng sáng tác, cho nên nó có những đặc điểm của cái nhìn nhận riêng của cá nhân đối với đời sống” [8;294]
2.3.1.1 Trong nhóm tác phẩm đã dẫn của Thạch Lam, ta thấy nổi bật lên là giọng
điệu buồn – thương xót Theo tác giả Hoàng Tiến: “Tất cả các truyện ngắn của Thạch
Lam đều có một giọng điệu thủ thỉ, nhẹ nhàng gần như thì thầm với độc giả, như là tiếng nói thầm mà âm vực loang rộng đến cả thế giới đều nghe thấy” [18;435]
Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Cô hàng xén” qua lời kể của tác giả, “Tâm bây giờ
Trang 36không còn là cô gái xinh xắn ( ) Tâm thấy mình già và yên tâm trong sự đứng tuổi.” Hay “Bỗng nhiên, nàng thấy đau xót trong lòng, thương mẹ và buồn cho cảnh nhà nghèo” Hoặc có khi giọng kể của nhà văn hoà cùng tâm trạng nhân vật, để chia sẻ những tủi cực đắng cay trong cuộc sống: “Liên cảm thấy một nỗi tủi cực thất vọng, chán
chường” và “Huệ gục xuống vai bạn không trả lời hết sức ôm chặt lấy Liên” (Tối ba
mươi) Bên cạnh đó giọng kể của nhà văn như theo dõi từng chi tiết, hành động của nhân
vật: “Trông thấy dòng sông xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình ( )
Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo” (Hai lần chết) Như vậy, từ chỗ đứng của
những người phụ nữ bất hạnh, Thạch Lam đã đồng cảm chân thành và sâu sắc với thân phận của họ
2.3.1.2 Ngoài ra, trong nhóm tác phẩm đa ra khảo sát, Thạch Lam còn tạo nên sự
“đa thanh, đa điệu” cho tác phẩm của mình bằng cách phối hợp nhiều giọng điệu khác
nhau Cô Tâm trong “Cô hàng xén” là giọng xót xa, tiếc nuối pha chút ngợi khen; bác Lê
“Nhà mẹ Lê” là giọng cảm thương chân thành sâu sắc; còn Huệ và Liên “Tối ba mơi” là
giọng điệu đồng cảm xót thương
Như vậy, Thạch Lam đã phối hợp hệ thống giọng điệu một cách nhịp nhàng, hoà quyện vào nhau nhằm tạo ra một phong cách riêng của mình Và nó đợc biểu hiện rõ hơn khi tìm hiểu sắc điệu thẩm mĩ của giọng điệu trong tác phẩm của nhà văn
2.3.2 Sắc điệu
Sắc điệu nghĩa là những mức độ biểu hiện khác nhau của một giọng điệu Theo
M.B.Khrapchencô: “Giọng điệu chủ yếu không những không loại trừ mà còn cho phép
tồn tại trong tác phẩm văn học những sắc điệu khác nhau Những sắc điệu này diễn đạt
sự phong phú của những phối cảnh cảm xúc trong việc lí giải những hiện tượng, những khía cạnh khác nhau và giống nhau của đối tượng sáng tác” [8;295] Trong cùng một
giọng điệu của một tác giả lại biểu hiện những mức độ ít - nhiều, nặng – nhẹ; đậm nhẹ
khác nhau Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Nhà mẹ Lê”, với giọng điệu u buồn - xót
thương nhưng ở nhiều sắc điệu khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau, giọng xót thương xen lẫn vui sướng trong những ngày gia đình có việc làm, có miếng ăn; giọng
Trang 37cay đắng, xót xa, nhẫn nhục khi bác đến nhà ông Bá xin gạo; giọng nức nở, tuyệt vọng khi bác cất tiếng kêu “Trời ơi! Sao tôi khổ thế này…”
ở một tác phẩm khác, “Hai lần chết”, cô Dung đã được nhà văn chú ý đến yếu tố sắc điệu, đó là giọng xót thương nghiêng về đồng cảm chia sẻ với hoàn cảnh sống, khi thì bỡ ngỡ xen lẫn vui sướng khi đi lấy chồng, khi thì đau đớn tủi nhục khi bị gia đình nhà chồng hành hạ
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, với việc sáng tạo ra một hệ thống giọng điệu riêng cho nhóm tác phẩm của mình: đó là giọng u buồn – xót thương là chủ âm, đã cho thấy sự độc đáo trong phong cách truyện ngắn của nhà văn
2.4 Phong cách là kiểu kết hợp giữa không gian và thời gian nghệ thuật mang màu sắc riêng
Theo Khrapchencô: “Tính xác định về chất của phong cách cá nhân biểu hiện rõ
trong thủ pháp và những phương thức kết cấu của tác phẩm văn học, trong cách cấu tạo: Xét trên phương diện vai trò chức năng của nó trong hệ thống phong cách – có thể xác định như là tổ chức không gian và thời gian” [8;302] Trong nhóm tác phẩm trên,
nhà văn tập trung đi sâu vào khai thác những kiểu không gian và thời gian tiêu biểu sau:
2.4.1 Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện
tính chỉnh thể của nó” [22;160] Mặt khác, nó là “một mặt quan trọng để nhà văn thể hiện quan niệm và tư tưởng nghệ thuật về con người” [18;251] Nói cách khác,bản chất
của không gian tức là bản chất của xung đột, nếu xung đột càng phức tạp, liên quan nhiều loại người khác nhau thì không gian rộng hơn và ngược lại Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí
và số phận của mình trong đó Trong nhóm tác phẩm đã dẫn không gian, được biểu hiện
ở những mặt sau:
2.4.1.1 Không gian hiện thực
Không gian hiện thực là không gian mà nhân vật hoạt động và sinh sống hàng ngày, là cái có tính cấu trúc và có đặc điểm đồng hiện tất cả các bộ phận Thạch Lam
Trang 38quan niệm: “Cái đẹp man mác trong vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở
mọi vật bình thường công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp ở chính chỗ mà không ai ngờ tới, tìm tới cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật” [6;94] Ví như, không gian của
một xóm chợ nghèo lụp xụp tăm tối “Nhà mẹ Lê” Cả dãy phố chợ đều nghèo khổ: “Hai
dãy nhà lụp xụp, mái tranh thấp xuống gần đến thềm ( ) bác Lê sống với mười một người con trong căn nhà rộng độ bằng hai chiếc chiếu ( ) chó con lúc nhúc” Hình ảnh người phụ nữ vất vả, lam lũ suốt cả ngày mà không nuôi đủ những đứa con mình
Hay không gian chợ phiên quê quen thuộc trong “Cô hàng xén”, tưởng như đông
vui, nhưng nó lại càng làm tăng vẻ buồn bã bởi điệp khúc sáng đi, tối về “Chợ mỗi lúc một ồn ào… Tâm như lịm đi”
Ngoài ra, đó còn là không gian chật hẹp của một căn nhà săm trong “Tối ba mơi”
Một căn phòng “tồi tàn”, “bẩn thỉu” đã tạo cảm giác xót thương cho nhân vật Đó là những dòng lệ chua xót, buồn tủi cho tấm thân lạc loài của họ
Như vậy, có thể thấy, hầu hết các truyện ngắn Thạch Lam đều sử dụng không
gian hiện thực hàng ngày “làm môi trường cho nhân vật hoạt động, nó đợc bó hẹp trong
không gian đời tư, không gian cá nhân, chứ không phải không gian xã hội rộng lớn”
[3;96], chính kiểu không gian này là cơ sở để nhân vật bộc lộ “thân phận của cuộc đời” mình Từ đó, nhà văn hình thành kiểu không gian “vòng đời – số phận”
2.4.1.2 Không gian “vòng đời - số phận”
Trong cái phông của không gian hiện thực, người đọc thấy được cuộc đời, số phận của người phụ nữ Mỗi nhân vật với thân phận, cảnh đời khác nhau Chẳng hạn, trong
truyện ngắn “Nhà mẹ Lê”, nhà văn đã miêu tả một vòng đời, số phận bác Lê, khi bác qua
đời thì đàn con của bác sẽ ra sao, “qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con bác
Lê ngồi ở vỉa hè ( ) cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt” Bên cạnh
đó, không gian kết thúc truyện ngắn “Cô hàng xén” là “Tâm dấn bớc ( ) nàng cúi đầu đi
mau vào trong ngõ tối” Đó chính là một vòng đời thân phận của Tâm, ý thức về cuộc
sống và thân phận mình nhưng lại lầm lũi cam chịu ở truyện ngắn “Tối ba mơi” kết
thúc tác phẩm là tiếng pháo giao thừa trong đêm ba mơi cũng chính là vòng đời - số