mình thì chúng ta đã có xấp xỉ 1,5 triệu doanh nhân, trong đó có đủ các thành phần nam, nữ, các lứa tuổi, các lĩnh vực, các ngành nghề kinh doanh, các hình thức doanh nghiệp… Hiện nay ch
Trang 1PHÂN TÍCH BA ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA LỚP DOANH NHÂN VIỆT NAM
MỚI
Mục lục:
I Sơ lược về Doanh nghiệp Việt Nam
a Sơ lược
b Nguồn gốc xuất thân
c Lý do để thành lập Doanh nghiệp
d Đặc điểm cơ bản của lớp Doanh nhân mới
II Phân tích ba đặc điểm cơ bản của lớp Doanh nhân Việt Nam mới
a Mức độ dám chấp nhận rủi ro
=> Liên hệ thực tế tại đơn vị công tác
b Tính đổi mới, sáng tạo (đối với sản phẩm, kênh phân phối, hoạt động
khuếch trương )
=> Liên hệ thực tế tại đơn vị công tác
c Tính tiên phong, đi trước đối thủ trong các hoạt động kinh doanh
=> Liên hệ thực tế tại đơn vị công tác
III Đánh giá thực trạng từng khía cạnh theo thang điểm
I Sơ lược về Doanh nghiệp Việt Nam
a, Sơ lược:
Ngày 13 tháng 10 đã được chọn là ngày Doanh nhân Việt Nam, như vậy có nghĩa là
xã hội đã công nhận Doanh nhân là một tầng lớp, mặc dù vẫn còn nhỏ bé, khác hẳn với thời kỳ bao cấp trước đây khi Doanh nhân được nhìn với con mắt kỳ thị
Nếu như những năm của thập niên 90, khi luật công ty ra đời thì Việt Nam có khoảng 40,000 doanh nghiệp thì cho tới nay, chúng ta đã có khoảng 500,000 doanh nghiệp Và mỗi doanh nghiệp có 2 đến 3 doanh nhân hoạt động với nghề thực sự của
Trang 2mình thì chúng ta đã có xấp xỉ 1,5 triệu doanh nhân, trong đó có đủ các thành phần nam, nữ, các lứa tuổi, các lĩnh vực, các ngành nghề kinh doanh, các hình thức doanh nghiệp…
Hiện nay chúng ta chưa có một tổ chức nào tiến hành điều tra tổng thể và nghiên cứu một cách toàn diện, để có thể cung cấp cho xã hội một bức tranh đầy đủ rõ nét về lớp doanh nhân mới của Việt nam, lớp người đang được cho là: “đóng vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng phát triển nền kinh tế nước nhà” Tuy nhiên, theo một bài viết của Bà Phạm Chi Lan- cựu chủ tịch phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI, trong mấy năm qua đã có một số cuộc điều tra được tiến hành trong từng nhóm doanh nghiệp như doanh nghiệp nữ (do Hội liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành năm 1999 trong các doanh nghiệp do những doanh nhân dưới 45 tuổi lãnh đạo), doanh nghiệp tư nhân (do Chương trình phát triển dự án Mê Kông MPDF thuộc nhóm IFC/WB tiến hành năm 1999 trên 127 doanh nghiệp tư nhân với hơn
400 đối tượng khác)
b, Nguồn gốc xuất thân của Doanh nhân Việt Nam ?
Theo số liệu của các cuộc điều tra nói trên, có khoảng 66% xuất thân từ các gia đình cán bộ nhà nước (kể cả gia đình cán bộ Đảng và các đoàn thể, quân đội, doanh nghiệp quốc doanh, cấp Trung ương và địa phương) và 16% xuất thân từ gia đình buôn bán, kinh doanh, số còn lại từ các tầng lớp giai cấp khác trong xã hội
c, Lý do để họ lập doanh nghiệp ?
Theo các số liệu điều tra của MPDF và doanh nghiệp nữ , thì những lý do chính để những doanh nhân Việt nam lập nghiệp bằng con đường kinh doanh là:
- Muốn phát huy tối đa năng lực cá nhân (76% theo điều tra của MPDF, 13,2% theo điều tra doanh nghiệp nữ)
- Có điều kiện thuận lợi để làm kinh doanh (61% theo điều tra doanh nghiệp trẻ, 27% theo điều tra doanh nghiệp nữ)
Trang 3- Để kiếm sống hoặc tăng thu nhập (50% theo MPDF, 14,3% theo điều tra doanh nghiệp nữ)
- Thích thử thách, sáng tạo (41% theo MPDF)
- Theo truyền thống gia đình (16% theo điều tra doanh nghiệp nữ), hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh (26% theo điều tra doanh nghiệp nữ)
- Muốn theo đuổi giá trị đạo đức hoặc phong cách sống riêng (23% theo MPDF)
d, Những đặc điểm cơ bản của lớp doanh nhân Việt nam mới:
Do đặc điểm chính trị và lịch sử, lớp doanh nhân mới ở nước ta có một số đặc điểm riêng, khác với doanh nhân ở các nước khác, đồng thời cũng có một số nét tương đồng với các đồng nghiệp nước ngoài Theo ông Đinh Hồng Kỳ, Tổng giám đốc Secoin đúc kết thì:
- Ra đời và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường của đất nước
- Đa số tuổi đời khá trẻ, được đào tạo và rèn luyện trong quá trình đổi mới, có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số không ít doanh nhân có trình độ học vấn hạn chế, kỹ năng quản trị, kinh doanh thấp
- Có tinh thần doanh nghiệp ý chí lập nghiệp, làm giàu, dám chấp nhận rủi ro, thách thức
- Làm việc rất cần cù, năng động chịu khó học và vươn tới cái mới, có tính tiên phong trong một số lĩnh vực
- Sống có nhân bản, có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng, có mong muốn được gắn bó trong hội đoàn
- Sống có văn hoá, giữ gìn những truyền thống, giá trị tốt đẹp của gia đình, xã hội và dân tộc Tuy vậy tất nhiên vẫn còn những thiểu số doanh nhân thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, văn hoá trong kinh doanh và trong cuộc sống, nên
Trang 4có những hành vi xấu làm phương hại đến lợi ích của Doanh nghiệp, của xã hội và của cộng đồng Doanh nghiệp
II Phân tích ba đặc điểm của lớp doanh nhân Việt mới:
Mức độ dám chấp nhận rủi ro
Tính đổi mới, sáng tạo (đối với sản phẩm, kênh phân phối, hoạt động khuếch trương )
Tính tiên phong, đi trước đối thủ trong các hoạt động kinh doanh
a, Mức độ dám chấp nhận rủi ro:
Theo các kết quả điều tra, khoảng 70% doanh nhân lãnh đạo các doanh nghiệp dân doanh ở độ tuổi dưới 45 (đối với doanh nghiệp nữ, tỷ lệ đó là 62%, với doanh nghiệp quốc doanh là 20 – 25%) Tuổi đời trẻ, ảnh hưởng nhiều tới tính năng động, ý chí dám chấp nhận rủi ro, thách thức, khả năng học hỏi và sức làm việc của doanh nhân
Theo ông Đinh Xuân Bá, chủ tịch Secoin: ”Một trong những tố chất quan trọng
nhất của một doanh nhân là dám chấp nhận rủi ro Không biết được điều đó thì không có một doanh nghiệp lớn mạnh”
Tuy vậy, cũng có thể nói có một bộ phận không nhỏ doanh nhân Việt là không dám chấp nhận rủi ro Họ thiếu hẳn sự sáng tạo , đổi mới, dám nghĩ dám làm và tính tiên phong Điều này thể hiện rõ nhất ở “tâm lý bầy đàn” trong hoạt động doanh nghiệp thời gian qua Những bài học đau lòng về “bầy đàn trong chứng khoán”, “bầy đàn trong bất động sản”, “bầy đàn trong mô hình tập đoàn đa ngành, đa nghề”,… đã đẩy không biết bao doanh nhân, doanh nghiệp đến bờ vực phá sản và đẩy kinh tế đất nước vào cơn khủng hoảng trầm trọng
Ở một góc nhìn khác, việc dám đối mặt với rủi ro trong quyết định của một bộ phận doanh nghiệp Việt nam vẫn mang nặng tính “liều” và quyết định mang tính thiếu
Trang 5nhận thức và hiểu biết Có thể nhận thức những “rủi ro trong những quyết định dám chấp nhận rủi ro” của doanh nghiệp Việt nam như sau:
- Thiếu những qui tắc khôn ngoan trong việc chấp nhận rủi ro
- Thiếu kỷ luật trong việc tuân thủ nguyên tắc này
- Đơn giản hóa những qui trình kinh doanh
- Chưa đo lường và lượng hóa được những rủi ro
Nói cách khác, bí quyết đầu tư là phải mạo hiểm với những rủi ro được tính toán trước Mỗi một cơ hội đầu tư luôn mang theo những rủi ro tiềm ẩn Trong một số thương vụ đầu tư, một loại rủi ro nhất định có thể chiếm ưu thế hơn, và những rủi ro khác chỉ là thứ yếu Hiểu đầy đủ về những loại rủi ro chính yếu là cần thiết để mạo hiểm có tính toán và đưa ra những quyết định đầu tư nhanh nhạy
Trong một số tài liệu đã liệt kê được các loại rủi ro trong hoạt động doanh nghiệp:
- Rủi ro vỡ nợ;
- Rủi ro kinh doanh;
- Rủi ro thanh khoản;
- Rủi ro sức mua hay rủi ro lạm phát;
- Rủi ro lãi suất;
- Rủi ro công nghệ;
- Rủi ro chính trị;
- Rủi ro thị trường
Có một câu nói rất hay là: “Không rủi ro có nghĩa là không lợi nhuận Nơi rủi ro
cao thì cũng kỳ vọng lợi nhuận cao”, vấn đề chỉ là quản lý rủi ro đó như thế nào.
Không phải tất cả 8 loại rủi ro này có thể đồng thời xảy ra tại một thời điểm và với cùng một vụ đầu tư Mặt khác, các loại rủi ro khác nhau có mối liên hệ với nhau Điều quan trọng là phải đánh giá một cách cẩn trọng sự tồn tại của mỗi loại rủi ro, và mức độ của nó trong mỗi cơ hội đầu tư
Trang 6Để tổng kết vấn đề, xin liên tưởng tới sự kiện Việt Nam gia nhập WTO được các nhà lãnh đạo và giới doanh nghiệp Việt hay thích dùng từ gọi là “ra biển lớn” Ra biển lớn là chấp nhận rủi ro Biển lớn chứa đựng cả những cơ hội "cá về đầy khoang" cũng như những rủi ro của những cơn bão lớn Chỉ những doanh nghiệp và doanh nhân dám chấp nhận sự thách thức của biến cả mới xứng đáng thu nhận về mình sức mạnh của đại dương Ra biển lớn cần thuyền trưởng vững vàng và đội ngũ thuỷ thủ dạn dày sóng gió "Sóng cả nhưng không ngã tay chèo" là nhờ vào “thuyền trưởng” - tức là ban giám đốc và hội đồng quản trị của Doanh nghiệp, và "thủy thủ đoàn" - tức là nhân viên của Doanh nghiệp Ra biển lớn cần “hoa tiêu” giỏi, cần có
la bàn và hệ thống định vị, dẫn đường tốt Ra biển lớn cần tàu lớn, và quan trọng hơn, cần tàu tốt
Hơn 90% doanh nghiệp hiện nay của Việt nam là nhỏ và vừa, trong đó phần lớn trong số đó lại là nhỏ và rất nhỏ Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, không thể không có Doanh nghiệp lớn Có một nghịch lý hiện nay là chúng ta vừa thiếu vừa thừa Doanh nghiệp lớn: thiếu những Doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh quốc
tế, trong khi lại thừa Doanh nghiệp lớn kém hiệu quả (Tập đoàn Kinh tế Nhà nước)
Ra biển lớn cần một hệ thống bảo hiểm rủi ro tin cậy Ngay cả khi các Doanh nghiệp dám chấp nhận rủi ro thì họ cũng cần tìm những biện pháp để giảm bớt và phân tán rủi ro Ở đây, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng Ra biển lớn cần hiểu biết
và tôn trọng "luật hàng hải" quốc tế, luật biển quốc tế khác luật sông nội địa Đã một thời gian dài các Doanh nghiệp Việt quen với việc xé rào và lách luật hơn là tuân thủ luật Hiểu biết luật và các tập quán thương mại quốc tế không chỉ giúp các Doanh nghiệp thành công hơn, mà còn giúp họ giảm rủi ro và bớt tổn thất trong những tranh chấp thương mại khi chúng xảy ra
Liên hệ thực tế VINAVICO: Từ khi thành lập (2003) đến nay Vinavico đã tròn 8 năm với số vốn điều lệ ban đầu vỏn vẹn 5 tỷ VNĐ nhưng đã giám đầu tư những thiết bị đặc chủng, đắt tiền để thi công những dự án lớn hàng trăm tỷ đồng Sản phẩm là
Trang 7những công trình trọng điểm Quốc gia đã đi vào vận hành, là giá trị của công ty ở thời điểm hiên tại xấp xỉ 600 tỷ VNĐ Vinavico cũng dám chấp nhận những rủi ro để đầu tư sản xuất sản phẩm vật liệu xây dựng còn mới chưa có mặt tại thị trường Việt Nam và hiện nay sắp được tung ra thị trường Thành công về vụ này còn đang chờ ở phía trước nhưng những đơn đặt hàng, những hợp đồng nguyên tắc được ký kết bao tiêu sản phẩm có thể hình dung được kết quả tương đối thuận lợi sẽ đến trong tương lai.
b, Tính đổi mới sáng tạo:
Có một thực tế cần phải nhìn nhận thẳng thắn là tính đổi mới và sáng tạo trong một
bộ phân không nhỏ doanh nhân Việt còn ở mức rất thấp Chúng ta hay tự nhận xét rằng người Việt thông minh, sáng tạo, nhưng nhiều khi các sáng tạo đó mang nặng tính chất manh mún, đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động
Vậy thì gốc vấn đề là ở đâu ? Trước hết, một số không ít doanh nhân có trình độ học vấn hạn chế, kỹ năng kinh doanh thấp Theo kết quả cuộc điều tra của MPDF và doanh nhân nữ nói trên cho thấy chỉ có khoảng 25% nữ chủ doanh nhân có trình độ đại học hoặc là trên đại học, trong khi có tới 32.5% chưa học tới phổ thông trung học Từ những thống kế về doanh nhân nữ ta có thể suy ra tỷ lệ tương tự đối với nam doanh nhân Đó là lỗ hổng rất lớn, hạn chế khả năng và tầm nhìn của doanh nhân trong thế giới kinh doanh hiện đại ngày nay và do đó giảm hiệu quả và tính sáng tạo của doanh nghiệp Lý giải ở góc độ khác, Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi đạo Khổng và phần nào nữa là đạo Phật Khổng giáo vốn trọng lễ nghi, thứ bậc, hình thức Phật giáo khuyến khích an nhiên, tự tại, đơn giản Nhiều người cho rằng cả hai trào lưu tư tưởng này đều phản tự do Quan niệm như vậy là cực đoan, nhưng cũng phải thừa nhận rằng, hai luồng tư tưởng này đều không mấy khuyến khích những con người năng động, sáng tạo, đổi mới, sẵn sàng chiến đấu, vươn lên trong môi trường cạnh tranh tự do khốc liệt
Trang 8Ngày nay chúng ta thường nghe quá nhiều đến những lý thuyết trong quản trị doanh nghiệp: quản trị sản xuất, quản trị nhân sự, quản trị chiến lược, quản trị marketing,… Rồi rằng doanh nghiệp cần phải “nhắm vào thị trường, hướng tới khách hàng”, phải đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất, giá cạnh tranh nhất, phải xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến,vân vân và vân vân Và giờ đây hình như đó đang là đích trong tư duy chiến lược của các nhà doanh nhân Việt
Cần phải có cái nhìn toàn cục hơn, trong bối cảnh một “thế giới phẳng”, một chiến lược “đại dương xanh” và một nền “kinh tế tri thức” thì ta “giật mình” nhận thấy rằng: tập đoàn Nike, Reebook không có một nhà máy nào cả, Nokia đa phần sản phẩm Made in China, … Cả một tòa nhà khổng lồ của Nike ở giữa trung tâm New York chỉ quản lý 3 mảng chính: Hệ thống nghiên cứu và Phát triển (R&D); Hệ thống phân phối và Quản lý thương hiệu
Bộ phận Nghiên cứu và Phát triển (R&D):
Đây là một khâu then chốt trong việc tạo ra một sản phẩm mới Gần đây người ta nói nhiều tới chiến lược “Tập trung để khác biệt” và coi đó như là chìa khóa thành công của doanh nghiệp Rất tiếc rằng điều đó ở doanh nghiệp Việt nam chưa được coi trọng Họ đa phần chỉ tập trung những sản phẩm mà thị trường đã làm và chỉ lo để
“copy” Theo thống kê không chính thức, có tới xấp xỉ 90% doanh nghiệp Việt không có bộ phận R&D
Những chiến lược “hớt váng sữa” của Nokia trong việc tung sản phẩm điện thoại di động hay Sony với sản phẩm thiết bị nghe nhìn,… cho doanh nghiệp Việt những bài học quí báu khi tung ra thị trường sản phảm mới và để làm điều đó thì cần đầu tư tối
đa cho khâu R&D
Hệ thống phân phối
Trang 9Không phải đơn giản để chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và cũng không dễ dàng chuyển từ khâu phân phối theo kiểu
“xin cho” sang kênh phân phối cạnh tranh hiện đại
Thiết lập một hệ thống theo chuẩn mực, quản lý kênh phân phối và quản lý lực lượng bán hàng hiệu quả là mấu chốt để cạnh tranh và giành thị phần Đây là mảnh đất mầu mỡ cho những ý tưởng sáng tạo trong việc: thiết lập kênh phân phối theo dạng trực tiếp hay gián tiếp, đơn kênh hay đa kênh, độ dài của kênh và các giải pháp khuyên khích bán hàng cũng như giảm thiểu các xung đột lợi ích trong kênh
Thương hiệu
Định vị được thương hiệu và xây dựng một thương hiệu mang tính nhất quán và chuyên nghiệp là vấn đề không phải doanh nghiệp Việt nào cũng đã làm được Nhiều doanh nghiệp trong quá trình phát triển đã xa rời những giá trị cốt lõi mà mình định ra rồi phát triển dần theo hướng “đa ngành, đa nghề” để rồi đánh mất chính bản sắc của mình
Đổi mới sáng tạo trong thời khủng hoảng kinh tế:
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và cuộc khủng hoảng kinh tế của Việt nam đang bước vào giai đoạn thử thách gay go nhất cho Chính phủ cũng như giới doanh nghiệp, sau đợt khủng hoảng năm 2008 thì đến nay chúng ta đang tiếp tục phải đối mặt với đợt khủng hoảng mới đặc biệt là từ đầu năm 2011 đến nay
Với quan điểm của Doanh nhân Đinh Hồng Kỳ - TGĐ Secoin thì khả năng dự báo,
sự linh hoạt trong chiến lược kinh doanh và khả năng tư duy không chuẩn mực là những nhân tố mang tính sáng tạo cao của doanh nhân trong việc đưa doanh nghiệp của mình vượt khó khăn
Tại sao tố chất mang tính đổi mới của doanh nhân đó là khả năng tư duy không chuẩn mực? Cuộc khoảng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra kéo theo một loạt
Trang 10các định chế tài chính, các tập đoàn khổng lồ sụp đổ hoặc trên bờ vực phá sản Những lý thuyết kinh tế, tài chính, những chuẩn mực kinh doanh tưởng chừng bền vững nhất, tiên tiến nhất thì nay lung lay dữ dội và gây ra sự hoài nghi cho các nhà kinh tế Và cùng lúc đó, thành công của các doanh nghiệp khi thực thi công việc ngược lại với các chuẩn mực lại đem lại những thành công bất ngờ Cuối năm 2008 khi thị trường tài chính Mỹ lung lay dữ dội thì theo logic chuẩn mực chung đồng Dollar Mỹ nhất thiết phải mất giá, vậy mà thực tế cho thấy một điều kỳ lạ là đồng Dollar Mỹ lại lên giá một cách mạnh mẽ và có tính bền vũng với tất cả các đồng tiền khác Nếu lý giải vấn đề theo hướng không chuẩn mực thì sự việc này lại mang tính logic của nó và nếu doanh nghiệp cũng “hành xử “theo một kiểu không chuẩn mực tương tự thì đây lại là cơ hội lớn với họ
Theo Warren Buffet, những nguyên tắc thành công trên thị trường chứng khoán là
“hãy tham lam khi thị trường sợ hãi, và hãy sợ hãi khi thị trường tham lam” là những minh chứng Rồi câu chuyện về thị trường bất động sản của Việt nam: khi bất động sản tăng thì đổ xô vào mua, khi thị trường càng xuống thì càng ít người mua Vậy ta sao không làm ngược lại ?
Xét việc điều hành ở tầm vĩ mô của Việt Nam nếu cứ theo chuẩn mực để đối phó với khủng hoảng thì ra sao? Từ đầu năm 2008, khi kinh tế đất nước bước vào giai đoạn lạm phát nghiêm trọng thì Nhà nước đã rất “đúng bài” khi tăng lãi suất cơ bản lên và
đã phần nào kìm hãm được lạm phát Nhưng có điều là đáng tăng lãi suất với mức vừa phải, vừa tăng vừa “lựa” thì họ lại tăng với một tốc độ chóng mặt Một hệ lụy xảy ra là chỉ vài tháng sau hàng loạt doanh nghiệp Việt nam đứng trên bờ phá sản vì không chịu được “nhiệt” của lãi suất 21.5%/ năm Hàng hóa giá thành cao, không bán được, xuất khẩu suy giảm nghiêm trọng, hàng trăm nghìn người mất việc làm Tới lúc đó, Nhà nước cũng rất “đúng bài” là lại đưa ra ngay một loạt chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn và lãi suất cho hàng xuất khẩu để “kích cầu” và “kích cung” Chưa biết có “kích” được gì không nhưng một hệ lụy mà không biết Nhà nước có nghĩ tới không đó chính là việc làm này lại phạm luật cạnh tranh của WTO! Nói tới câu chuyện này để thấy các nhà điều hành đất nước nếu vận hành chính sách “đúng