Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
NGUYỄN QUỲNH TRANG
Hà Nội, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mã số: 60310106
Họ và tên học viên: Nguyễn Quỳnh Trang
Người hướng dẫn: GS,TS Hoàng Văn Châu
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập chưa từng được công bố Các số liệu được thu thập từ nguồn tài liệu chính thống từ các cá nhân, đơn
vị và tổ chức trong nước Nếu sai, học viên xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Quỳnh Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH - BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 6
1.1 Quá trình và mục tiêu hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 6
1.1.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 6
1.1.2 Mục tiêu hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 8
1.2 Lộ trình, kế hoạch hành động nhằm hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN 12
1.2.1 Lộ trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN 12
1.2.2 Nội dung thực hiện nhằm hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN 13
1.3 Tác động của việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN tới sự phát triển và hội nhập kinh tế Việt Nam 16
1.3.1 Tác động tích cực 16
1.3.2 Tác động tiêu cực 21
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN & CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM KHI THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 26
2.1 Quy định về nguồn nhân lực trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 26
2.1.1 Giới thiệu 26
2.1.2 Phạm vi áp dụng 26
2.1.2 Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) 27
2.1.3 Các hành động thúc đẩy sự di chuyển tự do của nguồn nhân lực có kỹ năng 30
Trang 52.2 Ảnh hưởng của quy định về nguồn nhân lực trong Cộng đồng kinh tế
ASEAN đối với Việt Nam 31
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực 31
2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực 33
2.3 Cơ hội khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN với nguồn nhân lực Việt Nam 35
2.3.1 Tham gia sâu rộng hơn vào sự phân công hợp tác lao động quốc tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 35
2.3.2 Tạo thêm các cơ hội việc làm cho người lao động 36
2.3.3 Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực 37
2.3.4 Hoàn thiện thể chế, điều chỉnh chính sách lao động 37
2.4 Thách thức khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN với nguồn nhân lực Việt Nam 38
2.4.1 Áp lực về việc làm cho người lao động 38
2.4.2 Cạnh tranh về nguồn nhân lực trình độ cao ngày càng gay gắt 39
2.4.3 Yêu cầu về ngoại ngữ, tin học và văn hóa ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… 40
2.4.4 Thách thức khác đối với thị trường Việt Nam 41
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM KHI THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 44
3.1 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trong so sánh với các nước ASEAN 44
3.1.1 Cơ cấu “dân số vàng” 44
3.1.2.Trình độ văn hóa – chuyên môn kỹ thuật 45
3.1.3 Năng lực phẩm chất – kỹ năng làm việc 49
3.1.4 Tỷ lệ thất nghiệp 52
3.1.5 Đánh giá, so sánh nguồn nhân lực Việt Nam với các nước trong khu vực 53
3.2 Quan điểm, định hướng về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN 60
Trang 63.2.1 Quan điểm 61
3.2.2 Định hướng 62
3.3 Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN 67
3.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, dạy nghề 67
3.3.2 Giải pháp đổi mới chính sách sử dụng nhân lực 71
3.3.3 Giải pháp tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế 73
3.3.4 Giải pháp nâng cao năng suất lao động 75
3.4 Một số đề xuất, kiến nghị đối với Chính phủ 78
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế toàn cầu của Việt Nam với
một số nước trong khu vực 2016-2017 23
Bảng 2.1: Đánh giá yếu điểm của 500 sinh viên đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
Bảng 3.1: Quy mô, cơ cấu của lao động Việt Nam phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 46
Bảng 3.2: Quy mô, cơ cấu lao động trình độ cao theo nhóm nghề năm 2012 48
Bảng 3.3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực, nhân tài theo các nhóm đối tượng 50
Bảng 3.4: Xếp hạng chỉ số cạnh tranh về giáo dục đại học, đào tạo nhân lực của lao động Việt Nam so với một số nước trong khu vực 54
Bảng 3.5: Tỷ lệ lực lượng lao động được đào tạo từ bậc đại học của một số nước ASEAN 2010-2012 55
Bảng 3.6: Xếp hạng chỉ số cạnh tranh về chỉ số về sáng kiến, sáng tạo của lao động Việt Nam so với một số nước trong khu vực 2016 - 2017 57
Bảng 3.7: Xếp hạng chỉ số cạnh tranh về chỉ số về sáng kiến, sáng tạo của lao động Việt Nam so với một số nước trong khu vực 2014 - 2015 57
Bảng 3.8: Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 66
Bảng 3.9: Đánh giá sự cần thiết của những việc phải chuẩn bị khi 79
Cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời 79
Trang 8DANH MỤC HÌNH - BIỂU
Hình 2.1: Cơ hội khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN với nguồn nhân lực Việt Nam 35 Biểu đồ 3.1: Quy mô, cơ cấu dân số Việt Nam theo độ tuổi 44 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thất nghiệp lao động Việt Nam theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2012 52 Biểu đồ 3.3: Đánh giá khó khăn trong tuyển dụng lao động Việt Nam 59
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACIA ASEAN Comprehensive
Investment Agreement
Hiệp định đầu tư toàn diện
ASEAN
AEC ASEAN Economic
Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
AFAS ASEAN Framework
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á ASW ASEAN Single Window Cơ chế một cửa ASEAN
ATIGA ASEAN Trade In Goods
Agreement
Hiệp định Thương mại hàng hóa
ASEAN AUN ASEAN University Network Mạng lưới đại học ASEAN
EU European Union Liên minh Châu ÂU FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free Trade Association Hiệp định thương mại tự do GDP Gross Domestic Product tổng sản phẩm quốc nội
MRA Mutual Recognition
Arrangements Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau SME Small and medium enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ USD United State Dollars Đồng đô la Mỹ
WB World Bank Ngân hàng Thế giới WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới TCTK Tổng cục Thống kê
LĐ-TBXH Bộ Lao động – Thương binh xã
hội
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn “Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn
nhân lực Việt Nam” được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Cộng
đồng kinh tế ASEAN nhằm mục đích hệ thống hóa các vấn đề nhân lực Việt Nam trong thời hội nhập, phân tích các thực trạng của việc gia nhập này đối với nhân lực Việt Nam và phân tích để tìm ra những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho lao động Việt Nam Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là thu thập
dữ liệu, thống kê, quan sát, phân tích và đánh giá Từ đó, bố cục luận văn được chia thành ba phần chặt chẽ
Chương 1 tóm tắt tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN trong nhiều khía cạnh, đặc biệt là những tác động tích cực và tiêu cực đến Việt Nam Về mặt tích cực,
sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN là động lực phát triển kinh tế Việt Nam; thúc đẩy quá trình cải cách, chuyển đổi cơ cấu kinh tế; góp phần cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh; tác động đối với việc lựa chọn chiến lược phát triển cân đối giữa các vùng miền nhằm giảm bất bình đẳng giữa các tầng lớp, chú trọng bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên,
sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng mang đến không ít những tác động tiêu cực cho lao động Việt Nam, đó là: tạo ra những áp lực từ việc thực thi những cải cách; nguy cơ tụt hậu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta có thể tăng lên và các doanh nghiệp Việt Nam có thể rơi vào thế bất lợi, tác động đến chênh lệch phát triển và an ninh kinh tế giữa các nước trong khu vực
Chương 2 nghiên cứu những quy định về nguồn nhân lực trong Cộng đồng kinh tế ASEAN & Cơ hội, thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN Cộng đồng kinh tế ASEAN là nơi có sự di chuyển
tự do của các lao động có kỹ năng, chuyên gia, doanh nhân các nước trong khu vực ASEAN Cộng đồng cũng ban hành nhiều thỏa ước giữa các quốc gia về công nhận lao động và nhiều chính sách khác nhau tạo điều kiện mở rộng hợp tác các bên Các chính sách đó mang đến cho nguồn nhân lực Việt Nam nhiều cơ hội như giúp nguồn
Trang 11nhân lực Việt Nam có cơ hội tham gia sâu rộng hơn vào sự phân công hợp tác lao động quốc tế và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại các thách thức đối với lao động, chủ yếu xuất phát từ chất lượng nhân lực Việt nam còn yếu kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Từ phân tích thực trạng và bối cảnh đó, luận văn đề xuất một số giải pháp cho nguồn nhân lực trong chương 3 Người viết đề xuất các giải pháp chủ động liên quan đến việc chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng được yêu cầu của các vị trí cần tuyển, giúp người sử dụng lao động có thể tuyển được lao động trong nước chủ yếu tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, mở rộng liên kết hợp tác quốc tế,
Hội nhập là xu thế tất yếu trong xã hội ngày nay Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu khi nhân lực là yếu tố sống còn cho thành, bại của mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức hay một đất nước Sự giao thoa trên nhiều mặt của xã hội đặc biệt khi lao động và thuê lao động pha trộn đa dạng nhiều nền văn hóa thúc đẩy sự tiến bộ nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Luận văn tập trung phân tích các khía cạnh cơ hội và thách thức từ thu thập các đánh giá, phân tích từ nhiều chuyên gia và nghiên cứu, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn cảnh
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Ngày nay toàn cầu hóa đang là một xu thế chung được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Toàn cầu hóa giúp cho thị trường ngày càng mở rộng hơn, khoảng cách và rào cản giữa các quốc gia ngày càng thu hẹp lại Chính vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn hơn đòi hỏi các quốc gia có sự gắn kết để cùng giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như: an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội,… dựa vào đó các quốc gia sẽ có hội tìm kiếm và phát triển nguồn lực trong nước, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - xã hội một cách hiệu quả hơn
ASEAN là một trong những hình mẫu khu vực hợp tác thành công trên thế giới Sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là sự tiếp nối của AFTA nhằm tiến tới một mức độ hội nhập kinh tế cao hơn trong sự phát triển không ngừng của khối
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của hội nhập và tiếp nối các chương trình hợp tác kinh tế trong khối ASEAN, vào năm 2003, các quốc gia thành viên trong khối ASEAN đã bắt đầu ý tưởng thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN và đến cuối năm
2015 hoàn thành xây dựng một Cộng đồng kinh tế ASEAN hoàn chỉnh Cộng đồng kinh tế ASEAN được đặc trưng bằng một thị trường duy nhất, một cơ sở sản xuất chung với sự tự do di chuyển của hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn đầu tư, cũng như sự
di chuyển tự do của các lực lượng lao động có kỹ năng, doanh nhân, chuyên gia
Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN tác động đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt cũng tác động lớn đến thị trường lao động Việt Nam Cộng đồng kinh tế ASEAN mang lại nhiều cơ hội cho lao động Việt Nam nhưng bên cạnh
đó cũng đưa ra không ít thách thức cho lao động Việt Nam, đặc biệt là khi chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chưa cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, tính đến thời điểm 1/10/2013 lực lượng lao động trên 15 tuổi của Việt Nam là 53.856 nghìn người, nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 18,19%, nếu so sánh tỷ
lệ này với các nước trong khu vực thì thấp hơn từ 2,5-3 lần Ngân hàng thế giới
Trang 13World Bank đánh giá lao động Việt Nam 3,79/10 điểm xếp thứ 11/12 nước được xếp hạng Vì vậy trước việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, nơi mà có sự di chuyển tự do lực lượng lao động có kỹ năng, doanh nhân, chuyên gia, Việt Nam càng cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để cạnh tranh với lao động trong khu vực và trên thế giới
Chính vì vậy việc nghiên cứu cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trước thực tế thiết lập cộng đồng kinh tế ASEAN là rất quan trọng, bài nghiên cứu này giúp cho lao động Việt Nam nắm bắt cơ hội và đương đầu thách thức khi liên
minh này ra đời Dó đó, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Cộng đồng kinh tế
ASEAN: Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam” để làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề về Cộng đồng kinh tế ASEAN và chất lượng nguồn nhân lực đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Khi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài này, tác giả đã được tiếp cận với một số công trình khoa học của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài ở những góc độ khác nhau Những công trình nghiên cứu liên quan đến Cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động của Cộng đồng kinh tế ASEAN đến lao động Việt Nam:
Ấn phẩm “Labour and Social Trends in ASEAN 2010” xuất bản bởi
International Labour Organization Báo cáo này cung cấp phân tích các xu hướng chính trong việc làm và các điều kiện xã hội trong khu vực ASEAN kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế - việc làm toàn cầu; đồng thời xem xét để phản ánh các chính sách quốc gia và xác định các bài học kinh nghiệm cho giai đoạn hậu khủng hoảng Báo cáo cũng xem xét các cơ hội chính sách và những thách thức trong việc duy trì phục hồi và thúc đẩy các con đường tăng trưởng cân bằng và toàn phát triển toàn diện, bao gồm trong các lĩnh vực nâng cao năng lực cạnh tranh và năng suất, thúc đẩy phát triển kỹ năng, giải quyết các vấn đề liên quan đến di cư lao động, chuẩn bị cho tăng trưởng xanh và tăng cường đối thoại xã hội
Trang 14Ấn phẩm “Sách hướng dẫn doanh nghiệp vừa và nhỏ hướng tới AEC vào năm
2015” xuất bản bởi ASEAN 25/11/2013 Cung cấp địa chỉ các cơ quan, các nhà
hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực, để trao đổi kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách và sáng kiến nhằm tăng cường sự tiếp cận của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến nguồn vốn, thị trường và quốc tế hóa.Ngoài ra, sách hướng dẫn còn cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các phòng thương mại công nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp những thông điệp quan trọng, ý nghĩa và lợi ích của các biện pháp, các quy chuẩn, quy định hoặc thỏa thuận được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Sách “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung và lộ trình”, tác giả
Nguyễn Hồng Sơn chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội 2009 Được xuất bản nhằm mục đích đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả tham gia vào AEC của Việt Nam trên cơ sở phân tích mục tiêu, nội dung và lộ trình thực hiện AEC cũng như sự tham gia của Việt Nam vào các chương trình liên kết kinh tế của ASEAN Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung và lộ trình” (do PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn làm chủ nhiệm) thuộc Chương trình cấp bộ: “Cộng đồng ASEAN: Cơ sở hình thành, triển vọng và phản ứng chính sách của các nước trong khu vực” (do PGS.TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ nhiệm), Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
là cơ quan chủ trì Với những nội dung mà cuốn sách chuyển tải, việc nghiên cứu sâu hơn về AEC sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế Việt Nam - ASEAN nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiếu hóa những tác động tiêu cực do quá trình này đem lại, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Sách “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế” Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng đồng chủ biên, nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia Việt Nam có lợi thế
Trang 15về nguồn nhân lực dồi dào vì lực lượng trong độ tuổi lao động khá lớn lại rất cần cù, thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh những thành tựu khoa học – công nghệ mới Tuy nhiên, nguồn nhân lực của nước ta hiện nay được đánh giá chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Cuốn sách mong muốn cung cấp thêm nhiều thông tin về nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đến với bạn đọc
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp giúp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội và vượt
qua thách thức, giúp phát triển nguồn nhân lực khi Cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức đi vào hoạt động
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn tốt nghiệp này là:
Hệ thống hóa các vấn đề về Cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động của AEC đến Việt Nam và nguồn nhân lực Việt Nam;
Phân tích quy định về nguồn nhân lực trong AEC, và đưa ra cơ hội và thách thức của sự hình thành AEC với nguồn nhân lực Việt Nam;
Đề xuất các giải pháp, kiến nghị giúp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội & vượt qua thách thức, và phát triển nguồn nhân lực khi hình thành AEC
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác động từ sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN với nguồn nhân lực Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu chủ yếu của luận văn là kể từ năm 2007 khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho lao động Việt Nam tiến tới sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN từ nay cho đến năm 2020
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê và phương pháp đối chiếu – so sánh: dùng các công
cụ thống kê để tập hợp tài liệu xuất bản ở trong và ngoài nước, số liệu; sau đó so sánh, đối chiếu để rút ra kết luận về bản chất, nguyên nhân của sự thay đổi
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: từ những thông tin và số liệu thu thập được, cộng với tình hình thực tế trên thị trường đưa ra những phân tích, nhận định, đánh giá
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và hình vẽ, danh mục từ viết tắt, phụ lục… nội dung chính của đề tài được kết cấu làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 2: Quy định về nguồn nhân lực trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
& Cơ hội, thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 3: Một số giải pháp cho nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến GS,TS Hoàng Văn Châu đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình làm luận văn để tác giả
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng với sự hạn chế nhất định về kiến thức, thời gian, và tài liệu tham khảo nên đề tài nghiên cứu không thế tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những góp ý của quý thầy cô và các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ
ASEAN
1.1 Quá trình và mục tiêu hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.1.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN là một khu vực kinh tế năng động có:
Diện tích: 4.435.670 km2;
Dân số: 598.498.000 người;
GDP: 1.850.855 triệu USD;
Tổng giá trị thương mại: 2.042.788 triệu USD;
Tổng giá trị đầu tư: 74.081 triệu USD;
Các đối tác thương mại chính: Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ…
Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC) là một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN đã được thành lập vào ngày 31/12/2015 khi bản tuyên bố thành lập có hiệu lực Cộng đồng kinh tế ASEAN là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN, bao gồm Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC) Các mốc quan trọng hình thành AEC đó là:
Năm 1992, khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác kinh tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định này nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thộng Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan
có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết sau, sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thuong mại Hàng hóa ASEAN 2010
Năm 1995, Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN được ký kết
Trang 18Năm 1998, Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012
Tháng 10/2003, tại Hội nghị thượng định ASEAN lần thứ IX (Bali, Indonesia) các nguyên thủ quốc gia khu vực đã nhất trí thành lập Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2020 dựa trên kế hoạch kết nối 12 lĩnh vực ưu tiên mà ASEAN đã có lợi thế cạnh tranh bao gồm: nông nghiệp, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, cao su, ôtô, giày dép, du lịch, vận tải hàng không và logistics
Năm 2006, tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC
Trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổi nhanh chóng, tháng 1/2007, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ XII (Cebu, Philippines) đã nhất trí rút ngắn lộ trình xây dựng AEC vào năm 2015 và đưa ra Kế hoạch Tổng thể AEC tháng 1/2008 tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ XIII (Singapore) nhằm hiện thực hóa AEC vào năm 2015
Ngày 22/11/2015, Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC
Ngày 31/12/2015, AEC chứng thức ra đời
Theo kế hoạch, từ năm 2015, AEC sẽ là một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất Thị trường ấy sẽ phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN
để từng bước xây dựng một khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới, đem lại sự thịnh vượng chung cho nhân dân và các quốc gia ASEAN
Hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động có tay nghề sẽ được tự do lưu chuyển trong ASEAN mà không chịu bất cứ hàng rào hay sự phân biệt đối xử nào AEC có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp ASEAN, đóng góp vào việc xây dựng năng lực cạnh tranh của ASEAN với thế giới, từ đó góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách phát triển và thúc đẩy ổn định xã hội
Trang 19Cộng đồng kinh tế ASEAN là sự kế thừa và phát triển những cơ chế liên kết hiện có của ASEAN như Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, về hợp tác công nghiệp ASEAN,… để nhằm mục đích xây dựng ASEAN trở thành một thị trường cơ sở sản xuất thống nhất Như vậy, AEC là một mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN, có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do dịch chuyển lao động, và di chuyển vốn tự do hơn Tuy nhiên, nếu xét trên khía cạnh lý thuyết kinh tế quốc tế thì AEC sẽ không thuộc bất cứ hình thức hội nhập kinh tế khu vực nào Các cam kết về nội dung thực hiện AEC vượt lên trên nội dung của một FTA về thương mại nội khối được tự do nhưng lại không đủ lớn để trở thành một liên minh thuế quan hay thị trường chung khi mà các nước không có thực hiện một chính sách ngoại thương chung Do đó, AEC được xem như là một FTA cộng với khu vực mậu dịch tự do có thêm sự tự do di chuyển các yếu tố sản xuất
1.1.2 Mục tiêu hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN
Cộng đồng ASEAN bao gồm: Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC) , trong đó Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được coi là quan trọng nhất, sự phát triển của AEC sẽ là tiền
đề thúc đẩy việc thực hiện hai trụ cột còn lại
Kế hoạch Tổng thể AEC1 đặt ra mục tiêu sẽ làm thay đổi ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao, một khu vực phát triển kinh tế đồng đều và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu Kế hoạch nói trên đã quy định cụ thể các biện pháp nhằm thực hiện bốn trụ cột của AEC, phản ánh một cách khái quát mô hình AEC vào năm 2015
1
Kế hoạch tổng thể AEC được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN-13 (Singapore, 11/2007) với
các phụ lục kèm theo gồm: (i) Kế hoạch Tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) và (ii) Lộ trình Chiến lược Xây dựng AEC (Strategic Schedule for AEC)
Trang 20Sơ đồ 1: Cộng đồng kinh tế ASEAN
Nguồn: http://www.trungtamwto.vn
1.1.2.1 Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
Việc hiện thực hoá cộng đồng kinh tế ASEAN đang dần biến ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, theo đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất theo Kế hoạch Tổng thể AEC bao gồm 5 nhân tố hạt nhân, đó là: (i) Dòng hàng hóa tự do; (ii) Dòng dịch vụ tự do; (iii) Dòng đầu tư tự do; (iv) Dòng vốn di chuyển tự do hơn; (v) Dòng tự do của lao động có kỹ năng, các doanh nhân, chuyên gia
Thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất sẽ góp phần giúp nền kinh tế các nước ASEAN liên kết với nhau một cách chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một thực thể kinh tế thống nhất
Trang 21Hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ từng bước bị xóa bỏ Các nhà đầu tư ASEAN sẽ được tự do đầu tư vào tất cả mọi lĩnh vực trong khu vực Các chuyên gia
và lao động có tay nghề sẽ được luân chuyển tự do trong khu vực Những thủ tục hải quan và thương mại khi đã được tiêu chuẩn hóa hài hòa và đơn giản hơn sẽ góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Một thị trường hàng hóa và dịch vụ thống nhất sẽ thúc đẩy phát triển mạng lưới sản xuất trong khu vực, nâng cao năng lực của ASEAN với vai trò là một trung tâm sản xuất toàn cầu đáp ứng nhu cầu đối với chuỗi cung ứng toàn cầu
Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp ưu tiên tham gia hội nhập như: nông nghiệp, hàng không (vận chuyển bằng đường hàng không), ô tô, e-ASEAN, điện tử, ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, cao
su, dệt may và thời trang, du lịch, ngành công nghiệp gỗ và các dịch vụ logistic khác…
1.1.2.2 Một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh
Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng tới mục tiêu tạo dựng một khu vực kinh tế
có năng lực cạnh tranh cao, thịnh vượng và ổn định, theo đó khu vực này đã, đang
và sẽ ưu tiên 6 yếu tố chủ chốt là: chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống thuế khóa và thương mại điện tử
ASEAN cam kết thúc đẩy văn hóa cạnh tranh công bằng thông qua việc ban hành các chính sách và luật cạnh tranh, đảm bảo sân chơi bình đẳng trong ASEAN
và hiệu qủa kinh tế khu vực ngày càng cao
1.1.2.3 Một khu vực phát triển kinh tế đồng đều
Một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất là điều kiện, nền tảng để nâng cao năng lực sản xuất, tính hiệu quả của các nước thành viên và toàn khu vực, thông qua
sự lợi thế hóa phương pháp tiếp cận thông tin, tài chính, kỹ năng, phát triển nguồn nhân lực và công nghệ Những động lực này để lấp đầy khoảng cách giữa các quốc gia thành viên ASEAN, thúc đẩy hội nhập kinh tế của Campuchia, Lào, Myanmar
Trang 22và Việt Nam giúp các nước chậm phát triển cải thiện và nâng cao thu nhập, thu hẹp chênh lệch phát triển với các nước thành viên phát triển
Hơn nữa, một Cộng đồng kinh tế ASEAN có tính cạnh tranh cao cũng hỗ trợ đắc lực cho các nước thành viên nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bắt kịp trình độ phát triển chung của khu vực Thu hẹp khoảng cách phát triển là tiền đề để ASEAN có thể hiện thực hóa mục tiêu tạo ra một thị trường, một cơ sở sản xuất thống nhất, giúp cho các nước thành viên có thể liên kết kinh tế sâu rộng và thụ hưởng một cách công bằng thành quả mà hội nhập mang lại Đồng thời, việc tạo ra một khu vực phát triển kinh tế đồng đều cũng chính là góp phần tạo ra một khu vực
có tính cạnh tranh cao, bởi vì, sự phát triển kinh tế đồng đều trong khu vực góp phần nâng cao năng lực của khu vực nói chung, các nước thành viên nói riêng về sức mạnh kinh tế, thể chế hội nhập Theo đó, một khu vực phát triển kinh tế đồng đều vừa là mục tiêu vừa là đặc trưng quan trọng mà Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng tới
1.1.2.4 Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Với thị trường tương tác lẫn nhau và các ngành công nghiệp hội nhập, có thể nói ASEAN hiện đang hoạt động trong một môi trường toàn cầu hóa ngày càng cao
Do đó, không chỉ dừng lại ở Cộng đồng kinh tế ASEAN mà ASEAN còn phải xem xét tất cả các quy định trên thế giới để hình thành chính sách cho chính mình, như chấp thuận các tiêu chuẩn và kinh nghiệm sản xuất, phân phối quốc tế tối ưu nhất Đây là động lực chính cho phép ASEAN có thể cạnh tranh thành công với thị trường toàn cầu, đạt được mục đích sản xuất trở thành nơi cung ứng quan trọng cho thị trường quốc tế, đồng thời đảm bảo thị trường ASEAN có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài
Các quốc gia thành viên ASEAN cũng nhất trí tham gia nhiều hơn nữa vào mạng lưới cung ứng toàn cầu bằng việc nâng cao năng suất và hiệu quả công nghiệp Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ trở thành tâm điểm của ASEAN với vai trò chủ động tham gia với các đối tác thương mại tự do FTA giữa ASEAN và đối tác kinh tế bên ngoài trong việc đổi mới kiến trúc khu vực
Trang 23Để có thể hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu một cách hiệu quả, trước hết ASEAN phải tạo ra sự liên kết kinh tế bên trong thông qua quá trình tự do hóa nội
bộ khu vực như là một sự ưu tiên trước khi hướng tới quan hệ kinh tế với các đối tác bên ngoài Bên cạnh đó, đặc trưng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu cũng đòi hỏi các nước ASEAN phải tích cực tham gia vào mạng lưới cung ứng toàn cầu
1.2 Lộ trình, kế hoạch hành động nhằm hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế
ASEAN
1.2.1 Lộ trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN
Ngày 15/12/1995: Các nước ASEAN ký Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) Hiệp định AFAS với các nội dung tương tự Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ của WTO làm tiền đề cho các vòng đàm phán từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN Từ năm 1996 – 2016: Các nước ASEAN đã tiến hành đàm phán và đưa ra 9 Gói cam kết về dịch vụ, 7 Gói cam kết
về dịch vụ tài chính và 9 Gói cam kết về dịch vụ vận tải hàng không
Tháng 2/ 2009, Hiệp định ATIGA và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết
Hiệp định ATIGA có hiệu lực từ ngày 17/5/2010, có tiền thân là Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) ký năm 1992; ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư
có liên quan Việt Nam tham gia ASEAN từ năm 1995 và bắt đầu thực hiện CEPT/AFTA từ năm 1996 và sau này tiếp tục thực hiện ATIGA
Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (IGA) 1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) 1998), bao gồm 4 nội dung chính là Tự
do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư
Ngày 19/11/2012 tại Phnom Penh, Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân
(MNP) được ký Campuchia với mục tiêu dỡ bỏ đáng kể các rào cản đối với việc di
Trang 24chuyển tạm thời qua biên giới của các thể nhân tham gia vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các nước ASEAN, là sự di chuyển của cá nhân từ nước này qua nước khác để cung cấp một dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Trong ASEAN, phương thức cung cấp dịch vụ này ban đầu được đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), nhưng sau đó được tách riêng ra để đàm phán trong một Hiệp định riêng là Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) năm 2012 Ngoài ra, để tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động có tay nghề giữa các nước ASEAN, các nước đã ký kết các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong mộtsố lĩnh vực ngành nghề nhằm công nhận lẫn nhau về bằng cấp và trình độ của lao động có kỹ năng trong khu vực Cho tới thời điểm tháng 12/2015, các nước ASEAN đã ký 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong 8 lĩnh vực dịch vụ là: Kiến trúc, Tư vấn kỹ thuật, Điều dưỡng, Hành nghề y, Nha sỹ, Du lịch, Kế toán kiểm toán, và Khảo sát
Tại diễn đàn hội nhập Kinh tế khu vực tại các nước Đông Á2, Ban thư ký ASEAN cho biết, tính đến hết tháng 5/2013, các nước ASEAN đã thực hiện được 77,8% số biện pháp đề ra trong Lộ trình tổng thể Cả 12 lĩnh vực3 thuộc Cộng đồng kinh tế ASEAN do các cơ quan chuyên ngành như tài chính, hải quan, giao thông - vận tải, nông nghiệp, viễn thông, du lịch, khoa học-công nghệ, năng lượng-khoáng sản, hợp tác tiểu vùng… triển khai đều đã đạt được các kết quả quan trọng Các kết quả nổi bật đó là thực hiện đầy đủ Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS), triển khai Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN, hợp tác giao thông - vận tải, thuận lợi hóa thương mại
1.2.2 Nội dung thực hiện nhằm hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.2.2.1 Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
Các biện pháp chính mà ASEAN đã thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi
2 Diễn đàn hội nhập Kinh tế khu vực tại các nước Đông Á được tổ chức bởi Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cùng với sự hỗ trợ của Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, ngày 12/7/2013 tại Hà Nội
3 12 lĩnh vực ưu tiên mà ASEAN đã có lợi thế cạnh tranh bao gồm: nông nghiệp, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, cao su, ôtô, giày dép, du lịch, vận tải hàng không và logistics
Trang 25thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề (di chuyển thể nhân)…, song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp…
Các biện pháp thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN…
Tự do hoá thương mại hàng hoá: Cho đến nay, ASEAN đã cơ bản giảm được thuế quan cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế về từ 0-5% từ năm 2010 đối với 6 nước thành viên ban đầu (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore
và Thái Lan) và vào năm 2015 với 4 nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam), hình thành nên một thị trường mở không còn các rào cản thuế quan đối với hàng hóa (tham khảo biểu thuế ATIGA) Để hỗ trợ tự do hoá thương mại, ASEAN đang nỗ lực đưa vào hoạt động Cơ chế hải quan một cửa ASEAN (ASEAN Single Window-ASW) và các quy định về áp dụng chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá có nguồn gốc từ ASEAN để đủ điều kiện hưởng các ưu đãi về thuế quan, trong đó ASEAN đang nghiên cứu tiến tới việc cho phép các doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ, cùng với việc hài hòa hóa các quy định về hợp chuẩn hàng hóa…
Về tự do hoá dịch vụ, ASEAN đã hoàn tất Gói 9 cam kết dịch vụ theo Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) trong năm 2013, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển dịch vụ trong khu vực Tới nay, các cam kết về tự do hoá dịch vụ trong
Trang 26ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực như dịch vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, vận tải biển, viễn thông và du lịch Có 4 gói cam kết về dịch vụ tài chính và 6 gói cam kết về vận tải hàng không đã được ký kết Các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) giữa các nước thành viên ASEAN
về tiêu chuẩn, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp v.v là một công cụ quan trọng giúp tự
do hoá lưu chuyển các dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN Tới nay, các nước ASEAN đã ký các thoả thuận công nhận lẫn nhau đối với các tiêu chuẩn, kỹ năng các ngành dịch vụ cơ khí, y tá, kiến trúc, kế toán và du lịch
Về tự do hoá đầu tư, trong khuôn khổ Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), ASEAN hướng tới hình thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn ở khu vực, với
cơ chế đầu tư thông thoáng và mở, bao gồm tự do hoá đầu tư trên các lĩnh vực chính như sản xuất-chế tạo, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ phụ trợ cho các ngành này Danh mục các lĩnh vực mở cửa cho đầu tư còn được tiếp tục bổ sung trong thời gian tới Các nỗ lực tự do hoá đầu tư của ASEAN không chỉ giúp tạo dựng và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài với khu vực ASEAN, mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư nội khối cũng như đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia trong khu vực
1.2.2.2 Xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế
ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử…
1.2.2.3 Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều
ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế Đồng đều, trong đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiết lập một khung chương trình chung cho các doanh nhân ASEAN và đưa ra Sáng kiến Hội nhập ASEAN (AIA).IAI giúp các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt nam nâng cao năng lực thông qua việc cung cấp nguồn lực kỹ thuật và tài chính cho một loạt các dự án phát triển để hỗ trợ khu vực hội nhập như phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và công nghệ thông tin
Trang 271.2.2.4 Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do (FTAs) đã được ký với các Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, với GDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm 1/2 dân số thế giới
1.3 Tác động của việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN tới sự phát triển
và hội nhập kinh tế Việt Nam
Việc hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 đã, đang và sẽ đưa quá trình hợp tác và liên kết kinh tế trong ASEAN lên một nấc thang mới dựa trên 4 đặc trưng là một thị trường và một cơ sở sản xuất duy nhất, một khu vực có tính cạnh tranh cao, một khu vực phát triển kinh tế đồng đều và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Với tư cách là một thực thể, một bên tham gia vào quá trình, Cộng đồng kinh tế ASEAN có những tác động nhiều chiều, trên các phương diện khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nói riêng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung
1.3.1 Tác động tích cực
Thứ nhất: Tạo ra sự chuyển biến trong thương mại, đầu tư, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tạo việc làm, cải thiện phúc lợi
Có thể thấy, những tác động thúc đẩy tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn FDI từ bên ngoài đã được thể hiện rõ trong những năm nền kinh tế nước
ta hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới Tuy nhiên tính chất và quy mô của sự tác động sẽ ngày càng thể hiện rõ nét
Trước hết, hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN giúp thị trường và kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam được mở rộng, và động thời, hiện
Trang 28thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng tác động khiến cho kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ gia tăng
Bên cạnh sự gia tăng về kim ngạch, cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam cũng có sự chuyển biến trong những năm sắp tới Hiện tại, cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam với ASEAN đang trong tình trạng phát triển theo chiều dọc, trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu, nông lâm thủy sản và nhập khẩu hàng công nghiệp của ASEAN Khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập có điều kiện cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất khẩu trong khu vực cũng như với các đối tác khác trên thế giới theo hướng tích cực Hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị phụ tùng, phương tiện vận chuyển, dược phẩm, thực phẩm chế biến, hàng may mặc và đồ dùng gia dụng… được dự báo là chiếm tỷ trọng lớn hơn Thực
tế, trong những năm gần đây, cùng với xu hướng tăng thương mại nội khối ASEAN
và các biện pháp tự do hóa thương mại trong khu vực, cơ cấu hàng xuất khẩu sang ASEAN cũng có những thay đổi đáng kể
Trong lĩnh vực thu hút đầu tư, việc thực hiện các cam kết về tự do hóa đầu tư trong AEC bắt buộc các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng phải thực hiện cải cách chính sách đầu tư trong nước, cải thiện môi trường đầu tư hấp dẫn hơn
và giúp thu hút nhiều hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài, không chỉ từ các nhà đầu tư trong khu vực mà còn cả các nhà đầu tư quốc tế khác
Quá trình thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư thông qua việc hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN đến lượt nó tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và cải thiện phúc lợi cho người dân Tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN giúp cho nền kinh tế nước ta hội nhập đầy đủ hơn, tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực có hiệu quả hơn Điều dễ dàng nhìn nhận là, cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN với nội dung tạo ra một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất cũng sẽ giúp cho nền kinh tế Việt Nam mở rộng sản xuất, tạo ra việc làm, góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao mức sống dân cư và giảm đói nghèo
Trang 29Thứ hai: Góp phần vào việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn (vốn đầu
tư, công nghệ, việc làm) hiện đại hóa và phát triển cơ sở hạ tầng
Trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, Việt Nam được hưởng lợi từ việc phân bổ
có hiệu quả các nguồn lực như vốn đầu tư, công nghệ từ các nước phát triển hơn trong ASEAN cũng như sự di chuyển linh hoạt của lao động có kỹ năng giữa các nền kinh tế ASEAN Mặt khác, những lợi thế từ việc liên kết kinh tế thông qua Cộng đồng kinh tế ASEAN góp phần tạo ra một khu vực kinh tế có trình độ phát triển đồng đều hơn, hiệu quả hơn, hạn chế được những chênh lệch trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia, xét từ cách nhìn tổng thể cho toàn bộ khu vực
Đặc biệt với việc hiện thực hóa các thể chế trong các ASEAN+1 Trung Quốc), việc phân bổ các nguồn lực sẽ được mở rộng hơn đối với các đối tác phát triển hơn ở Đông Bắc Á Theo đó, Việt Nam có điều kiện thu hút các nguồn lực vốn đầu tư và công nghệ từ các nền kinh tế phát triển hơn như Nhật Bản và Hàn Quốc để có thể đẩy nhanh quá trình thúc đẩy tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế hướng tới các ngành có công nghệ, kỹ thuật cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao Tương tự hợp tác và hội nhập kinh tế cũng giúp cho chúng ta có thể thu hút các khoản đầu tư và viện trợ từ các nước phát triển để có thể xây dựng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng Liên kết kinh tế với các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực cũng giúp cho các nền kinh tế nhỏ hơn, như nước ta có thể vượt qua những thách thức của khủng hoảng tài chính và kinh tế nhờ dựa vào các thể chế hợp tác tài chính, khả năng duy trì sự ổn định của thị trường
(ASEAN-Thứ ba: Thúc đẩy quá trình cải cách, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong quá
trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN
Hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 khiến cho Việt Nam có thể mở rộng hợp tác trong một không gian kinh tế rộng lớn hơn, góp phần thúc đẩy các hoạt động cải cách, đưa quá trình hội nhập có hiệu quả hơn Trong thời
kỳ phát triển sắp tới, khi các thể chế hội nhập khu vực có hiệu lực, yêu cầu của cải cách càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Lĩnh vực cải cách trước tiên chính là cải cách về thể chế chính sách cho phù hợp với những thể chế khu vực nhằm hiện
Trang 30thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN, các thể chế ASEAN+ và các thể chế hợp tác quốc tế khác Để có thể hội nhập và hợp tác có hiệu quả, Việt Nam sẽ phải có những cải cách về quản trị công, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, ban hành các chính sách về thương mại, đầu tư, hải quan, các chính sách trong giáo dục và đào tạo… Việt Nam cũng phải thực thi những cải cách trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm hội nhập sâu rộng hơn, hiệu quả hơn Hơn nữa trong điều kiện hậu khủng hoảng tài chính hiện nay, chúng ta cần phải tăng cường cải cách các thể chế giám sát tài chính, nâng cao tính minh bạch để tránh những rủi ro có thể xảy ra Đặc biệt Việt Nam cần phải chú trọng cải cách khu vực kinh tế nhà nước, vốn hoạt động thiếu hiệu quả trong thập kỷ qua và những lĩnh vực hành chính công
Trong lĩnh vực thương mại và thu hút vốn đầu tư trực tiệp nước ngoài FDI, việc cải cách cũng hết sức cần thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại, đối phó với những thách thức cạnh tranh ngày càng lớn hơn về mở cửa thị trường trong nước cũng như thâm hụt thị trường ngoài nước và những yêu cầu khác đặt ra trong quá trình hội nhập
Thứ tư: Góp phần cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình
Trong lĩnh vực thương mại là việc nâng cao năng lực cạnh tranh để giữ vững thị trường trong nước mà chúng ta chưa khai thác hết trong điều kiện mở cửa thị trường và hội nhập sâu rộng, qua đó bảo vệ sản xuất trong nước, tránh được tình trạng tụt hậu và nguy cơ phá sản, duy trì việc làm, hạn chế những tác động xã hội
Về mặt này, áp lực bảo vệ và giữ vững thị trường trong nước sẽ phải đối mặt với
Trang 31nguy cơ hàng hóa ngoại nhập của các nước có trình độ công nghệ và quản lý phát triển hơn nước ta như các nước ASEAN-5 (bao gồm Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan, Việt Nam), Trung Quốc, Ấn Độ cũng như các sản phẩm công nghệ cao từ Nhật Bản, Hàn Quốc Đối với thị trường ngoài nước, mở rộng thương mại thông qua hội nhập kinh tế trong thập kỷ tới với môi trường rộng lớn hơn cũng sẽ đem lại
cơ hội cho Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh với nhiều đối tác hơn trong không gian rộng lớn hơn tại các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc… Các đối tác cạnh tranh không chỉ là khu vực các nước ASEAN mà còn là các nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc… Về mặt này, những năm vừa qua, Việt Nam cũng đã có những bước cải thiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại
Trong lĩnh vực đầu tư, trong những năm sắp tới Việt Nam sẽ phải cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI với các nước trong khu vực, nhất là các nước ASEAN, Trung Quốc Không ít nước thành viên, trong đó có Việt Nam có thể hưởng lợi từ vấn đề chi phí lao động ở Trung Quốc gia tăng Việt Nam cùng với Campuchia, Lào và Myanmar có thể tận dụng tốt lợi thế về mức lương nhân công rẻ để cạnh tranh với Trung Quốc trong thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên nhìn từ khía cạnh khác, Việt Nam, các nước ASEAN khác và Trung Quốc vẫn phải cạnh tranh trong việc thu hút nguồn đầu tư nươc ngoài có chất lượng về khoa học, công nghệ, trình độ quản lý, phát triển nguồn nhân lực Trong khi đó, với việc thiết lập AEC và các thể chế hội nhập khác, các nhà đầu tư Việt Nam sẽ phải cạnh tranh trong việc mở rộng đầu tư sang các nền kinh tế chậm phát triển hơn trong ASEAN như Lào, Campuchia, Myanmar…
Đứng trên góc độ các doanh nghiệp, những tác động tích cực có thể đến từ các cơ hội, đó là: có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được sản xuất ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài; có điều kiện tiếp nhận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư… Trong giao lưu thương mại, thị trường rộng lớn là cơ hội để các doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận từ việc buôn bán, trao đổi các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… của mình với thị trường các nước khác trên thế giới
Trang 32Hơn nữa, thông qua các dự án, các hợp đồng hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với công nghệ, máy móc hiện đại, cách quản lý tiên tiến, nhờ đó các doanh nghiệp có thể dễ dàng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, công suất sản xuất, nâng cao trình độ quản lý…
Thứ năm: Tác động đối với việc lựa chọn chiến lược phát triển cân đối giữa
các vùng miền giảm bất bình đẳng giữa các tầng lớp, chú trọng bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững
Thực tế phát triển trong những năm qua cho thấy, quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao nhưng chưa chú trọng đến chất lượng tăng trưởng Điều này đã có ảnh hưởng không nhỏ đến các mục tiêu phát triển bền vững do môi trường bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên bị sử dụng tùy tiện, thiếu kế hoạch, chênh lệch phát triển gia tăng Trong bối cảnh đó, hiện thực hóa AEC với nội dung thứ ba về một khu vực phát triển kinh tế đồng đều có thể sẽ có những tác động tích cực đáng kể đến việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững của đất nước ta Bởi vì, quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng với sự tương tác giữa các nền kinh tế đòi hỏi chúng ta phải có những nỗ lực tổng thể trong giảm đói nghèo và chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp dân cư Đây không chỉ là nhiệm vụ mà còn là yêu cầu khách quan đặt ra cho mỗi nước trong quá trình phát triển Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là phải tận dụng tối đa các cơ hội mà hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế mang lại để biến nó thành nguồn lực phát triển có ích trong việc thực hiện các mục tiêu giảm đói nghèo, giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp khác nhau trong
Trang 33thực thi những chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng lớn hơn Do
đó, các thách thức ở đây phải được hiểu là trong điều kiện hội nhập Cộng đồng kinh
tế ASEAN, nếu không có những bước đi mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn, Việt Nam có thể bị tụt hậu
Thứ nhất: Nguy cơ tụt hậu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta có
thể tăng lên và các doanh nghiệp Việt Nam có thể rơi vào thế bất lợi
Theo Báo cáo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) về xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế của 138 nước tham gia năm 2016 – 2017, Việt Nam đứng thứ 60 trên tổng số 138 nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong ASEAN-5 như Singapore, Malayxia, Brunei, Thái Lan, Indonexia và
cả Philipin, chỉ đứng trên Campuchia thể hiện qua bảng 1.1
Cũng theo Báo cáo WEF về chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế qua các năm
2015 – 2017, chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế toàn cầu của Việt Nam năm
2015-2016 đứng ở vị trí 56 trong số 140 nước tham gia xếp hạng, và đến năm sau 2015-2016 –
2017 thì tụt xuống vị trí 60 trên tổng số 138 quốc gia tham dự Trước đó, Việt Nam
bị tụt hạng trong ba năm liên tiếp, từ vị trí 59/139 năm 2010-2011 xuống vị trí 65/142 năm 2011-2012 và xuống tiếp vị trí 75/144 năm 2012-2013 Sở dĩ có tình trạng suy giảm như vậy là do Việt Nam đã bị mất điểm ở 9 trong 12 chỉ số xem xét như môi trường kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng chưa được cải thiện, mức độ sẵn sàng công nghệ, khu vực công kém hiệu quả… Do đó, Việt Nam cần phải có những chính sách nhằm cải thiện hơn nữa đối với các chỉ số như cải thiện môi trường kinh
tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng giáo dục, thủ tục hành chính, mức độ sẵn sàng công nghệ…
Trang 34Bảng 1.1: Xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế toàn cầu của Việt Nam
với một số nước trong khu vực 2016-2017
Chỉ số về năng lực cạnh tranh kinh tế toàn cầu
Xếp hạng (so với 138 nước)
Điểm số (Thang điểm 7)
Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới, WEF
Trong quá trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN và khi Cộng đồng kinh
tế ASEAN được hiện thực hóa vào năm 2015, sức ép cạnh tranh đã, đang và sẽ gia tăng mạnh mẽ hơn tại thị trường trong nước và thị trường thế giới Tại thị trường trong nước, sức ép cạnh tranh trong quá trình hội nhập AEC có thể dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước khó có chỗ đứng, bị hàng hóa của các nước như Singapore, Malayxia, Thái Lan, Indonexia chiếm lĩnh Thậm chí, trong điều kiện hội nhập thông qua Cộng đồng kinh tế ASEAN mở cũng khiến cho hàng hóa của các nước tham gia các thể chế ASEAN+1 như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản thâm nhập thị trường nội địa
Đối với các doanh nghiệp, những thách thức có thể đến đó là:
(i) Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế Bởi lẽ,
đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn Hội nhập trong nền kinh tế khu vực và thế giới khiến cho mức độ cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp Việt Nam với các nước trong khu vực để xuất khẩu hàng hóa dich vụ mà cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước Trong điều kiện quy mô doanh nghiệp nhỏ, vốn ít, các doanh nghiệp Việt Nam lại gặp một thách thức rất lớn đó là chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thấp Đội ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn rất thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng, kinh nghiệm quản lý
Trang 35(ii) Sự lạc hậu về khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới
(iii) Hạn chế về nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các doanh nghiệp
Đa số các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh Trong khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới có xu hướng tăng, làm cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu khá cao, chiếm hơn 60% giá thành sản phẩm, Mặt khác rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín, chất lượng và năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế Trên thực tế, trong nhiều sản phẩm của Việt Nam yếu tố cấu thành của tri thức, công nghệ thấp, trong khi yếu tố sức lao động và nguyên vật liệu cao…, điều đó làm cho sức cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm không có ưu thế rõ rệt trên thị trường
Thứ hai: Tạo ra những áp lực từ việc thực thi những cải cách
Trong quá trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 và mở rộng hợp tác liên kết kinh tế của ASEAN với các đối tác, nếu chúng ta không chú trọng đúng mức đến những cải cách và thể chế kinh tế, quản trị công, nâng cao hiệu lực quản
lý, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải thiện tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng
và thị trường tài chính, chúng ta dễ bị tụt hậu hơn so với cấc đối tác trong khu vực Mặt khác, tác động xấu cũng có thể đến từ việc chúng ta chậm đổi mới trong cơ cấu sản xuất và xuất khẩu với hầu hết các đối tác trong khu vực và trên thế giới Hiện tại, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn là các sản phẩm nông, lâm nghiệp như cà phê, cao su, gạo, những mặt hàng được coi là sản phẩm thô mà ít có công nghệ chế biến làm gia tăng giá trị sản phẩm Cơ cấu xuất khẩu như vậy sẽ làm cho nền kinh tế phát triển thiếu ổn định, vững chắc
Thứ ba: Tác động đến chênh lệch phát triển và an ninh kinh tế giữa các nước
trong khu vực
Là một nước phát triển thấp trong ASEAN, Việt Nam có thể phải đối diện với nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực do yếu thế về năng lực cạnh tranh và hội nhập Hội nhập khu vực trong điều kiện khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, về cơ
Trang 36sở hạ tầng, khoa học công nghệ, thể chế… có thể dẫn đến lợi ích không được phân bổ đồng đều Trong điều kiện đó, các nước có trình độ phát triển thấp hơn như nước ta có thể rơi vào tình trạng bất lợi trong việc tận dụng những ưu thế của hội nhập Đơn cử là một nội dung kinh tế của AEC đó là sự tự do di chuyển của lao động có tay nghề và doanh nhân trong AEC đem lại một số tác động tích cực nhưng cũng sẽ làm nảy sinh bất bình đẳng mới Một số lượng lớn lao động có trình độ kỹ thuật và thậm chí các doanh nhân có trình độ từ các nước chậm phát triển hơn sẽ tìm đến các trung tâm phát triển hơn của ASEAN Singapo, Kuala Lumpur
Sau khi hoàn thiện chương 1: Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN, tôi xin tóm tắt một số kết luận sau:
Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC) là một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN đã được thành lập vào năm 2015 Nội dung chính của Cộng đồng kinh tế ASEAN là tiến tới trở thành một thị trường và
cơ sở sản xuất thống nhất, một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao, một khu vực phát triển kinh tế đồng đều và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu Cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời tác động nhiều mặt đến nền kinh tế Việt Nam, trong đó có cả tác động tích cực và tác động tiêu cực Trước hết, xét khía cạnh tích cực, sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN là động lực phát triển kinh tế Việt Nam; thúc đẩy quá trình cải cách, chuyển đổi cơ cấu kinh tế; góp phần cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh; tác động đối với việc lựa chọn chiến lược phát triển cân đối giữa các vùng miền nhằm giảm bất bình đẳng giữa các tầng lớp, chú trọng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng mang đến không ít những tác động tiêu cực cho lao động Việt Nam, đó là: tạo ra những áp lực từ việc thực thi những cải cách; nguy cơ tụt hậu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta có thể tăng lên và các doanh nghiệp Việt Nam có thể rơi vào thế bất lợi, tác động đến chênh lệch phát triển và an ninh kinh tế giữa các nước trong khu vực
Trang 37CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN & CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM KHI THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
2.1 Quy định về nguồn nhân lực trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
2.1.1 Giới thiệu
Khi cộng đồng kinh tế mới ra đời, đã, đang và sẽ có nhiều cơ hội để người lao động dịch chuyển sang các nước khác để đáp ứng sự thiếu hụt nhân lực cho các quốc gia này, cải thiện thu nhập và tích luỹ những kinh nghiệm mới cho bản thân Phương thức 4 trong 4 phương thức cung cấp dịch vụ là Di chuyển thể nhân,
là sự di chuyển của cá nhân từ nước này qua nước khác để cung cấp một dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Trong ASEAN, phương thức cung cấp dịch
vụ này ban đầu được đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), nhưng sau đó được tách riêng ra để đàm phán trong một Hiệp định riêng là Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) năm 2012
Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) được ký ngày 19/11/2012 tại Phnom Penh, Campuchia với mục tiêu dỡ bỏ đáng kể các rào cản đối với việc di chuyển tạm thời qua biên giới của các thể nhân tham gia vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các nước ASEAN
2.1.2 Phạm vi áp dụng
Hiệp định này áp dụng đối với các quy định ảnh hưởng tới việc di chuyển tạm thời qua biên giới của thể nhân của một nước ASEAN sang lãnh thổ của nước ASEAN khác trong các trường hợp:
i) Khách kinh doanh (business visitors)
ii) Người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp
iii) Người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng,
iv) Một số trường hợp khác
Trang 38Hiệp định không áp dụng đối với các quy định của một nước ASEAN liên quan tới việc hạn chế tiếp cận thị trường lao động của người lao động các nước ASEAN khác Việc mở cửa thị trường lao động của mỗi nước chỉ áp dụng cho các ngành nghề được quy định cụ thể trong Biểu lộ trình cam kết của nước đó và thuộc một trong 4 trường hợp trên
Để tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động có tay nghề giữa các nước ASEAN, các nước đã ký kết các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong một số lĩnh vực ngành nghề nhằm công nhận lẫn nhau về bằng cấp và trình độ của lao động có
kỹ năng trong khu vực Cho tới thời điểm tháng 12/2015, các nước ASEAN đã ký 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong 8 lĩnh vực dịch vụ là: Kiến trúc, Tư vấn kỹ thuật, Điều dưỡng, Hành nghề y, Nha sỹ, Du lịch, Kế toán kiểm toán, và Khảo sát
Thỏa thuận về Công nhận tay nghề tương đương MRA cho phép những người lao động trong khối ASEAN có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được “Tổ chức đánh giá sự phù hợp” và “Các cơ quan hành pháp” của ASEAN chứng nhận có thể
tự do tìm việc ở các quốc gia thành viên
2.1.2 Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA)
2.1.2.1 MRA đối với dịch vụ tư vấn kỹ thuật (Engineering services)
MRA đối với dịch vụ tư vấn kỹ thuật là MRA đầu tiên của các nước ASEAN được ký vào ngày 9/12/2005 tại Kuala Lumpur, Malaysia MRA này hướng tới xây dựng một hệ thống đăng ký hành nghề kỹ sư chung ASEAN
ASEAN đã thành lập Ủy ban Điều phối kỹ sư thuật chuyên nghiệp ASEAN (ACPECC) đặt tại Jakarta, Indonesia để điều phối việc thực hiện MRA này
Mỗi nước ASEAN cũng thành lập một Uỷ ban giám sát về dịch vụ tư vấn kỹ thuật tại nước mình để thực hiện quy trình đánh giá và đăng ký cấp phép Kỹ sư chuyên nghiệp đủ điều kiện theo ASEAN
Hiện tại, tất cả các thành viên ASEAN đã chính thức tham gia MRA này, và
đã thành lập các cơ quan thực hiện MRA tại nước của mình, cũng như hoàn thành các thủ tục để thực hiện việc cấp chứng nhận ACPE Tại Việt Nam, Bộ Xây dựng
Trang 39đã ban hành Quyết định số 820 và 821/QĐ- BXD ngày 6/8/2009 về việc thành lập
Uỷ ban giám sát của Việt Nam và Quy chế đánh giá đối với kỹ sư chuyên nghiệp
Tính tới thời điểm tháng 10/2015, đã có 1.483 ACPE từ 9 nước ASEAN được chứng nhận, và 6 ACPE đã được đăng ký hành nghề như RFPE
2.1.2.2 MRA đối với dịch vụ Kiến trúc (Architectual services)
MRA đối với lĩnh vực dịch vụ Kiến trúc được ký 19/11/2007 tại Singapore MRA này hướng tới xây dựng một hệ thống đăng ký hành nghề Kiến trúc sư chung ASEAN ASEAN đã thành lập Hội đồng Kiến trúc sư ASEAN (AAC) quản lý việc thực hiện MRA này
Mỗi nước ASEAN cũng thành lập một Uỷ ban giám sát về dịch vụ kiến trúc tại nước mình để thực hiện quy trình đánh giá và đăng ký cấp phép Kiến trúc sư ASEAN
Hiện tại, tất cả các thành viên ASEANđã chính thức tham gia MRA này, và
đã thành lập các cơ quan thực hiện MRA tại nước của mình, cũng như hoàn thành các thủ tục để thực hiện việc cấp chứng nhận Kiến trúc sư ASEAN Ở Việt Nam,
Bộ Xây dựng đã Ban hành Quyết định số 554/QĐ-BXD ngày 14/06/2011 về việc ban hành quy chế đánh giá kiến trúc sư ASEAN
Tính tới thời điểm tháng 10/2015, đã có 284 Kiến trúc sư ASEAN từ 9 nước ASEAN được chứng nhận AA
2.1.2.3 MRA đối với dịch vụ kế toán (Accountancy Services)
MRA đối với lĩnh vực Kế toán ban đầu được ký tháng 2/2009 dưới hình thức một khuôn khổ MRA nhằm khuyến khích các nước ASEAN đã sẵn sàng để tham gia vào đàm phán song phương hoặc đa phương về MRA trong lĩnh vực Kế toán Sau đó, MRA này được sửa đổi và ký chính thức vào ngày 13/11/2014 tại Nay Pyi Taw, Myanmar
ASEAN đã thành lập Ủy ban Điều phối Kế toán chuyên nghiệp ASEAN để thực hiện MRA này Mỗi nước ASEAN cũng thành lập một Uỷ ban giám sát về dịch vụ kết toán tại nước mình để thực hiện quy trình đánh giá và đăng ký cấp phép
Kế toán chuyên nghiệp đủ điều kiện theo ASEAN MRA này áp dụng đối với tất cả
Trang 40các dịch vụ kế toán trừ dịch vụ ký báo cáo kiểm toán độc lập và các dịch vụ yêu cầu cấp phép ở các nước ASEAN
Tính tính đến thời điểm tháng 12/2015, MRA này mới ký được hơn 1 năm và hiện chưa có thông tin về tình hình thực hiện MRA này của các nước ASEAN (bao gồm cả Việt Nam)
2.1.2.4 MRA đối với dịch vụ Du lịch
MRA đối với dịch vụ Du lịch (MRA-TP) được các nước ASEAN ký ngày 9/11/2012 tại Bangkok, Thái Lan
Nội dung chính: Trình độ của người lao động của một nước ASEAN có thể được một nước ASEAN khác công nhận, và được làm việc tại nước đó với điều kiện:
Người lao động làm việc trong một trong 32 lĩnh vực dịch vụ khách sạn và lữ hành quy định trong Phụ lục đính kèm MRA-TP, trong đó không bao gồm Hướng dẫn viên du lịch
Người lao động phải được đào tạo và có Chứng nhận trình độ du lịch (còn hiệu lực) đáp ứng Tiêu chuẩn trình độ chung ASEAN về du lịch (ACCSTP) và được cấp bởi một Hội đồng chứng nhận nghề du lịch tại nước mình
Người lao động phải tuân thủ các quy định và pháp luật hiện hành của nước
sở tại
Hiện tại MRA này vẫn chưa có hiệu lực Sáu nước Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan đã hoàn thành các thủ tục và quy trình trong nước để thực hiện MRA này nhưng 4 nước còn lại trong ASEAN bao gồm Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuẩn bị cho việc thực hiện MRA này
2.1.2.5 MRA đối với lĩnh vực Điều dưỡng, Hành nghề Y và Hành nghề Nha khoa
MRA về Điều dưỡng ký ngày 8/12/2006 tại Cebu, Philippines MRA về Hành nghề y và MRA về Hành nghề nha khoa được ký ngày 26/2/2009 tại Cha-am, Thái Lan