Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Truyền thông KH&CN – Bộ KH&CN; lãnh đạo, Ban biên tập và các anh/chị phóng viên, biên tập viên phụ trách
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO QUANG LONG
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO QUANG LONG
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60320101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền, Chủ nhiệm Bộ môn PR – Quảng cáo, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn – ĐHQG Hà Nội
Các số liệu, trích dẫn đều có nguồn đầy đủ và trung thực
Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2017
Tác giả
Đào Quang Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài “Truyền thông về khoa học và công nghệ trên báo điện tử”, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám
hiệu, Khoa Báo chí và Truyền thông và các thầy, cô trong Trường ĐH Khoa học
Xã hội và Nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, dạy bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền – người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giảng viên trong khoa Báo chí và Truyền thông và các thầy, cô giảng dạy các bộ môn đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạo sau đại học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Truyền thông KH&CN – Bộ KH&CN; lãnh đạo, Ban biên tập và các anh/chị phóng viên, biên tập viên phụ trách chuyên mục Khoa học, Công nghệ các báo điện tử: VnExpress, Dân trí, VietnamPlus, Đất Việt đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện Luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy, cô và các bạn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên: Đào Quang Long
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 12
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.1.1 Khái niệm truyền thông, các mô hình truyền thông 13
1.1.2 Khái niệm về khoa học và công nghệ 16
1.1.3 Khái niệm truyền thông khoa học và công nghệ 17
1.1.4 Khái niệm báo điện tử 19
1.2 Ứng dụng lý thuyết truyền thông trong nghiên cứu đề tài 21
1.2.1 Lý thuyết sử dụng và hài lòng 21
1.2.2 Lý thuyết nhận thức phụ thuộc 23
1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí đối với hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ hiện nay 24
1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khoa học và công nghệ 24
Trang 61.3.2 Vai trò của báo chí đối với hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ
hiện nay 27
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 32
1.1 Hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ hiện nay 32
1.1.1 Các kênh truyền thông khoa học và công nghệ hiện nay 32
1.1.2 Một số hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ nổi bật thời gian qua 34
2.2 Nội dung và hình thức sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ trên báo điện tử 37
2.2.1 Về số lượng tin, bài 39
2.2.2 Về nội dung thông tin 44
2.2.3 So sánh nội dung thông tin về khoa học và công nghệ trên báo điện tử với các loại hình báo chí và kênh thông tin khác 55
2.2.4 Về hình thức thể hiện thông tin 56
2.2.5 Tương tác của độc giả về thông tin khoa học và công nghệ 60
2.3 Ý kiến của công chúng về hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ trên báo điện tử 63
2.3.1 Kết quả điều tra xã hội học 63
2.3.2 Ý kiến của phóng viên phụ trách mảng khoa học và công nghệ 70
2.3.3 Ý kiến của nhà tổ chức, quản lý truyền thông khoa học và công nghệ 73
2.3.4 Ý kiến của lãnh đạo báo điện tử 74
2.4 Thành công, hạn chế và nguyên nhân thành công, hạn chế của báo điện tử trong hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ 77
Trang 72.4.1 Thành công và nguyên nhân thành công 77
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 86
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 91
3.1 Những vấn đề đặt ra 91
3.1.1 Chủ trương, chính sách về truyền thông khoa học và công nghệ hiện nay 91
3.1.2 Vấn đề quản lý nhà nước về truyền thông khoa học và công nghệ trên báo điện tử 93
3.1.3 Hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ của các báo điện tử hiện nay 96
3.2 Giải pháp giải quyết các vấn đề đặt ra về truyền thông khoa học và công nghệ trên báo điện tử 97
3.2.1 Đối với hoạt động quản lý nhà nước 97
3.2.2 Đối với ngành khoa học và công nghệ 99
3.2.3 Đối với các đơn vị báo điện tử 102
3.3 Khuyến nghị đối với các báo điện tử khảo sát 106
3.3.1 Đối với báo điện tử VnExpress 106
3.3.2 Đối với báo điện tử Dân trí 106
3.3.3 Đối với báo điện tử VietnamPlus 107
3.3.4 Đối với báo điện tử Đất Việt 107
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8Phụ lục 01 - Phiếu khảo sát công chúng 1a Phụ lục 02 - Phỏng vấn sâu phóng viên Ban Khoa học báo điện tử Dân trí 4a Phụ lục 03 - Phỏng vấn sâu Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông khoa học và công nghệ 9a Phụ lục 04 - Phỏng vấn sâu Phó Ban biên tập báo điện tử VietnamPlus 13a Phụ lục 05 - Thông tin về báo điện tử VnExpress 16a Phụ lục 06 - Thông tin về báo điện tử Dân trí 18a Phụ lục 07 - Thông tin về báo điện tử VietnamPlus 20a Phụ lục 08 - Thông tin về báo điện tử Đất Việt 22
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CESTC : Trung tâm nghiên cứu và Phát triển truyền thông
KH&CN (Bộ KH&CN) CMS : Hệ thống quản trị nội dung website
ĐH KHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
PT-TH : Phát thanh – Truyền hình
PGS.TS : Phó giáo sư – Tiến sĩ
TTXVN : Thông tấn xã Việt Nam
TT&TT : Thông tin và Truyền thông
VOVTV : Kênh phát thanh có hình - Đài tiếng nói Việt Nam
Trang 10DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH Danh mục bảng
Bảng 2.1 - Tổng hợp số lượng tin, bài theo chủ đề trên các báo điện tử 41
Bảng 2.2 - So sánh tỷ lệ thông tin KH&CN theo chủ đề trên báo điện tử với kết quả các nghiên cứu đã có 55
Bảng 2.3 - Nhu cầu đọc các loại thông tin KH&CN của độc giả 67
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1 - Tỷ lệ thông tin KH&CN trong nước theo chủ đề trên 4 báo điện tử VnExpress, Dân trí, VietnamPlus, Đất Việt 43
Biểu đồ 2.2 - Sử dụng thể loại thông tin KH&CN trên trên 4 báo điện tử VnExpress, Dân trí, VietnamPlus, Đất Việt 57
Biểu đồ 2.3 - Hình thức thể hiện thông tin KH&CN trên 4 báo điện tử VnExpress, Dân trí, VietnamPlus, Đất Việt 58
Biểu đồ 2.4 - Mức độ đọc thông tin KH&CN trên báo điện tử của độc giả 65
Biểu đồ 2.5 - Mục đích tiếp cận thông tin KH&CN trên báo điện tử của độc giả 66
Biểu đồ 2.6 - Đánh giá nội dung thông tin KH&CN trên báo điện tử 68
Biểu đồ 2.7 - Đánh giá hình thức trình bày thông tin KH&CN trên báo điện tử 68
Biểu đồ 2.8 - Cách độc giả tiếp cận thông tin KH&CN trên báo điện tử 69
Biểu đồ 2.9 - Cách độc giả tương tác với thông tin KH&CN trên báo điện tử 70
Danh mục hình ảnh Hình 1.1 – Mô hình truyền thông của Claude Shannon 14
Hình 1.2 – Mô hình nhận thức phụ thuộc 23
Hình 2.1 - Infographic về thông tin NASA nghiên cứu sự hình thành của Mặt trời đăng trên báo điện tử VietnamPlus 59
Trang 11Trong điều kiện ấy, truyền thông về KH&CN đóng vai trò hết sức quan trọng Trước hết, truyền thông về KH&CN giữ vai trò chủ đạo trong công tác giới thiệu, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước coi phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Qua các kênh truyền thông, người dân cũng như các cấp quản lý ý thức được vai trò của KH&CN có tính chất quyết định phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sản phẩm, hàng hóa và của cả nền kinh tế Truyền thông về KH&CN tạo sự đồng thuận, ủng hộ, tham gia của toàn xã hội, biến nhận thức thành hành động, đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng KH&CN vào công tác quản lý, sản xuất và đời sống
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển KH&CN, như: Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết 46/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW; Luật khoa học và công nghệ (năm 2013) và Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 theo quyết định số
Trang 12Cùng với những thành quả mang tính đột phá của ngành KH&CN, lực lượng báo chí và đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báo khắp cả nước đã liên tục sát cánh cùng ngành KH&CN, tích cực tham gia truyền thông về KH&CN Như vậy,
để KH&CN đạt được các mục tiêu đề ra và ngày càng phát triển thì vai trò của hoạt động truyền thông về KH&CN được ghi nhận và đánh giá cao Truyền thông KH&CN là một quá trình tác động qua lại liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiến thức, thái độ, kinh nghiệm và kỹ năng về KH&CN, nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng được tác động Có thể nói, trong kỷ nguyên khoa học và công nghệ, truyền thông KH&CN góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới, tận tụy nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, gắn với nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay
Truyền thông về KH&CN còn đóng vai trò làm diễn đàn xã hội, đăng tải các luồng ý kiến khác nhau về vấn đề KH&CN của đất nước, các bộ, ngành, địa phương, Đặc biệt là đăng tải ý kiến của chuyên gia, nhà quản lý về một vấn đề
Trang 133
KH&CN đang tranh cãi, ý kiến người dân được thụ hưởng hoặc chịu tác động hoạt động KH&CN đó Đồng thời, tổng kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp, nhất là những lĩnh vực có ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống nhân dân
Một vai trò quan trọng khác của truyền thông KH&CN là tuyên truyền, phổ biến, đưa nhanh các tri thức KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống Chiến
lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh: “Nhân rộng và tăng cường mô hình phổ biến kiến thức KH&CN phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới tại các địa phương” [2]
Trong hệ thống báo chí Việt Nam, báo điện tử với đặc thù gắn liền với công nghệ công tin và mạng internet, có khả năng nhanh chóng đưa chủ trương chính sách phát triển nền kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần ổn định xã hội, củng cố và giữ vững an ninh quốc phòng, tham gia tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông về KH&CN Tuy nhiên hiện nay, ngoại trừ một số báo điện tử, trang tin điện tử trực thuộc ngành KH&CN làm công tác thông tin tuyên truyền về hoạt động KH&CN, các báo điện tử khác chưa thực sự
“mặn mà” với việc đưa các thông tin về hoạt động KH&CN Các báo điện tử thường chú trọng vào các chủ đề mang tính thời sự, các sự kiện thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng để tăng lượng truy cập, lượng “view” thay vì đưa các thông tin liên quan đến KH&CN vốn khô khan, khó tiếp nhận, từ đó dẫn đến thực trạng công chúng vốn đã ít quan tâm đến lĩnh vực KH&CN, nay các thông về KH&CN càng trở nên “khan hiếm” trên mặt báo
Từ thực trạng nói trên, đặt ra một số vấn đề cần làm sáng tỏ, cụ thể: Nhu cầu thông tin về KH&CN của công chúng ra sao? Nhận thức về vai trò của báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng trong hoạt động truyền thông về KH&CN như thế nào? Thông tin về KH&CN trên báo điện tử hiện nay có tác động như thế nào đến
tư tưởng, nhận thức, thái độ, tri thức của công chúng? Cần có những giải pháp nào
Trang 14Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Truyền thông về khoa học và công nghệ trên báo điện tử” trong khuôn khổ ngành Báo chí học làm đề tài nghiên cứu cho Luận
văn này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
KH&CN có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội KH&CN tạo nên sự sáng tạo, sự đổi mới, thậm chí tạo nên sự thay đổi đến không ngờ Mỗi quốc gia có chính sách phát triển khoa học công nghệ khác nhau, trong đó nghiên cứu về truyền thông khoa học có ý nghĩa tiên quyết, đặt nền móng cho sự phát triển khoa học công nghệ của mỗi quốc gia Chuyên gia nhiều nước đã có những nghiên cứu khoa học rất sâu sắc về lĩnh vực truyền thông KH&CN, có thể kể tới một số nghiên cứu điển hình như sau:
- Bách khoa toàn thư về truyền thông khoa học và công nghệ: “Encyclopedia
of Science and Technology Communication”, gồm 2 tập do Tiến sĩ Susanna Hornig Priest (Washington, Hoa Kỳ) chủ biên, xuất bản năm 2010 Sách tổng hợp các nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông khoa học công nghệ, cung cấp toàn diện các thông tin liên quan đến lĩnh vực khoa học và công nghệ phục vụ cho quá trình tác nghiệp, sản xuất thông tin khoa học và công nghệ;
- Cuốn: “Science Communication between News and Public Relations” của Martin Bauer và Massimiano Bucchi – hai giáo sư tại trường Kinh tế London, xuất bản năm 2007 Martin W Bauer và Massimiano Bucchi là các nhà khoa học
Trang 155
chuyên nghiên cứu về sự tương tác giữa khoa học và công nghệ với truyền thông và thái độ của công chúng với KH&CN Cuốn sách tập trung vào hai mục đích chính:
Thứ nhất, chỉ ra sự gia tăng của các bảo trợ cá nhân với các nghiên cứu khoa
học làm thay đổi bản chất của quá trình truyền thông khoa học bằng cách dùng tư duy xúc tiến thương mại thay vì tư duy báo cáo khoa học
Thứ hai, các tổ chức khoa học đang ngày càng áp dụng nhiều chiến lược và
chiến thuật truyền thông độc đáo để quảng bá hình ảnh, uy tín và điều hành sản phẩm;
- Cuốn: “Handbook of Public Communication of Science and Technology” (Sổ tay truyền thông cộng đồng về khoa học và công nghệ) của hai tác giả Massimiano Bucchi và Brian Trench Cuốn sách tập hợp 17 bài viết học thuật về các xu hướng nghiên cứu trong truyền thông về KH&CN của các học giả, chuyên gia, nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới, sách cung cấp một cái nhìn toàn cảnh
về sự phát triển và tầm ảnh hưởng của truyền thông cộng đồng về KH&CN, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến sự thay đổi do truyền thông KH&CN được tạo ra;
- Cuốn: “Communicating Science in Social Contexts” (Truyền thông khoa học trong bối cảnh xã hội) của các tác giả: Cheng, D., Claessens, M., Gascoigne, N.R.J., Metcalfe, J., Schiele, B., Shi, S., xuất bản năm 2008 là tập hợp các bài viết nghiên cứu của 31 học giả, chuyên gia hàng đầu thế giới Nội dung cuốn sách gồm
18 chương, phản ánh sự đa dạng của truyền thông khoa học, các phương pháp lý thuyết và thực tiễn để truyền thông khoa học, đồng thời đánh giá các mô hình hiện
và chia sẻ những kinh nghiệm trong lĩnh vực này;
- Cuốn: “Science Communication in the World” (Truyền thông khoa học thế giới) của các tác giả: Schiele, Bernard, Claessens, Michel, Shi, Shunke Nội dung sách đề cập về sự phát triển của truyền thông khoa học ở các nước Trung Quốc, Ấn
Độ, Hàn Quốc, Nam Phi và Tây Ban Nha Sách không chỉ cung cấp các quan điểm
về truyền thông khoa học từ các quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới mà còn
Trang 16Thứ nhất, những tiến bộ trong công nghệ truyền thông đã tạo ra cuộc cách
mạng thông tin trong KH&CN Công chúng ngày càng dễ dàng tiếp cận với các thông tin khoa học, từ đó có thể tham gia vào quá trình khoa học, phản biện khoa học tạo nên tính dân chủ hóa trong KH&CN Qua đó, tác giả dự báo về một trật tự khoa học công nghệ mới sẽ xuất hiện;
Thứ hai, tiến bộ trong truyền thông hiện đại đang cách mạng hóa việc trao
đổi ý tưởng Theo tác giả, việc trao đổi các thông tin khoa học đã trở lên dễ dàng, nhanh chóng bởi không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý, công nghệ,… khiến cho việc trao đổi các ý tưởng được lan rộng tác động đến nhận thức, suy nghĩ và phát sinh những hành vi khoa học công nghệ mới
Thứ ba, sự “phân quyền” trong khoa học công nghệ là yếu tố được tạo ra từ
sự trao đổi các ý tưởng toàn cầu thông qua sự phát triển của công nghệ truyền thông Điều này xuất phát từ tính dân chủ hóa trong khoa học công nghệ tạo lên sự đấu tranh, phản biện mạnh mẽ của công chúng với giới khoa học về các vấn đề, hiện tượng khao học Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của khoa học
và công nghệ;
Bài viết: “Communicating Science Online [4]” là một trong số ít nghiên cứu, phân tích liên quan đến truyền thông trực tuyến về lĩnh vực khoa học đăng tải trên trang web của Hiệp hội Vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ Bài viết đề cập đến thực trạng, thách thức truyền thông trực tuyến về khoa học, sự phát triển và gia
Trang 172.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu tiêu biểu nhất có thể kể tới đó là nhiệm vụ: “Hợp tác nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực truyền thông khoa học và công nghệ Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Truyền thông KH&CN, Bộ KH&CN chủ trì trong trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc tế về KH&CN theo Nghị định thư giai đoạn 2013 – 2016 Đây là nghiên cứu khá bài bản về lý luận khoa học, về truyền thông khoa học công nghệ, thực trạng hoạt động truyền thông KH&CN tại Việt Nam, kinh nghiệm truyền thông KH&CN một số nước trên thế giới, đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển cho truyền thông KH&CN Việt Nam Bên cạnh đó, trong những năm qua, ngành KH&CN đã
tổ chức một số hội thảo chuyên đề về truyền thông KH&CN, nổi bật là Tuần lễ
truyền thông KH&CN năm 2013, trong đó tổ chức hội nghị khoa học Báo chí với truyền thông KH&CN với nhiều bài viết, tham luận của các nhà báo, nhà khoa học,
nhà quản lý khoa học, chuyên gia truyền thông đề cập khá toàn diện về lĩnh vực
truyền thông KH&CN Việt Nam, như: “Vai trò của công tác truyền thông với hoạt động khoa học và công nghệ và một số định hướng truyền thông khoa học và công nghệ” của TSKH Nghiêm Vũ Khải (Thứ trưởng Bộ KH&CN) đã nêu lên tầm quan trọng của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước Tham luận “Vai trò của KH&CN và thực trạng truyền thông về khoa học và công nghệ hiện nay” do Nhà
báo Trần Đức Chính (Nguyên Tổng biên tập báo Nhà báo và Công luận) đưa ra những đánh giá về tác phong chưa chuyên nghiệp của phóng viên, biên tập viên khi truyền thông về KH&CN trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Trang 188
Bên cạnh đó, còn một số báo cáo đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả
truyền thông KH&CN như: “Nâng cao chất lượng truyền thông phát triển khoa học và công nghệ” của PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng (Học viện Báo Chí và Tuyên truyền); Báo cáo về “Vấn đề đào tạo cho truyền thông khoa học và công nghệ – cần tạo bước đột phá trong chiến lược” của PGS.TS.Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên Truyền); “Chương trình khoa học và công nghệ trên Đài Tiếng nói Việt Nam: Thực trạng và kinh nghiệm xây dựng chương trình phát thanh về đề tài khoa học” của Nhà báo Nguyễn Mỹ Hà (Đài Tiếng nói Việt Nam); “Một số hạn chế về thông tin khoa học và công nghệ trên báo chí: hiện trạng và giải pháp” của
TS Trần Bá Dung (Hội Nhà báo Việt Nam); tham luận về “Vai trò của Quỹ vì sự phát triển của khoa học và sáng tạo Hàn Quốc trong hoạt động truyền thông KH&CN” của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền (Trường ĐH KHXH&NV, ĐH
Quốc gia Hà Nội) nêu lên những kinh nghiệm truyền thông về KH&CN của Hàn Quốc,…
Trong hoạt động đào tạo của các nhà trường như: Học viện báo chí và Tuyên truyền, Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội, Đại học KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng lựa chọn các đề tài liên quan đến truyền thông về KH&CN làm Luận văn nghiên cứu
Theo tìm hiểu của tác giả, ở Việt Nam, chưa có đề tài hay công trình nghiên cứu nào liên quan đến hoạt động truyền thông về KH&CN trên báo điện tử được
công bố Một số đề tài nghiên cứu của các Luận văn ngành báo chí học đã hoàn
thiện các năm trước đó cũng đã đề cập đến lĩnh vực truyền thông về KH&CN trên báo chí nhưng ở loại hình báo chí khác, hoặc đối tượng, phạm vi nghiên cứu khác,
Trang 199
đến hoạt động thông tin về KH&CN trên báo điện tử, song mới chỉ khái quát một
số nội dung thông tin cơ bản, chưa đi sâu phân tích và nghiên cứu cụ thể;
Đề tài: Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình “Công nghệ - Đời sống” trên VTV1, và “Bảy ngày công nghệ” trên VTV2 năm 2014), học viên cao học Trần Thị Quyên, ĐH KHXH&NV,
Khoá QH-2013-X đề cập về hoạt động truyền thông về KH&CN trên truyền hình,
cung cấp một số luận giải cơ bản về truyền thông KH&CN;
Đề tài: Nghiên cứu công chúng của chương trình khoa học công nghệ trên VTV2, học viên cao học Đặng Hải Lộc, ĐH KHXH&NV, Khoá QH-2013-X,
nghiên cứu về công chúng tiếp nhận của một chương trình KH&CN cụ thể, thuộc
loại hình báo hình;
Đề tài: Hoạt động truyền thông trong doanh nghiệp khoa học và công nghệ (Khảo sát ba doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Công ty TNHH Một thành viên Cấp thoát nước Bà Rịa-Vũng Tàu, Công ty Cổ phần Công nghệ Saigon Track và Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2014), học viên cao học Lê Thị Tuyết Hạnh, ĐH KHXH&NV, năm 2015, đề cập
đến hoạt động truyền thông của các doanh nghiệp KH&CN, trong đó đi sâu nghiên cứu về cách thức, đặc điểm, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình làm truyền thông về KH&CN của doanh nghiệp; Luận văn đề cập đến báo điện tử như một trong những kênh để doanh nghiệp thực hiện truyền thông Chưa đi sâu phân tích, đánh giá hay có những kết luận cụ thể về loại hình báo điện tử trong vai trò truyền thông về KH&CN của các doanh nghiệp khoa học công nghệ;
Đề tài: Truyền thông về khoa học công nghệ trên cổng thông tin điện tử Sở khoa học và công nghệ các tỉnh miền Đông Nam Bộ, học viên cao học Trần Thị
Dung, ĐH KHXH&NV, năm 2015 Đề tài nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông KH&CN trên trang tin điện tử, cổng thông tin điện tử Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu và kết luận của đề tài mới chỉ khu biệt ở một kênh truyền thông là cổng tin tin điện tử và trong phạm vi nghiên cứu vùng miền,…;
Trang 2010
Qua tìm hiểu một số đề tài và công trình nghiên trên, có thể nhận định đề tài
Truyền thông về khoa học và công nghệ trên báo điện tử là nghiên cứu được tiến
hành trên đối tượng khảo sát mới là loại hình báo điện tử và chưa từng có kết luận hoặc công bố liên quan nào
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra giải pháp, kiến nghị với ban biên tập các báo điện tử, cơ quan quản lý
và nghiên cứu về KH&CN, các chuyên gia, các nhà khoa học để nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin về KH&CN
Ngoài ra, Luận văn cũng bổ sung vào hệ thống tài liệu phục vụ nghiên cứu
và giảng dạy cho ngành báo chí và các đơn vị làm công tác truyền thông về KH&CN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Nghiên cứu các văn bản về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN, thông tin về KH&CN, cũng như vai trò, nhiệm vụ của truyền thông KH&CN
Khảo sát thực trạng sản xuất, nội dung, hình thức các sản phẩm tin, bài về KH&CN trên 04 báo điện tử để rút ra các kết luận và chứng cứ khoa học nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông KH&CN trên báo điện tử
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị với các báo điện tử, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý và tổ chức truyền thông KH&CN để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về KH&CN trên báo điện tử
Trang 2111
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quy trình tổ chức sản xuất, nội dung, hình thức, hiệu quả của hoạt động truyền thông về KH&CN trên báo điện tử thông qua khảo sát các báo điện tử: VnExpress, Dân trí, VietnamPlus, Đất Việt
Phạm vi nghiên cứu của đề tài thực hiện trên 4 báo điện tử trong 2 năm, từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2016, đồng thời hệ thống hoá các văn bản chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến truyền thông về KH&CN Ngoài
ra, Luận văn thu thập và khảo sát ý kiến của nhà quản lý và tổ chức truyền thông về KH&CN - Bộ KH&CN, lãnh đạo các đơn vị báo điện tử, người phụ trách chuyên trang, chuyên mục, phóng viên, biên tập viên lĩnh vực KH&CN
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp, nghiên cứu hệ thống các văn
bản chỉ đạo của Đảng, các văn bản pháp lý của Nhà nước và Chính phủ, tập hợp các công trình nghiên cứu và tài liệu đánh giá, báo cáo tổng kết liên quan đến đề tài
Phương pháp phân tích nội dung: Tổng hợp, phân tích nội dung các tin, bài
viết, các dạng thông tin khác có liên quan đến đề tài được đăng tải trên báo điện tử
Phương pháp điều tra công chúng: Thực hiện phương pháp này bằng cách
lập bảng hỏi tập trung vào vấn đề chính cần nghiên cứu Tiến hành phát 200 phiếu hỏi online (qua mạng xã hội facebook và email) cho 2 nhóm đối tượng, gồm: nhóm công chức, viên chức, nhà khoa học (100 phiếu); sinh viên (100 phiếu)
Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phương pháp này thông qua thu
thập các phỏng vấn sâu của 4 nhóm đối tượng: Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông KKH&CN (CESTC) - Bộ KH&CN; Lãnh đạo ban biên tập lĩnh vực khoa học công nghệ báo điện tử VietnamPlus; Phóng viên, Biên tập viên lĩnh vực khoa học công nghệ trên báo điện tử Dân trí
Trang 226.2 Giá trị thực tiễn của đề tài
Đề tài là tập hợp nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo cho quá trình tác nghiệp trong thực tiễn của phóng viên, biên tập viên các đơn vị báo chí nói chung
và báo điện tử nói riêng Không những vậy, Luận văn còn có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách về truyền thông về KH&CN
7 Kết cấu của Luận văn
Nội dung Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn truyền thông về khoa học và công nghệ trên báo điện tử
Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ trên báo điện tử
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về khoa học và công nghệ trên báo điện tử
Trang 2313
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm truyền thông, các mô hình truyền thông
* Khái niệm truyền thông
Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá nhân cũng như các nhóm và cộng đồng xã hội nói chung Hiện nay, có nhiều định nghĩa về truyền thông, song khái niệm chung nhất, phổ biến nhất về truyền thông được rút ra như sau:
“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [5]
Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích truyền thông Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia
sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông
* Các mô hình truyền thông
Trong quá trình nghiên cứu về truyền thông, một số mô hình truyền thông đã được thừa nhận làm nền tảng cho các nghiên cứu về truyền thông đại chúng sau này, cụ thể: Mô hình truyền thông tuyến tính (một chiều) của Harold D Laswell
Trang 2414
(1948), Mô hình truyền thông theo lý thuyết Thông tin và Điều khiển học của Claude Shanon (1949), mô hình truyền thông theo chu kỳ của Roman Jackobson Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến mô hình thông dụng hiện nay, đó là mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon
Hình 1.1 – Mô hình truyền thông của Claude Shannon
Trong đó:
- S: Nguồn (Source/Sender): Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi
xướng quá trình truyền thông Người truyền có thể là người/nhóm người/tổ chức mang nội dung thông tin muốn được trao đổi đến với người/nhóm người/tổ chức khác
- M: Thông điệp (Message): Là nội dung thông tin được trao đổi từ người
truyền đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, văn bản pháp luật, tri thức khoa học kỹ thuật,… được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống ký hiệu này được cả người truyền và người nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người,… được
sử dụng để truyền tải thông điệp
- C: Kênh truyền (Channel): Là phương tiện mà người truyền sử dụng để
chuyển nội dung đến người nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể của mỗi loại phương tiện để chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau
Nhiễu
Phản hồi
Trang 2515
- R: Người nhận (Receiver): Là người/nhóm người/tổ chức tiếp nhận thông
điệp trong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ
sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận
- Phản hổi (Feedback): Là phản ứng của người nhận đối với thông điệp
truyền thông, là sự biến đổi về thái độ, hành vi sau khi nhận thức được thông điệp Đây là yếu tố không thể thiếu được trong một quá trình truyền thông, nó giúp nhà truyền thông xác định được mức độ thành công hay thất bại của một hoạt động truyền thông Thông tin phản hồi còn là cơ sở để điều chỉnh quá trình truyền thông,
vì nếu không nắm bắt được tác động của việc thông tin, rất có thể sẽ dẫn tới kết quả ngược lại với sự mong đợi
- Nhiễu (Noise): Là các yếu tố gây ra sai lệch thông tin không được dự tính
trước và trong quá trình truyền thông
- E: Hiệu quả (Effect): Là sự thay đổi hành vi, nhận thức và hành động của
đối tượng truyền thông trước một tình huống nào đó của cuộc sống sau khi có thông điệp truyền thông
Từ mô hình truyền thông trên, để hoạt động truyền thông đạt được hiệu quả mong muốn, cần đặc biệt lưu ý đến việc hạn chế tối đa những ảnh hưởng nhiễu thông tin từ người truyền đến người nhận qua các kênh truyền thông và quan tâm đến những phản hồi của người nhận để điều chỉnh kịp thời nội dung thông điệp
Người truyền thông điệp phải hiểu rõ đặc điểm của từng nhóm đối tượng nhận thông điệp, để từ đó đưa ra được những nội dung dễ hiểu, dễ sử dụng cho người nhận và lựa chọn được phương tiện truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm thoả mãn được các nhu cầu của người nhận thông điệp Xác định hiệu quả của một quá trình truyền thông căn cứ vào mức độ biến đổi về nhận thức, thái
độ và hành vi của người nhận thông điệp
Hiệu quả của truyền thông được đánh giá theo 5 cấp độ: Xây dựng nhận thức – Tăng cường sự quan tâm – Thay đổi thái độ - Thay đổi hành vi – Tạo dựng tập quán
Trang 2616
1.1.2 Khái niệm về khoa học công nghệ
* Khái niệm về khoa học
Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, theo đó có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận Thuật ngữ khoa học xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thức sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của con người Từ lâu người
ta đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về khoa học
Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau [6]: Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các
ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến
rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa
Ở nước ta, theo Luật Khoa học và Công nghệ (được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 9/6/2000):
Khoa học là hệ thống trí thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.[7]
* Khái niệm về công nghệ
Thuật ngữ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay một kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học hay một nghiên
cứu
Trang 2717
Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Ở Việt Nam, theo các tài liệu nghiên cứu của PGS.TS Vũ Cao Đàm [8] rút ra
3 khái niệm về công nghệ như sau:
Khái niệm 1: Công nghê ̣ là mô ̣t trâ ̣t tự nghiêm ngă ̣t các thao tác của quá
trình chế biến vâ ̣t chất/thông tin
Khái niệm 2: Công nghê ̣ là mô ̣t phương tiê ̣n (device) chế biến vâ ̣t chất/thông
tin, gồm: Phần cứng và Phần mềm
Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): Công nghê ̣ là mô ̣t cơ thể (hê ̣ thống) tri thức
về quá trình chế biến vâ ̣t chất hoă ̣c thông tin về phương tiê ̣n và phương pháp chế biến vâ ̣t chất và/hoă ̣c thông tin Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware)
Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006): Công nghệ là giải pháp, quy
trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.[9]
Tuy nhiên, cách phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đó là khái niệm về công nghệ đã được quy
định tại Luật Khoa học và Công nghệ, đó là: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm…[10]
1.1.3 Khái niệm truyền thông khoa học và công nghệ
Những khó khăn trong việc định nghĩa truyền thông KH&CN không chỉ xuất phát từ sự phức tạp của chính lĩnh vực KH&CN mà còn từ sự đa dạng của các tầm nhìn và nguyện vọng trong cộng đồng truyền thông KH&CN
Trang 2818
Trước hết khẳng định rằng, truyền thông KH&CN là một hoạt động truyền thông, trong đó nội dung thông điệp là lĩnh vực KH&CN và mục tiêu truyền thông
là làm thay đổi về nhận thức và hành vi đối với KH&CN
Nếu chỉ dựa vào khái niệm về truyền thông như đã nêu ở trên để suy luận ra khái niệm về truyền thông KH&CN, có thể hiểu một cách đơn giản như sau:
Truyền thông KH&CN là quá trình trao đổi liên tục những thông tin về KH&CN giữa chủ thể truyền thông KH&CN với công chúng, nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động KH&CN, vai trò của KH&CN trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; là cầu nối cung - cầu giữa hoạt động KH&CN với sản xuất và đời sống
Như vậy, bản chất của truyền thông về KH&CN gồm: Chủ thể truyền thông, khách thể truyền thông, nội dung truyền thông và phương pháp truyền thông, trong
đó chủ thể truyền thông chính là nơi nguồn thông tin về KH&CN được phát ra Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cá nhân hoặc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về KH&CN, khách thể truyền thông chính
là công chúng tiếp nhận thông tin KH&CN
Chủ thể truyền thông: Là nơi nguồn thông tin về KH&CN được phát ra
Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cá nhân hoặc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về KH&CN Chủ thể truyền thông KH&CN không chỉ là nhiệm vụ của giới truyền thông mà còn trực tiếp tham gia vào công tác truyền thông KH&CN Cụ thể, nhà lãnh đạo, quản lý, giới khoa học có thể viết bài và trực tiếp gửi thông điệp truyền thông đến công chúng
Khách thể của truyền thông về KH&CN: Hay nói cách khác là công chúng
của truyền thông KH&CN KH&CN có liên quan đến tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, vì vậy khách thể của truyền thông KH&CN là mọi tầng lớp nhân dân Căn cứ vào tính chất công việc và độ tuổi, nhằm mục đích dễ dàng lựa chọn các loại thông điệp truyền thông KH&CN phù hợp tương ứng với mỗi nhóm đối tượng, ví dụ: Nhà lãnh đạo, quản lý; Nhà truyền thông (nhà báo, cán bộ thông
Trang 2919
tin/tuyên truyền làm việc trong các cơ quan, tổ chức KH&CN); Nhà khoá học; Học
sinh, sinh viên; Nông dân,…
Nội dung truyền thông: Nội dung truyền thông KH&CN càn thiết phải bao phủ
được mọi hoạt động KH&CN Tuy nhiên, trong bối cảnh cụ thể, tuỳ theo từng nhóm đối tượng cụ thể để đưa ra các nội dung thông điệp truyền thông KH&CN phù hợp Các nội truyền thông KH&CN gồm: Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ; Thông tin hoạt động khoa học và công nghệ, về thành tựu, kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ; Biểu dương những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả, những tổ chức, cá nhân điển hình; Những tiến bộ khoa học và công nghệ đạt được, khả năng áp dụng những kết quả, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống,…
Phương pháp truyền thông: Truyền thông KH&CN thông qua các phương
tiện truyền thông đại chúng để truyền tải toàn bộ những thông tin “nóng” nhất, mới nhất, quan trọng nhất tới công chúng Các kênh truyền thông đại chúng chủ yếu chính là báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình,… Các phương pháp truyền thông khác như: tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên đề về KH&CN,…
1.1.4 Khái niệm báo điện tử
* Thuật ngữ Báo điện tử
Trên thế giới loại hình này có nhiều tên gọi khác nhau như online newpaper (báo chí trên mạng/trực tuyến), e-journal (Electronic journal- báo chí điện tử), e-zine (Electronic magazine- tạp chí điện tử),…
Ở Việt Nam, thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn báo Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử,… ngoài ra còn nhiều tên gọi khác như: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, báo mạng điện tử,…
Theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, báo điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử, gồm: Báo điện tử, Trang thông tin
Trang 30* Khái niệm báo điện tử:
Có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về báo điện tử:
Tác giả Nguyễn Thị Hoa, Trần Quang Huy trong cuốn “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử”, định nghĩa:
Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trnag không hạn chế Báo điện tử là hình thức báo chí được khai sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu [11]
Tác giả Thang Đức Thắng (2001) định nghĩa: “Một tờ báo Internet là một tờ báo thực hiện các chức năng báo chí bằng phương tiện Internet” Nhưng cũng theo chính tác giả: “Gọi tên loại hình báo chí này một cách chính xác nhất là báo chí Internet nhưng trong tiếng Việt gọi vậy hơi dài nên chúng ta gọi là báo trực tuyến”
Các tác giả Nguyễn Sơn Minh, Bùi Tiến Dũng, Đỗ Anh Đức (2003) quan
niệm: “Báo trực tuyến là loại hình phương tiện truyền thông đại chúng sử dụng nền tảng Internet để thực hiện các chức năng báo chí” [12]
Trang 3121
Báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ HTML, dành cho công chúng sử dụng Internet” [13]
Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet” [14]
Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất bốn khái niệm được dùng thông dụng là:
báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet Việc phân tích và sử
dụng các khái niệm này gắn với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tác nghiệp loại
hình báo chí này Tác giả sử dụng thuật ngữ báo điện tử trong nghiên cứu này
1.2 Ứng dụng lý thuyết truyền thông trong nghiên cứu đề tài
Có thể khẳng định, mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông mới đối với công chúng Việt Nam ngày càng có quan hệ mật thiết, những tác động của nội dung thông điệp truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng có ảnh hưởng đến nhận thực và tình cảm của chúng Việc tiếp nhận và bị ảnh hưởng bởi thông điệp truyền thông về KH&CN trên báo điện tử tuy chưa thực sự rõ nét nhưng cũng đã mang lại những tác động nhất định Vì vậy, để nghiên cứu đề tài này, lý thuyết truyền thông có vị trí quan trọng
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, tác giả áp dụng Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng - Uses and Gratifications [15] và Lý thuyết nhận thức phụ thuộc - MSD Conceptual [16] vào nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết sử dụng và hài lòng
Thuyết sử dụng và hài lòng được hình thành và phát triển trong 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thuyết được Herta Herzog tìm hiểu vào 1944 với việc phân
loại những lý do tại sao mọi người lại chọn hình thức cụ thể của phương tiện truyền thông Trong nghiên cứu của mình, Herzog đã xác định ba giai đoạn của cống chúng khi nghe kịch: tình cảm, mơ tưởng, và học tập
Trang 3222
Năm 1954 Wilbur Schramm đề cập hành vi “lựa chọn” chọn thông tin của công chúng Qua hành vi lựa chọn thông tin có thể đo được chỉ số hài lòng của công chúng
Năm 1970 Abraham Maslow cho rằng việc sử dụng và hài lòng bắt nguồn vào nhu cầu ngày càng cao của công chúng Ông cho rằng các phương tiện truyền thông chủ động nhìn nhận nhu cầu của công chúng trên một hệ thống phân cấp
“kim tự tháp”
Giai đoạn 2: Năm 1972 Denis McQuail , Jay Blumler và Joseph Brown cho
rằng việc sử dụng các loại phương tiện truyền thông có thể được nhóm lại thành 4 loại là: dòng, các mối quan hệ cá nhân, bản sắc cá nhân và giám sát
Giai đoạn 3: Sự quan tâm gần đây nhất của việc nghiên cứu thuyết sử dụng
và hài lòng là làm sao để phương tiện truyền thông được sử dụng và hài lòng - Các nhà nghiên cứu đang phát triển lý thuyết là tiên đoán và giải thích bằng cách kết nối các nhu cầu, mục tiêu, lợi ích, và hậu quả của tiêu thụ phương tiện truyền thông
và sử dụng cùng với các yếu tố cá nhân
Nội dung cơ bản của lý thuyết là con người có nhu cầu lấy thông tin và họ
lấy thông tin một cách chủ động để phục vụ cho nhu cầu của mình Nhu cầu con người được phân nhóm, sắp xếp từ bậc thấp đến bậc cao Abraham Maslow khẳng
định: “đỉnh cao là sự tự nhận thức, tự khẳng định được sự khác biệt của mình so với đồng loại” [17] Công chúng sẽ tìm kiếm và lựa chọn thông tin để họ đạt được các nhu cầu đó Họ coi báo chí cũng là một loại thông tin
Có thể nói, lý thuyết Sử dụng và Hài lòng khá phù hợp với quá trình nghiên cứu hoạt động truyền thông KH&CN, đó là một môi trường truyền thông Internet, nơi mà các chủ thể truyền thông luôn tạo điều kiện và công cụ để công chúng tự thoả mãn nhu cầu được thông tin và hơn thế, là nhu cầu trở thành người cung cấp thông tin cho người khác, nhằm khẳng định tính độc quyền, riêng có của họ Vận dụng lý thuyết này nhằm khảo sát và đánh giá hiệu quả, tác động của hoạt động truyền thông KH&CN trên báo điện tử, làm rõ mục đích tiếp cận thông tin
Trang 3323
KH&CN của công chúng báo điện tử, sự tiếp cận đó mang lại lợi ích và hiệu quả
gì, làm thế nào để các cơ quan báo điện tử có được sự quan sát đa chiều về tâm lý
và hành vi của công chúng khi tiếp nhận thông tin KH&CN
1.2.2 Lý thuyết nhận thức phụ thuộc
Lý thuyết nhận thức phụ thuộc (MSD Conceptual), được phát triển bởi Sandra Ball-Rokeach và Melvin Defleur năm 1976 Lý thuyết này dựa trên các tài liệu xã hội học cổ điển cho rằng các phương tiện truyền thông và đối tượng của họ phải được nghiên cứu trong môi trường xã hội lớn Lý thuyết giải thích toàn diện
về ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đối với nhận thức xã hội và hành vi tiếp nhận của con người
Hình 1.6 – Mô hình lý thuyết nhận thức phụ thuộc
- Xã hội: Các biến đổi về độ ổn định của cấu trúc;
- Các phương tiện truyền thông (Media): Các biến đổi về số lượng và sự
tập trung của chức năng thông tin;
- Công chúng (Audience): Các biến đổi về mức độ phụ thuộc vào thông tin của các phương tiện truyền thông;
- Hiệu quả (Effects): Nhận thức, Tác động, Hành vi
Lý thuyết chỉ ra sự phụ thuộc của con người vào các nguồn tin xã hội (society) mà họ tiếp nhận được và đặc biệt là thông tin từ các phương tiện truyền
CÔNG CHÚNG
HIỆU QUẢ
Trang 3424
thông (media) Đó là những thông tin chủ yếu để cung cấp nhận thức (cognitive) cho công chúng, làm thay đổi họ (affective) và khiến họ có hành vi (behavioral) mới phù hợp Hiện trạng truyền thông Internet nói chung, truyền thông báo điện tử hiện nay nói riêng đang ngày càng có được sự tiếp nhận từ đông đảo công chúng hơn Tuy nhiên, điều đó khiến cho thông tin trên các loại công cụ này ngày càng có tác động mạnh hơn và rộng hơn đến công chúng - đó là một trách nhiệm rất cao, một loại đặc quyền - trách nhiệm thay đổi nhận thức tích cực cho công chúng, chứ không phải đặc quyền “dắt mũi” công chúng, bóp méo nhận thức của công chúng
Khi nghiên cứu về hoạt động báo chí với công tác tuyên truyền về KH&CN,
lý thuyết này thể hiện sự hợp lý khi báo chí ở nước ta vẫn giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành, định hướng và hướng dẫn dư luận Sự dân chủ hóa đời sống thông tin và sự tự do hóa ngôn luận của công chúng có bước cải thiện, tuy nhiên vẫn còn ở mức độ không cao do hạn chế về trình độ nhận thức và năng lực tự giác của công chúng
Ứng dụng lý thuyết trong nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu và đánh giá sự tác động của loại hình báo điện tử về những thông tin KH&CN cung cấp tới công chúng Quá trình nhận thức, sự tiếp nhận (chủ động hay thụ động) mức độ quan tâm và bày tỏ năng lực đánh giá, phản biện của công chúng đối với các thông tin KH&CN trên báo điện tử như thế nào
1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí đối với hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ hiện nay
1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác truyền thông khoa học và công nghệ
KH&CN được coi là một trong hai trụ cột phát triển đất nước, đầu tư cho KH&CN được xác định là đầu tư cho sự phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội đất nước Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác phát triển KH&CN trong đó có hoạt động thông tin truyền thông về KH&CN
Trang 3525
Điều này đã được khẳng định trong các văn bản liên quan đến KH&CN như Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 26/03/2013 của Chính Phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-TW, Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn
2011 – 2020 (ban hành theo Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ), Luật KH&CN năm 2013 (Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/06/2013),…
- Nghị quyết số 46/NQ-CP đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu để các Bộ, ngành, địa phương xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-TW nhằm phát triển mạnh mẽ KH&CN, trong đó nhiệm vụ đầu tiên được xác định chính là tuyên truyền và giáo dục, điều này khẳng định vị trí quan trọng của công tác truyền thông KH&CN:
“1 Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [18]
- Trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã
xác định hoạt động tuyên truyền, phổ biến KH&CN là một trong 6 giải pháp chủ yếu (giải pháp thứ 6) để phát triển KH&CN Việt Nam, trong đó nêu rõ:
“6 Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của khoa học và công nghệ
Đẩy mạnh hoạt động truyền thông và tuyên truyền sâu rộng trong xã hội, đặc biệt là trong các doanh nghiệp về chủ trương, chính sách, pháp luật
về KH&CN, về vai trò động lực then chốt của KH&CN đối với sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước nhằm nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, sự đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị đối với hoạt động khoa học và công nghệ; tạo không khí thi đua lao động sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và mọi lĩnh vực của đời sống
Trang 3626
xã hội; nâng cao tinh thần trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [19]
Luật KH&CN năm 2013 quy định ngày 18/05 hằng năm là “Ngày khoa học
và công nghệ Việt Nam” (Điều 7), với mục đích thể hiện tinh thần tôn vinh các giá trị, vai trò đặc biệt quan trọng của KH&CN trong cuộc sống và trong sự phát triển của đất nước, giúp cho toàn xã hội nhận thức đầy đủ hơn về vai trò và đóng góp của KH&CN; đồng thời qua đó khuyến khích tinh thần say mê nghiên cứu khoa học và thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên, hình thành đội ngũ nhân lực ngành KH&CN phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Luật KH&CN năm 2013 cũng dành riêng một điều khoản cho công tác truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN, trong đó nhấn mạnh việc ưu tiên đầu tư của nhà nước và khuyến khích sự đầu tư của xã hội, đồng thời giao Bộ KH&CN chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm, 5 năm về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN:
“Điều 48 Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ [20]
1 Nhà nước đầu tư, khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
2 Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm, 05 năm về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
3 Kinh phí của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư, tài trợ cho hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được tính vào chi phí hợp lý”
Trang 3727
Hệ thống văn bản, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước nêu trên tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển KH&CN nói chung và công tác thông tin truyên truyền về KH&CN nói riêng Thực chất, đây là nhiệm vụ hai trong một, có đẩy mạnh tuyên truyền về KH&CN thì mới tạo được sự đồng thuận, chung tay phát triển KH&CN của xã hội Để đất nước phát triển nhanh, phát triển bền vững, cơ bản trở thành nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển vào năm
2020 thì tất yếu phải đầu tư phát triển cho KH&CN, KH&CN luôn phải đi trước một bước Song hành với đó là công tác thông tin truyên truyền về KH&CN để các tầng lớp nhân dân hiểu, quan tâm đến sự phát triển KH&CN, giúp các cơ quan hoạch định chính sách nắm bắt xu thế vận động để từ có có những điều chỉnh phù hợp với xu thế vận động và phát triển của ngành KH&CN
1.3.2 Vai trò của báo chí đối với hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ
Trước hết, truyền thông KH&CN giữ vai trò chủ đạo trong công tác giới thiệu, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước coi phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Qua các kênh truyền thông, người dân cũng như các cấp quản lý ý thức được vai trò của KH&CN có tính chất quyết định phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sản phẩm, hàng hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đánh giá cao vai trò, sức mạnh to lớn của báo chí Luật Báo chí
năm 2016 khẳng định: “Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của
cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân” [21]
Trang 3828
Bên cạnh các chức năng khác của báo chí thì chức năng thông tin tuyên truyền của báo chí Việt Nam có nhiệm vụ truyền bá, giải thích cho toàn xã hội những quan điểm, đường lối, chính sách có quyết định của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực KH&CN Lĩnh vực KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội
và bảo vệ Tổ quốc Phát triển mạnh mẽ KH&CN, làm cho KH&CN thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI
Không chỉ cung cấp thông tin về những thành tựu khoa học, công nghệ mới, báo chí còn có vai trò định hướng dư luận và đưa các cơ chế, chính sách, các quy định của nhà nước đến với công chúng Đây cũng là công cụ hữu hiệu, cầu nối giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân
Thời gian qua, các cơ quan báo chí, truyền thông đã có những đóng góp đáng kể trong công tác truyền tải thông tin về hoạt động KH&CN đến với người dân Các thông tin được đăng tải kịp thời, phong phú, dễ hiểu và đã có những phản hồi tích cực từ công chúng như các bài viết về chính sách KH&CN, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng, năng lượng nguyên tử, công nghệ cao, KH&CN địa phương, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, ứng dụng và phát triển KH&CN, tấm gương nhà khoa học,… Đặc biệt, đã có nhiều bài viết về các tổ chức, doanh nghiệp KH&CN hoạt động hiệu quả, mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN mang lại hiệu quả kinh tế lớn
Để tiếp cận các thông tin về KH&CN, chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm trên tất cả các loại hình báo chí từ báo giấy, báo điện tử, phát thanh, truyền hình đều có các chuyên trang, chuyên mục về thông tin KH&CN
Trang 39Trong thời đại ngày nay, báo chí còn có khả năng thực tế, để trở thành phương tiện cho hiệu quả trong nâng cao năng lực sản xuất; chuyển tải tới nhân dân những tri thức cụ thể, hướng dẫn cách chăm sóc cây trồng, vật nuôi, hướng dẫn sử dụng những tiến bộ mới để nâng cao năng suất và chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân
Tính đến hết năm 2016, [22] cả nước có 859 tờ báo/tạp chí in (tăng 02 tờ so với năm 2015), trong đó có 199 báo (báo TW có 86 báo, địa phương có 113 báo);
Về phát thanh, truyền hình: Hiện cả nước có 67 đài phát thanh, truyền hình
TW và địa phương, bao gồm 02 Đài quốc gia là Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam; 01 Đài Truyền hình Kỹ thuật số; 64 Đài phát thanh, truyền hình địa phương (riêng TP.Hồ Chí Minh có hai đài: Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân TP.Hồ Chí Minh) Tổng số kênh phát thanh, truyền hình trong nước được cấp phép là 268 kênh; số lượng kênh nước ngoài cung cấp trên dịch vụ truyền hình trả tiền là 47 kênh (tăng 7 kênh so với năm 2015);…
Cả nước có trên 18.000 nhà báo được cấp thẻ
Trang 4030
Đây chính là lực lượng hùng hậu, xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa nói chung và trong công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực KH&CN nói riêng