1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản lý hiện tượng di động xã hội của nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

109 307 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THANH TÂM QUẢN LÝ HIỆN TƯỢNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN H

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THANH TÂM

QUẢN LÝ HIỆN TƯỢNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội-2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THANH TÂM

QUẢN LÝ HIỆN TƯỢNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60340412

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Huy Tiến

Hà Nội-2017

Trang 3

- Các nhà khoa học, nhà quản lý hiện đang công tác tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã hỗ trợ tài liệu, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp ý kiến giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Do thời gian và năng lực bản thân có hạn, luận văn này không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ

Xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả

Nguyễn Thanh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do nghiên cứu 5

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu: 9

7 Giả thuyết nghiên cứu: 9

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết: 9

9 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI 11

1.1 Khái niệm công cụ 11

1.1.1 Nhân lực và nhân lực khoa học công nghệ 11

1.1.2 Di động xã hội 15

1.1.3 Hội nhập quốc tế 19

1.2 Một số vấn đề lý luận về di động xã hội 25

1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội 25

1.2.2 Di động xã hội trong điều kiện hội nhập 29

1.2.3.Thu hút nhân lực KH & CN trình độ cao trong điều kiện hội nhập 30

1.2.4 Tác động của di động xã hội 31

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 34

2.1 Tổng quan về Viện Hàn lâm KH&CNVN 34

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức 34

2.1.2 Hoạt động và đầu tư ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 37

2.2 Thực trạng di động xã hội nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao ở Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam 38

Trang 5

2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực ở Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam 38

2.2.2 Nhận dạng các dạng di động xã hội 47

2.3 Tác động của di động xã hội 58

2.3.1 Tác động tới tổ chức 59

2.3.3 Tác động đến cấu trúc nguồn nhân lực 63

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 65

2.4.1 Điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam nói chung 65

2.4.2 Chính sách của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 66

2.4.3 Các yếu tố cá nhân 69

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 73

3.1.Quan điểm 73

3.1.1 Di động xã hội là hiện tượng tự nhiên, là nhu cầu của nhà khoa học và của xã hội 73

3.1.2 Trong điều kiện hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ cần xóa rào cản của di động xã hội 76

3.1.3 Người sử dụng lao động cần coi trọng việc thu hút và ngăn chẩy máu chất xám bằng giải pháp phi hành chính 77

3.2 Giải pháp phi hành chính 78

3.2.1 Giải pháp chung 78

3.2.2 Giải pháp đối với nhóm DĐXH kèm theo di cư 89

3.2.3 Giải pháp đối với nhóm DĐXH không kèm theo di cư 90

3.3 Giải pháp hành chính di động xã hội không kèm theo di cư 93

3.3.1 Quản lý về giờ giấc lao động 93

3.3.2 Quản lý theo định mức khoa học ( Nhiệm vụ khoa học thực hiện) 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng đề tài, dự án do Viện Hàn lâm KH & CNVN 37

thực hiện giai đoạn 2011 – 2016 37

Bảng 2.2 Tình hình đầu tư XDCB tiềm lực giai đoạn 2011- 2016 37

Bảng 2.3: Số lượng cán bộ của VHLKHCNVN từ 2012-2016 38

Bảng 2.4: Tổng hợp số lượng biên chế nhân lực khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 39 Bảng 2.5 Thống kê học hàm/học vị ở Viện Hàn lâm KH&CNVN (2016) 39

Bảng 2.6 Biến động về số lượng học vị giai đoạn 2012-2016 40

Bảng 2.6 Số lượng cán bộ làm chuyên môn 41

được bổ nhiệm cấp Viện Hàn lâm 41

Bảng 2.7 Độ tuổi của các cán bộ VHLKHCNVN 42

Bảng 2.8 Thống kê nữ giới trong số lượng nhân lực có học hàm, học vị năm 2016 ở VHLKHCNVN 43

Bảng 2.9: Tương quan số lượng giữa học hàm, học vị, độ tuổi, giới 44

Bảng 2.10 Thống kê cán bộ được đào tạo tại nước ngoài của 06 Viện chuyên môn giai đoạn 2011 – 2016 (NCS, Cao học) 45

Bảng 2.11: Số lượng giảng viên ở Học Viện Khoa học và Công nghệ là cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 46

Bảng 2.12 Thống kê Nghiên cứu sinh năm 2015 ở một số Viện 49

Bảng 2.13 Số lượng biên chế dư của ngạch nghiên cứu ở 64

VHLKHCNVN trong giai đoạn 2012-2016 64

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của 36

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 36

Hình 2.2.: Đồ thị tỉ lệ học hàm, học vị ở VHLKHCNVN 40

Hình 2.3 Số lượng CB được bổ nhiệm cấp Viện Hàn lâm 2012 - 2016 41

Hình 2.4 Đồ thị tương quan tỉ lệ giới trong nhóm cán bộ KH & CN ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 42

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái

Bình Dương

OECD: Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Di động xã hội còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội Di động xã hội đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển xã hội loài người Tuy nhiên chỉ sau khi cách mạng công nghiệp thế giới lần thứ nhất ra đời, di động xã hội mới trở thành một hiện tượng do những thay đổi căn bản về kinh tế, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Cho tới thế kỷ 20, di động xã hội mới chính thức được nghiên cứu trong xã hội học

Có thể thấy rằng, di động xã hội phát triển mạnh ở những nơi có nền khoa học phát triển, có những chính sách mở trong thu hút nhân tài Điều đó có thể thấy rõ nhất ở khu vực Châu Âu và Mỹ, nơi mà cho đến nay khoa học phát triển mạnh và di cư vẫn tiếp tục gia tăng

Ở Việt Nam, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấp, chỉ huy sang cơ chế thị trường đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, các ngành nghề gia tăng, các lĩnh vực nghiên cứu cũng được phát triển Sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên thế giới ảnh hưởng mạnh tới phát triển kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng tri thức khoa học kỹ thuật ra đời ngày càng nhiều thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và gia tăng các cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng nghiên cứu dụng Điều đó đã tạo ra những bước ngoặt phát triển đối với nền khoa học kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay Trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đội ngũ trí thức khoa học, nguồn nhân lực chất lượng cao, có đóng góp không nhỏ

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học

Trang 9

cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật Nguồn nhân lực chất lượng cao trong các Viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học Để có thể có được nguồn nhân lực chất lượng cao, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã đầu tư rất nhiều công sức để bồi dưỡng và đào tạo tăng cường

Hệ lụy của hiện tượng di động xã hội trong nguồn nhân lực chất lượng của ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã gây ra không ít khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam Đó là

sự thiếu hụt nguồn ngân lực làm việc hiện tại và gây cản trở cho sự phát triển

về tiềm lực phát triển khoa học và công nghệ của Viện về lâu dài Cho đến nay, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam vẫn chưa có giải pháp hiệu quả để quản lý luồng di động xã hội này

Xuất phát từ thực trạng trên và với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tác giả mạnh

dạn lựa chọn đề tài “Quản lý hiện tượng di động xã hội nguồn nhân nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” làm nghiên cứu của mình

1.2 Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu

Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống khái niệm của xã hội học nói chung

và xã hội học khoa học công nghê nói riêng đồng thời cũng bổ sung thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý khoa học công nghê, quản lý nhân lực khoa học

1.3 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu

Luận văn góp phần nhận diện các loại hình di động xã hội của nguồn nhân lực chất lượng cao trong Viện Hàn lâm KH&CNVN hiện nay cũng như các hiệu quả âm tính, dương tinh và ngoại biên của các loại hình đó Hạn chế việc lãng phí chất xám của nguồn nhân lực chất lượng cao Viện Hàn lâm KH&CN

Trang 10

Việt Nam Đưa ra được các giải pháp quản lý hiện tượng di động xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới, việc nghiên cứu di động xã hội đã có từ rất lâu Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về di động xã hội của cộng đồng khoa học, mà thế giới vẫn quen gọi bằng thuật ngữ scientific mobility, mới diễn ra trong khoảng mấy chục năm trở lại đây khi mà hiện tượng di động khoa học trở thành một hiện tượng tất yếu đi cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học

Trên tạp Science Communication năm 2000, tác giả Sami Mahroum đăng

bài: Scientific Mobility: An Agent of Scientific Expansion and Institutional Empower”(Di động khoa học: Một tác nhân cho mở rộng khoa học và tăng

cường thể chế) Theo tác giả, di động khoa học làm gia tăng mở rộng khoa học và làm hình thành nên các trung tâm thu hút nhân tài trong lĩnh vực nghiên cứu

Năm 2001, OECD đã đưa ra những chỉ số về di động xã hội của nguồn

nhân lực cao trong ấn phẩm của OECD Proceedings với tựa đề International Mobility of Highly Skilled Trong tài liệu, nhóm tác giả đưa ra định nghĩa và

đo lường luồng di động xã hội mang tính quốc tế của nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Tài liệu cũng đưa ra những

dự báo về xu hướng của di động xã hội về khoa học và công nghệ cùng những ảnh hưởng về kinh tế tới các nước thuộc tổ chức OECD và những nước nằm ngoài tổ chức OECD như Nga, Nam Phi Nhóm tác giả đưa ra một số các chính sách trong quản lý luồng di động xã hội nói trên ở những nước thuộc OECD và dự đoán viễn cảnh của OECD trong những năm tới trước những luồng di động xã hội khoa học

Ở Việt Nam, vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao và di động khoa học mới được chú ý trong những năm gần đây

Năm 2001, tác giả Võ Tuấn Nhân bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề

tài “Di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam,

Trang 11

Quảng Ngãi Nội dung luận án xoay quanh việc nhận diện di động xã hội của

cộng đồng khoa học ở ba đơn vị hành chính cấp tỉnh là Đà Nẵng, Quảng Nam

và Quảng Ngãi Trên cơ sở nhận diện di động xã hội của cộng đồng khoa học nói trên, tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm quản lý tốt hơn nguồn chất xám cho ba địa phương đã đề cập

Tác giả Vũ Cao Đàm trong giáo trình Xã hội học Khoa học và Công nghệ

(2004) đã nghiên cứu tổng hợp lý luận và phân tích về “phân tầng xã hội trong khoa học”, “giải thưởng trong khoa học”, “sự phát triển và suy vong của khoa học, “tri thức khoa học”, “phát minh khoa học” đã cung cấp kiến thức cho việc phân tích về di động xã hội của cộng đồng khoa học

Năm 2016, trong cuốn “Di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Lý luận và thực tiễn”, tác giả Đào

Thanh Trường đã nêu rõ mối liên hệ giữa di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ là tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và có điểm qua tình hình di động xã hội của các quốc gia OECD, ASEAN một số nước châu Mỹ La tinh, Mỹ, Đức và Ấn Độ Tác giả cũng nhận diện di động

xã hội của nhân lực Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp quản lý di động xã hội hiệu quả từ kinh nghiệm hoạch định chính sách quản lý di động xã hội của các nước trên thế giới

Năm 2017, trong khuôn khổ của đề tài KX 01.01/16-20, Hội thảo Chính sách quản lý di động xã hội đối với nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế Trong kỷ yếu hội thảo, các

bài viết tập trung vào vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài trong bối cảnh của di động xã hội khoa học đang gia tăng Từ đó, các tác giả đưa ra những dự báo về luồng di động khoa học và những giải pháp mang tính thể chế trong quản lý di động xã hội của nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam

Trang 12

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nhận dạng các loại hình di động xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp quản lý hiện tượng di động xã hội nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung : Di động xã hội của nguồn nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Không gian: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Thời gian: Giai đoạn 2012-2016

5 Mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát là các cán bộ có trình độ Thạc sĩ trở lên đang công tác tại các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và một số cán bộ đã chuyển công tác ra khỏi Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

6 Câu hỏi nghiên cứu:

- Hiê ̣n tượng di động xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đang diễn ra như thế nào?

- Giải pháp để quản lý hiện tượng di động xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam là gì?

7 Giả thuyết nghiên cứu:

- Di động xã hội nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đang diễn ra với nhiều hình thức rất phức tạp đa dạng

- Để quản lý hiện tượng di động xã hội cần thừa nhận sự tồn tại của hiện tượng đó và cần phải có giải pháp quản lý đa dạng phù hợp với từng loại hình

Trang 13

9 Kết cấu của luận văn:

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Nhân lực và nhân lực khoa học và công nghệ

1.1.1.1 Nhân lực và nguồn nhân lực

Ở bất kỳ thời điểm nào của lịch sử phát triển, nhân lực luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất và là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc vì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của đất nước Điều

đó càng thể hiện rõ nét hơn trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay khi nền kinh

tế nào dựa nhiều vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người

Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trong cuốn

Giáo trình quản trị nhân lực của tác giả Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh

(2008), có phân biệt nghĩa rộng và nghĩa hẹp về nhân lực như sau: “Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người”[7, tr 12], nhân lực theo nghĩa hẹp được hiểu như sau: “Nhân lực xã hội hay còn gọi là “nguồn lao động xã hội” là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động” và nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp”[7, tr 14] Như vậy, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực Và nguồn lực của mỗi con người sẽ được huy động toàn bộ vào quá trình tham gia lao động

“Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau

Trang 15

Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [17, p 282]

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [4, tr.269]

Giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS

TS Nguyễn Tiệp chủ biên, năm 2005 đề cập theo góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực của một quốc gia thì nguồn nhân lực được hiểu với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [8 ,tr 7] “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [8 ,tr 8] Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008:

“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [1, tr 12]

Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang 16

Nguồn nhân lực cũng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá

Vì vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức

- tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ

huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội

Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất

1.1.1.2 Khoa học công nghệ và nhân lực khoa học và công nghệ (nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao

a) Khoa học và Công nghệ

Khoa học được hiểu là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện bằng những phát minh dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật, và nguyên tắc Như vậy thực chất của khoa học là sự khám phá các hiện tượng các thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan Sự khám phá này

đã làm thay đổi nhận thức của con người tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng hiểu biết này vào thực tế Theo PGS.TS Vũ Cao Đàm, “Khoa học được hiểu

là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên xã hội, tư duy.” [2, tr 4] Như ta đã nói

khoa học là những phát minh của con người vì những phát minh này không thể trực tiếp áp dụng vào sản xuất nên không có đảm bảo độc quyền không phải là đối tượng để mua và bán Các tri thức khoa học có thể được phổ biến rộng rãi Như vậy, khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đến lượt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất

Có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ tuỳ theo góc độ và mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, theo định nghĩa tại Mục 2, Điều 3, Chương I của Luật

Khoa học và Công nghệ năm 2013, “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí

Trang 17

quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng

để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[15]

Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Phần cứng đó là trang thiết bị Phần mềm bao gồm (thành phần con người thành phần thông tin, thành phần tổ chức) bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo bốn thành phần trên mỗi thành phần đảm nhiệm những chức năng nhất định

Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác

Ngày nay, khoa học và công nghệ không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển nền kinh tế, xã hội của mọi quốc gia mà còn là chỉ số để đánh giá mức độ phát triển của quốc gia đó

b) Nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ (nguồn nhân lực chất lượng cao) Theo định nghĩa của UNESCO, Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ” [23]

Định nghĩa trên chỉ phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước Số nhân lực trực tiếp tham gia chính là chỉ số nhân lực KH & CN

Theo định nghĩa của OECD, Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế Châu

Âu, nguồn nhân lực bao gồm: “Toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu

Trang 18

lao động có bằng chuyên môn về một lĩnh vực khoa học và công nghệ nào đó

từ cao đẳng trở lên, hoặc không có bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên” [22]

Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, nhân lực chất lượng cao là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động và sáng tạo của bản thân trong điều kiện thực tiễn của xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội, của nhân loại“[6, tr 1064]

Như vậy có thể thấy nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực đã qua đào tạo bài bản, có năng lực và kỹ thuật chuyên môn cao trong một lĩnh vực nhất định, tham gia lao động xã hội (trong doanh nghiệp hoặc tổ chức), góp phần cống hiến vào sự phát triển chung hoặc một ngành nhất định nào đó của

xã hội

Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng những cá nhân đang lao động trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ được xem là nguồn nhân lực chất lượng cao Họ vừa có những đặc điểm chung của nguồn nhân lực lại vừa có những đặc điểm chuyên biệt về đào tạo, giáo dục, năng lực nghiên cứu và tư duy của những cá nhân lao động trực tiếp và chuyên biệt trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ (không đề cập tới các cá nhân đang lao động ở những khâu trung gian của tổ chức)

1.1.2 Di động xã hội

1.1.2.1 Khái niệm

Di động xã hội (tiếng Anh: Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã

hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển

động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội

Theo TS Đào Thanh Trường, “di động xã hội được hiểu như là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội”[9, tr 25]

Trang 19

Theo từ điển trực tuyến Oxford Reference, “Di động xã hội thường là của

cá nhân, đôi khi là của nhóm người, chuyển dịch các vị trí khác nhau trong hệ thống phân tầng xã hội của bất kỳ xã hội nào”[21]

Trong cuốn Sociology: A brief introndution của Richard T Schaefer định

nghĩa như sau: “thuật ngữ di động xã hội đề cập đến sự chuyển dịch của các

cá thể hay của các nhóm người từ một vị trí nhất định đến một vị trí khác trong hệ thống phân tầng của xã hội”[18, tr.195]

Như vậy có thể hiểu, di động xã hội là sự chuyển dịch địa vị của một cá thể hoặc nhiều cá thể trong cơ cấu tổ chức hoặc trong một xã hội phân tầng

1.1.2.2 Các loại hình di động xã hội

Các nhà xã hội học thường xuất phát từ mục đích, nội dung, hướng tiếp cận khác nhau và có sự phân loại các loại hình di động khác nhau nhưng

chung quy lại được phân chia thành: Di động xã hội theo chiều dọc, di động

xã hội theo chiều ngang, di động xã hội trong thế hệ và di động xã hội giữa các thế hệ

Di động xã hội theo chiều dọc hay còn gọi là di động dọc: là sự dịch

chuyển theo chiều dọc vị trí cá nhân/nhóm xã hội đến các vị trí khác không cùng tầng/giai cấp

Di động dọc có thể “lên trên” hoặc “xuống dưới” Di động dọc nhấn mạnh sự thay đổi địa vị xã hội của cá nhân hay của nhóm xã hội Ví dụ, một người khi mới vào tổ chức, chỉ giữ chức vụ nhân viên, sau một thời gian (ngắn/dài) có thể giữ chức vụ quản lý trong bộ máy Đây là di động “lên trên” Hoặc một người, trong tổ chức hoặc khi mới về tổ chức, đã giữ một chức vụ quản lý, sau một thời gian, vì một lý do nào đó, họ từ bỏ chức vụ quản lý, trở lại vị trí nhân viên Đây là di động “xuống dưới” Di động dọc liên quan tới

sự phân tầng xã hội của cá nhân Nó phản ánh sự thay đổi giai cấp (hoặc địa

vị xã hội) một cách rõ rệt nhất đối với cá thể hoặc nhóm xã hội Đối với trường hợp người nhân viên được thăng cấp vào chức vụ quản lý, anh ta từ vị

Trang 20

thế của giai cấp cổ cồn trắng sang giai cấp thượng lưu có tài sản hoặc tiểu tư sản hoặc giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất

Di động xã hội theo chiều ngang hay còn gọi là di động ngang: là sự

dịch chuyển của các cá nhân, các nhóm xã hội tới cùng một vị trí khác cùng tầng; là sự thay đổi vị trí xã hội của cá nhân mà không dẫn đến sự thay đổi địa

vị xã hội lên hay xuống

Di động ngang cũng nằm trong hiện tượng đa vị thế - vai trò của cá thể

Đó là hiện tượng một người (cá thể) có thể đảm nhận cùng lúc nhiều công việc khác nhau Vị thế xã hội là “chỗ đứng” của một con người trong không gian xã hội nhất, được đem so sánh với “chỗ đứng” của những người khác

Nó liên quan chặt chẽ đến quan hệ của cá nhân với những người xung quanh anh ta Trong nền kinh tế thị trường, lao động cũng là một loại hàng hóa đặc trưng thì một người có thể làm nhiều vai trò cùng một lúc là sự tất yếu Ví dụ như một người đang làm bác sĩ trong một bệnh viện có thể cùng lúc cũng là bác sĩ cho các bệnh viện tư bên ngoài Cả hai vị trí trên đều không làm thay đổi địa vị của anh ta trong xã hội

Di động xã hội trong thế hệ: Là sự di chuyển về nghề nghiệp hay địa vị

xã hội của một cá nhân ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mình Di động trong thế hệ liên quan tới sự vận động của cá nhân trong suốt cuộc đời họ Một người làm giáo viên nhưng họ cũng có thể trở thành người quản lý trẻ sau giờ học hoặc một người làm tài xế taxi cũng có thể vừa dời khỏi một hãng

kế toán vì hãng phá sản Trong suốt cuộc đời của mình, một người có thể liên tục thay đổi công việc Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, việc một cá nhân thay đổi công việc liên tục là điều dễ thấy Sự vận động của mỗi cá nhân đều nhằm thỏa mãn mục đích mà cá nhân đó muốn hướng tới Di động trong thế

hệ diễn ra chỉ đối với cá nhân

Di động liên thế hệ: Xác định quá trình tiếp nhận vị trí xã hội giữa các

thế hệ, là sự di chuyển địa vị xã hội của con cái đến tuổi trưởng thành đối với địa vị xã hội của cha mẹ

Trang 21

Trong một làng nghề truyền thống, nghề nghiệp được truyền từ đời này qua đời khác Những thế hệ sau, tiếp nối thế hệ trước tiếp tục nghề truyền thống Tuy nhiên, nếu xã hội có những biến động nhất định, việc một trong số những người thuộc thế hệ sau có thể không tiếp tục nghề truyền thống từ đời trước truyền lại Họ có thể chuyển sang một ngành nghề khác hoặc ra khỏi khu vực làng nghề truyền thống để tiếp tục phát triển bản thân với nghề truyền thống hoặc nghề mới mà họ có được Một trường hợp khác rõ hơn, đó

là cha mẹ làm kỹ sư nông nghiệp (kỹ sư nông nghiệp), con cái có thể tiếp tục học nông nghiệp và trở thành những kỹ sư hoặc tiếp tục làm công việc của cha mẹ tại nơi cũ hoặc có thể chuyển tới thành phố khác, đất nước khác để tiếp tục phát triển nghề nông nghiệp mà họ yêu thích Hoặc cũng có thể những người con không theo nghề nông nghiệp mà có thể trở thành họa sĩ, bác sĩ hoặc ca sĩ Hiện tượng này rất phố biến trong nền kinh tế thị trường hoặc những nền kinh tế phát triển, nơi luôn có các loại nghề nghiệp đa dạng

Ngoài ra còn có di động xã hội kèm di cư và không kèm di cư Di động xã hội không kèm di cư chính là hiện tượng di động ngang/đa vị thế nghề nghiệp của một cá nhân đã được nói tới ở trên (di động xã hội theo chiều ngang) Hiện tượng đa vị thế ở mỗi cá nhân dưới vị thế nghề nghiệp là điều phổ biến trong nền kinh tế thị trường dưới bối cảnh toàn cầu hóa Một người có thể vừa đóng vai trò là nhân viên ở tổ chức này nhưng cũng đang hợp tác/cộng tác với một tổ chức khác nhằm gia tăng cơ hội nghề nghiệp, tích lũy kinh nghiệm, tăng thêm thu nhập mà không cần chuyển ra khỏi tổ chức Một người thợ sửa chữa ô tô lành nghề của ga ra này, có thể cộng tác làm cho một ga ra ô

tô khác Thậm chí, anh ta có thể hướng dẫn sửa chữa cho một ga ra ô tô khác ở một nơi rất xa về địa lý thông qua các thiết bị viễn thông như điện thoại, smartphone

Trang 22

1.1.3 Hội nhập quốc tế

1.1.3.1 Khái niệm

Hội nhập quốc tế hiện nay là một xu thế tất yếu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Hội nhập quốc tế liên quan đến vấn đề quan hệ quốc tế và hợp tác quốc tế

Quan hệ quốc tế là tập hợp các hành động có liên quan từ hai quốc gia trở nên Hợp tác quốc tế là tập hợp những loại quan hệ quốc tế có lợi ích cho các

bên tham gia Theo bài giảng về Hội nhập quốc tế của tác giả Mai Hà: “Hội nhập quốc tế là tập hợp của các Hợp tác quốc tế tự nguyện được Chuẩn hóa, được Luật hóa nhằm đạt Lợi ích bền vững” [3, tr 7]

Như vậy, trong hội nhập quốc tế, để Chuẩn hóa và Luật hóa, phải có một khung chuẩn chung và luật chung được đưa ra để cùng tuân thủ và tạo sự bình đẳng trong vị thế quan hệ Bình đẳng trong vị thế quan hệ sẽ tạo ra nhiều diễn đàn hợp tác quốc tế, hoạt động hợp tác quốc tế đa dạng và cùng tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và minh bạch hóa thông tin trên trường quốc tế

1.1.3.2 Hội nhập về Khoa học và Công nghệ

Hội nhập quốc tế đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia Thành tựu khoa học và công nghệ đã đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Đồng thời hội nhập quốc tế cũng thúc đẩy sự hợp tác đa diện trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Do đó, các quốc gia hội nhập quốc tế với mục tiêu phát huy tiềm năng, nội lực, khai thác các lợi thế do toàn cầu hóa đem lại, tận dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trên thế giới thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ của quốc gia mình

Với mục tiêu đưa khoa học và công nghệ Việt Nam hội nhập quốc tế, về mặt chính sách, Chính phủ, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 –

2020, xác định rõ phát triển khoa ho ̣c và công nghê ̣ phải thực sự trở thành động lực then chốt của quá trình phát triển Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11-4-2012, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 cũng khẳng định hội nhập quốc tế về

Trang 23

khoa ho ̣c và công nghê ̣ là mục tiêu , đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa khoa ho ̣c và công nghê ̣ Việt Nam sớm đạt trình độ quốc tế Hội nhập quốc tế về khoa ho ̣c và công nghê ̣ phải được thực hiện tích cực , chủ động, sáng tạo, bảo đảm độc lập , chủ quyền, an ninh quốc gia , bình đẳng và cùng có lợi Hoạt động khoa ho ̣c và công nghê ̣ của Việt Nam đến năm 2020

và tầm nhìn đến năm 2030 bám sát quan điểm chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng với định hướng dài hạn và kế hoạch hợp tác quốc tế trung hạn Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã được Chính phủ phê duyệt “Đề án Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020” ngày 18/5/2011 Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ về hợp tác khoa ho ̣c và công nghê ̣ với gần 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ Hơn 80 hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ cấp nhà nước và cấp bộ đã được ký kết và đang thực hiện Việt Nam đang là thành viên của gần 100 tổ chức quốc tế và khu vực về khoa ho ̣c và công nghê ̣ Từ năm 2000 đến nay, có hơn 540 thỏa thuận, hợp đồng hợp tác quốc tế được thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu triển khai các cấp; hơn 400 nhiệm vụ nghiên cứu song phương giữa các tổ chức khoa ho ̣c và công nghê ̣ Việt Nam với các tổ chức khoa ho ̣c và công nghê ̣ của các nước trên thế giới đã và đang được thực hiện

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ thế giới, Việt Nam đang có nguy cơ tụt hậu Những cải thiện về mặt chính sách và các chương trình hành động đã đem lại những kết quả đáng mừng trong nỗ lực hội nhập quốc tế của khoa học và công nghệ Việt Nam Trên thực tế, về mặt trình độ khoa học và công nghệ, Việt Nam còn cách các quốc gia phát triển khá xa Các hợp tác khoa học thường mang tính một chiều, mang tính tài trợ cơ sở vật chất, chưa phải là những hoạt động mang tính hợp tác nghiên cứu Điều này dễ dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền, bị đối xử thua thiệt trong phân chia lợi ích do nghiên cứu khoa học đem lại Hội nhập quốc tế giúp cho khoa học Việt Nam tìm được vị thế bình đẳng trong sự phát triển khoa học và công nghệ thế giới nói chung Đó là lợi

Trang 24

ích của hội nhập quốc tế đối với khoa học và công nghệ Việt Nam nói chung Đối với cá nhân các nhà khoa học, hội nhập quốc tế là cơ sở để cọ xát, nâng cao năng lực, nhận diện năng lực khoa học trước cộng đồng khoa học và công nghệ thế giới Hội nhập quốc tế còn mở ra cơ hội học tập, nghiên cứu và hợp tác đa diện từ phía các nhà khoa học với khoa học và công nghệ thế giới, đem lại cho các nhà khoa học những cơ hội việc làm hấp dẫn, tạo ra vị thế nghề nghiệp được thừa nhận mang tầm quốc tế Đó là tác động tích cực của Hội nhập quốc tế

Tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế là tạo ra nạn chảy máu chất xám

từ khắp các quốc gia trên thế giới, chảy về những quốc gia có nền khoa học phát triển Các tập đoàn đa quốc gia, với tiềm lực tài chính hùng mạnh, đã đưa

ra những điều kiện làm việc hấp dẫn để có được những nhà khoa học tài năng

từ khắp nơi trên thế giới Các quốc gia phát triển đề ra những chính sách thu hút nhân tài, trải thảm đỏ hấp dẫn nhằm đưa về cho quốc gia mình những nhà khoa học giỏi Việt Nam cũng phải đối mặt với vấn đề này Để ngăn chặn vấn nạn nói trên, chính phủ đã nỗ lực đưa ra những chính sách phát triển khoa học công nghệ và tác động tới chế độ đãi ngộ cho các nhà khoa học Nghị định 115/2005/NĐ-CP, hiện nay thay thế bằng Nghị định 54/2016/NĐ-CP đã trao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức nghiên cứu khoa học công lập, từ đó các tổ chức có định hướng rõ ràng trong chế độ đãi ngộ các nhà khoa học của mình Những sửa đổi gần đây về luật sở hữu trí tuệ cũng là một trong những giải pháp nhằm giúp cho các nhà khoa học có được lợi ích thật sự từ sản phẩm nghiên cứu của mình

Tóm lại, bên cạnh những tác động tích cực, hội nhập còn đem lại những tác động tiêu cực Để ngăn chặn những tác động không mong muốn và tận dụng những lợi thế từ hội nhập quốc tế, chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực lớn cải thiện chính sách và môi trường làm việc cho các nhà khoa học Nếu xét trên thực tế, Việt Nam còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa mới có thể giải quyết được những thách thức mà hội nhập quốc tế đem lại và tận dụng được

Trang 25

lợi thế tối ưu của quá trình hội nhập quốc tế cho khoa học và công nghệ của quốc gia mình Khi và chỉ khi thực sự chủ động hội nhập và phát triển, đối mặt và giải quyết những thách thức thì khi đó khoa học và công nghệ Việt Nam mới có thể có được nhiều lợi ích hơn từ hội nhập quốc tế đem lại

1.1.4 Quản lý nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

1.1.4.1 Khái niệm

Nhân lực được xem là tài sản quý nhất đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp Việc quản lý nguồn nhân lực là một vấn đề quan trọng đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp Sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: vốn, cơ sở vật chất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, người lao động Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động lại với nhau Những yếu tố như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể Vì vậy có thể khẳng định rằng quản lý nguồn nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Quản lý nguồn nhân lực được hiểu là: “Tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội” [19, p 14]

Cách hiểu này sử dụng trong quản lý nguồn nhân lực ở cấp tổ chức (vi mô) Ở cấp vĩ mô, nguồn nhân lực của quốc gia được tạo điều kiện bằng các thể chế, chính sách và cơ chế thích hợp; những chính sách quản lý nguồn nhân lực được xây dựng, cụ thể hóa cho phù hợp với từng lĩnh vực nguồn nhân lực nhất định

1.1.4.2 Quản lý nhân lực, quản lý nhân lực Khoa học và công nghệ

Quản lý nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức, doanh nghiệp Bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận quản lý nhân sự hoặc tổ chức cán bộ Quản lý nguồn nhân lực là một thành tố quan trọng của chức

Trang 26

năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức Quản lý nhân lực hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản lý nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản lý nhân lực Cung cách quản lý nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp, tổ chức

Quản lý, đương nhiên, phải theo pháp luật, kỷ luật, nội quy, các chương trình, kế hoạch hoạt động Nhưng quản lý không phải là, cũng không chủ yếu

là, áp đặt tất cả những thứ đó lên đôi vai mỗi người lao động, buộc họ phải nhất nhất tuân theo, mà quản lý chính là và chủ yếu là “tạo thuận lợi” để mỗi người lao động có thể phát huy tối đa khả năng, cả thể lực và trí lực của họ, tăng cường cống hiến theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức xã hội Nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ là nguồn nhân lực chất lượng cao với đặc trưng là chuyên môn kỹ thuật, trình độ Chính đặc trưng này mà nguồn nhân lực chất lượng cao có tính năng động xã hội và sức sáng tạo, tính linh hoạt trong một xã hội có nền kinh tế phát triển Vấn đề là phải bằng biện pháp gì để có thể quản lý được nguồn nhân lực chất lượng cao?

Quản lý nguồn nhân lực chất lượng phải được thực hiện thông qua các công cụ chủ yếu sau:

- Đường lối chính sách chung của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực (tư tưởng, quan điểm chính sách)

- Thể chế hóa bằng luật pháp, cơ chế, chính sách chung hoặc cụ thể tác động vào từng yếu tố cấu thành lên nguồn nhân lực chất lượng cao

- Xây dựng thành chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quy hoạch và kế hoạch tổng thể hay từng phần của nguồn nhân lực dài hạn, 5 năm và những năm tiếp tới

- Các chương trình, mục tiêu, các dự án cụ thể để khai thác và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 27

Quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao được thực hiện có thể theo mô hình tập trung hoặc phi tập trung, từ đó mà thiết kết, xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy và cán bộ cho phù hợp

Nói chung, quản lý nguồn nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra Đối với quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao, bên cạnh việc làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra còn phải làm sao tạo môi trường thuận lợi nhất để các lao động chất lượng cao cống hiến và đóng góp

1.1.4.3 Quản lý di động xã hội một lĩnh vực quản lý nhân lực khoa học

và công nghệ

Từ sau Đổi mới 1986, Việt Nam bước vào tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Bắt đầu từ những năm 1990, khoa học và công nghệ được chú ý phát triển mạnh Từ 1990, cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ, về mặt chủ trương, đã có một số thay đổi như mở rộng chế độ tuyển dụng theo biên chế và hợp đồng; Thay đổi một số khía cạnh của chính sách tiền lương

và quy định về phụ cấp trách nhiệm; Mở rộng đào tạo sau đại học Những thay đổi này nhằm thu hút nhân tài cho khoa học và công nghệ nước nhà Những thay đổi ấy đã dẫn đến sự thay đổi về số lượng đội ngũ cán bộ tham gia vào khoa học và công nghệ, thúc đẩy phát triển các nghiên cứu và triển khai trong thực tế hiện nay

Tuy nhiên, do bối cảnh kinh tế thị trường và do hội nhập quốc tế, di động

xã hội tại các cơ quan nghiên cứu đã diễn ra khá mạnh mẽ Đó là hiện tượng chảy máu chất xám, hiện tượng thay đổi vị thế công việc Đó là sự phát triển tất yếu của nguồn nhân lực nhằm phù hợp với hiện thực đang diễn ra Nhưng

di động xã hội có tác động hai mặt tới tổ chức nghiên cứu và các nhân lực nghiên cứu là mặt tích cực và tiêu cực Bên cạnh mặt tích cực về chuyên môn

và hợp tác nghiên cứu và triển khai thì mặt tiêu cực lại đem tới sự thiếu hút

Trang 28

lực lượng lao động tại các cơ quan, tổ chức Điều này dẫn tới hệ quả xấu về mặt phát triển năng lực của các tổ chức Đó chính là sự đình trệ và tụt hậu về nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ Chính vì thế, việc quản lý di động xã hội là việc làm cần thiết nhằm giúp các cơ quan, tổ chức có thể cân bằng và phát triển nhân lực của mình để từ đó thúc đẩy năng lực phát triển của tổ chức

1.2 Một số vấn đề lý luận về di động xã hội

1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, nơi mà có nghề nghiệp đa dạng và sức lao động cũng được xem là một loại hàng hóa, di động xã hội diễn ra hết sức đa dạng giữa các phân tầng xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa, di động xã hội càng diễn ra phức tạp từ quốc gia đến các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, tập đoàn kinh tế nội địa, các tổ chức nghiên cứu và phát triển

Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến di động xã hội Đó là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.2.1.1 Các yếu tố khách quan

Về nhân tố khách quan, chúng bao gồm điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia và quốc tế, vốn xã hội và vốn văn hóa, chính sách phát triển của quốc gia

Điều kiện kinh tế - xã hội quốc gia và quốc tế

Tốc độ của di động xã hội sẽ phụ thuộc vào một nền kinh tế quốc gia năng động hay ì ạch Nó ảnh hưởng trực tiếp từ các loại hình kinh tế - xã hội đang được phát triển ở dạng “đóng” hoặc “mở” Một nền kinh tế năng động và phát triển, nhận thức mỗi cá nhân cũng phát triển và năng động theo Các cá nhân

có xu hướng thích nghi theo môi trường mới Một nền kinh tế năng động sẽ

mở ra các cơ hội đa dạng cho các cá nhân lựa chọn Họ có thể ở trường hợp

đa vị thế hoặc có thể vẫn phát triển trong lĩnh vực nghành nghề của họ nhưng theo những chuẩn mực mà xã hội lựa chọn Nhưng rõ ràng xã hội vận động nhanh thì các cá nhân cũng sẽ có xu hướng di động nhanh cho phù hợp với thực tế Một nền kinh tế ì ạch, loại hình kinh tế “đóng”, sẽ không mở ra những

Trang 29

cơ hội nghề nghiệp đa dạng Các cá nhân có xu hướng đi theo những “lối mòn” sẵn có về nghề nghiệp Các thiết chế được lập ra dường như bất di bất dịch theo trật tự sẵn có buộc các cá nhân phải đi theo Nhiều cá nhân, cho dù

có ý thức thay đổi, nhưng vẫn khó có thể thay đổi được địa vị của mình Di động xã hội trong nền kinh tế “đóng” sẽ ít diễn ra, mức độ đa dạng trong di động xã hội ở những nền kinh tế này không có

Bên cạnh đó, ở cấp độ quốc gia, một nền kinh tế phát triển hay không phát triển, năng động hay ì ạch, sẽ ảnh hưởng mạnh tới đầu tư phát triển nguồn lực

xã hội mà trong đó nguồn lực lao động sẽ bị ảnh hưởng mạnh nhất Cá nhân

sẽ ít có cơ hội được phát triển, được làm việc Các chế độ đãi ngộ và chính sách ưu đãi sẽ hầu như không có hoặc nếu có cũng không thúc đẩy được các

cá nhân tận lực làm việc Thêm vào đó, một nền kinh tế đi theo hướng các thiết chế đã được mặc định dẫn đến tình trạng cá nhân khó có thể được phát huy sáng tạo

Ở cấp độ quốc tế, những thay đổi rõ nét nhất từ khi toàn cầu hóa cho thấy di động xã hội trong giai đoạn này diễn ra hết sức đa dạng và phong phú,

có thể nói là giai đoạn di động xã hội năng động nhất trong lịch sử loài người

Sự đa vị thế diễn ra rất phổ biến Trên cơ sở của những thành tựu thông tin như mạng di động không dây, công nghệ 3G , thông tin liên lạc được liên tục, thông suốt và rất nhanh Những hoạt động hợp tác liên chính phủ, cộng tác đa quốc gia diễn ra liên tục hầu khắp mọi nơi trên thế giới và rất nhanh Các cán

bộ khoa học có thể đi giảng bài ở nhiều nước trên thế giới hoặc có thể giảng bài tại chỗ nhưng nhiều đầu cầu trực tuyến trên khắp thế giới cùng theo dõi và lắng nghe Do đó, một cá nhân có thể cùng lúc làm đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau tại cùng một vị trí dễ dàng và thuận lợi

Chính sách kinh tế xã hội

Trang 30

Chính sách kinh tế- xã hội có vai trò khá lớn trong việc di động xã hội của các cá nhân hoặc nhóm xã hội Chính sách kinh tế xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia nếu đúng hướng và tích cực sẽ là động lực cho các cá nhân, nhóm xã hội hăng say tham gia lao động và phấn đấu ở chính vị thế của mình đồng thời còn là động lực để tạo ra các luồng di động xã hội đi lên Chính sách kinh tế xã hội không phù hợp sẽ trở thành lực cản, kìm hãm các cá nhân phát triển Điều đó đẩy nhanh sự di động xã hội giữa các cá nhân và các nhóm xã hội tìm cách thoát khỏi vị trí của mình đang

bị kìm hãm Một chính sách kinh tế xã hội không thích hợp sẽ đưa đến hiện tượng di động xã hội kèm di cư, chảy máu chất xám, phân tán nguồn lực lao động hoặc lãng phí nguồn lao động có chất lượng

1.2.1.2 Yếu tố chủ quan

Về nhân tố chủ quan, chúng bao gồm các yếu tố cá nhân như nguồn gốc xuất thân, trình độ của cá nhân, nghề nghiệp, giới tính, nơi cư trú

Nguồn gốc xuất thân của mỗi cá nhân: là một trong những động lực mạnh

để các cá nhân tìm cách bứt phá, tìm kiếm những vị thế tốt hơn, là động lực

để tạo lên các di động xã hội đi lên ở bản thân mỗi cá nhân Trong xã hội có giai cấp hoặc có sự phân biệt về chủng tộc, nguồn gốc xuất thân của mỗi cá nhân luôn là một trong những lý do để kìm hãm hoặc là bệ phóng cho các cá nhân trong quá trình sinh sống và tương tác với cộng đồng Sự kỳ thị về chủng tộc hoặc giai cấp một mặt vừa có tác động tiêu cực tới cá nhân như kìm hãm các cá nhân không thể phát triển mặt khác lại là động lực để các cá nhân phấn đấu và vươn lên không ngừng, tìm cách thoát khỏi hoặc xóa bỏ sự kỳ thị đó Ngoài ra, mỗi cá nhân cũng chịu sự chi phối rất lớn của truyền thống, địa

vị xã hội và hoàn cảnh gia đình Một cá nhân sinh ra trong một tầng lớp trên, gia đình gia giáo, có tiếng tăm thì điều kiện thăng tiến trong xã hội rất thuận lợi và ngược lại Chính vì thế, nguồn gốc xuất thân của mỗi cá nhân cũng

Trang 31

đóng vai trò khá quan trọng trong di động xã hội của cá nhân, nó chính là động lực mạnh để các cá nhân vươn lên giành vị thế trong cộng đồng

Trình độ học vấn, chuyên môn của cá nhân: cũng có ảnh hưởng nhất định

tới di động xã hội của chính cá nhân đó Các cá nhân có trình độ chuyên môn sâu, chất lượng thường có nhiều cơ hội về công việc, cơ hội thăng tiến Giới tinh hoa khoa học ở các quốc gia hiện nay thường là những nhóm cá nhân có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt dưới bối cảnh toàn cầu hóa, những cá nhân có trình độ học vấn và chuyên môn tốt thường tiếp cận được những cơ hội tốt hơn và không gian di động cũng rộng hơn, vượt ra ngoài cấp độ quốc gia, so với các cá nhân còn lại Giáo dục cũng được xem là công cụ để các cá nhân bứt phá và phát triển

mạnh nhất và bền vững nhất, không tiềm ẩn nguy cơ di động đi xuống

Giới tính: cũng được kể đến như một trong những yếu tố ảnh hưởng tới di

động xã hội của cá nhân Sự kỳ thị về giới cũng khiến các cá nhân bị kìm hãm

và tìm cách bứt phá Các cá nhân có xu hướng tìm kiếm cơ hội ở những nơi không có sự kỳ thị về giới hoặc bất bình đẳng giới Điều này dễ xảy ra với giới nữ Họ có xu hướng chuyển đổi công việc nhanh chóng khi cảm thấy mình bị đối xử bất công về giới hoặc bị kỳ thị về giới

Nơi cư trú: cũng là một trong những yếu tố có thể tác động đến cá nhân

trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân Trước đây, những cư dân ở thành thị, tính năng động xã hội cao hơn các cá nhân sống ở khu vực nông thôn Thêm vào đó, những người sống ở khu vực nông thôn có xu hướng tìm cách

di chuyển ra thành phố để được tiếp cận với một môi trường sống văn minh hơn Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dưới tác động của các thành tựu

về công nghệ thông tin như internet, mạng viễn thông, khoảng cách địa lý thu hẹp, người ta vẫn tiếp xúc được với thế giới văn minh mà không nhất thiết phải tiếp cận trực tiếp Bên cạnh đó, xuất hiện những ngành nghề không cần phải sống tại các thành phố mới có thể có thu nhập và có cơ hội thăng tiến như bảo tồn sinh quyển, nghiên cứu khoa học Hiện nay, xu hướng dời thành

Trang 32

phố về cư trú tại những vùng nông thôn đang xuất hiện Do đó yếu tố nơi cưu trú không còn có vai trò lớn trong di động xã hội của mỗi cá nhân ở những nơi có nền kinh tế phát triển nhưng vẫn giữ vai trò nhất định tại những nơi có nền kinh tế kém phát triển, lạc hậu và không phát triển cơ sở hạ tầng

1.2.2 Di động xã hội trong điều kiện hội nhập

Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường Từ những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức và

sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam đã trở thành những yếu tố quyết định tới sự phát triển của đất nước Trên cơ sở đó, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển đa dạng các loại thị trường trong đó có thị trường lao động Việt Nam và thị trường khoa học và công nghệ Sự ra đời của các tổ chức khoa học và công nghệ trong và ngoài công lập đã là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển ngành nghề và cơ hội việc làm Những yếu tố này đã tạo ra những luồng di động xã hội trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Hiện tượng chảy máu chất xám ở những nước đang phát triển chính là sự thua thiệt về mặt chính sách đãi ngộ Việc các nhà khoa học lựa chọn những

cơ hội tốt hơn là điều tất yếu trong xu thế phát triển xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những nước thuộc “top nhà giàu” như Mỹ, Anh, Pháp, Đức hoặc những nước Tây Âu hưởng lợi nhất trong việc thu hút các nhân tài đến

từ các nước đang phát triển Đó cũng là những nước tập trung nhiều các nhà khoa học đến từ mọi quốc gia trên thế giới

Con đường để các nhà khoa học tìm kiếm những cơ hội về công việc khá

đa dạng Dưới bối cảnh hộp nhập kinh tế, do sự hình thành của thị trường khoa học và công nghệ trong nước và ngoài nước, do sự đa dạng hóa trong cơ chế hợp tác, nghiên cứu và đa dạng hóa trong các chính sách đào tạo, nhân lực khoa học và công nghệ có nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình như thông qua con đường đào tạo, hợp tác nghiên cứu Sự thăng tiền về vị trí nghề nghiệp của họ nhanh hơn so với thời kỳ chưa hội nhập nhờ vào những lý

Trang 33

do trên và nhờ cả ở sự phát triển của nền kinh tế Đồng thời, bản thân các cá thể cũng tìm kiếm những cơ hội công việc đem lại thu nhập tốt hơn Tất cả đã dẫn tới sự biến động về đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

1.2.3 Thu hút nhân lực KH & CN trình độ cao trong điều kiện hội nhập

Hiện nay nguồn nhân lực chất lượng cao được xem như một trong số nguồn lực chủ chốt trong phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Do đó, việc thu hút nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong điều kiện hội nhập được rất nhiều quốc gia trên thế giới chú ý

Việc thu hút nhân lực KHCN trình độ cao phải được tiến hành trên cơ sở một loạt những chính sách đề ra trong đó chính sách tạo cơ hội cho nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao là trọng tâm

Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang duy trì những chính sách thu hút nhân tài có lợi cho quốc gia mình mà điển hình như Mỹ, Đức Năm 1990,

Mỹ sửa Luật giáo dục ngành nghề theo hướng có lợi cho thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới Để thu hút nhân tài mạnh mẽ, Mỹ cải thiện môi trường làm việc cho các nhà khoa học, khuyến khích cho đầu tư nghiên cứu khoa học, tạo ra những chính sách ưu đãi về nhập cư và định cư lâu dài ở Mỹ Ở

Mỹ, các nhà khoa học nhập cư chiếm tới 37% đến từ khắp các quốc gia trên thế giới trong đó phần lớn là đến từ châu Á Và các nhà khoa học nhập cư đã

có những đóng góp vô cùng to lớn vào sự hùng cường của cường quốc số 1 thế giới này Ở giải Nobel Hóa học, từ năm 1901 – 1951, các nhà khoa học nhập cư Mỹ được sướng tên chưa đến 1% Cũng ở giải này, từ năm 1960 –

2000, con số này là tăng 23% Cho đến nay, nhân tài trên thế giới vẫn tiếp tục

đổ vào Mỹ Ở Đức, chính phủ đưa ra các ưu đãi về lương bổng, chính sách nhập cư, chính sách ưu đã cho các nhà nghiên cứu và gia đình của họ Bên cạnh đó, chính phủ Đức cũng tạo ra những chính sách thu hút các luồng di động xã hội nhưng thực chất là thu hút nhân tài như chính sách học bổng, công nhận bằng cấp của các nước, những quy định về nghỉ phép, tạo môi trường quốc tế Ở những nước thuộc OECD, chính phủ các nước cũng thực

Trang 34

thi nhiều chính sách nhằm thu hút nhân tài như ưu đãi thuế của chính phủ Bỉ, Canada và Tây Ban Nha trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai; chính sách

hỗ trợ tài chính của chính phủ Hà Lan, chính phủ Anh, cải cách về lương hưu

di động của chính phủ Tây Ban Nha

Việt Nam cũng đưa ra một số chính sách giải thảm đỏ đối với nhân tài như chính sách về xuất nhập cảnh và cư trú, tuyển dụng lao động – học tập, lương, nhà ở, tiếp cận thông tin, khen thưởng vinh danh Tiêu biểu trong số đó

là Nghị định 87/2014/NĐ-CP ngày 22/09/2014 quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Tóm lại, thu hút nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao là một hệ thống các chính sách nhằm thu hút và phát triển nhân lực KH&CN trình độ cao ngay trong và ngoài quốc gia, tổ chức theo định hướng có lợi nhất cho tổ chức/quốc gia Trên cơ sở thu hút nhân lực KH&CN trình độ cao, tổ chức, quốc gia

sẽ có được những thành tựu nhất định cho sự phát triển của tổ chức/quốc gia mình

1.2.4 Tác động của di động xã hội

Di động xã hội không kèm di cư có tác động âm tính (tiêu cực) và dương tính (tích cực) nhất định Đối với bản thân tổ chức mà người lao động đang tham gia, tổ chức không bị mất đi lao động chất lượng, quản lý được nhân công Các cá nhân hợp tác nhiều bên sẽ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm và đóng góp những kinh nghiệm đó vào những hoạt động trong tổ chức của mình

Đó là tác động dương tính Về tác động âm tính, quá trình đóng nhiều vai trò

sẽ dễ dàng dẫn tới sự “xung đột vai trò” Một cá nhân, khi có nhiều vị thế, sẽ phải thu xếp thời gian, hết sức linh hoạt để hoàn thành các vị thế của mình Tất yếu, việc nhầm lẫn công việc được giao, việc tập trung hoàn thành tốt hoặc hoàn thành ở mức vừa phải hoặc không hoành thành công việc như yêu cầu sẽ diễn ra khi cá nhân không đảm bảo được thời gian và tính linh hoạt trong quá trình đa vị thế của mình Điều này sẽ làm yếu đi mục tiêu hoạt động của tổ chức mà lao động đó đang tham gia Đồng thời, tổ chức ấy cũng không thể quản lý thực sự trí tuệ và thời gian của người lao động đó khi họ đang

Trang 35

phải phân chia trí lực và thời gian của mình cho một khối lượng công việc lớn hơn Do đó, tổ chức tuy có được lao động chất lượng cao nhưng lại không có được kết quả lao động tối ưu từ người đó

Di động xã hội kèm di cư là hiện tượng cá nhân, dưới vị thế nghề nghiệp của mình, đã thay đổi không gian làm việc của mình, cụ thể hơn là đổi nơi làm việc để tìm kiếm cho mình một cơ hội nghề nghiệp tốt hơn Hiện tượng di động xã hội kèm di cư chính là hiện tượng chảy máu chất xám đang diễn ra trên thế giới hiện nay từ bình diện quốc gia đến bình diện các đơn vị kinh tế nhỏ lẻ Trong bối cảnh toàn cầu hóa, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, các cơ hội thăng tiến và phát triển về nghề nghiệp xuất hiện liên tục Người lao động sẽ tìm đến những nơi có sự đãi ngộ tốt hơn và cơ hội phát triển nghề nghiệp tốt hơn Họ sẵn sàng từ bỏ nơi làm việc cũ để chuyển đến một quốc gia mới, một công ty mới nơi đang chào đón họ với những chính sách đãi ngộ vượt trội Hiện nay, nhiều nhà khoa học, nhiều thợ lành nghề hoặc những lao động tay chân nhanh nhẹn luôn tìm kiếm cho mình những cơ hội nghề nghiệp tốt hơn Một số quốc gia hoặc các công ty thường đưa ra ra những chính sách ưu đãi để thu hút những người nói trên nhằm bù đắp lực lượng lao động bị thiếu hụt Điều này đã dẫn đến hiện tượng chảy máu chất xám tại các quốc gia chưa

có chế độ đãi ngộ tương xứng Điều này thể hiện rõ nhất là hiện tượng chảy máu chất xám trong cộng đồng khoa học và trong cộng đồng lao động có tay nghề

Di động xã hội kèm di cư tác động hai mặt tới tổ chức/quốc gia Mặt âm tính (tiêu cực) là làm suy yếu/thiếu hụt đội ngũ lao động chất lượng cao đối với tổ chức bị hao tổn Bản thân tổ chức bị hao tổn khó kiểm soát được đội ngũ lao động của mình, khó đạt được những mục tiêu về phát triển đã đề ra do thiếu hụt nguồn nhân lực Mặt dương tính là bù đắp nguồn lao động bị thiếu hụt ở những cơ quan đang có chế độ thu hút nhân tài, đạt được những mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, xây dựng và quản lý được đội ngũ lao động cần thiết Nói chung, mọi sự phân biệt các tác động của di động xã hội đều chỉ mang tính chất tương đối mà thôi

Trong điều kiện hội nhập, di động xã hội càng có những tác động mạnh

mẽ hơn bao giờ hết nên tổ chức/quốc gia Sự phát triển khoa học ở những cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp cho thấy đóng góp lớn tới mức nào của các

Trang 36

nhà khoa học di cư Trong hội nhập, các tổ chức/quốc gia đều ra sức thu hút nhân tài, đưa ra các chính sách trải thảm đỏ để gia tăng nguồn nhân lực chất lượng cao Lợi ích của việc này là rõ ràng Những nơi thu hút được nhân tài sẽ không phải mất thời gian đào tạo, họ lại thu được lợi nhuận tối đa từ cống hiến của các nhân lực khoa học chất lượng cao, nâng cao trình độ dân trí quốc gia, năng lực nghiên cứu của tổ chức/quốc gia mà không cần phải bỏ tiền đầu

tư quá nhiều Ngược lại, những tổ chức/quốc gia bị “chảy máu chất xám” sẽ

bị hạn chế năng lực nghiên cứu, không kêu gọi được nguồn nhân lực như mong muốn Nếu trong một thế giới không hội nhập, việc ngăn chặn di động

xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao bằng những hàng rào pháp luật khô cứng có thể có hiệu quả nào đó thì lại không đem lại chút hiệu quả nào trong thế giới hội nhập hiện nay Vì thế, cần có cái nhìn tích cực trong việc nhìn nhận di động xã hội như là một xu thế tất yếu trong sự phát triển và một quan điểm mở cho việc quản lý di động xã hội nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày các khái niệm công cụ về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, phân loại di động xã hội Tác giả đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội, gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến di động xã hội bao gồm: Chính sách kinh tế xã hội, vốn xã hội – vốn con người Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến di động xã hội bao gồm: Trình độ, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc xuất thân Đồng thời tác giả cũng làm rõ di động xã hội trong điều kiện hội nhập ra sao, những tác động của di động xã hội nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đến tổ chức/quốc gia đã tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực như thế nào Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra những mặt lợi của việc thu hút nhân tài trong điều kiện hội nhập của các quốc gia trên thế giới, chính sách thu hút nhân tài của Mỹ, Đức và một số nước thuộc tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế) và những thiệt hại ở những tổ chức/quốc gia bị chảy máu chất xám Và trong điều kiện hội nhập, di động xã hội được xem như là một xu thế tất yếu

Trang 37

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Viện Hàn lâm KH&CNVN

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

Về chức năng và nhiệm vụ, ngày 25 tháng 12 năm 2012, Thủ tướng Chính

phủ ký ban hành Nghị định số 108/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Theo đó, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam thực hiện những nhiệm vụ khoa học cụ thể sau:

“ 3 Về nghiên cứu khoa học và công nghệ

a) Nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực: Toán học; vật lý; hóa học; sinh học; công nghệ sinh học; công nghệ thông tin; điện tử, tự động hóa; công nghệ vũ trụ; khoa học vật liệu; đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học; khoa học trái đất; khoa học

và công nghệ biển; môi trường và năng lượng; dự báo, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;

b) Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và môi trường;

c) Triển khai, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ;

d) Đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ tọng điểm cấp nhà nước theo sự phân công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 38

4 Đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao; tổ chức đào tạo sau đại học về khoa học tự nhiên và công nghệ theo quy định của pháp luật

5 Báo cáo và cung cấp thông tin động đất, cảnh báo sóng thần với cơ quan có thẩm quyền theo quy định

6 Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường khoa học, công nghệ

7 Tham gia thẩm định trình độ công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh

tế-kỹ thuật các công trình trọng điểm, quan trọng của Nhà nước và của các địa phương theo sự phân công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

8 Quyết định các dự án đầu tư của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định của pháp luật

9 Quản lý về tổ chức, bộ máy, biên chế công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; quyết định luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật; chế độ chính sách, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật

11 Thực hiện hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ theo quy định của pháp luật.”

Về cơ cấu tổ chức, Viện Hàn lâm KHCNVN có 51 đơn vị trực thuộc bao

gồm: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập;34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa ho ̣c (27 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và 07 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 06 đơn vị sự nghiệp khác (05 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và 01 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 04 đơn vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước Các đơn vị của Viện đóng tập trung tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh Một

số đơn vị đóng tại Phú Thọ, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Lạt Ngoài ra, Viện còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu

Cơ cấu lãnh đạo của Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam bao gồm 01 Chủ tịch Viện, 03 Phó Chủ tịch Viện

Trang 39

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 40

2.1.2 Hoạt động và đầu tư ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

Căn cứ theo Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn

2011 – 2020, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có được những sự đầu tư cơ bản vào phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của Viện

Kể từ năm 2012, số lượng đề tài, dự án do Viện Hàn lâm KH&CN thực hiện có sự biến động không ngừng

Bảng 2.1 Số lƣợng đề tài, dự án do Viện Hàn lâm KH&CNVN

thực hiện giai đoạn 2011 – 2016

(Nguồn: Báo cáo hoạt động 2011- 2016 của VHLKHCNVN: Lưu hành nội bộ)

Bên cạnh đó, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cũng tăng cường đầu tư xây dựng tiềm lực cho nghiên cứu qua hàng năm Mức tài chính đầu tư tăng liên tục trong giai đoạn 2011 – 2016

Bảng 2.2 Tình hình đầu tƣ XDCB tiềm lực giai đoạn 2011- 2016

910,040

855,252

(Nguồn: Báo cáo hoạt động 2011- 2016 của VHLKHCNVN: Lưu hành nội bộ)

Số tiền này được đầu tư cho việc xây dựng khu làm việc, phòng thí nghiệm, mua sắm nguyên liệu, vật liệu, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học, sửa chữa, bảo trì và bảo dưỡng trang thiết bị, đầu tư các trung tâm quan trắc hiện đại, đầu tư và phát triển Bảo tàng tự nhiên Việt Nam và nhiều

Ngày đăng: 29/12/2017, 20:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Khánh (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Khánh
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
2. Vũ Cao Đàm ( 1999), Phương Pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
3. Nguyễn Long Giao (2011), Nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 6(154), tr. 71-74 4. Mai Hà (2017), Bài giảng Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học xã hội", Số 6(154), tr. 71-74 4. Mai Hà (2017), "Bài giảng Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Long Giao (2011), Nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 6(154), tr. 71-74 4. Mai Hà
Năm: 2017
5. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Võ Tuấn Nhân (2001), Di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi: Luận án Tiến sĩ, Thư viện Quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), Đại từ điển Kinh tế thị trường, Viện nghiêncứu và phổ biến tri thức bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Tuấn Nhân (2001), "Di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi: "Luận án Tiến sĩ, Thư viện Quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), "Đại từ điển Kinh tế thị trường
Tác giả: Võ Tuấn Nhân (2001), Di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi: Luận án Tiến sĩ, Thư viện Quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Hữu Quỳnh
Năm: 1998
8. Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh (2008), Giáo trình quản trị nhân lực, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nhân lực
Tác giả: Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
9. Phạm Huy Tiến (2009), “Bàn về thu hút nhân tài”, Tạp chí Hoạt động Khoa học (5/2009), tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Huy Tiến (2009), “Bàn về thu hút nhân tài”, "Tạp chí Hoạt động Khoa học
Tác giả: Phạm Huy Tiến
Năm: 2009
10. Nguyễn Tiệp (2005), Giáo trình Nguồn nhân lực, Nxb Lao động xã hội 11. Đào Thanh Trường (2016), Di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nguồn nhân lực", Nxb Lao động xã hội 11. Đào Thanh Trường (2016)
Tác giả: Nguyễn Tiệp (2005), Giáo trình Nguồn nhân lực, Nxb Lao động xã hội 11. Đào Thanh Trường
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội 11. Đào Thanh Trường (2016)
Năm: 2016
13. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ( Báo cáo hoạt động năm 2012, 2013,2014,2015,2016): Phần phụ lục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động năm 2012, 2013,2014,2015,2016)
16. Richard T. Schaefer (2013), Sociology: A Brief intronduction, Edition Mc Graw Hill, NewYork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociology: A Brief intronduction
Tác giả: Richard T. Schaefer
Năm: 2013
17. Werther W.B. & Davis K. (1996), Human Resources and Personel Management, 5 th edition, McGraw- Hill, Irvine Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resources and Personel Management
Tác giả: Werther W.B. & Davis K
Năm: 1996
18. Immigrants play increasing role in US science and engineering workforce. https://www.nsf.gov/news/news_summ.jsp?cntn_id=136430.Truy cập ngày 29/05/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Immigrants play increasing role in US science and engineering workforce
20. OECD (2002), Fracasti Manual: Proposed standard practice for survey on research and exprimential development.http://www.tubitak.gov.tr/tubitak_content_files/BTYPD/kilavuzlar/Frascati.pdf . Ngày truy cập, 10/06/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fracasti Manual: Proposed standard practice for survey on research and exprimential development. "http://www.tubitak.gov.tr/tubitak_content_files/BTYPD/kilavuzlar/Frascati.pdf
Tác giả: OECD
Năm: 2002
21. .UNESCO (1984), Manual for Startistics on Scientific and Technological Activitíe. http://uis.unesco.org/sites/default/files/documents/manual-for-statistics-on-scientific-and-technological-activities-historical-1984-en.pdf.Truy cập ngày 10/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manual for Startistics on Scientific and Technological Activitíe
Tác giả: UNESCO
Năm: 1984
14. Quy hoạch tổng thể phát triển Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. http://www.vast.ac.vn/gioi- thieu-chung/chien-luoc-quy-hoach-phat-trien. Truy cập ngày 10/07/2017 15. David Begg, Stanley Fisher, Rudiger Dornbush (2008), Economics, McGraw-Hill Higher Education, NewYork Link
19. Mobility, Social, Online Oxford Reference http://www.oxfordreference.com/view/10.1093/oi/authority.20110803100202881. Truy cập ngày 17/5/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w