Như vậy bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Tân Yên đã khai thác mọi tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp là trọng tâm, với quá trình đẩy mạnh c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ ĐỨC TRỌNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN TÂN YÊN (TỈNH BẮC GIANG)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ ĐỨC TRỌNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN TÂN YÊN (TỈNH BẮC GIANG)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi Các tài liệu
và số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng Nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người viết cam đoan
Vũ Đức Trọng
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp: là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chếnông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâmnghiệp, thủy sản Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Kinh tế nông nghiệp: là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền
nông nghiệp
Nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của nhiều quốc gia.Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế nông nghiệp (KTNN) “là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu” đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
Nhận thức rõ tầm quan trọng của KTNN, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương nhằm phát triển KTNN và đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền đề và cơ sở bước đầu cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Đặc biệt, trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước cần tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Tân Yên cũng là một huyện nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang, từ khi thành lập (6/11/1957) đến nay, Đảng bộ huyện Tân Yên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước Những thành quả đạt được là một minh chứng về vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ huyện Tân Yên trong xây dựng và phát triển kinh tế nói chung, KTNN nói riêng
Trang 6Trong bối cảnh chung của cả nước, những năm trước đổi mới, huyện Tân Yên lâm vào tình trạng lương thực, thực phẩm thiếu thốn không đáp ứng
đủ nhu cầu của nhân dân, sản xuất đình đốn, hàng hóa khan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới do Đại hội VI (1986) của Đảng khởi xướng, Đảng bộ huyện Tân Yên đã tích cực triển khai cụ thể hóa thành các chương trình mục tiêu cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, bước đầu tháo gỡ được những khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTNN đã góp phần đưa Tân Yên từng bước khởi sắc và phát triển Thu nhập
và đời sống của nông dân được cải thiện và ngày càng nâng cao
Tuy nhiên, một số vấn đề kinh tế đang nảy sinh đòi hỏi Đảng bộ Tân Yên phải tiếp tục có những chủ trương nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhất là trong điều kiện hiện nay, vấn đề an ninh lương thực được coi là rất quan trọng trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải, các công trình phúc lợi, cùng với đó là thiên tai, biến đổi môi trường… Trong xu thế hội nhập, mở cửa, biến hàngnông nghiệp thành sản xuất hàng hóa, chế biến nông sản, thu hút nhiều vốn đầu tư Bên cạnh đó KTNN của huyện Tân Yên còn hạn chế, lạc hậu cả
về cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn cơ chế quản lý, điều kiện thời tiết, thiên tai còn
có nhiều ảnh hưởng xấu…
Tổng kết, đánh giá một cách khách quan khoa học vai trò của Đảng bộ huyện Tân Yên trong việc thực hiện đường lối phát triển KTNN của Đảng Trên cơ sở đó đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một
số kinh nghiệm nhằm phát triển KTNN theo hướng CNH, HĐH của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, trong những năm tới là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng
Với các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2015” làm đề
tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông nghiệp nói chung và KTNN nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức, các nhà khoa học Cụ thể:
2.1.1 Các công trình khoa học đề cập đến những vấn đề chung về nông nghiệp
GS.Bùi Huy Đáp và GS.Nguyễn Điền có cuốn “Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI”, Nxb Hà Nội, Năm 1998.Cuốn sách khái quát những
thành tựu của nông nghiệp Việt Nam cuối thế kỷ XX, phân tích những thách thức và tiềm năng của nông nghiệp Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI.Trên
cơ sở đó nêu lên những phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại và bền vững trong thế kỷ XXI
Tác giả Vũ Oanh có cuốn “Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa”Vũ Oanh, NXB Chính trị quốc gia, 1998 Tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề có tính lý
luận được thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển KTNN và nông thôn Đồng thời, tác phẩm cũng nêu lên những kinh nghiệm
có tính tổng kết qua việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách nói trên, nhất
là từ sau khi đổi mới cơ chế quản lý KTNN
PGS Nguyễn Cúc có cuốn “Tác động của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cuốn sách đã đi sâu phân tích vai trò của Nhà nước trong
việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Tác giả Lê Huy Ngọ - Nguyễn Ngô Hai (chủ biên) có cuốn “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam”, Hà
Nội,NXB Chính trị quốc gia, 2002.Cuốn sách đã giới thiệu một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về CNH, HĐH
Trang 8nông nghiệp, nông thôn; giới thiệu kinh nghiệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của một số nước và vùng lãnh thổ; những vấn đề đặt ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đề ra phương hướng và giải pháp
để phát triển KTNN trong thời gian tới
Tác giả Nguyễn Văn Tiêm có cuốn “Gắn bó cùng nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong đổi mới”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, Năm 2005
Cuốn sách bao gồm nhiều bài viết về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn như: những phản ánh, kiến nghị để phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn; về nông dân và Hội Nông dân Việt Nam; Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp ở nông thôn
TS Đặng Kim Sơn có cuốn “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa”, Nxb Chính trị quốc
gia Hà Nội, Năm 2008 Trên cơ sở tổng hợp phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như: vai trò của nông nghiệp trong CNH, HĐH, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết những vấn đề về đất đai, lao động, môi trường… trong công nghiệp hóa đất nước
2.1.2 Các công trình khoa học đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ địa phương về kinh tế nông nghiệp
TS Lê Văn Lý có cuốn “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta”.Cuốn sách đề cập nội dung phương
thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta hiện nay, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp
PGS.TS Trần Văn Phóng (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp), Tạp chí giáo dục lý luận (số 11), tr.3-6.Th.s Đặng Kim Oanh (2009), “Quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 8), tr.26-30, 48 Các tác giả đã khái quát
về vị trí, vai trò của nông nghiệp, quan điểm về phát triển nông nghiệp của
Trang 9Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,
là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả
“Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Giang từ 1986 đến nay - thực trạng kinh nghiệm và giải phápcủa Nguyễn Khắc Chính, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp của Đặng Văn Tăng, “Nghiên cứu ảnh hưởng một số biện pháp hóa học và cơ giới đến sự ra hoa, hình thành quả của giống vải chín sớm Bình Khê tại tỉnh Bắc Giang”, Trường Đại học
nông nghiệp, Hà Nội, 2011
Các luận án, luận văn khoa học cũng được nghiên cứu khá nhiều Như:
“Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ 1991 - 2002”, Luận án tiến sĩ lịch sửcủa Lê Quang Phi, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2006; “Đường lối phát triển nông nghiệp nông thôn của Đảng trong những năm 1986 - 2006”, luận văn thạc sĩ
lịch sửcủa Lê Thị Thu Hương, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội, 2008;
“Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở Tân Yên - Bắc Giang hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Giáp Ngọc Giang
Các công trình khoa học đã tập trung phân tích một cách sâu sắc vị trí, vai trò của KTNN đối với sự phát triển kinh tế; đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn của nước ta; tính tất yếu và cách thức tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.Tuy nhiên, chưa nghiên cứu chuyên sâu các vấn
đề liên quan đến công tác lãnh đạo của Đảng trong phát triển KTNN
Đặng Hồng Sơn (2015), Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) thế kỷ XIX.Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Nguyễn Thành Lam (2013), Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến 2020.Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Nguyễn Thế Huy (2014), Nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Ngọc Nghĩa, (2011), Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang), luận văn thạc sĩ, Đại
Trang 10học Nông nghiệp, Hà Nội Cuốn “Địa chí Tân Yên”, Năm1990, Nxb Văn hóa
Thông tin,khái quát về lịch sử truyền thống văn hóa, con người huyện Tân Yên, giúp cho tác giả có được cái nhìn, tổng quát về vùng đất địa hình này
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Yên” (1930 - 2010) [16], Nxb Chính trị - Hành chính, năm 2010đã tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên từ năm 1937 - 2010; trong đó có lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
Các cuốn sách và đề tài nghiên cứu đã đi sâu phân tích tình hình nông nghiệp của huyện Tân Yên, đánh giá thực trạng nông nghiệp và các hoạt động nông nghiệp trong lĩnh vực của huyện.Đồng thời cũng đưa ra các giải pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về quá trình Đảng bộ huyện Tân Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ 2006 đến năm 2015
2.2 Những kết quả nghiên cứu luận văn có thể kế thừa và những vấn đề luận văn cần tiếp tục giải quyết
2.2.1 Những kết quả nghiên cứu luận văn có thể kế thừa
Những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đã cung cấp nhiều
tư liệu cho việc tiếp tục nghiên cứu của học viên về sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ địa phương về KTNN, gợi mở cho tác giả những hướng tiếp cận, những định hướng nghiên cứu quan trọng trong quá trình giải quyết các vấn
đề thuộc về nội dung luận văn, như:
- Những nét cơ bản về thực trạng nông nghiệp, KTNN ở Việt Nam nói chung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nói riêng trước năm 2006 và giai đoạn sau năm 2006, cả thành tựu, hạn chế
- Những yêu cầu đặt ra trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về KTNN trước yêu cầu mới; những quan điểm, chủ trương của Đảng, đảng bộ địa phương; những đổi mới quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015
- Một số gợi ý, kiến nghị về phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên đối với KTNN…
Trang 112.2.2 Những vấn đề luận văn cần tiếp tục giải quyết
- Giải quyết vấn đề theo góc độ là luận văn thạc sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trình bày một cách hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng
bộ địa phương về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015
- Khôi phục một cách chân thực quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng
bộ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015 theo đúng tiến trình lịch sử đã diễn ra, bằng những tư liệu phong phú, tin cậy
- Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, đúc kết các kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 đến năm 2015 để vận dụng vào thực tiễn trong giai đoạn hiện tại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) lãnh đạo KTNN từ năm 2006 đến năm 2015.Qua đó rút ra nhận xét và đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ về kinh tế nông nghiệp giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về KTNN
- Hệ thống hóa chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, huyện Tân Yên về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015
- Phục dựng lại một cách khách quan tiến trình lịch sử sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về KTNN từ năm 2006 đến năm
2015 qua hai giai đoạn 2006 - 2010; 2011 - 2015
- Đưa ra nhận xét và rút ra kinh nghiệm về sự lãnh đạo của đảng bộ huyện Tân Yên
Trang 124 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015, tiếp cận các tiểu nghành: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và cơ sở hạ tầng, kỹ thuật tác động đến kinh tế nông nghiệp của huyện Tân Yên
Về phạm vi thời gian: Từ 2006 đến năm 2015
Về không gian: Địa bàn huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang)
5 Cơ sở lý luận
5.1 Cơ sở lý luận
Để thực hiện đề tài là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của nông nghiệp trong đời sống xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó.Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh… cũng được chú trọng sử dụng ở mức độ cần thiết
5.3 Nguồn tài liệu để thực hiện đề tài
- Các Văn kiện của Đảng và Nhà nước từ năm 2006 đến năm 2015có liên quan trực tiếp đến KTNN
- Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang; huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp
- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học qua các chuyên khảo, bài đăng tạp chí, luận án, luận văn có đề cập trực tiếp hoặc liên quan đến đề tài đã được công bố
Trang 136 Đóng góp của luận văn
- Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, luận văn hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) về KTNN từ năm 2006 đến năm 2015
- Cung cấp một cách hệ thống, phong phú những tư liệu, sự kiện cơ bản
về quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Tân Yên về KTNN từ năm
2006 đến năm 2015 qua hai giai đoạn: 2006-2010; 2011-2015
- Nhận diện một cách khách quan những kết quả đạt được và những hạn chế khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về KTNN, luận giải nguyên nhân về những ưu điểm, hạn chế và đúc rút ra một
số kinh nghiệm, phục vụ quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm tiếp theo của Đảng bộ huyện Tân Yên
7 Bố cục luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 14Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TÂN YÊN
VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội
Huyện Tân Yên là một huyện hình thành tương đối muộn so với các huyện khác trong tỉnh, là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, xưa kia thuộc miền hạ của Phủ Yên Thế Ngày 06 tháng 11 năm 1957, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Nghị định số 523/TTg chia huyện Yên Thế thành hai huyện Tân Yên và Yên Thế Trước thời điểm ấy Tân Yên là phần đất phía Nam của huyện Yên Thế,
mà sử sách và nhiều người dân vẫn thường gọi là miền Yên Thế hạ
* Về vị trí địa lý - địa hình:
Huyện Tân Yên nằm ở tọa độ không gian 106o - 106o11độ kinh Đông;
21o18 - 21o23 độ vĩ Bắc [16, tr.6]
- Phía Đông tiếp giáp huyện Lạng Giang
- Phía Tây tiếp giáp huyện Hiệp Hòa
- Phía Nam tiếp giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang)
- Phía Bắc giáp huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế Tân Yên có diện tích đất tự nhiên là 203,8km2 Ở phía Đông của huyện, sông Thương chảy gần như theo hướng Bắc - Nam là ranh giới tự nhiên với huyện Lạng Giang Huyện cũng có 1 con đường quốc lộ chạy theo hướng Bắc
- Nam và hai đường tỉnh lộ chạy qua theo hướng Đông - Tây
Tân Yên là một tiểu vùng chuyển tiếp của vùng núi Việt Bắc và Đông Bắc với vùng Châu thổ sông Hồng Đặc điểm trên làm cho huyện Tân Yên có địa hình đồi núi thấp thoai thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với độ cao
Trang 15trung bình là 10 - 15 m so với mặt biển Điểm cao nhất là núi Đót 221,88m thuộc xã Phúc Sơn nằm ở cực Tây Bắc, điểm thấp nhất là cánh đồng Chủ 1m
so với mặt biển ở xã Quế Nham.Cứ 1 km địa hình trung bình hạ bớt độ cao thêm 1m Đặc điểm địa hình và tính chất tiểu vùng chuyển tiếp của huyện về
cơ bản được quy định bởi quá trình phát triển địa chất lâu dài và phức tạp do
sự vận động kiến tạo của vỏ trái đất cách ngày nay từ vài trăm triệu năm
“Chúng biểu hiện rõ rệt trong cấu trúc địa chất của tỉnh từ kỷ tri át cổ với các trầm tích mới thuộc thế hệ toàn tân”
Có thể đánh giá vị trí địa lý kinh tế của Tân Yên như một yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế của huyện nói chung
* Về hành chính:
Trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay Tân Yên có
22 xã gồm: xã An Dương, Cao Xá, Cao Thượng, Ngọc Lý, Đại Hóa, Lam Cốt, Lan Giới, Liên Sơn, Liên Chung, Nhã Nam, Ngọc Vân, Ngọc Thiện, Ngọc Châu, Tân Trung, Phúc Hòa, Phúc Sơn, Quế Nham, Quang Tiến, Song Vân, Việt Lập, Việt Ngọc, Hợp Đức, và có hai thị trấn là Cao Thượng và Nhã Nam Huyện lỵ đóng tại thị trấn Cao Thượng
* Về địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu, sông ngòi, giao thông:
Thổ nhưỡng:
Tân Yên có diện tích trên 20.332 ha, có 2 loại đất chính hình thành từ 2 nguồn gốc: loại đất hình thành tại chỗ do phong hóa đá mẹ và loại đất hình thành do phù sa sông bồi tụ Căn cứ vào nguồn gốc, trên đất Tân Yên nổi rõ 3 nhóm đất: nhóm đất đồi và ruộng bậc thang nằm chủ yếu ở phía Đông Bắc của huyện, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, nhóm đất phù sa cũ bạc màu nằm ở phía Tây Nam của huyện, chiếm tới 70% diện tích đất tự nhiên, nhóm đất phù sa có địa hình thấp trũng nằm ở phía Đông Nam, chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên [16, tr.8]
Khí hậu:
Tân Yên bị quy định bởi địa hình toán tính, nó vừa mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vừa mang tính chất á nhiệt đới.Chế độ nắng và bức xạ phong
Trang 16phú.Hằng năm nhiệt độ trung bình 22,9oC.Khí hậu có hai mùa tương đối rõ rệt.Mùa hè gió Đông Nam, và mùa Đông gió Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa trung bình cả năm là 1594 mm Do vị trí của huyện nằm ở khá sâu trong nội địa nên các cơn bão phần lớn bị núi chắn bớt nên làm yếu đi và ít gây ra những tác hại lớn Với những điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa và độ ẩm trên, Tân Yên có điều kiện trồng trọt nhiều vụ trong năm, phát triển chăn nuôi, áp dụng
đa dạng cơ cấu cây trồng và thời vụ của một huyện nông nghiệp
Nguồn nước:
Tân Yên có sông Thương, hệ thống nông giang sông Cầu và một hệ thống suối, ngòi nhỏ chảy qua Sông Thương được phát nguồn từ phía Nam tỉnh Lạng Sơn, dài 175 km chảy qua huyện ở đoạn trung lưu dài 16km, lòng sông mở rọng từ 70m đến 100m, qua địa phận 3 xã là Hợp Đức, Liên Chung, Quế Nham Hệ thống nông giang sông Cầu được đưa vào sử dụng từ năm
1929 gồm có kênh chính đoạn chảy qua Tân Yên từ kè Lữ Vân đến Điếm thôn dài 25,8 km, và với 9 kênh cấp 2, 50 kênh cấp 3 dài 744km cung cấp nước cho 5574 ha, chiếm 56,6% diện tích đất trồng của huyện trong một vụ Toàn huyện có 77 hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Đá Ong dung tích 7 triệu m3nước, diện tích mặt nước có khoảng 400 ha Lượng nước phân bổ trong năm không đều, về mùa mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Sông ngòi, hệ thống nông giang của huyện Tân Yên là một yếu tố rất cơ bản và thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và vận tải đường thủy, tuy nhiên việc sử dụng vào các lĩnh vực vận tải chưa được khai thác hết tiềm năng [52, tr.7-8]
Giao thông:
Huyện Tân Yên có các tuyến đường giao thông thủy và bộ là:
- Đường 398 từ thành phố Bắc Giang đi thị trấn Cao Thượng, thị trấn Nhã Nam, ngược lên Cầu Gồ (Yên Thế)
- Đường 295 nối thị trấn Vôi (Lạng Giang) qua thị trấn Cao Thượng đến thị trấn Thắng (Hiệp Hòa) qua cầu Vát sang quốc lộ 3 đi Hà Nội, theo đường 35 sang Kim Anh, Đa Phúc, Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Trang 17- Đường 294 nối thị trấn Kép (Lạng Giang) qua Bố Hạ, Nhã Nam sang
Lữ Vân, cầu Ca (Thái Nguyên)
- Đường 298 từ Đình Nẻo (Liên Sơn) đi Việt Yên ra quốc lộ 1A đi
Mặt khác, chúng ta cũng nhận thức rõ những mặt không thuận lợi của điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý: không có đường giao thông quan trọng của quốc gia chạy qua, thảm rừng tự nhiên của những năm gần đây không còn nữa, kéo theo sự thu hẹp và mất hẳn nhiều loại động thực vật Thổ nhưỡng ngày càng bị xói mòn, lượng mưa phân bổ không đều trong năm, nguồn nước mới chỉ đủ cung cấp cho 62% diện tích đất canh tác.Đó là những khó khăn đặt
ra cho Tân Yên thực hiện công tác điều tra quy hoạch cơ bản, ưu tiên cho việc giữ gìn và bồi đắp tự nhiên trong thế kỷ mới
* Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội:
Về dân số:
Theo tổng điều tra năm đầu tách huyện (6/11/1957) dân số của huyện là 56.806 người.Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số của
Trang 18huyện là 158.547 người.Năm 2010 là 158.547 người Như vậy sau hơn 50 năm thành lập huyện (1957 - 2010) dân số đã tăng trên 10 vạn người Bình quân mỗi năm tăng khoảng trên 2 nghìn người
Biểu đồ thống kê dân số trung bình và mật độ dân số các xã, thị trấn năm 2010
Mật độ dân số trung bình của huyện là: 774 người/km 2
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tân Yên năm 2010)
Trang 19Dân tộc:
Tân Yên là vùng đất hợp cư Năm 2012, người Kinh chiếm đa số, còn các dân tộc khác bao gồm: người Tày có 987 người, người Nùng có 651 người, người Dao 33 người, Cao Lan 32 người, Sán Chí 11 người, Sán Dìu 23 người, người Hoa 54 người, các dân tộc khác 114 người (tổng số có 1905 người)
Về lao động:
Thời điểm cuối năm 2010 tổng lao động quy đổi: 94.088 người bằng 62,3% dân số Lao động ở nông thôn: 89.376 người bằng 59,2% dân số Lao động ở thị trấn, thị tứ: 4762 người bằng 3,1% dân số
Chất lượng lao động: số người cử nhân kỹ thuật là 7219 người bằng 7,67%; lao động trình độ sơ cấp là 8015 người bằng 7,56%; lao động có trình
độ cao đẳng, đại học là 8996 người bằng 9,25%; số lao động chưa qua đào tạo
đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng bộ chính quyền và nhân dân huyện Tân Yên đã không ngừng nỗ lực phát huy truyền thống của quê hương
Trang 20đất nước và đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, góp một phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước
* Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Tân Yên đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp
Những thuận lợi: Tân Yên có tài nguyên đất đa dạng, phong phú, khí
hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và nguồn nước tưới tiêu chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp Sự đa dạng về thổ nhưỡng và truyền thống canh tác lâu đời của nhân dân là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp với đa dạng các loại sản phẩm, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Tân Yên có nguồn lao động dồi dào (số người trong độ tuổi lao động chiếm 62,3% (2010) tổng dân số, nguồn lao động có khả năng tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuận và tiếp cận sản xuất hàng hóa Đây là điều kiện thuận lợi, tạo tiền đề cho quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cuối huyện
Những khó khăn: Tân Yên là huyện có địa hình phức tạp bao gồm cả
vùng chiêm trũng, vùng đồi gò và vùng núi, độ dốc cao, trong khi đó hệ thống thủy lợi ở một số nơi được xây dựng từ lâu, đã xuống cấp hiệu quả tưới tiêu thấp, chi phí sản xuất lớn Nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng vẫn còn thấp, số lao động chưa qua đào tạo và không có việc làm ổn định chiếm tỷ lệ cao, chưa thu hút được lao động, dẫn đến tình trạng lao động bỏ đi làm ăn theo thời vụ ngày càng nhiều Bên cạnh đó là quá trình đô thị hóa ngày càng lớn, dẫn đến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp Số cán bộ có trình độ chuyên môn chưa sâu, cán bộ quản lý chưa năng động đã dẫn đến nhiều yếu kém
1.1.2 Quá trình Đảng bộ huyện Tân Yên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trước năm 2006
Thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng bộ huyện Tân Yên đã lãnh đạo nhân dân khai thác ngày càng hiệu quả hơn tiềm năng, thế mạnh của địa phương Sau 30 năm
Trang 21thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế nông nghiệp huyện Tân Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ cho giai đoạn tiếp theo Các thành tựu đó được thể hiện trên nhiều mặt
Các mục tiêu kinh tế do các Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (1996), XVIII (2001) đề ra đều đạt, một số mặt có bước tăng trưởng khá, nền kinh tế dần đi vào thế ổn định Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc năm 2006 đạt 77196 tấn, tăng 11% so với kế hoạch Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,1% Việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản được huyện đầu tư chú trọng Chương trình sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hòa đã được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã tạo ra bước ngoặt về phát triển nông nghiệp Cấp ủy, chính quyền
từ huyện đến cơ sở đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp: chuyển đổi diện tích, dồn điền đổi thửa, áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất cây trồng, có cơ chế chính sách về trợ giúp giống, vốn, khuyến khích các hộ nông dân Đến năm 2005 đã chỉ đạo chuyển đổi được 1030 ha diện tích cấy lúa hiệu quả thấp sang sản xuất khác có hiệu quả kinh tế cao hơn [12, tr.2]
Trong đó, chuyển sang nuôi trồng thủy sản kết hợp cấy lúa 460ha, chuyển sang trồng mầu hàng hóa (lạc, dưa các loại, rau mầu thực phẩm) 280
ha , chuyển sang trồng cây ăn quả 290 ha Chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi ruộng xong ở 129 thôn, chiếm 35% số thôn có ruộng cần đổi Đã tập trung chỉ đạo xây dựng, hình thành một số vùng sản xuất tập trung: vùng nuôi thủy sản
ở các xã vùng trũng, vùng sản xuất lạc đông làm giống ở các xã khu vực trung tâm, vùng sản xuất rau quả thực phẩm gắn với chế biến xuất khẩu ở nhiều xã, vùng vải thiều sớm ở các xã phía Đông của huyện Đặc biệt, đã chỉ đạo xây dựng được 33 cánh đồng sản xuất tập trung quy mô từ 3 ha trở lên, cho thu nhập từ 50-80 triệu đồng/ha/năm, đưa tổng số diện tích cho thu nhập trên 50 triệu đồng /ha/ năm trong toàn huyện đạt 450 ha chiếm 5% diện tích đất trồng cây hàng năm Đã chỉ đạo hình thành được vùng sản xuất lúa có năng suất cao
Trang 22ở những khu đồng chủ động nước, góp phần đưa năng suất lúa toàn huyện đã tăng từ 42 tạ/ha (2001) lên 49,2 tạ/ha (2005) [12, tr.3]
Phát huy thế mạnh của huyện trung du miền núi, tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 02-NQ/HU về phát triển kinh tế vườn đồi, phát triển cây ăn quả hàng hóa có giá trị, các cấp ủy và chính quyền đã vận động, khuyến khích nông dân cải tạo vườn tạp, hình thành vùng cây ăn quả, đặc biện là vải thiều sớm Năm 2001, diện tích nhãn, vải cho sản phẩm 1.021 ha, sản lượng đạt 1.610 tấn Đến năm 2005 diện tích nhãn, vải cho sản phẩm 1801 ha, sản lượng đạt 4275 tấn, giá trị sản phẩm 22,3 tỷ đồng
Trong chăn nuôi, chuyện đã chỉ đạo phát triển toàn diện cả về gia súc, gia cầm, thủy sản, chú trọng áp dụng giống mới và đầu tư thâm canh tăng năng suất, khuyến khích nông dân xây dựng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả Chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi bình quân 5 năm (2001 - 2005) đạt 195,7 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 40,3% giá trị sản xuất nông nghiệp, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 10% Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 9.662 tấn/năm, nhịp độ tăng bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) là 11,7% Huyện đã chỉ đạo xây dựng các mô hình gia đình nuôi lợn theo quy mô lớn, đạt khối lượng sản phẩm hàng hóa cao Đến cuối năm 2005, toàn huyện có hơn 300 hộ nuôi lợn đạt sản lượng trên 5 tấn thịt lợn hơi/năm, hơn 400 hộ thường xuyên nuôi từ 50 - 300 con/năm Một số trang trạng nuôi lợn có quy mô lớn, điển hình là trang trại của ông Đào Tiến Sang ở
xã Ngọc Vân nuôi 2.400 lợn thịt, trang trại của ông Nguyễn Văn Nhân ở Cao
Xá nuôi 500 lợn thịt và 60 lợn nái ngoại [16, tr.238]
Chỉ đạo phát triển mạnh chăn nuôi bò thịt theo chương trình cải tạo đàn bò Đến năm 2005, tổng đàn bò đạt 15.713 con vượt mục tiêu đề ra tại Đại hội XVIII (2001) là 3.713 con, trong đó bò lai Sind chiếm 29% tổng đàn thấp hơn mục tiêu 1% Sản lượng thịt bò xuất chuồng là 207 tấn, giá trị hàng hóa 4,6 tỷ đồng Trên địa bàn huyện có hơn 30 hộ chăn nuôi bò với quy mô lớn từ 5 - 20 con
Trang 23Chăn nuôi gia cầm được khuyến khích phát triển mạnh, chú trọng việc
áp dụng các giống có năng suất cao, xây dựng mô hình trang trại sử dụng các chế phẩm thức ăn chăn nuôi tổng hợp, thực hiện các biện pháp phòng dịch Tổng đàn gia cầm năm 2001 đạt 1,18 triệu con; năm 2005 đạt 1,32 triệu con Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng năm 2001: 1.482 tấn, năm 2005: 2.671 tấn Trong huyện có 51 cơ sở ấp trứng sản xuất giống gia cầm, 1.515 hộ thường xuyên nuôi gia cầm từ 100 con trở lên, 352 hộ nuôi 500 - 1000 con,
176 hộ nuôi từ 1000 - 2000 con, một số ít hộ nuôi tới 3000 con
Về thủy sản huyện đã chỉ đạo phát triển mạnh cả về diện tích, quy mô
và mức độ đầu tư, chỉ đạo quy hoạch chuyển diện tích vùng trũng sản xuất một vụ lúa cấy không ăn chắc sang nuôi trồng thủy sản Từ năm 2001 - 2015, diện tích nuôi cá đạt 725 ha, vượt mục tiêu 75 ha, sản lượng đạt 1.135 tấn
Bình quân 5 năm (2001 - 2005 tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 485,1 tỷ đồng Trong đó, trồng trọt 274,3 tỷ đồng, chiếm 56,5% giá trị chăn nuôi 195,7 tỷ đồng, chiếm 40%; dịch vụ nông nghiệp là 15,1 tỷ đồng, chiếm 3,1% Giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh tác đạt 21,2 triệu đồng Tổng sản lượng lương thực bình quân đạt 73.943 tấn/năm, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 1,7% Bình quân lương thực là 454,1kg/người/năm (mục tiêu đại hội đề ra là 450kg/người/năm) [16, tr.238-239]
Về cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác ngày càng tốt hơn các nguồn lực, phù hợp với xu thế phát triển và yêu cầu thị trường Qua nhiều năm trăn trở tìm hướng đi, cách giải quyết, trên
cơ sở khảo sát quy hoạch với những chính sách kinh tế đòn bẩy, bước đầu tạo được sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, thủ công nghiệp dịch vụ (năm 2001 tỷ trọng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản là 74,9%; giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản - phân phối điện năng
là 12,6%; giá trị sản xuất dịch vụ là 12,5%; đến năm 2005 tương ứng là 72,9% - 15,5% - 11,6%) Giá trị sản xuất bình quân đầu người từ 3,1 triệu đồng năm 2000 tăng lên 3,9 triệu đồng năm 2005 [12, tr.3]
Trang 24Như vậy bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Tân Yên đã khai thác mọi tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp là trọng tâm, với quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ, giống, đổi mới kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Do đó sản xuất nông nghiệp đạt năng suất cao, thúc đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm từ 17,73% (năm 2001), xuống còn 5,25% (năm 2004); đến năm 2005 thực hiện tiêu chí hộ nghèo mới do Nhà nước quy định nên số hộ nghèo tăng lên là 9,322 hộ, tỷ lệ 23,38% so với tổng số hộ
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành kinh tế nông nghiệp Tân Yên còn bộc lộ những tồn tại cần khắc phục Do thời tiết diễn biến phức tạp, hạn hán liên tục ảnh hưởng đến sản xuất vụ mùa, vụ đông; dịch cúm gia cầm, dịch
lở mồm, long móng ở gia súc có nguy cơ bùng phát, giá cả vật tư có nhiều biến động; chuyển dịch cơ cấu kinh tế có chuyển biến nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao sức cạnh tranh thị trường còn hạn chế, giống lúa chất lượng cao còn thấp Xét trên mặt bằng chung, vị thế người nông dân Tân Yên vẫn chưa tương xứng với sự phát triển chung của ngành, của đất nước Thu nhập của nông dân thấp nhất trong xã hội, yếu thế, bị động và chịu nhiều rủi ro trong sản xuất Lối làm ăn cá thể; thiếu kỹ năng sản xuất, thiếu thông tin thị trường… Cơ cấu sản xuất chưa ổn định, thiếu tầm nhìn dài hạn dẫn đến hệ quả: đa số nông dân bị cuốn theo vòng xoáy của thị trường “giá lên thì đua nhau làm, giá xuống thì đua nhau bỏ” Bên cạnh đó thì đa số nông dân vẫn không biết sử dụng máy móc, tận dụng Internet: áp dụng khoa học kỹ thuật để tiết giảm chi phí, gia tăng chất lượng sản phẩm, liên kết thị trường Việc dùng phân gì, trồng cây gì, sử dụng thuốc trừ sâu như thế nào… hầu hết đều lệ thuộc vào sự tư vấn từ bên ngoài Tư tưởng làm ăn mùa vụ, cộng thêm sự tư vấn đôi khi vì lợi nhuận, vì lợi ích cá nhân đã khiến sản phẩm nông dân làm
ra cho người tiêu dùng và cho cả gia đình họ nhiều khi trở thành hiểm họa,
Trang 25điều này đòi hỏi phải có những biện pháp chỉ đạo kịp thời nhằm khắc phục những tồn tại đó
Tất cả những thành tựu và hạn chế còn tồn tại trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn trước năm 2006 là cơ sở, là những kinh nghiệm quý báu để Đảng bộ huyện Tân Yên lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm tiếp theo
1.2.Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010
1.2.1 Chủ trương của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về kinh tế nông nghiệp
Chủ trương của Đảng:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đưa nước
ta bước vào thời kỳ đổi mới Về căn bản, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển rõ rệt Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới ấy, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị.Những thành tựu đạt được, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, đã khẳng định sự đúng đắn về đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời là điều kiện góp phần đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục nhận định nước ta chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước Đại hội khẳng định “Mục tiêu của công nghiệp hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý” [27, tr.80] Đại hội chỉ rõ phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Đặc biệt Đại hội VIII của Đảng rất coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; đồng thời đề ra nội dung cơ bản của nhiệm vụ này là: “Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi” [27, tr.87]
Năm 1997, thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Hội nghị lần 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (12/1997) ra Nghị quyết tiếp tục đẩy
Trang 26mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, phát huy hiệu quả hợp tác quốc tế, cần, kiệm, để CNH, HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000 Nghị quyết chỉ rõ: phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH và hợp tác hóa, dân chủ hóa, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn
Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội VIII, tháng 11/1998, Bộ Chính trị ra Quyết định số 06/NQ-TW về một số vấn đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết đã đưa ra 4 quan điểm và 6 mục tiêu về nông nghiệp, nông thôn trong đó nhấn mạnh: Phải coi trọng CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài Đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế gồm phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, hình thành, hình thành một số nghề liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường trên địa bàn nông thôn, phát huy lợi thế từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển hàng hóa đa dạng Phát triển nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng luật, tạo điều kiện khuyến khích các hộ nông dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn
Dựa trên cơ sở Nghị quyết 06/NQ-TW của BCT, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới để khuyến khích phát triển nông nghiệp Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại.Đây là lần đầu tiên vấn đề kinh tế trang trại được Nghị quyết thừa nhận Có thể nói đây là hình thức khuyến khích nền kinh tế hộ, kinh tế tư nhân sản xuất với quy mô lớn, trình độ cao; tăng đầu tư cho nông nghiệp; mở rộng quyền của người sử dụng đất, thừa nhận đất đai có giá Nghị quyết 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về
Trang 27một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhằm phát huy lợi thế to lớn của nền nông nghiệp nước ta
về tiềm năng thiên nhiên, về truyền thống nông, lâm nghiệp và thực hiện mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp mạnh, phát triển bền vững, áp dụng công nghệ mới, từng bước được hiện đại hóa, vươn lên trở thành một nền nông nghiệp với những ngành sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh ngày càng cao trong quá trình hội nhập quốc tế Trong Nghị quyết đã cho phép chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp sang trồng màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, thực hiện đa dạng hóa cây trồng để tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Nghị quyết đã thể hiện sự đổi mới tư duy theo hướng sản suất nông nghiệp hàng hóa, lấy hiệu quả làm mục tiêu
- Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) đã tiếp tục đề ra đường lối CNH, HĐH đất nước.Đại hội khẳng định “phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm” [27, tr.25] Về phát triển nông nghiệp, đại hội nêu rõ: “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của vùng” [27,tr.68] Đại hội đã đề ra phương hướng với tiềm năng và lợi thế của khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương Ứng dụng nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ sinh học, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ , h́ình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn” [36, tr 276]
Trên tinh thần của Đại hội IX của Đảng, ngày 18/3/2002 tại Hội nghị thứ nhất 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra Nghị quyết số 15 - NQ/TW về “đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp Nghị quyết đã khẳng định vai trò, vị trí của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đồng thời
Trang 28đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn cụ thể là :
Xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, hiệu quả
và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh trên cơ
sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hiện đại, [32,tr.96]
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục đề ra chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn Văn kiện đại hội
X của Đảng nhấn mạnh, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Nghị quyết Đại hội nêu rõ: “Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” [33, tr.88]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khóa X, tháng 7/2008 tiếp tục khẳng định cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn:
Trong quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn tiếp tục giữ vai trò chiến lược là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Do đó, nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì nông dân chính là chủ thể của
Trang 29quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới, gắn với xây dựng
cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt, [29,tr.3]
Tại Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng (khóa X) cũng đã thông qua nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp nông dân, nông thôn, xác định mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2020 cùng với biện pháp thực hiện ở từng giai đoạn Nghị quyết tiếp tục khẳng định những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả Nghị quyết chỉ rõ: “nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu tổng quát của Đảng đề ra là:
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở nông thôn, cácvùng khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nhân - nông dân, trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội
và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [36]
Trang 30Tiếp đó, ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 491/QĐ-TTg về “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”.Bộ tiêu chí về nông thôn mới là cụ thể hóa đặt tính của xây dựng Nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã, huyện, tỉnh lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Tiêu chí đối với huyện được công nhận huyện nông thôn mới phải có 75% số
xã trong huyện đạt nông thôn mới; tỉnh đạt nông thôn mới phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định số 800/QĐ-TTG, ngày 4/6/2010 Gồm 11 nội dung, trong đó mục tiêu đến năm
2015 cả nước có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, đến năm 2020 có 50%
số xã đạt tiêu chí về nông thôn mới
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Từ ngày 15 - 17/11/2005, Đại hội Đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ tỉnh Bắc Giang khẳng định: Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Giang chủ động và tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy hơn nữa các tiềm năng, lợi thế của địa phương, đẩy nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh
tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, phấn đấu đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người tăng 1,8 lần trở lên so với năm 2005 Tập trung cao phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, mở rộng thị trường, tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển đô thị, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên Chú trọng phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Quan tâm xây dựng và phát triển văn hóa, đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là đối với vùng sâu, vùng cao, vùng có nhiều khó khăn Tăng
Trang 31cường quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp phát triển Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo bước chuyển biến tích cực trong quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực
Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI và các Nghị quyết chuyên
đề đã được thông qua có ý nghĩa quyết định sự phát triển của tỉnh trong thời
kỳ 2006 - 2010 và những năm tiếp theo Đó cũng là quyết tâm của toàn thể Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh
Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI (11/2005) đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XV và đề
ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2005 - 2010
Đại hội đã đề ra các chỉ tiêu phát triển kinh tế, trong đó về nông nghiệp: + Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm của nông - lâm nghiệp tăng bình quân 4-4,2%/năm
+ Cơ cấu nông nghiệp chiếm 29,5-31,5% trong cơ cấu GDP năm 2010 của tỉnh (Công nghiệp - xây dựng 34 - 35,5%, dịch vụ chiếm 34,5 - 35%)
+ Giá trị sản xuất bình quân trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt
33 - 34 triệu đồng/ha/năm
Đồng thời, Đảng bộ tỉnh đã đưa ra các Chương trình KT - XH trọng tâm, trong đó có: chương trình CNH, HĐH nền kinh tế, chú trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, chương trình sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp…
Để hoàn thành các nhiệm vụ phát triển KTNN, cần phải có các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch CCKT trong nội bộ ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH Đưa nhanh những thành tựu của công nghệ sinh học vào sản xuất, tăng nhanh năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi; phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, chú
Trang 32trọng xây dựng các vùng chuyên canh nông sản tập trung gắn với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường Phát triển kinh tế trang trại, kinh tế rừng.Mở rộng các mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông, lâm sản Đẩy mạnh phong trào xây dựng cánh đồng 50 - 100 triệu đồng/ha/năm,
hộ nông dân thu nhập 50 - 100 triệu đồng/năm [84,tr 17-18]
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 7 (khóa X)
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Tỉnh ủy Bắc Giang đã đề ra Kế hoạch
số 36 - KH/TU về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn tiếp tục giữ vị trí, vai trò chiến lược, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Do đó, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt [87, tr.1]
Trong đó mục tiêu tổng quát và lâu dài về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn là:
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -
Trang 33xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội
và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, [87, tr.2]
Từ khi có chính sách đổi mới, sự phát triển năng động của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ dẫn đến sự bùng nổ về đô thị hóa mà còn tác động mạnh mẽ đến các hoạt động tinh tế - xã hội ở nông thôn Mặt khác, những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, đã góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi Nông phẩm hàng hóa tăng lên thúc đẩy thương nghiệp ở nông thôn phát triển Sản xuất phát triển làm cho cuộc sống của người dân ở nông thôn từng bước được cải thiện, sinh hoạt vật chất và tinh thần được nâng cao Do đó, mỗi gia đình đều có nhu cầu nâng cấp nơi ăn, chốn ở, mỗi thôn, xóm đều có nhu cầu nâng cấp đường sá, tu bổ, sửa chữa các công trình công cộng như trường học, trạm y tế,…Đó là nhu cầu đúng đắn ở khắp mọi nơi trong cả nước Nhu cầu này được thực hiện chủ yếu bằng nguồn vốn của nhân dân và của từng địa phương, nên thường tự phát, gây lên tình trạng không hợp lý trong sử dụng, lãng phí đất đai, vật liệu xây dựng Mặt khác, tình trạng phát triển một cách tự phát cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ tạo nên tình trạng lộn xộn về phong cách kiến trúc, về cảnh quan, thậm chí có khi còn ảnh hưởng bất lợi tới môi trường sinh thái.Trước thực trạng này, Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được ban hành tại Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ, đã thống nhất hoạt động của các ngành liên quan triển khai trong khu vực nông thôn một cách có hiệu quả nhất [98, tr.7-8]
Trang 341.2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện Đảng bộ huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp
* Về chủ trương:
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và tỉnh ủy Bắc Giang từ ngày 11 đến ngày 13/10/2005, tại khu Hội nghị huyện, đã tiến hành Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX, nhiệm kỳ (2005 - 2010) Đại hội đã đề ra phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ 5 năm (2006 - 2010); đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2010, giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng 1,5 lần so với 2005 (7,3 triệu đồng/người/năm), giá trị 1 ha canh tác đạt 35 triệu đồng/năm; tập trung cao phát triển công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nâng chất lượng hiệu quả các loại dịch vụ để có cơ cấu kinh
tế đến 2010 (nông -lâm - thủy sản, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản, dịch vụ) là 62% - 21% - 17% Tăng cường kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân [16, tr.252]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ XIX; huyện ủy đã xây dựng 6 chương trình phát triển kinh tế
xã hội trọng tâm của huyện giai đoạn 2006 - 2010 Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 6/6/2006 về sản xuất nông nghiệp theo Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong đó đẩy nhanh phát triển kinh tế trang trại, mô hình cánh đồng thu nhập cao, hộ có thu nhập cao
Tiếp theo Ban thường vụ Huyện ủy Tân Yên đã xây dựng Kế hoạch số 63-KH/HU ngày 30/9/2008 về nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền các Nghị quyết về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Sau khi tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), Ban thường vụ huyện ủy ban hành Kế hoạch số 66-KH/HU, ngày 17/10/2008 thực hiện Chương trình hành động của tỉnh ủy về
Trang 35thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương
Đảng (Khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Huyện ủy, UBND
đã ban hành 43 văn bản thực hiện Nghị quyết Những mục tiêu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết 26-NQ/TW đã được Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX cụ thể hóa thành các chương trình: Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, Chương trình phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng chủ yếu; Chương trình xây dựng nông thôn mới [46, tr.1-2]
Để tiến hànhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Huyện ủy đã đưa ra một số giải pháp:
Thứ nhất, Huy động nguồn vốn và các chính sách đầu tư Để thực hiện
các chương trình kinh tế - xã hội nhu cầu về vốn là rất lớn, cần huy động tối
đa các nguồn vốn để đầu tư sản xuất; nguồn vốn từ ngân sách; vốn từ các doanh nghiệp và huy động trong nhân dân; vốn tín dụng liên doanh, liên kết
Thứ hai,Mở rộng thị trường, quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa
thực hiện CNH, HĐH gắn liền với quá trình mở rộng thị trường
Thứ ba, Nâng cao hiệu quả sử dụng, đất đai, thông qua việc giải quyết
thủy lợi và bố trí cây trồng hợp lý, tăng hệ số sử dụng đất, mở rộng diện tích
vụ Đông, khai thác đưa vào sử dụng diện tích đồi gò, ruộng trũng, khai thác thâm canh có chiều sâu, tăng độ phì cho đất tạo giá trị cao trên một đơn vị diện tích
Khai thác, phát huy thế mạnh của các vùng trong huyện, Huyện ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch sản xuất theo từng vùng như: vùng sản xuất lương thực, vùng trồng cây công nghiệp, vùng trồng cây ăn quả, khuyến khích một
số diện tích trồng cây nông nghiệp có năng suất thấp, bấp bênh sang trồng cây, nuôi con có giá trị kinh tế cao hơn
Thứ tư, Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và giải quyết tốt vấn đề
môi trường
Trang 36* Sự chỉ đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tân Yên giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010
- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung:
Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa là một trong những nội dung cơ bản thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp từ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp đa dạng, phát triển các vùng sản xuất tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả cao, ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ sản xuất
Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung : ngoài 9 sản phẩm theo chương trình của tỉnh (lạc, lúa chất lượng, rau quả chế biến, vải, lợn thịt, gia cầm, thủy sản) huyện chọn thêm 2 sản phẩm là: rau quả thực phẩm và nhóm sản phẩm mới, còn hiếm trên thị trường Trong đó coi trọng việc thúc đẩy việc tập trung ruộng đất thành vùng có quy mô từ 3 ha trở lên, khuyến khích liên kết nhóm hộ và sản xuất theo hợp đồng bao tiêu sản phẩm của doanh nghiệp, khuyến khích cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Trong lĩnh vực trồng trọt: Đã hình thành các vùng sản xuất tập trung
quy mô lớn: cây ăn quả, rau hàng hóa, vùng nguyên liệu do công nghiệp chế biến xuất khẩu Huyện ủy đã ban hành Chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung với 9 loại sản phẩm Đến năm 2010, sau hơn hai năm thực hiện đã có 5 sản phẩm đã đạt được và vượt mục tiêu chương trình đó là: Lúa chất lượng, rau chế biến, thủy sản, vải sản xuất theo hướng Vietgap, nhóm sản phẩm mới, trong đó có một số sản phẩm như hạt lai F1, hạt giống lúa thuần, nấm có khả năng tại ra đột phá trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn Đã hình thành các vùng cây hàng hóa tập trung quy mô lớn như: vùng lạc tại các xã Ngọc Vân, Song Vân, Lam Cốt, Ngọc Châu, Cao Thượng, Tân Trung, Việt Lập, Quế Nham, Ngọc Thiện; vùng vải sớm tại các xã Phúc Hòa,
Trang 37Tân Trung, Liên Sơn, Cao Thượng, Hợp Đức; vùng rau quả cung cấp cho chế biến và xuất khẩu tại các xã Cao Xá, Ngọc Châu, Quang Tiến, Lam Cốt…Xây dựng 53 mô hình trình diễn cây con, giống mới về các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản với 247 lớp cho khoảng 11.000 lượt người tham dự tiếp thu [46, tr.3-4]
Kết quả đến hết năm 2008 đã xây dựng được 55 cánh đồng thu nhập cao cấp huyện với diện tích 205 ha: riêng vụ xuân năm 2009 toàn huyện có 32 cánh đồng thu nhập cao, 4 vùng trồng dưa bao tử tập trung ở các xã: Quang Tiến, Ngọc Thiện, Việt Lập, Cao Xá Tổng sản lượng cây có hạt 3 năm (2006
- 2008) đạt bình quân 73.253 tấn, bình quân đầu người 430 kg Các cây trồng vật nuôi phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa Năm 2008 diện tích rau quả các loại đạt 2,284 ha, đạt giá trị trên 60 tỷ đồng.Trong đó rau quả chế biến xuất khẩu 180 ha, giá trị trên 10 tỷ đồng Năm 2009, dưa bao tử 129 ha, tăng 84 ha so với năm 2008, giá trị đạt bình quân 80 triệu đồng/ha/vụ Diện tích nhãn, vải cho sản phẩm 2.107 ha, sản lượng 13.500 tấn, gấp 3 lần năm
2005, giá trị sản phẩm 73,5 tỷ đồng
Năm 2007 và 2008, do thời tiết không thuận lợi nên kết quả nông nghiệp bị thiệt hại nặng nề, diện tích năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu là giảm hơn 2005 Rét đậm rét hại đầu năm 2008 làm thiệt hại khoảng
5 tỷ đồng; mưa lũ cuối năm làm 1400 ha lúa, hoa màu không được thu hoạch,
83 ha ao hồ bị ập tràn, làm thiệt hại khoảng 21 tỷ đồng Tuy nhiên, nông - lâm
- thủy sản vẫn phát triển khá Giá trị bình quân đạt 921 tỷ đồng, nhịp độ tăng bình quân 16,85% Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 888,3 tỷ đồng, tăng bình quân 16,9% [12, tr.8-9]
Trong lĩnh vực chăn nuôi: Đã hình thành các trang trại chăn nuôi công
nghiệp tập trung quy mô lớn tại các xã Ngọc Châu, An Dương, Việt Ngọc, Ngọc Vân, Phúc Hòa…, các trang trại chăn nuôi tập trung, cơ bản cách biệt với khu dân cư đã ô nhiễm môi trường và an toàn dịch bệnh; theo quy hoạch xây dựng NTM mỗi xã đều quy hoạch từ 2 - 3 khi chăn nuôi tập trung, nhưng
Trang 38việc thực hiện còn hạn chế Trên địa bàn chưa có cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi và cơ sở giết mổ tập trung (mới có điểm quy hoạch giết mổ tập trung 1
ha tại xã Ngọc Châu
Ngành chăn nuôi của huyện Tân Yên trong những năm 2006 - 2010 đã được đẩy mạnh và phát triển đa dạng theo hướng xây dựng mô hình trang trại gắn với phát triển kinh tế hộ gia đình phục vụ nhu cầu của thị trường trong huyện và cho xuất khẩu Ngành chăn nuôi của huyện đã chủ động, tích cực đưa các loại giống có năng suất, chất lượng cao, áp dụng các phương pháp chăn nuôi tới hộ nông dân, chú trọng khuyến khích các hộ chăn nuôi lớn, đạt năng suất cao Công tác phòng chống dịch bệnh cần được quan tâm đúng mức, nhất là khoanh vùng, dập dịch gia cầm không để dịch cúm gia cầm tái phát… Nhờ vậy đã giúp cho ngành chăn nuôi ổn định và phát triển, tỷ trọng của ngành chăn nuôi đóng góp vào tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp ngày càng nâng cao
Kết quả toàn huyện có 32 trang trại tiêu biểu, chăn nuôi hàng hóa phát triển mạnh Năm 2008 đàn bò đạt 27.547 con, tăng hơn 2005
là 11.834 con; Đàn lợn là 170.046 con, đến 2010 là 195.718 con tăng 82.601 con so với năm 2005, giá trị sản phẩm 484 tỷ đồng Tổng đàn gia cầm 1.329 nghìn con, giá trị sản phẩm 103,2 tỷ đồng, tăng 61% so với 2005, bình quân tăng 17,2%/năm Thủy sản 891 ha, sản lượng 3.432 tấn, giá trị hàng hóa 68,8 tỷ đồng, tăng 30% so với 2007 [16, tr.269-270]
Trong nuôi thủy sản: Đã quy hoạch các vùng nuôi thủy sản tập trung tại
các xã Ngọc Châu, Ngọc Thiện, Song Vân, Cao Thượng, Việt Lập, Quế Nham…hạ tầng tại các khu vực nuôi thủy sản tập trung đầu tư kiên cố hệ thống nước vào, ra đảm bảo tốt cho nuôi thâm canh, an toàn dịch bệnh, có hộ đạt năng suất trên 25 tấn/ha/năm Để đẩy mạnh phát triển thủy sản tập trung tại xã Liên Chung để xin vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương và đang lập quy hoạch làng nuôi thủy sản tập trung tại xã Ngọc Châu với quy mô 50 ha
Trang 39Kết quả đến 2010 tổng sản lượng thủy sản toàn huyện đạt 3382 tấn năm
2005 là 1135 tấn tăng 2247 tấn, trong đó chủ yếu là sản phẩm nuôi trồng Năm 2010 là 2909 tấn so với 473 tấn sản lượng thủy sản đánh bắt Giá trị sản xuất thủy sản trên địa bàn cũng tăng mạnh năm 2010 đạt 64988 triệu đồng so với 2005 là 12492 triệu đồng, tăng 52496 triệu đồng [62, tr.95-96]
Trang 40BẢNG SỐ LIỆU