1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

101 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI .... Đánh giá tác động của chính sách liên kết thông tin khoa học và công ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUANG LỢI

LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ

NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUANG LỢI

LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ

NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Hải Yến

Hà Nội, 2017

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Kết cấu của Luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI 12

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 12

1.1.1 Khái niệm chính sách 12

1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 16

1.2 Thông tin khoa học và công nghệ 17

1.2.1 Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ 17

1.2.2 Thông tin khoa học và công nghệ về sở hữu công nghiệp 19

1.2.3 Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ về sở hữu công nghiệp 23

Trang 4

1.2.4 Liên kết thông tin khoa học và công nghệ 25

1.3 Khái quát về nhãn hiệu 28

1.3.1 Khái niệm nhãn hiệu 28

1.3.2 Chức năng của nhãn hiệu 30

1.3.3 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu 33

1.3.4 Đặc điểm của nhãn hiệu 36

1.4 Khái quát về tên thương mại 37

1.4.1 Khái niệm tên thương mại 37

1.4.2 Các thành phần của tên thương mại 38

1.4.3 Điều kiện bảo hộ tên thương mại 39

1.4.4 Đặc điểm của tên thương mại 41

Tiểu kết chương 1 43

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI 44

2.1 Thực trạng liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong quản lý nhãn hiệu 44

2.1.1 Liên kết thông tin khoa học và công nghệ để thẩm định hình thức 44 2.1.2 Liên kết thông tin khoa học và công nghệ để thẩm định nội dung 48 2.1.3 Nhận thức của doanh nghiệp về thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu 51

2.2 Thực trạng thiếu liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 52

2.2.1 Thiếu liên kết thông tin khoa học và công nghệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước 52

Trang 5

2.2.2 Thiếu thông tin khoa học và công nghệ ngay trong cơ quan quản lý

nhà nước 55

2.3 Tác động từ thiếu liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 57

2.3.1 Tranh chấp giữa các doanh nghiệp do thiếu thông tin khoa học và công nghệ 57

2.3.2 Doanh nghiệp buộc phải thay đổi một phần nhãn hiệu 66

2.3.3 Doanh nghiệp buộc phải thay đổi hoàn toàn nhãn hiệu 67

Tiểu kết Chương 2 69

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI 70

3.1 Khung chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 70

3.1.1 Mục tiêu của chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ 70

3.1.2 Nội dung của chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ 71

3.1.3 Phương tiện của chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ 72

3.1.4 Chủ thể của chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ 73 3.1.5 Đối tượng hưởng lợi từ chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ 74

3.2 Nguồn thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 76

3.2.1 Nguồn thông tin khoa học và công nghệ về nhãn hiệu 76

Trang 6

3.2.2 Nguồn thông tin khoa học và công nghệ về tên thương mại 78

3.2.3 Nguồn nhân lực thông tin khoa học và công nghệ về nhãn hiệu và tên thương mại 81

3.3 Đánh giá tác động của chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 83

3.3.1 Đánh giá tác động dương tính 83

3.3.2 Đánh giá tác động âm tính 86

3.4 Đánh giá hiệu quả của liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại 90

3.4.1 Hiệu quả khoa học và công nghệ: hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu và tên thương mại 91

3.4.2 Hiệu quả quản lý: tiết kiệm thời gian để giải quyết khi xảy ra xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại 92

Tiểu kết Chương 3 96

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSDL cơ sở dữ liệu KH&CN khoa học và công nghệ SHCN sở hữu công nghiệp SHTT sở hữu trí tuệ

WIPO Tổ chức SHTT Thế giới

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hoạt động kinh doanh, nhãn hiệu là một công cụ quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận khách hàng Một nhãn hiệu được khách hàng thừa nhận một cách tích cực là một tài sản trí tuệ có giá trị trong trong toàn bộ khối tài sản mà một doanh nghiệp sở hữu Cùng với nhãn hiệu, tên thương mại cũng là một tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo hộ

Trong khi nhãn hiệu là các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch

vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau thì tên thương mại lại có chức năng phân biệt chính các chủ thể kinh doanh với nhau Mặc dù chức năng khác nhau nhưng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một dấu hiệu duy nhất lại thường được các doanh nghiệp này sử dụng như một tên thương mại đồng thời với nhãn hiệu Với các nguyên tắc xác lập quyền khác nhau, cụ thể là quyền đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở đăng ký còn quyền đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng, phạm vi quyền của hai đối tượng này khác nhau nhưng trên thực tế lại có những cách sử dụng giống nhau dẫn tới xung đột quyền giữa hai đối tượng này, gây khó khăn cho việc thực thi quyền của cả chủ sở hữu lẫn các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi

Nhãn hiệu được đăng ký của các doanh nghiệp thì các dữ liệu liên quan được lưu trữ tập trung về một đầu mối là Cục SHTT Còn với tên thương mại (tên doanh nghiệp) đăng ký và được cấp phép thì dữ liệu được lưu trữ tại Sở

Kế hoạch và Đầu tư tỉnh/thành phố và trong CSDL về đăng ký doanh nghiệp quốc gia Do đó, khi các doanh nghiệp cần đăng ký nhãn hiệu hoặc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới thì họ không thể biết được giữa nhãn hiệu hoặc tên thương mại cần đăng ký có trùng hoặc tương tự hay không Người làm

Trang 9

công tác cấp phép, tư vấn cũng không có cơ sở để xem xét việc này nên dễ xảy ra tình trạng tên thương mại được cấp phép trùng lắp với tên nhãn hiệu đã được đăng ký trước và ngược lại

Để quản lý nhãn hiệu và tên thương mại cần có một hệ thống CSDL thống nhất chung giữa các cơ quan quản lý để tránh việc tên thương mại và nhãn hiệu trùng lắp hoặc tương tự nhau

Nhận thức được tầm quan trọng đã nêu, tôi chọn Liên kết thông tin

khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại làm đề tài

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Liên quan đến chủ đề nghiên cứu của Luận văn, đã có các nghiên cứu:

Nguyễn Thị Hương (2009), Vai trò của thông tin KH&CN đối với việc

bảo hộ SHCN, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Trường Đại

học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Luận văn này đã: đưa ra một hệ thống lý thuyết, cơ sở lý luận có liên quan đến các khái niệm: thông tin, thông tin KH&CN, sở hữu công nghiệp, bảo hộ quyền SHCN, khảo sát thực tiễn trên địa bàn về việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN, phân tích việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn , tìm ra những nguyên nhân dẫn tới mặt hạn chế của việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN, đề ra các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả thông tin KH&CN vào việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Lê Toàn Thắng (2011), Vai trò của thông tin KH&CN trong việc quản

lý và bảo hộ nhãn hiệu”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN,

Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Luận văn này đã: khảo sát vai trò của thông tin KH&CN trong thẩm định hình thức và thẩm định nội dung để cấp GCNĐKNH tại Cục Sở hữu trí tuệ, khảo sát vai trò của thông tin

Trang 10

KH&CN trong việc sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại 20 doanh nghiệp (lớn, nhỏ và vừa) thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trên địa bàn thành phố , khảo sát vai trò của thông tin KH&CN trong thực thi quyền đối với nhãn hiệu tại cơ quan Thanh tra KH&CN thuộc Bộ KH&CN và thuộc Sở KH&CN

Lê Quốc Hội (2013), Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác

quản lý nhãn hiệu và tên thương mại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Luận văn này đã: xây dựng các tiêu chí để liên kết các nguồn thông tin nhãn hiệu, tên thương mại thành hệ thống cơ sở dữ liệu để phụ vụ công tác quản lý nhãn hiệu và tên thương mại tại tỉnh Bạc Liêu, đề xuất giải pháp để phục vụ công tác quản lý nhãn hiệu và tên thương mại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, từ hệ thống cơ sở dữ liệu nhãn hiệu và tên thương mại

Trần Hoàng Nguyên (2014), Liên kết thông tin KH&CN nhằm nâng

cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh),

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Luận văn này đã phân tích các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về liên kết thông tin KH&CN, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa; khảo sát thực tiễn có liên quan đến liên kết thông tin KH&CN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất phương hướng chung và các giải pháp cụ thể nhằm hình thành

và củng cố mối liên kết thông tin KH&CN để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, cũng đã có một số nghiên cứu về đề tài này, trong đó có Khóa

luận Mối quan hệ giữa bảo hộ tên thương mại, nhãn hiệu theo quy định của

pháp luật Việt Nam của Lê Thị Kim Nhung (2008); Khóa luận Bảo hộ nhãn

Trang 11

hiệu, tên thương mại, tên miền theo pháp luật Việt Nam hiện hành của Cầm

Thùy Linh (2011)

Các công trình này đã có sự nghiên cứu phân tích về các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tên thương mại Tuy nhiên, chưa thấy có công trình khoa học nào đề cập đến việc liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đề xuất mục tiêu nghiên cứu đề xuất chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại;

- Khảo sát thực trạng về chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại;

- Đề xuất chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2010-2015

- Phạm vi nghiên cứu về lĩnh vực: việc quản lý nhãn hiệu và tên thương mại, tranh chấp có liên quan đến nhãn hiệu và tên thương mại, xây dựng cơ sở

dữ liệu để quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

5 Mẫu khảo sát

Luận văn khảo sát các cơ quan/tổ chức sau đây:

- Doanh nghiệp:

Trang 12

+ Tổng công ty Lương thực Miền Bắc

+ Tổng công ty Lương thực Miền Nam

+ Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ Việt Nam (Vinconstec, J.S.C)

+ Doanh nghiệp tư nhân Toàn Thắng

+ Công ty cổ phần Y khoa Hoàn Mỹ

+ Cơ sở Nha khoa Hoàn Mỹ và Công ty TNHH Nha khoa Hoàn Mỹ + Công ty TNHH TM&DV Truyền thông VTV

+ Công ty Trách nhiệm hữu hạn xi măng Vinakansai Ninh Bình

- Bộ KH&CN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

6 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo:

Cần xây dựng chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ như

thế nào nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại?

Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ:

Hiện trạng thông tin khoa học và công nghệ trong quản lý nhãn hiệu và tên thương mại đang diễn ra như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo:

Để quản lý nhãn hiệu và tên thương mại, cần xây dựng chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ với nguồn thông tin nhãn hiệu từ Bộ

KH&CN, với nguồn thông tin về tên thương mại từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Giả thuyết nghiên cứu bổ trợ:

Thông tin khoa học và công nghệ trong quản lý nhãn hiệu và tên thương mại đang diễn ra theo chiều hướng độc lập, thiếu liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước về nhãn hiệu (Bộ KH&CN), về tên thương mại (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trang 13

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tài liệu từ nguồn các văn bản Pháp luật liên quan đến đề tài như Luật SHTT 2005, các nghị định, thông tư, tạp chí chuyên ngành để thu thập thông tin về cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Phương pháp xử lý thông tin: thu thập, thống kê, phân tích thông tin

từ công việc nghiên cứu tài liệu, bao gồm:

+ Thu thập, thống kê số liệu: trong lĩnh vực đăng ký Nhãn hiệu của Cục SHTT;

+ Phân tích số liệu: sắp xếp số liệu để có thể thấy được diễn biến của tập hợp số liệu nhằm đánh giá thực trạng và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu: Việc khó khăn của bảo hộ nhãn hiệu cũng như sự xâm phạm quyền

- Phương pháp logic - lịch sử: thu thập thông tin về các chuỗi sự việc trong quá khứ, sắp xếp các sự việc theo diễn biến, quan hệ nhân quả giữa các

sự việc để nhận biết được logic của quá trình phát triển sự việc

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

- Chương 2 Thực trạng về liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

- Chương 3 Xây dựng chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thương mại

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT THÔNG TIN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách

1.1.1 Khái niệm chính sách

Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm [7] Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp

Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:

- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị

pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà

chủ thể quyền lực mong đợi

- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể

quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó

- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động

của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra

Trang 15

- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời

khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)

- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một

đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ

thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý

Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một

ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:

- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích

thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )

- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện

Trang 16

một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là

cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách

- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói

trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh

doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó

trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn

thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau

- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất

đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực

chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới

những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo

tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những

biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm

“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung

Trang 17

lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó 1

Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ

có thể một vài cách tiếp cận trong đó

Định nghĩa của tác giả Luận văn:

Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách

là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [7; tr.29]

Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tuy nhiên, sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng

có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan, vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách

Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách

Tác động ngoại biên của chính sách

1 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia

Trang 18

- Tác động ngoại biên của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách

- Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính

- Tác động ngoại biên dương tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách

- Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách.2

1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ

Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc

(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành

pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì

chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều

lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN

Định nghĩa của tác giả Luận văn:

Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [7;31], Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:

2 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia , tr.29

Trang 19

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp

Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới

dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN

- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá

nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã

hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -

xã hội nói chung

1.2 Thông tin khoa học và công nghệ

1.2.1 Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ

Thông tin là phổ biến những tin tức đến các cá nhân, nhóm, tổ chức Phương tiện phổ biến có thể là sách báo, loa, radio, TV…

Trong thông tin người ta ít hoặc không quan tâm đến mức độ tiếp thu và phản ứng của người nhận

Trang 20

Thông tin (inform) có nghĩa là thông báo tin tức Ngày nay, thuật ngữ thu thập tin tức được sử dụng khá phổ biến Tin tức chính là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người Con người luôn có nhu cầu thu thập tin tức bằng nhiều cách khác nhau: đọc sách báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác Thông tin giúp làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định

Với những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật trong cuối thế kỷ XX

và đầu thé kỷ XXI này, thông tin đang ngày càng được truyền tải nhanh hơn,

đa dạng hơn Nếu biết nắm bắt, sử dụng tốt đặc điểm này, thông tin sẽ là ưu thế rất lớn cho con người trong cuộc sống, lao động và các hoạt động cạnh tranh đang ngày càng trở nên khốc liệt trên mọi bình diện

Những thông tin liên quan và hàm chứa những chi tiết, khía cạnh KH&CN được gọi chung là thông tin KH&CN Sau khi tiếp nhận thông tin KH&CN, nhà quản lý có các biện pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin (qua bộ phận R&D) Nhà quản lý đưa ra quyết định áp dụng thành tựu KH&CN (được truyền tải qua nguồn thông tin) đã được xử lý một cách có chọn lọc vào doanh nghiệp để góp phần cải thiện năng suất, tối đa hóa chất lượng sản phẩm và qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình

Tại Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý KH&CN đánh giá cao thông tin KH&CN với vai trò quan trọng của nó trong việc hỗ trợ, định hướng đầu tư, nâng cấp hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nước nhà Nhiều chính sách, ưu đãi, kế hoạch thiết thực được các nhà quản lý vĩ mô đưa ra nhằm mục đích này Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP, ngày 18 tháng 2 năm 2014, về hoạt động thông tin KH&CN với các nội dung về hoạt động, hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu

Trang 21

quốc gia về KH&CN, các biện pháp đảm bảo phát triển, tổ chức và quản lý nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là tổ chức, cá nhân hoạt động thông tin KH&CN tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan

Các loại hình hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: Thu thập, cập nhật

và xử lý các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và phát triển nguồn tin KH&CN; nghiên cứu và phân tích tổng hợp thông tin KH&CN phục vụ cho dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh

tế - xã hội khác; phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, các trang thông tin và cổng thông tin điện tử về KH&CN, thiết lập, triển khai các mạng thông tin KH&CN; ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng thư viện điện tử, thư viện số

Mạng thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc gia là mạng viễn thông dùng riêng phi lợi nhuận kết nối cộng đồng nghiên cứu trong nước với nhau, với cộng đồng nghiên cứu và đào tạo khu vực và quốc tế; ưu tiên kết nối các khu vực tập trung nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cơ

sở giáo dục đại học

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2014 và thay thế Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin KH&CN

1.2.2 Thông tin khoa học và công nghệ về sở hữu công nghiệp

Từ những quan niệm khái quát trên về thông tin, thông tin quản lý, thông tin KH&CN, Luận văn đưa ra định nghĩa thông tin KH&CN có liên

quan đến lĩnh vực bảo hộ quyền SHCN bao gồm các dữ liệu, số liệu, dữ kiện,

Trang 22

tin tức, tri thức khoa học và công nghệ về sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp cho hoạt động bảo hộ quyền SHCN để phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội

Hiện nay, hệ thống thông tin KH&CN có liên quan đến SHCN ở Việt Nam bao gồm:

- Thông tin về sáng chế;

- Thông tin về kiểu dáng công nghiệp;

- Thông tin về nhãn hiệu

Hệ thống thông tin SHCN bao gồm tập hợp các thông tin liên quan đến tất cả các đối tượng SHCN được bảo hộ, các thông tin chọn lọc theo mục đích hoặc theo chủ đề về các đối tượng SHCN trong nước và nước ngoài được phân loại, sắp xếp một cách phù hợp, thuận lợi cho việc tra cứu phân phối và

sử dụng Thông tin sáng chế được thiết lập và phát triển thành một hệ thống nhỏ trong hệ thống thông tin SHCN Hệ thống thông tin sáng chế được hiểu là toàn bộ các thông tin về công nghệ và thông tin về tình trạng pháp lý liên quan đến đăng ký sáng chế được ghi nhận trong quá trình thực hiện các thủ

tục xác lập quyền SHCN đối với sáng chế Hay nói một cách chính xác, thông

tin sáng chế là các thông tin kỹ thuật và pháp lý bao gồm các tư liệu sáng chế được cơ quan sáng chế xuất bản định kỳ (là các tư liệu chứa thông tin về đơn

đăng ký sáng chế và các thông tin có liên quan đến bảo hộ sáng chế do cơ quan SHTT quốc gia hoặc quốc tế tạo ra trong quá trình tiến hành các thủ tục xác lập và bảo hộ quyền SHCN)

Thông tin sáng chế tồn tại dưới dạng các tư liệu sáng chế, bao gồm các bản mô tả, trong đó chứa các khái niệm khoa học và kỹ thuật cũng như các thông tin chi tiết về các quy trình và cơ cấu thực tế của sáng chế Tư liệu sáng

Trang 23

chế mang cả ý nghĩa pháp lý và kỹ thuật mà không thể dễ dàng phân biệt Tư liệu sáng chế chứa các thông tin như: yêu cầu bảo hộ đưa ra bản chất của vấn

đề được coi là mới; bản mô tả đưa ra tổng quan về sáng chế và xác định sự khác biệt giữa công nghệ đã có từ trước và những gì mà sáng chế đóng góp dưới danh nghĩa là một đối tượng mới, một bước phát triển đối với sự phát triển công nghệ Tư liệu sáng chế thường bộc lộ thông tin công nghệ bằng việc mô tả các sáng chế theo các yêu cầu áp dụng của luật sáng chế và bằng việc chỉ ra tính mới và trình độ sáng tạo được yêu cầu bảo hộ thông qua việc dẫn chiếu đến tình trạng kỹ thuật hiện tại Vì vậy, tư liệu sáng chế là nguồn thông tin không chỉ về những gì đã biết mà còn về những gì mới

Bản mô tả sáng chế là tài liệu kỹ thuật quý giá nhằm cung cấp thông tin

về sáng chế Những thông tin này nếu được nắm bắt, cập nhật kịp thời sẽ mang lại những lợi thế ưu việt cho người có nhu cầu sử dụng Bởi các yếu tố nêu trong bản mô tả sáng chế là cơ sở để khẳng định độc quyền sáng chế, đồng thời đưa sáng chế vào áp dụng thực tế nhằm thương mại hóa sáng chế Bản mô tả sáng chế trong đơn đăng ký sáng chế có cấu trúc thống nhất, rõ ràng, thể hiện chi tiết giải pháp kỹ thuật và những giá trị thiết thực nhất của sáng chế đối với thực tế

Còn bản tóm tắt là phần trình bày ngắn gọn về bản chất của sáng chế đã được bộc lộ trong bản mô tả, yêu cầu bảo hộ và hình vẽ nhằm cung cấp các thông tin tóm tắt về sáng chế (bản tóm tắt có thể được minh họa thêm bằng hình vẽ đặt trưng) Bản tóm tắt cũng chỉ ra lĩnh vực mà sáng chế được sử dụng hoặc có liên quan; có tên sáng chế; nêu bật được bản chất sáng chế bằng cách chỉ ra các dấu hiệu khác biệt cơ bản; được giới hạn trong một phạm vi sử dụng từ ngữ nhất định (không quá 150 từ) Bản tóm tắt, theo đúng nghĩa của

nó, là sự tóm tắt tổng hợp để người đọc sáng chế có thể nắm bắt những thông

Trang 24

tin ngắn gọn nhất về sáng chế, quyết định xem có nên đọc toàn văn các tài liệu của đơn hay không

Những thông tin vắn tắt nêu trên là những thông tin cần thiết, thể hiện những thông tin cơ bản về sáng chế, đặc biệt là về giải pháp kỹ thuật của sáng chế (bản chất của đối tượng yêu cầu bảo hộ) Và cần phải hiểu rằng, đối với mọi tư liệu sáng chế, thì thông tin quan trọng nhất thể hiện bản chất sáng chế

và tính chất pháp lý của sáng chế là phạm vi yêu cầu bảo hộ

Các dạng thông tin sáng chế:

- Thông tin sơ cấp: công báo, bản mô tả sáng chế (thông tin kỹ thuật)

- Thông tin thứ cấp: thông tin tóm tắt sáng chế;

- Thông tin cấp ba: thông tin theo thư mục tra cứu;

- Các cơ sở dữ liệu thông tin sáng chế: trên Internet, đĩa quang…

- Thông tin khác: về xử lý khiếu nại, tranh chấp liên quan tới sáng chế…

Thông tin thư mục như thông tin về nước công bố sáng chế, loại hình tư liệu, ngày nộp đơn, ngày cấp bằng độc quyền sáng chế, ngày công bố, ngày

ưu tiên, số đơn, số bằng, số công bố đơn, số ưu tiên, tên người nộp đơn, tên chủ bằng, ký hiệu phân loại sáng chế quốc tế, tên sáng chế, tóm tắt sáng chế, hình vẽ hoặc công thức có liên quan Thông tin kỹ thuật như đã trình bày về bản mô tả, là mô tả vắn tắt về giải pháp kỹ thuật đã biết, những nhược điểm của các giải pháp công nghệ đã có trước đó và nhiệm vụ cần giải quyết của sáng chế Thông tin sáng chế mô tả bản chất của giải pháp kỹ thuật mới được trình bày một cách chi tiết có kèm theo minh họa bằng hình vẽ hoặc ví dụ thực hiện để thể hiện một cách đầy đủ và dễ hiểu sáng chế đã được tạo ra

Đặc điểm của thông tin sáng chế thể hiện sự tiên tiến hơn của sáng chế (so với sáng chế đã được nộp đơn yêu cầu bảo hộ mà trở nên lạc hậu sau một thời gian nhất định), thể hiện khả năng thương mại, tính mới thế giới Hơn

Trang 25

nữa, thông tin sáng chế có cấu trúc đồng nhất, chặt chẽ, đã được trải qua một quá trình thẩm định, chỉnh sửa lại tại cơ quan cấp bằng độc quyền sáng chế, được phân loại một cách thống nhất theo phân loại sáng chế quốc tế nên thông tin sáng chế có độ tin cậy cao và trung thực Cách viết và cách thể hiện vấn đề

kỹ thuật trong thông tin sáng chế luôn ngắn gọn, mạch lạc, đi thẳng vào mô tả nội dung của giải pháp kỹ thuật Bên cạnh đó, thông tin sáng chế luôn phản ánh thông tin công nghệ mới nhất và được công bố sớm nhất so với các tư liệu khác nhằm có được quyền ưu tiên trước các đối thủ cạnh tranh khác Rất nhiều thông tin công nghệ chỉ được tìm thấy sớm nhất trong thông tin sáng chế, giúp cho việc nắm bắt nhanh các công nghệ mới nhất Hơn 80% thông tin công nghệ có trong tư liệu sáng chế nhưng không xuất hiện trong các tư liệu khác Thông tin sáng chế chứa nội dung công nghệ phong phú, bao trùm hầu hết các ngành, các lĩnh vực công nghệ từ trước tới nay - là một bộ sưu tập đầy

đủ nhất về tình hình phát triển của các loại công nghệ được biết đến trên toàn thế giới Đặc biệt, thông tin sáng chế được dùng làm thông tin về quyền, xác định phạm vi và giới hạn độc quyền của mỗi chủ sở hữu sáng chế

1.2.3 Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ về sở hữu công nghiệp

Trước hết, đối với doanh nghiệp, thông tin KH&CN về SHCN có lợi cho doanh nghiệp bởi rất nhiều lý do Thông tin KH&CN về SHCN, bản thân

nó, là thông tin kỹ thuật mang bản chất công nghệ, vì vậy, doanh nghiệp sẽ có thể lập kế hoạch kinh doanh mang tính chiến lược dựa vào việc sử dụng và ứng dụng thông tin KH&CN về SHCN Cụ thể bao gồm:

- Thông tin KH&CN về SHCN cung cấp kiến thức về quyền SHCN hiện tại và sắp có ở một nước, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi cho tác giả sáng chế trong doanh nghiệp, xác định tính mới khi nộp đơn đăng ký sáng chế, hoặc tránh xâm phạm quyền SHCN

Trang 26

- Thông tin KH&CN về SHCN cho phép lựa chọn, đánh giá các giải pháp công nghệ thích hợp để áp dụng cho phù hợp với điều kiện hiện có bằng cách thu thập thông tin công nghệ thông qua tra cứu sáng chế toàn cầu; Đồng thời, tránh nghiên cứu trùng lặp để giảm chi phí thời gian và tiền bạc; Xác định công nghệ thay thế và nguồn công nghệ thay thế

- Thông tin KH&CN về SHCN có thể gợi ý những giải pháp kỹ thuật mới; Cải tiến sản phẩm hoặc quy trình hiện có; Phát triển sản phẩm hoặc quy trình mới; Tìm kiếm những công nghệ chưa được cấp bằng độc quyền sáng chế ở nước mà người tra cứu tiến hành kinh doanh hoặc bằng đã hết hiệu lực

- Thông tin KH&CN về SHCN gợi mở cho việc theo dõi xu hướng công nghệ và phát triển dữ liệu về đối thủ cạnh tranh chính đang nổi (đánh giá trọng tâm kỹ thuật và sản phẩm của đối thủ) ở trong nước và ngoài nước

- Thông tin KH&CN về SHCN cho phép doanh nghiệp khảo sát thị trường nhờ thu thập thông tin thị trường về xu hướng công nghệ và những quyết định đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; Dự báo sự phát triển của thị trường sản phẩm, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp chuẩn bị ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ

- Thông tin KH&CN về SHCN giúp cho doanh nghiệp và các tổ chức dịch vụ KH&CN có thể định giá một công nghệ cụ thể và xác định người có thể được cấp license

Khi sử dụng thông tin KH&CN về SHCN, doanh nghiệp sẽ có được những lợi ích mang tính chất pháp lý, kinh tế và kỹ thuật Rõ ràng rằng, những lợi ích này đều mang đến cơ hội nhiều hơn thách thức cho doanh nghiệp, đặc biệt là tiềm năng khi sử dụng thông tin KH&CN về SHCN

Trang 27

1.2.4 Liên kết thông tin khoa học và công nghệ

Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, 1988), liên kết là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức

riêng rẽ”

Liên kết thông tin KH&CN là sự kết nối, trao đổi thông tin KH&CN trong cùng một nhóm, một cộng đồng khoa học hoặc các nhà quản lý trong cùng một tổ chức, giữa các tổ chức trong một hoặc giữa các tổ chức từ các quốc gia khác nhau

Khái niệm liên kết thông tin KH&CN khá mới mẻ tại Việt Nam cũng như trên thế giới Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển tại Việt Nam, mọi nguồn thông tin, trong đó có thông tin KH&CN rất dồi dào nhưng còn thiếu sự kiểm nghiệm, tư vấn của những cơ quan chuyên môn và phần nhiều còn mang tính manh mún, lẻ tẻ, thiếu tập trung Việc liên kết thông tin KH&CN, vì vậy, rất cần thiết cho các doanh nghiệp Thông tin KH&CN phải được liên kết từ nhiều nguồn tổ chức, cá nhân hoạt động thông tin KH&CN tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan và thông qua những tổ chức có uy tín khoa học xác minh và chấp thuận

Theo khái niệm về thông tin đã nêu trên, quan điểm của Luận văn là:

“Liên kết thông tin KH&CN là sự kết nối thông tin KH&CN từ nhiều nguồn được tổ chức KH&CN xác minh, chấp thuận và được chia sẻ với các tổ chức,

cá nhân có cùng chung mực đích, tiêu chí hoạt động KH&CN”

Khái niệm liên kết thông tin KH&CN giữa các doanh nghiệp còn mới

mẻ Những người đa nghi sẽ đặt câu hỏi: “Trong nền kinh tế thị trường đầy tính cạnh tranh, liệu các doanh nghiệp có sẵn sàng liên kết, chia sẻ thông tin KH&CN cho các đối thủ cạnh tranh của mình như một cách nâng cao năng lực cạnh tranh của đối thủ hay không?” Câu trả lời ở đây là: “Xét trên bình diện cạnh tranh quốc gia, bản thân các doanh nghiệp ngoài việc tăng cường

Trang 28

năng lực cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp mình còn phải có ý thức giúp

đỡ các doanh nghiệp cùng quốc tịch và ngành nghề nâng cao năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp mà mình tham gia với tư cách thành viên, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế”

Có thể nói đây là sự đoàn kết của các doanh nghiệp cùng một quốc gia, rộng ra là hoạt động phục vụ thương mại mang tinh thần dân tộc, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ của một doanh nghiệp riêng rẽ mà của cả một

hệ thống doanh nghiệp cùng ngành nghề và của cả quốc gia trong khu vực ngành nghề đó Có thể thấy những hành động tương tự trước đây ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển vượt bậc từ tro tàn của chiến tranh thành những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc…hay những quốc gia đã phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ Sự đoàn kết nhất trí trên mọi lĩnh vực của cả dân tộc cũng như các tổ chức doanh nghiệp của họ đã đem về nhiều thành tựu xuất sắc cho nền kinh tế, KH&CN của các quốc gia này Tại các quốc gia này, các hiệp hội doanh nghiệp hoạt động rất hiệu quả, kết nối các doanh nghiệp thành viên, liên kết thông tin KH&CN, chia sẻ những cơ hội để các doanh nghiệp thành viên nắm bắt, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các thành viên

Có thể thấy, tại các quốc gia phát triển, hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng quốc gia luôn luôn tồn tại một cách mạnh mẽ Các doanh nghiệp dù cùng hay khác tổ chức nghiệp đoàn, hội đoàn vẫn luôn có ý thức cạnh tranh quyết liệt bằng các biện pháp trong khuôn khổ luật pháp

Đánh giá về các yêu tố cấu thành và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các chuyên gia đã nhận định về khả năng liên kết cạnh tranh của doanh nghiệp: “Cạnh tranh trong hoàn cảnh hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau mà đặt trong sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh cao hơn Do vậy, khả năng liên kết hợp tác được coi là tiền đề cho

Trang 29

hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện của Việt Nam, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ thì việc liên kết, hợp tác có ý nghĩa lớn để tồn tại, phát triển kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tiêu chí này thể hiện qua số lượng, chất lượng các mối quan hệ với các đối tác, các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ”3

Thực tế chứng minh thông tin KH&CN đóng vai trò to lớn cho việc định hướng, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Năng lực cạnh tranh đủ mạnh sẽ duy trì một vị thế khả quan cho doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp bước đi vững chắc trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi nhiều ở khả năng thích nghi cũng như tính năng động, sáng tạo của bất kỳ doanh nghiệp nào Thông tin KH&CN mang lại những kiến thức KH&CN kèm theo những ứng dụng hiệu quả thành tựu KH&CN vào quá trình quản trị sản xuất và kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Trong cùng một định hướng ngành nghề, với cùng một hội đoàn, các doanh nghiệp có thể có những liên kết chặt chẽ với nhau trong việc trao đổi, truyền

bá những thông tin KH&CN bổ ích, có tính thiết thực cho các doanh nghiệp bạn Trên cơ sở đó có những áp dụng hiệu quả để cùng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường, đặc biệt trong cạnh tranh quốc tế Nâng cao năng lực cạnh tranh của một vài doanh nghiệp của quốc gia trong nền kinh tế thị trường là chưa đủ Liên kết thông tin KH&CN trong một nhóm doanh nghiệp (cùng ngành nghề) sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nhóm doanh nghiệp lên một cách đáng kể, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cả quốc gia trong nhóm ngành nghề sản xuất, dịch vụ đó

Trang 30

1.3 Khái quát về nhãn hiệu 4

1.3.1 Khái niệm nhãn hiệu

Nhãn hiệu - với chức năng là công cụ chuyển tải tới người tiêu dùng uy tín của doanh nghiệp thể hiện qua chất lượng hàng hóa/dịch vụ - được pháp luật bảo hộ và coi đó là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp

Công ước Paris không đưa ra định nghĩa nhãn hiệu, mà chỉ coi nhãn hiệu là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Tương tự như vậy, Thỏa ước Madrid cũng không định nghĩa nhãn hiệu, mà chỉ quy định về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa

WIPO quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt giữa hàng

hóa/dịch vụ giống hệt hoặc tương tự được cung cấp bởi các nhà sản xuất hoặc các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau Nhãn hiệu là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” 5

Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp

các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”

Như vậy, khái niệm nhãn hiệu theo Hiệp định TRIPS phải hội tụ các yếu tố sau đây:

Trang 31

- Phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, các dấu hiệu đó có thể

là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng nhƣ tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó;

- Dấu hiệu hoặc các dấu hiệu đó có thể là yếu tố nhìn thấy đƣợc, nhƣng cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng đƣợc đăng ký là nhãn hiệu, bởi vậy Hiệp định TRIPS không loại trừ khả năng dấu hiệu hoặc các dấu hiệu

đó có thể là yếu tố không nhìn thấy đƣợc, miễn là nó có khả năng đƣợc đăng

ký là nhãn hiệu;

- Dấu hiệu, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác Hiệp định TRIPS chỉ nói yếu tố phân biệt “hàng hóa hoặc dịch vụ” của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, nhƣng cần phải hiểu thêm

rằng yếu tố phân biệt “hàng hóa hoặc dịch vụ” cùng loại của doanh nghiệp

này với doanh nghiệp khác

Nhƣ vậy, pháp luật quốc tế về nhãn hiệu đều không quy định dấu hiệu bắt buộc của nhãn hiệu phải là yếu tố nhìn thấy đƣợc Ngay cả WIPO cũng không ngăn cản các quốc gia thành viên khi cho phép đăng ký nhãn hiệu bao gồm cả âm thanh, mùi vị…6

Nhƣng pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu lại quy định khác Khoản 16

Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân

biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”

Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định Điều kiện chung đối với nhãn

hiệu đƣợc bảo hộ Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các Điều kiện sau

đây:

6 Xin tham khảo thêm: WIPO, NEW TYPES OF MARKS, Document prepared by the Secretariat, Geneva,

Trang 32

1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác

Quy định của pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu có yếu tố bắt buộc là

dấu hiệu nhìn thấy được, như vậy định nghĩa này đã hẹp hơn quy định của

Hiệp định TRIPS về nhãn hiệu bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu

nào, như vậy các dấu hiệu/tổ hợp các dấu hiệu không thể nhìn thấy như âm

thanh, mùi vị… không thể trở thành nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam, mặc dù chúng đáp ứng tiêu chí thứ hai có khả năng phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác nhau Điều 17.1 Quy chế thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu quy định những yếu tố bị từ chối bảo hộ kể cả

trong trường hợp kết hợp với các yếu tố khác: dấu hiệu không nhìn thấy được:

như dấu hiệu âm thanh, mùi, vị … 7

1.3.2 Chức năng của nhãn hiệu

Mỗi loại hàng hóa/dịch vụ có cùng công dụng có thể được nhiều chủ thể cùng cung cấp trên thị trường, chất lượng giữa chúng có thể khác biệt nhau Nếu hàng hóa/dịch vụ của các chủ thể khác nhau không mang nhãn hiệu thì người tiêu dùng khó có thể lựa chọn chúng cho mình, nhưng thông qua nhãn hiệu mà người tiêu dùng có thể nhận biết mỗi hàng hóa, dịch vụ phù hợp với thị hiếu và khả năng kinh tế của mình

Mặt khác, thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể nhận biết và phân biệt được hàng hóa/dịch vụ của các chủ thể khác nhau cung cấp trên thị trường Đồng thời, thông qua nhãn hiệu của mỗi hàng hóa/dịch vụ có thể đánh giá “đẳng cấp” của người tiêu dùng

Trang 33

Trong thực tế, không phải nhãn hiệu nào cũng có khả năng phân biệt cao ngay cả đối với các hàng hóa/dịch vụ cùng loại

Chức năng thông tin và chỉ dẫn của nhãn hiệu thể hiện ở chỗ: thông qua những hình ảnh, ngôn ngữ hoặc các dấu hiệu khác, người tiêu dùng có thể nhận biết được phần nào về giá trị sử dụng của hàng hóa

Những thông tin về nơi sản xuất, thành phần cấu tạo, công dụng của sản phẩm cũng được thể hiện qua nhãn hàng hóa (lưu ý pháp luật không bảo

hộ nhãn hàng hóa, nhưng nhãn hàng hóa thường là một bộ phận kèm theo nhãn hiệu)

Pháp luật quy định chủ thể cung cấp hàng hóa ra thị trường phải ghi đầy đủ các thông tin về hàng hóa, đặc biệt là đối với những loại hàng hóa có liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người Ví dụ đối với phụ gia thực phẩm, phải ghi các thông tin định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần định lượng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản Đối với thuốc dùng cho người, phải ghi các thông tin định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần định lượng, thông tin, cảnh báo vệ sinh, an toàn, sức khoẻ, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn (điều kiện) bảo quản Đối với vắcxin, chế phẩm sinh học dùng cho người, phải ghi các thông tin định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần định lượng, thông tin, cảnh báo vệ sinh, an toàn, sức khoẻ, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn (điều kiện) bảo quản Đối với mỹ phẩm, phải ghi các thông tin về định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần, thông tin, cảnh báo vệ sinh, an toàn, sức khoẻ, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản

Chức năng này là sự cảm nhận của người tiêu dùng về sự khác biệt, về

sự ưu việt hay an tâm, thoải mái, tin tưởng khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ khi lựa chọn mà nhãn hiệu đó mang lại Nói đến sự cảm nhận là người ta nói đến ấn tượng nào đó về hàng hóa, dịch vụ trong tâm trí người tiêu dùng Sự

Trang 34

cảm nhận của người tiêu dùng không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành tổng hợp từ các yếu tố của nhãn hiệu như màu sắc, tên gọi, biểu trưng, âm thanh, khẩu hiệu và sự trải nghiệm của người tiêu dùng

Nhãn hiệu còn có chức năng tạo sự cảm nhận Đó là cảm nhận của người tiêu dùng về sự sang trọng, sự khác biệt, một cảm nhận yên tâm, thoải mái và tin tưởng khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó và sự tin tưởng khi lựa chọn tiêu dùng hàng hóa đó Nói đến Sony, người ta có thể liên tưởng đến chất lượng âm thanh và dịch vụ bảo hành rộng rãi toàn cầu. 8

Sự cảm nhận của người tiêu dùng không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành từ màu sắc, tên gọi, biểu tượng, biểu trưng, âm thanh, khẩu hiệu…

và cả sự trải nghiệm của người tiêu dùng Cùng một chủng loại hàng hóa nhưng có thể mang nhiều nhãn hiệu khác nhau, người tiêu dùng có sự cảm nhận khác nhau khi sử dụng mỗi loại nhãn hiệu, ví dụ chủ nhân của iPhone6 luôn cảm thấy mình sang trọng hơn người khác

Kinh nghiệm cho thấy cách tốt nhất để thành công trong một thị trường hàng hóa gần như là bão hòa hiện nay là cố gắng định vị nhãn hiệu sản phẩm càng lâu càng tốt trong tâm trí người tiêu dùng

Việc không thể định vị được nhãn hiệu trong tâm trí người tiêu dùng có thể dẫn đến thất bại trong kinh doanh, như đã biết khẩu hiệu kinh doanh có thể là một bộ phận của nhãn hiệu và trong nhiều trường hợp nó được bảo hộ kèm theo nhãn hiệu, do đó chủ sở hữu có thể không thay đổi nhãn hiệu nhưng lại thay đổi khẩu hiệu kinh doanh (là một thành tố của chỉ dẫn thương mại như đã phân tích tại chương 1), thực chất là thay đổi sự định vị của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu có thể dẫn đến thất bại trong kinh doanh, mà việc dành thị phần thuốc lá giữa Winston và Marlboro là một ví dụ

8Tham khảo thêm: Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Thành Trung (2005), Thương hiệu với nhà quản lý, Nhà

xuất bản Văn hóa – Thông tin, , tr.26-31

Trang 35

Như vậy, việc định vị nhãn hiệu trong tâm trí người tiêu dùng đóng vai trò không nhỏ trong chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

Nhãn hiệu mang trong nó một giá trị hiện tại và tiềm năng Giá trị đó được thể hiện rõ nhất khi chuyển giao nhãn hiệu Nhãn hiệu được coi là tài sản vô hình và rất có giá trị của doanh nghiệp Giá trị của nhãn hiệu rất khó định đoạt, nhưng nhờ những lợi thế mà nhãn hiệu mang lại, hàng hóa, dịch vụ

sẽ bán được nhiều hơn, thậm chí với giá cao hơn, dễ thâm nhập vào thị trường hơn

Giá trị của nhãn hiệu không tự nhiên mà có, nó được tạo ra với nhiều khoản đầu tư và chi phí khác nhau, những chi phí đó tạo nên giá trị của nhãn hiệu

Sự nổi tiếng của nhãn hiệu sẽ làm cho giá của nhãn hiệu đó tăng lên gấp bội, và đó chính là chức năng kinh tế của thương hiệu Lợi nhuận hiện tại

và tiềm năng mà doanh nghiệp có được nhờ sự nổi tiếng của nhãn hiệu sẽ quy định giá trị tài chính của nhãn hiệu Hàng năm, tạp chí Business Week đưa ra bảng xếp loại của 100 nhãn hiệu đứng đầu trên thế giới với giá trị ước tính của chúng

Như vậy, chức năng kinh tế của nhãn hiệu được ghi nhận trên các khía cạnh: tạo nên giá trị của sản phẩm và được chuyển giao (bao gồm cả chuyển nhượng và license) như một loại tài sản trí tuệ

1.3.3 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

Trang 36

- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác

Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu nếu nó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc

kỳ, quốc huy của các nước;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng,

cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu

đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ

Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

Trang 37

- Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

- Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,

số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

- Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

- Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận;

- Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà

Trang 38

đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng

ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

- Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

- Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu

1.3.4 Đặc điểm của nhãn hiệu

Khoản 1 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhãn hiệu được bảo hộ

nếu đáp ứng các Điều kiện: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ

ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc

Trang 39

Như vậy, nhãn hiệu có các đặc điểm sau đây:

- Là dấu hiệu nhìn thấy được;

- Được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó (lưu ý: trong Điều kiện bảo hộ quy định tại Khoản 1 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ không nhắc đến nhãn hiệu được thể hiện dưới dạng số, ví dụ thuốc lá 555, bia 333 , bài giảng sẽ phân

tích điểm này trong mục phân lọai nhãn hiệu);

- Được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

- Có thể được thể hiện kèm theo những dấu hiệu cho thấy nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ, nhằm cảnh báo những chủ thể khác khi có ý định thực hiện hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp

đối với nhãn hiệu, ví dụ dấu hiệu ® (register) hoặc TM (trademark) Với việc

chủ sở hữu nhãn hiệu gắn dấu hiệu này lên nhãn hiệu, bên xâm phạm quyền

Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu không thể nêu lý do là vô tình xâm phạm

Trong các đặc điểm nêu trên thì dấu hiệu nhìn thấy được coi là quan

trọng nhất, dấu hiệu này phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất

định, hình thức vật chất này phải được tồn tại thường xuyên, như vậy ánh

sáng cũng là một dấu hiệu nhìn thấy được, tuy nhiên nó không được định hình

dưới một hình thức vật chất tồn tại thường xuyên, do đó ánh sáng không thể được bảo hộ là nhãn hiệu

Mặt khác, cho thấy pháp luật Việt Nam không bảo hộ các dấu hiệu

nghe thấy (âm thanh), ngửi thấy (mùi vị)

1.4 Khái quát về tên thương mại

1.4.1 Khái niệm tên thương mại

Tên thương mại (Trade Name) là một đối tượng của quyền Sở hữu trí

tuệ, là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân

Trang 40

biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Khu vực kinh doanh trong định nghĩa về tên thương mại được hiểu là

khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh

tiếng

Như vậy, về mặt chức năng thì tên thương mại được sử dụng trong hoạt động kinh doanh như thể hiện tên thương mại trong các văn bản giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, bao bì hàng hóa và phương tiện dịch vụ, hoạt động quảng cáo

1.4.2 Các thành phần của tên thương mại

Khoản 1 Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tên thương mại bắt buộc phải có thành phần phân biệt, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng Như vậy, về thành phần cấu trúc, tên thương mại là tập hợp các chữ cái,

có thể kèm theo chữ số, phát âm được, bao gồm thành phần mô tả và thành

phần phân biệt:

- Phần mô tả là một tập hợp các từ có nghĩa mô tả vắn tắt loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh Phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác

nhau có thể có phần mô tả giống nhau) Ví dụ: Tổng Công ty Lương thực miền Bắc – VINAFOOD I, Tổng Công ty Lương thực miền Nam –

VINAFOOD II, cả hai tên thương mại này đều có thành phần mô tả giống

nhau là Tổng Công ty Lương thực, do đó phần mô tả trong tên thương mại

không có khả năng phân biệt;

- Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa Ví dụ: Tổng Công ty Lương thực miền Bắc – VINAFOOD I, Tổng Công ty Lương thực miền Nam – VINAFOOD II, mỗi tên thương mại có một thành phần phân biệt, đó là “miền Bắc – VINAFOOD

Ngày đăng: 29/12/2017, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm