1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)

138 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 252,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (LV thạc sĩ)

Trang 1

-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

NGUYỄN MẠNH LINH

Trang 3

-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

Họ và tên: Nguyễn Mạnh Linh Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Mơ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănnày là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vịnào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc rõ ràng và được phép công bố

Hà Nội, ngày 20 tháng 04năm 2017

Học viên thực hiện

Nguyễn Mạnh Linh

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ST

5 CTNY Công ty niêm yết

6 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

7 DNNY Doanh nghiệp niêm yết

8 ETF Quỹ đầu tư chỉ số

9 FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

10 GTGD Giá trị giao dịch

11 HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

12 HOSE/HSX Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí

Minh

13 IDS Hệ thống Công bố thông tin Chứng khoán

14 IPO Phát hành cổ phiếu ra công chúng

15 IR Quan hệ nhà đầu tư

16 KLGD Khối lượng giao dịch

17 M&A Hoạt động sáp nhập và hợp nhất

18 MD&A Báo cáo phân tích quản trị

19 MQI Chỉ số chất lượng thị trường

20 MSS Hệ thống Quản lý giám sát thị trường chứng

khoán tự động

21 NĐ-CP Nghị định Chính phủ

22 NĐT Nhà đầu tư

23 NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài

24 NYSE Sở giao dịch chứng khoán New York

25 R&D Nghiên cứu và Phát triển

26 ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

27 ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

28 SGDCK Sở Giao dịch chứng khoán

29 SXKD Sản xuất kinh doanh

30 TT-BTC Thông tư Bộ tài chính

31 TTCK Thị trường Chứng khoán

32 UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

33 UPCoM Thị trường chứng khoán của các công ty đại

chúng

34 VAFE Hiệp hội Các nhà quản trị tài chính Việt Nam

35 VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU Bảng (Biểu) Tên Bảng (Biểu) Trang

Hình 2.1 Tỷ lệ các Doanh nghiệp niêm yết hoàn thành tốt

nghĩa vụ công bố thông tin 31

Hình 2.2

Thống kê các doanh nghiệp vi phạm về công bố thông tin Báo cáo tài chính giai đoạn quý 3/2015 – quý 2/2016

34

Bảng 2.1 Top Doanh nghiệp niêm yết tăng lãi và thoát lỗ sau

kiểm toán 2014 37Bảng 2.2 Top Doanh nghiệp niêm yết giảm lãi và tăng lỗ sau

kiểm toán 2014 38Bảng 2.3 Tổng kết các yếu tố của DSCORE 46Bảng 2.4 Thống kê mô tả của các biến trong mô hình 51Bảng 2.5 Ma trận tương quan 52Bảng 2.6 Kết quả hồi quy 52Bảng 2.7 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến của mô hình 53Bảng 2.8 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 53Bảng 2.9 Kết quả kiểm định phương sai số là phân phối chuẩn 53Bảng 2.10 Kết quả kiểm định thiếu biến 54

Trang 8

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Để thực hiện để tài: “Tác động của công bố thông tin tới tính thanh

khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác

giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về cổ phiếu niêm yết (như khái niệm, đặc điểm

và vai trò của cổ phiếu niêm yết…); về tính thanh khoản của cố phiếu niêm yết và

sự cần thiết phải công bố thông tin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứngkhoán; Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động công bố thông tin thể hiện quaBáo cáo tài chính thường niên của các công ty niêm yết niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam và thực trạng thanh khoản của cổ phiếu các công ty giaiđoạn từ năm 2010 cho đến nay; đồng thời sử dụng giả thuyết, chỉ số chấm điểmmức độ công bố thông tin của tác giả Botosan (1997) và mô hình hồi quy của cáctác giả Espinosa, Tapia và Trombetta (2005) để phân tích định lượng về tác độngcủa công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam năm 2016

Mô hình của Espinosa, Tapia và Trombetta (2005) là mô hình hồi quy gồm 05biến, đó là: Biến phụ thuộc Chênh lệch giá mua – giá bán đại diện cho tính thanhkhoản của cổ phiếu; Biến độc lập Chỉ số mức độ công bố thông tin trên Báo cáothường niên của Botosan (1997); và 03 biến kiểm soát: Biến động thu nhập từ cổphiếu hàng ngày, Khối lượng giao dịch hiệu quả trung bình ngày và Quy mô doanhnghiệp

Mô hình hồi quy cho thấy hoạt động công bố thông tin có tác động tích cực tớitính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mô hình giải thích được 74,50% sự phụ thuộc của Chênh lệch giá mua – giá bánbởi các biến độc lập Trên cơ sở phân tích tác động của công bố thông tin tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luậnvăn đã đề xuất giải pháp đối với Nhà nước, đối với Sở Giao dịch Chứng khoán vàđối với công ty niêm yết để nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của cáccông ty niêm yết nhằm nâng cao tính thanh khoản của của các cổ phiếu trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch tạo tính thanh khoản chochứng khoán Tất cả các tiêu chuẩn niêm yết liên quan đến quy mô doanh nghiệp,quy mô vốn, nghĩa vụ công bố thông tin, chế độ quản trị công ty đều là những tiềnđề đảm bảo cho tính thanh khoản của chứng khoán Thanh khoản chính là mục tiêuquan trọng nhất đối với các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, vì thanh khoảntốt đồng nghĩa với khả năng thu hút được nhà đầu tư quan tâm bỏ tiền vào các cơhội đầu tư để kiếm lời trên thị trường Nhờ đó, doanh nghiệp mới có khả năng huyđộng vốn khi cần thiết Đồng thời, thanh khoản tốt cũng là cơ sở để nhà đầu tư lựachọn đầu tư chứng khoán như một phương tiện tích lũy tài sản dài hạn

Trong các yếu tố tác động tới tính thanh khoản của một cổ phiếu trên thịtrường, công bố thông tin là yếu tố thuộc quyền chủ động của lãnh đạo doanhnghiệp Hai tác giả là Robert Daines và Charles M Jones đã đưa ra bằng chứngchứng minh rằng quy định về công bố thông tin bắt buộc trong Luật Thị trườngchứng khoán của Mỹ năm 1934 làm giảm chênh lệch giá mua – giá bán (bid-askspread – một chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản) của các cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán Mỹ (Robert Daines, Charles M Jones, 2007, tr 26)

Luật Chứng khoán của Việt Nam năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2010) vàThông tư số 155/2015/TT-BTC đã có những quy định và hướng dẫn công bố thôngtin trên thị trường chứng khoán Tuy vậy, do các doanh nghiệp Việt Nam đa phầnchỉ thấy các bất lợi khi công bố thông tin nên quá trình minh bạch hóa thông tin gặpnhiều trở ngại Điều này dẫn đến tình trạng bất cân xứng thông tin giữa doanhnghiệp và thị trường, làm tăng rủi ro mà các nhà đầu tư phải chịu khiến họ ngầnngại khi ra quyết định mua hoặc bán các mã cổ phiếu, do đó tính thanh khoản của

các cổ phiếu không cao Từ thực tiễn trên, tôi đã chọn và nghiên cứu vấn đề: “Tác

động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ của mình.

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Ở nước ngoài

Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán từ lâu đã nhận được sự quantâm của các học giả tài chính trên thế giới Vì vậy, có nhiều công trình nghiên cứuvề vấn đề này Cụ thể:

Tác giả George A Akerlof đã chỉ ra rằng công bố thông tin làm giảm tìnhtrạng thông tin bất cân xứng, giúp thu hẹp khoảng cách giữa các nhà đầu tư và nhàquản lí của công ty (George A Akerlof, 1970, tr 488 – tr 500) Tuy vậy, lợi ích vềlượng của công bố thông tin nói chung và tác động tích cực của công bố thông tinđến tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán nóiriêng vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi

Nhiều tác giả đã chọn tiếp cận vấn đề này bằng cách sử dụng các công cụ toáncao cấp và xác suất thống kê toán Lâu đời nhất và thường được các tác giả sau nàytrích dẫn có thể kể đến nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986) và Diamond

và Verrecchia (1991) và gần đây có nghiên cứu của Pagano và Volpin (2008) Bằngviệc xây dựng mô hình toán, các tác giả trên đã đi đến kết luận, về mặt lí thuyết,rằng việc công bố thông tin góp phần minh bạch hóa thông tin, làm giảm tình trạngthông tin bất cân xứng, tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, qua đó giúp làm giảmchi phí vốn cổ phần cho doanh nghiệp

Sang thế kỷ XXI, với sự phát triển mạnh của phương pháp kinh tế lượng,nhiều tác giả đã xây dựng các Mô hình hồi quy dựa trên mô hình lí thuyết của cáctác giả trên và kiểm chứng bằng số liệu thực tế tại nhiều thị trường chứng khoánkhác nhau Trong các nghiên cứu này có bài báo của Heflin, Shaw và Wild (2000)kiểm chứng bằng số liệu cung cấp bởi ISSM (Institute for the Study of SecurityMarkets) năm 1988-1989 Năm 2005, ba tác giả là Espinosa, Tapia và Trombetta(2005) đã dùng số liệu của thị trường chứng khoán Tây Ban Nha từ năm 1994 đếnnăm 2000 để phân tích Bài báo của của Daines và Jones (2007) về tác động củađiều khoản công bố thông tin bắt buộc trong Luật Thị trường chứng khoán năm

1934 của Mỹ tới tính thanh khoản của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Trang 11

Mỹ Công trình nghiên cứu của Loukil và Yousfi (2011) sử dụng số liệu thị trườngchứng khoán Tunisy năm 2007, và bài viết của Laidroo (2014) kiểm chứng bằng sốliệu của các thị trường chứng khoán Tallinn (Estonia), Riga (Latvia), và Vilnius(Lithuania) từ năm 2000 đến năm 2006 và nghiên cứu của Kuo và Lin (2014) ở thịtrường chứng khoán Đài Loan từ năm 2006 đến năm 2008 Các nghiên cứu này đềutìm ra bằng chứng thực tế để chứng minh về những tác động tích cực của công bốthông tin lên tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán.Bên cạnh đó, một số tác giả khi kiểm chứng số liệu thu thập được qua mô hìnhkinh tế lượng đã thu được kết quả là công bố thông tin không có tác động đáng kểhoặc không đủ độ tin cậy để kết luận công bố thông tin tác động tích cực lên tínhthanh khoản của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán như nghiên cứu củaAscioglu, Hegde và McDermott (2005) từ số liệu của thị trường chứng khoán NewYork (NYSE) và nghiên cứu của Bischof và Daske (2013) về cổ phiếu của các ngânhàng Châu Âu năm 2011 Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích về tác độngcủa công bố thông tin đối với tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên Thịtrường Chứng khoán Việt Nam.

2.2 Ở trong nước

Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về sự cần thiết của công bố thông tintrên thị trường chứng khoán, như nghiên cứu của các tác giả Đoàn Nguyễn TrangPhương (2010), Lê Thị Trúc Loan (2012) và Phạm Thị Thu Đông (2013) phân tíchvề các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêmyết trên thị trường chứng khoán Ngoài ra có bài báo của Tiến sĩ Nguyễn Thị BíchLoan và Thạc sĩ Nguyễn Gia Đường (2013) về tính cấp thiết của minh bạch thôngtin trên thị trường chứng khoán Việt Nam và bài báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩNguyễn Việt Dũng (2014) về kiểm định tác động của công bố thông tin tới chi phívốn cổ phần tại Việt Nam Tuy nhiên, cũng chưa có công trình hay bài viết nào phântích về tác động của công bố thông tin đối với tính thanh khoản của các cổ phiếuniêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam

Trang 12

Tóm lại, hiện nay ở trong nước và trên thế giới chưa có công trình nghiên cứu

cụ thể về những tác động của công bố thông tin đến tính thanh khoản của các cổphiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận vềcông bố thông tin, về tính thanh khoản của cổ phiếu, đề tài phân tích về những tácđộng cũng như chỉ ra bằng chứng khoa học về tác động của công bố thông tin tớitính thanh khoản của cổ phiếu, đồng thời tìm kiếm giải pháp thúc đẩy các công tyniêm yết tăng cường hoạt động công bố thông tin nhằm nâng cao tính thanh khoảncủa các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn

phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về cổ phiếu niêm yết (như khái niệm, đặc điểm và vaitrò của cổ phiếu niêm yết…); về tính thanh khoản của cố phiếu niêm yết và sự cầnthiết phải công bố thông tin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán;

- Phân tích về những tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổphiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Phân tích thực trạng hoạt động công bố thông tin thể hiện qua báo cáo tài chínhthường niên của các công ty niêm yết niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam và kiểm chứng mối quan hệ và mức độ tác động của công bố thông tin tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của các công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm nâng cao tính thanh khoảncủa của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến tính thanhkhoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, kiểm chứng mối quan hệ

Trang 13

và mức độ tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếuniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm chính sách phát triển thị trườngchứng khoán của Đảng và Nhà nước ta và các quy định của pháp luật về thị trườngchứng khoán, về cổ phiếu niêm yết và về minh bạch hóa trong việc công bố thôngtin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu về các cổ phiếu niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thông tin dữ liệu và số liệu trong giaiđoạn từ năm 2010 (thời điểm Bộ Tài chính ra Thông tư 09/2010/TT-BTC hướng dẫnvề việc công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán, ban hành ngày 15/01/2010

có hiệu lực từ ngày 01/03/2010) cho đến nay, trong đó số liệu năm 2016 được sửdụng để chạy mô hình hồi quy kiểm chứng mối quan hệ và mức độ tác động củacông bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đó sử dụng phương pháp phân tích,phương pháp hệ thống hóa, phương pháp tổng hợp và luận giải;

- Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các sốliệu điều tra thu được

Trang 14

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài hiệu tham khảo và các phụ lục,nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về tác động của công bố thông tin tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán

Chương II: Thực trạng công bố thông tin và phân tích những tác động tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công bố thông tin trên Thị trường chứng khoán và phân loại thông tin được công bố.

1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của công bố

Công bố thông tin giữ vai trò quan trọng vì nó giúp minh bạchhóa thông tin trên TTCK và loại bỏ hoặc giảm thiểu tình trạngthông tin bất cân xứng Vì vậy, công bố thông tin là yêu cầu của xãhội đối với các công ty niêm yết và là quy định của Pháp luật nhằmđảm bảo độ tin cậy trong việc mua bán chứng khoán trên thịtrường niêm yết Để minh bạch hóa thông tin, việc công bố thôngtin phải tuân theo những nguyên tác nhất định

1.1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động công bố thông tin trên Thị trường

Chứng khoán

Trang 16

Cho dù các công ty niêm yết nhận thấy được tầm quan trọng

về lợi ích của việc công bố thông tin nhưng các công ty này khôngđược phép công bố thông tin một cách tùy tiện về hình thức, thờigian, địa điểm… Ngược lại, hoạt động công bố thông tin khi đã trởthành nghĩa vụ và tập quán trong kinh doanh sẽ cần tuân thủ một

số nguyên tắc nhất định Việc đề ra các nguyên tắc và tiêu chímang tính chuẩn tắc trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK,

kể cả đối với thông tin của doanh nghiệp niêm yết lẫn thông tin thịtrường, là nhằm đảm bảo và duy trì lòng tin của các nhà đầu tư khi

họ tham gia TTCK Các nguyên tắc đó là:

- Nguyên tác đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ trong các thông tin được công bố

Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc công bố thông tin.Điều này đòi hỏi tổ chức thực hiện và công bố thông tin phải tôntrọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc,bóp méo thông tin được công bố, hoặc có những hành vi cố ý gâyhiểu nhầm thông tin Các thông tin được công bố, đặc biệt là công

bố thông tin từ các doanh nghiệp niêm yết là căn cứ cho hành vimua bán của nhà đầu tư trên thị trường, là một trong những vấn

đề đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá cổ phiếu

Ngược lại, những thông tin thuộc loại tin đồn sẽ có mức độchính xác và độ tin cậy thấp nhất Những nhà đầu tư mua bánchứng khoán theo tin đồn sẽ mang rủi ro cao do mức độ tin cậythấp của các thông tin đó

Nguyên tắc này được tuân thủ dựa trên cơ sở một danh mụccác thông tin được đánh giá là quan trọng và cần được cung cấp.Nói cách khác, công ty niêm yết có nghĩa vụ phải cung cấp tất cảcác thông tin được xem là có thể ảnh hưởng tới nhận định của nhàđầu tư đối với triển vọng của doanh nghiệp những thông tin và sựkiện như vậy bao giờ cũng được quy định chặt chẽ trong luậtchứng khoán và các quy định pháp luật về công bố thông tin

Trang 17

Một số thông tin quan trọng cung cấp định kỳ dưới dạng tàiliệu phải được kiểm tra kỹ để đảm bảo tính chính xác Ví dụ, đó lànhững thông tin về các khoản mục trên bản báo cáo tài chính, đặcbiệt là các khoản mục nằm ngoài bảng cân đối kế toán, nhữngthay đổi trong định giá các hợp đồng giao dịch trên thị trường, các

dự án đầu tư Ngoài ra để đảm bảo tính chính xác, trung thực,thông tin công bố còn phải được trình bày rõ ràng, không gây hiểulầm hoặc đánh lừa người đọc Về mặt nguyên tắc, các công tyniêm yết phải cung cấp các thông tin quan trọng về doanh nghiệpmình một cách đầy đủ nhất để từ đó nhà đầu tư có thể đưa ra cácquyết định đầu tư chính xác và chịu hoàn toàn trách nhiệm vềquyết định của mình Tuy vậy, luôn tồn tại sự mâu thuẫn về lợi íchgiữa doanh nghiệp niêm yết và nhà đầu tư về mặt công bố thôngtin Các công ty thường không muốn công bố các thông tin bí mậtcủa ban quản trị và ngược lại, các nhà đầu tư lại muốn biết cácthông tin này càng nhiều càng tốt Vì vậy, các thông tin được công

bố phải chính xác, phải được công bố kịp thời ngay cả khi thông tin

đó gây bất lợi cho công ty niêm yết

Về mặt lý thuyết, các cơ quan quản lý thị trường được quyềnkiểm tra, xem xét nội dung các thông tin này trước khi công bố racông chúng, như vậy nhà đầu tư sẽ giảm thiểu được rủi ro khi muachứng khoán Tuy vậy, về mặt thực tế, các cơ quan này không thểđánh giá được chất lượng của tất cả các loại chứng khoán Vì vậy,nhà đầu tư phải chịu hoàn toàn mọi rủi ro với quyết định đầu tưcủa mình khi dựa vào các thông tin được công bố Ở đây vai tròcủa các chuyên gia trong lĩnh vực phân tích chứng khoán như các

tổ chức đầu tư, định mức tín nhiệm, công ty phân tích tài chính sẽrất quan trọng

- Nguyên tắc công bố thông tin kịp thời, liên tục

Trang 18

Trong những năm gần đây, nguyên tắc này được đặc biệt chútrọng Điều này có nghĩa là thông tin phải được công bố liên tục,không ngừng, bao gồm cả những thông tin đột xuất và thông tinđịnh kỳ, liên quan đến tổ chức niêm yết và các thông tin bấtthường Nói cách khác, công bố thông tin phải đảm bảo được tínhkịp thời của thông tin được công bố, hay có thể hiểu là công bốthông tin ngay lập tức, càng sớm càng tốt, khi có sự kiện liên quanđến công ty niêm yết.

Công bố thông tin định kỳ thông thường được quy định trongluật chứng khoán hoặc trong các quy định về niêm yết chứngkhoán, chẳng hạn như quy định về công bố thông tin trong báocáo tài chính quý, năm Những thông tin đôi khi đi kèm cả nhữngbáo báo về các cuộc họp, thảo luận, nhận định, phân tích tình hìnhcủa ban điều hành công ty, do vậy những thông tin này cũng phảiđược công bố Việc công bố thông tin định kỳ phải đảm bảo đượctuân thủ về mặt thời gian theo quy định, không được để gián đoạn.tuy nhiên nguyên tắc này còn có nghĩa là một số thông tin có thểđược công bố sau một khoảng thời gian hoặc không công bố khiquy định pháp luật cho phép, ví dụ như các thông tin có ảnh hưởngđến an ninh quốc gia

Việc công bố thông tin sẽ giúp tránh tình trạng thông tin bấtcân xứng cho các nhà đầu tư, giảm bớt các vi phạm về giao dịchngầm bất hợp pháp có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc công bốthông tin đúng hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự kháchquan của công bố thông tin Vì vậy thông thường các Sở giao dịchgiao dịch chứng khoán yêu cầu các công ty niêm yết phải công bốthông tin về doanh nghiệp mình càng sớm càng tốt

- Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng

Trang 19

Theo nguyên tắc này, các thông tin phải được công bố rộng rãicho công chúng nhà đầu tư Nhà đầu tư phải được có cơ hội tiếpcận như nhau đối với các thông tin trên thị trường chứng khoán Tổchức công bố thông tin không được cung cấp thông tin cho một sốnhà đầu tư riêng biệt hoặc các bên lợi ích khác trước khi công bốrộng rãi ra công chúng Các trường hợp ngoại lệ chỉ áp dụng khicung cấp thông tin cho các nhà tư vấn đầu tư hoặc các công tyđịnh mức tín nhiệm hoặc công bố thông tin cho đối tác mà doanhnghiệp đang có ý định hợp tác trong hoạt động đầu tư, sản xuất,kinh doanh Trong trường hợp này, bên nhận thông tin phải cótrách nhiệm bảo mật các thông tin đó.

Để thực hiện được nguyên tác này, bên cung cấp thông tinphải sử dụng những loại phương tiên công bố nhằm giúp người sửdụng thông tin có thể tiếp cận nhanh chóng và dễ dàng mọi thôngtin cần thiết Mọi hoạt động của nhà đầu tư trên thị trường đều dựatrên các thông tin công bố Do vậy, khi thiết kế hệ thống thông tin,việc phân loại người sử dụng cũng như loại và phạm vi thông tin

mà người sử dụng được tiếp cận là rất cần thiết nhằm tránh xảy ratình trạng gián đoạn hoạt động của thị trường do việc sử dụng vàtiếp cận thông tin một cách bất hợp pháp và không công bằng

- Nguyên tắc về trách nhiệm của bên công bố thông tin

Đây được hiểu là việc tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin củacác tổ chức cung cấp thông tin Khi đó, các tổ chức thực hiện công

bố thông tin phải đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc của hoạt độngcông bố thông tin như thông tin chính xác, liên tục, có khả nănggiải thích về các thông tin công bố và phải hoàn toàn chịu tráchnhiệm về thông tin do mình công bố Trong một số trường hợp, một

số tổ chức cụ thể được định rõ có thể phải chịu trách nhiệm liênđới đối với các thông tin được công bố

Trang 20

1.1.1.3 Vai trò và sự cần thiết phải công bố thông tin trên Thị trường

Việc công bố thông tin là cần thiết được giải thích bởi các tổchức chào bán và công ty niêm yết sẽ phải cung cấp nhiều tài liệucần thiết về bản thân công ty để các nhà đầu tư có thể xác địnhgiá trị của công ty và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn trênTTCK, các yếu tố ảnh hưởng tới giá chứng khoán là: Giá trị công ty,các điều kiện thị trường, yếu tố kinh tế vĩ mô, yếu tố tâm lý nhàđầu tư và yếu tố ngẫu nhiên (do thiên tai gây ra) Về lâu dài, giáchứng khoán chịu sự chi phối của giá trị công ty Một công ty ngay

cả khi có tình trạng tài chính tốt, khả năng sinh lời cao nhưng giáchứng khoán của công ty vẫn thấp nếu thông tin của công tykhông được công bố đầy đủ, do nhà đầu tư không thể tiếp cậnnhững thông tin cần thiết để đưa ra những quyết định đầu tư Thực

tế, các công ty phát hành thường không muốn công bố nhữngthông tin xấu, đặc biệt là các công ty ở những thị trường mới nổi

vì vậy, công bố thông tin là một trách nhiệm của các nhà phát

Trang 21

hành và các tổ chức niêm yết trong việc cung cấp mọi thông tin,

- Đối với công tác quản lý thị trường

Công bố thông tin giúp cho các tổ chức công bố thông tin mộtcách chính xác: Thông tin công bố ra chủ yếu nhằm phục vụ cácnhà đầu tư, việc công bố các thông tin định kỳ, bất thường sẽ giúpcác nhà đầu tư có cách nhìn đầy đủ và khách quan hơn về cáckhoản đầu tư của mình

Công bố thông tin là công cụ quản lý gián tiếp có tác động trởlại trong việc quản lý: Hoạt động công bố thông tin còn là công cụgián tiếp có tác động quản lý các công ty niêm yết từ chính cácthông tin công bố Tính công bằng và các mặt trái của thị trườngthể hiện ngay trong các số liệu mà các công ty niêm yết hay cáccông ty phát hành công bố Việc công bố các thông tin của công tyđại chúng là điều kiện bắt buộc Các thông tin đó chính là tình hìnhhoạt động của công ty, doanh thu, lợi nhuận, kế hoạch phát triển…

Do vậy việc công bố thông tin chính là công cụ cho phép các công

ty đại chúng thực hiện nghĩa vụ của mình, nhằm duy trì nguyêntắc trong thị trường một cách hiệu quả

Công bố thông tin giúp theo dõi liên tục quá trình phát triểncủa các tổ chức: các tổ chức chào bán, công ty chứng khoán luônluôn giữ lại các số liệu về tình hình phát triển, giúp cho công ty hay

tổ chức có thể đáp ứng được các đòi hỏi của công chúng đầu tư

Trang 22

hay thị trường giao dịch chứng khoán trong mọi lúc Các số liệu đócòn có thể tổng hợp để đưa ra thành các thông tin có tính hỗ trợquyết định và đánh giá sự phát triển của tổ chức, các loại chứngkhoán trong quá khứ, hiện tạo và tương lai.

Công bố thông tin góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin củanhà đầu tư: Việc công bố thông tin của tổ chức phát hành mangtính chất nghĩa vụ, nếu chúng ta biết tận dụng khả năng của hệthống thông tin một cách hiệu quả, gián tiếp đã tạo ra các cơ hộicho các nhà đầu tư cũng như tạo điều kiện phát triển cho tổ chứcphát hành, nhà đầu tư có thể nhanh chóng hiểu được khả nănghoạt động của công ty, xu hướng và cơ hội phát triển để đầu tưvào chính công ty đó Sự đa dạng hóa hoạt động công bô thông tingiúp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư có nhiều cách nhìn nhận vàkiểm tra, giám sát khác nhau đối với các công ty niêm yết

Công bố thông tin góp phần báo cáo nhanh chóng tình hìnhhoạt động theo định kỳ: Hoạt động công bố thông tin sẽ đảm bảocho phép các công ty niêm yết có khả năng công bố thông tin vềhoạt động của mình theo định kỳ Vì vậy, nếu xây dựng được cáctiêu chuẩn cho các thông tin công bố thì có thể nhanh chóng hệthống hóa được các yêu cầu thông tin, từ đó tạo điều kiện thuận lợicho các tổ chức phát hành công bố thông tin của mình một cáchnhanh chóng, thuận tiện nhất đảm bảo tính chính xác của dữ liệuthông tin

- Đối với nhà đầu tư

Công bố thông tin đảm bảo cho các NĐT nhận được thông tinmột cách chính xác: Hoạt động công bố thông tin sẽ đảm bảothông tin chính xác đến được với nhà đầu tư Nhà đầu tư luôn cầncác thông tin cần thiết cho các dự báo, phỏng đoán để nắm bắt thịtrường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình

Trang 23

Công bố thông tin đảm bảo tính công bằng, góp phần chốnglại các hành vi gian lận: Tính công bằng của thông tin thể hiện ở

hệ thống thông tin đối xử công bằng, lành mạnh đối với nhà đầu tưđang có hoạt động đầu tư hay chính xác là các đối tượng khai thác

và xử lý thông tin Người ta vẫn nói nhiều tới sự thành công trênTTCK phần lớn là biết cách nắm bắt thông tin đưa ra các quyếtđịnh hợp lý tại nhiều thời điểm có lợi nhất dựa trên những hiểu biết

về thông tin thị trường Hoạt động công bố thông tin phải đượcthực hiện theo nguyên tắc đảm bảo sự công bằng cho mọi nhà đầu

tư, nhà đầu tư có thể khai thác thông tin một cách trực tiếp thôngqua hệ thống truyền thông, mạng internet hoặc gián tiếp qua cáchãng tin, công ty tư vấn

Công bố thông tin đảm bảo cung cấp thông tin liên tục và đadạng: Việc công bố thông tin định kỳ hay bất thường của các tổchức tham gia thị trường theo một nguyên tắc nhất định sẽ cho tamột kho dữ liệu khổng lồ về các thông tin trong quá khứ, với khảnăng lưu trữ thông tin sẽ cho phép chúng ta lưu trữ lại tất cảnhững biến động thị trường trong mọi thời kỳ phát triển, giúp chocác nhà đầu tư có thể nhận định, lập luận về sự phát triển của cácloại chứng khoán, giúp họ đánh giá chính xác hơn trên cơ sở củacác thông tin đó

- Đối với Sở giao dịch chứng khoán

Công bố thông tin là công cụ giúp cho TTCK và Sở giao dịchChứng khoán công bố thông tin kịp thời : Hệ thống công bố thôngtin giúp cho Sở giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoáncông bố thông tin kịp thời tạo điều kiện tốt cho các nhà đầu tưcũng như các đối tượng thị trường có được cái nhìn nhanh nhất về

sự thay đổi của thị trường cũng như chứng khoán mà họ quan tâm

Trang 24

1.1.2 Phân loại thông tin được công bố

Có thể phân loại thông tin trên TTCK theo các tiêu chí sau:

1.1.2.1 Phân loại theo loại chứng khoán

- Thông tin về cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư

- Thông tin về trái phiếu, thông tin về các chứng khoán phái sinh

1.1.2.2 Phân loại theo phạm vi bao quát

- Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán,

- Thông tin ngành,

- Thông tin nhóm ngành,

- Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường,

- Thông tin của Sở giao dịch chứng khoán hay thông tin quốc gia,thông tin có tính quốc tế

1.1.2.3 Phân loại theo thời gian

- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo chotương lai

- Thông tin theo thời điểm (phút, ngày…)

- Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm…)

1.1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin

- Thông tin trong nước và quốc tế

- Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường: công ty đại chúng,công ty chứng khoán, thông tin của Sở giao dịch chứng khoán

- Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếphạng tín nhiệm

- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyềnhình, Internet…)

1.2 Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán

1.2.1 Khái niệm và đặc tính của tính thanh khoản của

cổ phiếu niêm yết

1.2.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản của cổ phiếu

Trang 25

Tính thanh khoản của cổ phiếu có vẻ là một khái niệm đơngiản và dễ hiểu Tuy nhiên, thực tế, có nhiều định nghĩa khác nhauđược các nhà nghiên cứu cũng như các chuyên gia đầu tư đưa ra

về khái niệm tính thanh khoản

Robert F Stambaugh cho rằng tính thanh khoản của cổ phiếu

là “một khái niệm rất rộng và không rõ ràng, nhưng nhìn chung nóphản ánh khả năng giao dịch một khối lượng lớn cổ phiếu một cáchnhanh chóng tại một mức phí thấp và không có sự chuyển dịch vềgiá” (Robert F Stambaugh, 2002)

Coluzzi, Ginebri và Turco cho rằng rất khó hiểu và giải thích vềtính thanh khoản của cố phiếu và đưa ra khái niệm như sau: “Tínhthanh khoản của cổ phiếu là khả năng giao dịch một cổ phiếu màkhông bị ảnh hưởng đến giá của chúng” (Coluzzi, Ginebri và Turco,2008)

Như vậy, tính thanh khoản của cổ phiếu là khả năng chuyểnđổi cổ phiếu thành tiền dễ dàng với sự ảnh hưởng về giá khôngđáng kể với một khoản phí tương đối thấp Tính thanh khoản của

cổ phiếu được xem như một dòng máu của thị trường chứngkhoán, góp phần đảm bảo thị trường tài chính cũng như nền kinh

tế vận hành một cách thông suốt Đây là một khái niệm rất chung

và trìu tượng bởi vì bàn thân nó có nhiều tính chất khác nhau

1.2.1.1 Đặc điểm tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết

Ở Việt Nam nhiều nhà đầu tư, kể cả những nhà phân tíchchứng khoán chuyên nghiệp cũng chưa hiểu đầy đủ về tính thanhkhoản của cổ phiếu, bởi vì đây không phải là một biến số có mộtđặc tính mà bao gồm nhiều đặc tính khác nhau Thông thường cónăm đặc tính về tính thanh khoản của cổ phiếu Đó là:

- Thời gian giao dịch

Trang 26

Thời gian giao dịch là khả năng thực hiện một giao dịch ngaylập tức tại một mức giá phổ biến Thời gian chờ giữa hai giao dịch,

số lượng giao dịch trong một đơn vị thời gian là những thước đo vềthời gian giao dịch

- Độ chặt

Độ chặt là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nhấtđịnh ở một mức giá tương đương tại cùng một thời điểm Tính chặtthể hiện ở chi phí liên quan đến giao dịch hoặc chi phí của sự chờđợi Thước đo của tính chặt là những dạng khác nhau của chênhlệch về giá

- Độ sâu

Độ sâu là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nhấtđịnh nhưng không ảnh hưởng tới giá niêm yết Giá niêm yết là giáchào bán hoặc giá đặt mua được đưa vào sổ lệnh Một dấu hiệucủa độ thanh khoản yếu là sự ảnh hưởng tiêu cực của thị trường cóthể được đo bởi chỉ số lệnh, số giao dịch hoặc chỉ số dòng tiền

Độ rộng được đo lường bằng cách sử dụng dữ liệu bao gồmtổng khối lượng các cổ phiếu tăng, tổng khối lượng các cổ phiếugiảm, số lượng các cổ phiếu tăng, giảm

Độ rộng giúp đánh giá sức mạnh của thị trường và xác địnhđược hướng di chuyển của chỉ số Độ rộng thị trường gia tăng

Trang 27

mạnh trong một đợt tăng trưởng có nghĩa là các chỉ số đang tănglên cùng với sự dịch chuyển của nhiều cổ phiếu.

- Độ co dãn.

Độ co dãn là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nào

đó nhưng có ảnh hưởng đến giá niêm yết khi đặc tính độ sâu thịtrường chỉ quan tâm đến số lượng giao dịch ở một mức giá đặtmua hoặc chào bán tốt nhất, đặc tính co dãn sẽ đảm nhận sự codãn của cung và cầu Đặc tính độ co dãn của tính thanh khoảnđược mô tả bởi thu nhập trong ngày, hệ số hiệp phương sai hoặc

- Chỉ số Bid-Ask spreads: Là chênh lệch giá mua – giá bán được tínhbằng cách lấy trung bình bid-ask spreads hàng này Bid-ask spreadhàng ngày được tính bằng cách trung bình cộng của giá chào muatốt nhất và giá chào bán tốt nhất trong ngày Bid-Ask spreads củamột cổ phiếu càng cao thì cổ phiếu đó càng kém thanh khoản

- Chỉ số độ sâu thị trường (Depth): Là số lượng cổ phiếu có thể giaodịch tại mức giá cháo mua và chào bán tốt nhất Cách tính giốngnhư Bid-Ask Spreads Độ sâu thị trường của một cổ phiếu càng cao

có nghĩa là luôn có sẵn một số lượng lớn cổ phiếu để nhà đầu tư cóthể mua ở bất bỳ mức giá nào, tức là cổ phiếu càng thanh khoản

Trang 28

- Chỉ số chất lượng thị trường (Market Quality Index – MQI): Chỉ sốnày được đề xuất trong nghiên cứu của Bollen và Whaley (1998) làchỉ số kết hợp cả chênh lệch giá mua - giá bán và độ sâu thịtrường để đo lường tính thanh khoản nhằm khắc phụ vấn đề khóxác định tính thanh khoản của cổ phiếu khi Chỉ số Bid-ask spreads

và Chỉ số Độ sâu thị trường biến động cùng chiều MQI được tínhbằng cách lấy trung bình cộng của Độ sâu thị trường tại giá mua

và giá bán chia cho Chênh lệch giá mua – giá bán theo công thứcsau:

MQI càng cao khi Bid-ask spreads càng thấp hoặc Độ sâu thịtrường càng cao, tức là cổ phiếu càng thanh khoản Tuy vậy, cũng

có trường hợp, như được nêu trong công trình của Lee và cộng sự(1993), khi Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) đã đặc biệtchủ động quản lý tình trạng thông tin bất cân xứng bằng cách điềuchỉnh Chi phí trực tiếp (hay Chênh lệch mua bán - Bid-ask spread)

và Độ sâu thị trường Khi chỉ số Bid-ask spread được điều chỉnhbằng 0, chỉ số MQI trở nên vô nghĩa

Trong đề tài này, tác giả sử dụng chỉ số Bid-Ask Spread (từ đây

về sau gọi tắt là Spread) thường xuyên được các tác giả trên thếgiới sử dụng nhất như công trình của Hegde và McDermott (2005),Kuo và Lin (2014) và nhiều công trình khác

1.2.2 Các yếu tố tác động tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán.

1.2.2.1 Các yếu tố thuộc về cấu trúc vi mô của thị trường

A Mô hình thị trường

Mặc dù hiện nay tồn tại nhiều cách để phân loại các TTCK, ví

dụ như căn cứ vào sự hiện diện của những người tạo thị trường,

Trang 29

thời gian giao dịch hay mức độ công bố thông tin trước và sau giaodịch…; nhưng nhìn chung thì một trong những cách phân loại phốbiển nhất là giữa hai dạng thị trường khớp giá và khớp lệnh.

Thị trường khớp giá là mô hình thị trường trong đó có sự hiên diện của những người tạo thị trường (market maker/dealer) cho một số loại chứng khoán nào đó Giao dịch trong thị trường khớp

giá được thực hiện giữa một bên là người đẩu tư và một bên làngười tạo thị trường Những người tạo thị trường có nghĩa vụ chàocác mức giá mua và bản tốt nhất Giá thực hiện được xác định trên

cơ sở cạnh tranh giữa những người tạo thị trường, nhà đầu tư chỉcần lựa chọn mức giá được cho là phù hợp (thay vì đặt lệnh giaodịch) Những người tạo thị trường được hưởng phần chênh lệch(spread) giữa giá mua và giá bán trong các giao dịch

Thị trường khớp lệnh là mô hình thị trường trong đó lệnh giao dịch của người đầu tư được khớp trực tiếp với nhau không có sự tham gia của người tạo thị trường Giá thực hiện được xác định

trên cơ sở cạnh tranh (đấu giá) giữa những nhà đầu tư

Trên đây là tóm tắt về một số nét đặc trưng của hai dạng môhình thị trường khớp lệnh và khớp giá Tính thanh khoản trên cảhai dạng mô hình thị trường này được trình bày lần lượt trong cácphân mục dưới đây

a Tính thanh khoản trên thị trường khớp giá

* Bid-Ask Spread

Trong thị trường khớp giá, bid-ask spread được quyết định bởigiá đặt mua và đặt bán của dealer Có ba dạng mô hình lý thuyếtđược đề xuất để lý giải hành vi đặt giá này Đó là:

Trang 30

1) mô hình chi phí xử lý lệnh: theo mô hình này, chi phí xử lý

lệnh bao gồm các chi phí để duy trì một thị trường hoạt động liêntục cũng như các chi phí khác để khớp lệnh và thanh toán bù trừ

2) mô hình danh mục dự trữ cổ phiếu: theo đó, những nhà tự

doanh ngại rủi ro sẽ xác định trước một sự kết hợp mong muốn Họ

có thể cho phép trạng thái thực tế lệch ra khỏi sự kết hợp nói trên

để phù hợp với giao dịch nhưng lại đòi hỏi một sự đền bù cho rủi ronày Sự đến bù có thể đạt được bởi một giá trị bid-ask spreaddương

3) mô hình bất cân xứng thông tin: mô hình này chỉ rõ sự khác

biệt giữa những nhà đầu tư nhận được thông tin và những nhà đầu

tư không nhận được thông tin Các nhà đầu tư không nhận đượcthông tin, còn được gọi là nhà đầu tư thanh khoản (uninformedtrader/ liquidity trader), là những người không có những thông tin

cá biệt, như về giá trị thực của tài sản Họ tiến hành giao dịch dựatrên những lý do nằm ngoài mô hình, ví dụ như động cơ cân bằnglại danh mục đầu tư hoặc đơn giản họ tin tưởng rằng mình cóthông tin Nhà đầu tư nhận được thông tin (informed trader) lànhững người nắm giữ những thông tin riêng và muốn sử dụngchúng khi tiến hành giao dịch Khi đó, spread sẽ phản ánh sự cânđối của những người tạo thị trường giữa khoản lỗ do giao dịch vớinhà đầu tư nhận được thông tin và khoản lãi do giao dịch với nhàđầu tư không nhận được thông tin

* Giá và độ sâu

Trong phần này ta sẽ tập trung vào tìm hiểu làm thế nào đểcác dealer quyết định được các mức giá bid và ask Trong thực tế,các dealer thường tuân theo lịch trình giá, điều chỉnh mức giá và

độ sâu để phản ứng với các sự kiện khác nhau Độ sâu được thayđổi theo giao dịch tại bất kỳ kích cỡ nào trong khi mức giá chỉ được

Trang 31

sửa đổi khi khối lượng giao dịch vượt quá khối lượng niêm yết Trênthực tế, đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự điều chỉnhlịch trình giá của các dealer.

* Thời gian giao dịch

Chi phí giao dịch và giá đạt được có thể xem xét như là cáckhía cạnh của chất lượng thực hiện lệnh Một khía cạnh khác là tốc

độ khớp lệnh Một lý do giải thích tại sao những nhà đầu tư ưathích việc khớp lệnh được nhanh chóng hơn là vì khớp lệnh càngchậm thì sự không chắc chắn về giá được khớp càng tăng cao Thịtrường có xu hướng nhận được nhiều nguồn lệnh hơn nếu chi phíkhớp lệnh giảm hoặc tốc độ khớp lệnh tăng lên

* Tính đàn hồi

Trong thị trường khớp giá, các dealer không chắc chắn được vềthời điểm lệnh tiếp theo được gửi tới thị trường Tạm thừa nhậnrằng, tại một số thời điểm, các dealer có thể sửa đổi hoặc cố định

sự yết giá của mình Nếu dealer quan sát được rằng, giá hiện tạitốt nhất thị trường được yết bởi một dealer khác là cao hơn giácạnh tranh của tài sản (nói chính xác là cao hơn giá trị kỳ vọng củatài sản xung quanh bước giá gần nhất) thì anh ta sẽ phải đối diệnvới sự đánh đổi giữa hai lựa chọn Thứ nhất, anh ta có thể lựa chọnyết giá tại mức giá cạnh tranh, sau đó thực hiện lệnh tiếp theo với

sự chắc chắn và thu lại một khoản lãi bằng đúng mức giá tối thiểu(tick-size) Thứ hai, anh ta có thể quyết định bán rẻ hơn mức giáhiện tại chỉ một bước giá Trong trường hợp lệnh tiếp theo đượckhớp, dealer sẽ thu được một khoản lãi lớn hơn, nhưng mặt khác,anh ta sẽ phải đối mặt với rủi ro là có thể có những dealer kháctiếp tục yết giá thấp hơn Kết quả của cả hai khả năng trên là giákhớp trên thị trường có thể bị lệch khỏi mức giá cạnh tranh Nhữngchi phí giao dịch mà người đầu tư phải trả do đó phụ thuộc vào tốc

Trang 32

độ hội tụ của những giá yết tốt nhất tới giá cạnh tranh của tài sản.Tốc độ hội tụ này bị chi phối bởi hai yếu tố chính, đó là:

Thứ nhất, tồn tại một mối liên hệ nghịch giữa thời gian để giátốt nhất điều chỉnh cho đạt tới mức giá cạnh tranh và bước giá tốithiểu Có thể dễ dàng thấy rằng một bước giá tối thiểu rộng hơn sẽtạo ra một sự khác biệt lớn hơn giữa giá kỳ vọng của tài sản vàmức giá cạnh tranh Nếu người dealer nhắc đến ở trên quyết địnhyết giá tại mức giá cạnh tranh, anh ta sẽ đạt được một khoản lãilớn hơn nếu bước giá tối thiểu là rộng hơn Sự hội tụ nhanh hơncủa các giá yết cũng ngụ ý rằng một bước giá tối thiểu lớn hơnkhông cần thiết dẫn đến những chi phí giao dịch lớn hơn cho nhàđầu tư

Thứ hai, tồn tại một mối liên hệ nghịch giữa chi phí giao dịch

kỳ vọng và tần số sửa đổi giá yết của các dealer Nếu các dealerthường xuyên sửa đổi giá yết thì rủi ro một dealer không yết giácạnh tranh bị chặn dưới sẽ lớn hơn Tần số sửa đổi giá về phầnmình lại phụ thuộc vào chi phí quản lý và vận hành thị trường màcác dealer phải trả

b Tính thanh khoản trên thị trường khớp lệnh

Trong một thị trường khớp lệnh không có sự hiện diện của cácdealer để tạo tính thanh khoản cho thị trường Tính thanh khoảnchỉ được cung cấp bởi người đầu tư và những lệnh giới hạn chưađược khớp của họ - trong trường hợp nguồn cung lệnh giới hạn bịcạn kiệt thì giao dịch cũng sẽ sụp đổ Do đó, việc tìm hiểu liệu một

hệ thống như thế có khả năng cung cấp tính thanh khoản trongmọi điều kiện thị trường đặc biệt xung quanh các biến động haykhông là rất cần thiết

Trong các phân mục dưới đây đầu tiên người viết sẽ trình bày

về bid-ask spread, tương tự như đối với phần thị trường khớp giá ở

Trang 33

trên Tiếp theo đó là các yếu tố quyết định đến nguồn cung và cầuthanh khoản Trong một thị trường khớp lệnh thì yếu tố tiên quyếtnhất chi phối tất cả các khía cạnh của tính thanh khoản là mốitương quan giữa các lệnh thị trường – nguồn cầu thanh khoản vàcác lệnh giới hạn – nguồn cung thanh khoản Do đó, các nhân tố

ẩn sau sự lựa chọn này là cực kỳ quan trọng đối với tính thanhkhoản trong một thị trường khớp lệnh

* Bid-ask Spread

Trong các phần trên, người viết đã đề cập đến ba lý do để giảithích cho sự tồn tại của spread trong một mô hình thị trường khớpgiá: chi phí danh mục dự trữ cổ phiếu, chi phí xử lý lệnh và sự bấtcân xứng thông tin Trong một thị trường khớp lệnh, các nhà đầu tưcung cấp tính thanh khoản vẫn có thể yêu cầu một sự đền bù chocác chi phí xử lý lệnh Ngược lại, mô hình danh mục dự trữ lạikhông có nhiều giá trị do trong mô hình thị trường khớp lệnh này,các nhà đầu tư không có quyền tạo thị trường Do đó, thị trườngkhớp lệnh sẽ có một bid-ask spread dương phát sinh từ xác suấtcủa việc giao dịch dựa trên thông tin riêng Các nhà đầu tư địnhgiá cổ phiếu khác nhau và không phải tất cả đều tiếp nhận thôngtin cùng lúc Do vậy, kích thước spread là một hàm của các chênhlệch trong sự định giá cổ phiếu của các nhà đầu tư và sự lựa chọnđối nghịch

* Nguồn cung thanh khoản và nguồn cầu thanh khoản trên thị trường khớp lệnh.

Trên một thị trường khớp lệnh, tất cả các khía cạnh của tínhthanh khoản – bid-ask spread, độ sâu, tốc độ giao dịch hay tínhđàn hồi – đều chịu sự quyết định bởi mối tương quan giữa các lệnhthị trường – nguồn cầu thanh khoản và các lệnh giới hạn – nguồncung thanh khoản Do đó, sự lựa chọn giữa các nhà đầu tư giữa hai

Trang 34

loại lệnh thị trường và lệnh giới hạn là vô cùng quan trọng đối vớichỉ tiêu tính thanh khoản Xác suất một lệnh giới hạn được khớp làbiến nội sinh Các nhà đầu tư quan sát cả hai phía của thị trường(độ sâu tại bên bid và ask) chứ không chỉ bên của mình khi quyếtđịnh loại bệnh.

Một nhân tố chính quyết định cho sự kết hợp giữa lệnh giớihạn và lệnh thị trường là sự bất ổn của tài sản Tài sản càng dễbiến động thì tỷ lệ lệnh giới hạn trong dòng lệnh càng cao Nguyênnhân là do khi mức độ bất ổn định của tài sản tăng lên thì những

nhà đầu tư đặt lệnh giới hạn sẽ phải đối mặt với rủi ro picking of

risk (rủi ro sau khi một lệnh giới hạn được gửi lên thì có các thông

tin mới được công bố khiến lệnh giới hạn của nhà đầu tư có nhiềukhả năng bị khớp lệnh tại mức lỗ do đặt giá sai) cao hơn Do đó,spread niêm yết của họ sẽ nới rộng Điều này làm tăng chi phí củacác giao dịch lệnh thị trường, dẫn đến lệnh giới hạn có nhiều khảnăng trở thành chiến lược giao dịch tối ưu Tỷ lệ lệnh giới hạn đượckhớp trên tổng lượng lệnh giới hạn có mối liên hệ nghịch với tính

dễ biến động của tài sản

Trong những năm gần đây thị trường chứng khoán các nước có

xu hướng tăng cường tính minh bạch của thị trường cả ở dạng

Trang 35

trước và sau giao dịch Mức độ minh bạch thông tin của thị trường

rõ ràng sẽ có tác động tới chiến lược đặt lệnh của các nhà đầu tư

và do đó, ảnh hưởng tới tính thanh khoản của thị trường Minhbạch hóa một mặt đi liền với sự hình thành giá hiệu quả và phảnánh chính xác thông tin thị trường hơn, nhưng mặt khác lại có thểkìm hãm tính thanh khoản của thị trường do các nhà đầu tư có thểkhông sẵn sàng tiết lộ ý định giao dịch của mình Hơn nữa, sự minhbạch hóa thị trường có những ảnh hưởng không giống nhau đối vớitừng dạng thành viên của thị trường Cụ thể, những nhà đầu tư cóthông tin riêng sẽ ưa thích một thị trường kém minh bạch trong khinhững nhà đầu tư thanh khoản thì mong muốn điều ngược lại

Trong thị trường khớp lệnh, nhìn chung một sự tăng cường tínhminh bạch trước khi giao dịch sẽ cải thiện tính thanh khoản, Bid-ask spreak ẩn là hẹp hơn bởi vì những người đặt giá, nay có nhiềuthông tin hơn, có thể bảo vệ bản thân tốt hơn khỏi các khoản lỗgây ra bởi các giao dịch nội gián Thêm nữa, thị trường khớp lệnhyêu cầu chi phí giao dịch thấp hơn so với thị trường khớp giá Điềunày phù hợp với thực tế là bẳng đấu giá lệnh giới hạn có tính minhbạch cao hơn so với một dealer (trong thị trường khớp lệnh, nhàđầu tư có thể theo dõi bảng đấu giá, trong khi đối với thị trườngkhớp giá, chỉ có một giá yết cho một khối lượng xác định mới đượccông bố, gây khó khăn cho việc rút ra giá giao dịch)

C Tính ẩn danh

Tính ẩn danh của thị trường có thể được định nghĩa là mức độ tiết lộ thông tin về danh tính của các thành viên tham gia thị trường Cũng như đối với tính minh bạch của thị trường, những nhà

đầu tư nhận được thông tin ưa thích các giao dịch khuyết danhhơn, trong khi nhà đầu tư không nhận được thông tin thì ngược lại.Tuy nhiên tác động của tình trạng ẩn danh trong giao dịch đến tính

Trang 36

thanh khoản của thị trường là khác nhau đối với hai phía cungthanh khoản và cầu thanh khoản

Việc che dấu thông tin về danh tính của những người cầuthanh khoản nhìn chung sẽ làm tăng bid-ask spread, do nhữngngười cung thanh khoản sẽ gặp khó khăn hơn trong việc phân biệtgiữa những nhà đầu tư nhận được thông tin riêng và không nhậnđược thông tin riêng Nhưng ngược lại, việc che dấu danh tính củanhững người cung thanh khoản có thể làm giảm bid-ask spread.Nếu thị trường không ẩn danh, các nhà đầu tư thanh khoản sẽ tìmcách rút thông tin từ các lệnh giới hạn được yết Nếu những nhàđầu tư nhận được thông tin mua vào một cách thận trọng, biểu thịrằng một bid-ask spread rộng, thì những nhà đầu tư thanh khoản

sẽ trì hoãn việc cải thiện các lệnh của mình Do đó, đôi khi ngữngngười đầu tư có được thông tin cố tình đánh lừa các nhà đầu tưthanh khoản bằng cách đặt giá như thể picking off risk là lớn trongkhi thực sự ra nó là nhỏ Nếu tình trạng khuyết danh được áp dụng,những người tham gia giao dịch không biết được ai là người đặt giá

và do đó sự tung hỏa mù này cũng trở nên kém hiệu quả Vì thế,những nhà đầu tư có thông tin sẽ đặt lệnh một cách tích cực hơn,

từ đó cũng có tác động đến spread và độ sâu thị trường Tác độngcuối cùng của tình trạng khuyết danh lên tính thanh khoản của thịtrường phụ thuộc vào tỷ lệ những nhà đầu tư có được thông tin.Khi tỷ lệ này là nhỏ (lớn) thì một sự chuyển đổi sang thị trườngkhuyết danh sẽ làm giảm (tăng) chi phí giao dịch trung bình củacác lệnh cỡ nhỏ và cỡ lớn

D Bước giá tối thiểu

Bước giá tối thiểu là đơn vị yết giá trong giao dịch chứng khoán Bước giá tối thiểu giảm thì spread giảm đáng kể nhưng độ

sâu tại giá bid và giá ask tốt nhất cũng giảm Điều này có nghĩa là

Trang 37

một khía cạnh của tính thanh khoản giảm (spread) trong khi mộtkhía cạnh khác (độ sâu) bị ảnh hưởng tiêu cực.

E Cạnh tranh liên thị trường

Trong những phần trên, tính thanh khoản đã được liên hệ vớicác yếu tố khác nhau trong cấu trúc thị trường, nhưng vẫn trongphạm vi của một thị trường duy nhất Tuy nhiên, ngày nay các cổphiếu có thể mua bán đồng thời trên nhiều thị trường khác nhau

Cổ phiếu không chỉ được niêm yết chéo trên các sở giao dịch màcòn được mua bán thông qua Hệ thống giao dịch thay thế

(Alternative Trading System – ATS) mới nổi lên gần đây Sự phát

triển này ám chỉ rằng nhà đầu tư không những phải cân nhắc đến

sự khác nhau về chi phí giao dịch hoặc thời gian khớp lệnh mà cả

về thiết kế thị trường xuyên suốt các luồng giao dịch để quyết địnhnơi họ sẽ đặt lệnh

Nhìn chung, việc một tài sản được giao dịch tại nhiều nơi khácnhau có tiềm năng gây ra hai ảnh hưởng trái chiều lên tính thanhkhoản Một mặt, sự cạnh tranh giữa các kênh giao dịch có thể thúcđẩy các sở giao dịch hay Hệ thống giao dịch thay thế sẽ phải giảmchi phí, dẫn đến giảm chi phí giao dịch Mặt khác, sự phân tán củadòng lệnh giữa các kênh giao dịch có thể làm giảm sút tính thanhkhoản mỗi kênh Thêm vào đó, trong một thị trường bị phân tán,các lệnh giao dịch có thể được thực hiện tại các mức giá tồi hơn sovới giá yết tốt nhất căn cứ vào sự vi phạm quyền ưu tiên về giá

Sự cạnh tranh giữa các kênh giao dịch, do sự xuất hiện củamột kênh giao dịch mới hoặc do niêm yết chéo, có thể làm tănghoặc giảm tổng thanh khoản, liên hệ với một môi trường đơn thịtrường Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ nhưchi phí giao dịch mà nhà đầu tư phải trả Trong mô hình không cóbất cân xứng thông tin, spread trong thị trường phân tán và thị

Trang 38

trường tập trung là bằng nhau, nhưng dễ biến động hơn trong thịtrường tập trung Những nhà đầu tư có được thông tin có động cơ

để xé nhỏ các lệnh của mình giữa các thị trường Điều này trongcùng một thời điểm lại khiến những nhà đầu tư thanh khoản tậptrung giao dịch tại một nơi, vì như thế có thể giảm tỷ lệ của nhữnggiao dịch có thông tin riêng và làm cho spread hẹp đi

1.2.2.2 Các yếu tố khác ảnh hưởng tới tính thanh khoản của

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Nếu một công ty có triển vọng tốt chia, tách cổ phiếu, spread

sẽ chỉ tăng lên tạm thời Do thị trường cuối cùng cũng sẽ nhận biếtđược các triển vọng tốt của các công ty khiến giá cổ phiếu tăng lên

và spread trở lại cân bằng Nếu một công ty có triển vọng kinhdoanh thông thường hoặc tồi tiến hành chia tách cổ phiếu, spread

sẽ tăng lên trong dài hạn Sự khác nhau về chi phí này cho phépcác công ty tốt ra dấu hiệu bằng việc chia tách cổ phiếu và ngăncản các công ty trung bình hoặc tồi bắt chước theo

B Giao dịch ký quỹ

Giao dịch ký quỹ là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đóngười đầu tư chỉ thực có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần

Trang 39

còn lại do công ty chứng khoán cho vay Việc cho phép các giaodịch ký quỹ có thể mang lại những tác động tích cực đối với thịtrường như gia tăng lợi nhuận của nhà đầu tư, ổn định giá chứngkhoán và tăng cường tính thanh khoản của thị trường Tỷ lệ ký quỹthấp hơn có liên hệ với mức biến động lợi suất thấp hơn và khốilượng giao dịch lớn hơn.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 Thực trạng công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2010 cho đến nay.

2.1.1 Những mặt đạt được

Việc pháp luật yêu cầu toàn bộ công ty đại chúng phải thựchiện công bố thông tin đã tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cácdoanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông ởnhững công ty đại chúng, kể cả công ty đại chúng chưa niêm yết.Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công tyđại chúng được xây dựng dựa trên nền tảng của sự phát triển TTCKtheo từng giai đoạn phát triển khác nhau giúp tăng cường tínhcông khai, minh bạch của thị trường, bảo vệ tốt hơn quyền và lợiích hợp pháp của nhà đầu tư Các qui định pháp luật đầy đủ đã tạođiều kiện thuận lợi để chủ thể có nghĩa vụ thực hiện công bố thôngtin cũng như việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành

vi vi phạm pháp luật về công bố thông tin Tính đến cuối năm

2015, đã có gần 1071 công ty đại chúng chưa niêm yết cổ phiếu

đã đăng ký hồ sơ công ty đại chúng với UBCKNN, gần 700 công tyđại chúng niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK

Trang 40

Hà Nội và 243 công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên Upcom (thịtrường giao dịch cổ phiếu chưa niêm yết) Theo quy định tại Thông

tư 155/2015/TT-BTC, hoạt động công bố thông tin của công ty đạichúng được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đạichúng, website của công ty đại chúng và các phương tiện thông tincủa UBCKNN (bao gồm: trang thông tin điện tử, bản tin TTCK) vàcủa SGDCK (bao gồm: website của SGDCK, bảng hiển thị điện tửtại SGDCK và các ấn phẩm) Công ty đại chúng phải thực hiện báocáo và công bố thông tin thông qua UBCKNN, riêng các công ty đạichúng niêm yết/đăng ký giao dịch phải thực hiện công bố thông tinthông qua cả UBCKNN và SGDCK Qua hơn 10 năm hình thành vàphát triển TTCK, các công ty đại chúng, đặc biệt là các công ty đạichúng niêm yết bước đầu đã tuân thủ các quy định về quản lý tàichính, kế toán, kiểm toán cũng như quy định về công bố thông tintrên TTCK

Các công ty đại chúng đã xây dựng được quy trình công bốthông tin, thành lập website công bố thông tin và thành lập bộphận (phòng) công bố thông tin, bổ nhiệm người được ủy quyềnthực hiện công bố thông tin của công ty đại chúng để giúp Hộiđồng quản trị và Ban giám đốc trong thu thập, xử lý và công bốthông tin của doanh nghiệp, tạo nên một văn hóa trong kinh doanhcủa doanh nghiệp, đồng thời giúp nhà đầu tư kịp thời nắm bắt cácthông tin để ra quyết định đầu tư hợp lý

Phần lớn các công ty đại chúng đã cố gắng thực hiện côngkhai các giao dịch với những bên có liên quan về quyền lợi hoặcliên quan đến người nội bộ, cổ đông lớn của công ty; những bên cóquyền lợi liên quan không được quyền biểu quyết những vấn đề

mà họ là một bên tham gia; hạn chế cung cấp các khoản vay hoặcbảo lãnh về tài chính cho các cổ đông nội bộ và người có liên quan,đảm bảo quyền lợi của cổ đông; công khai thù lao Hội đồng quản

Ngày đăng: 29/12/2017, 19:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w